1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lưu ý kỹ thuật trong nội soi tái tạo dây chằng chéo trước dạng 2 bó với ba đường hầm

11 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 458,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này tổng kết kinh nghiệm của chúng tôi đối với kỹ thuật tái tạo dây chằng chéo trước dạng 2 bó với 3 đường hầm ở 120 trường hợp (85 nam, 35 nữ, tuổi từ 17 - 50) sử dụng gân chân ngỗng và vít chèn sinh học.

Trang 1

LƯU Ý KỸ THUẬT TRONG NỘI SOI TÁI TẠO DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC DẠNG 2 BÓ VỚI BA ĐƯỜNG HẦM

Vũ Nhất Định*; Nguyễn Tiến Bình**

TÓM TẮT

Dây chằng chéo trước (DCCT) bao gồm 2 bó: bó trước trong và bó sau ngoài Ở điểm bám chày, bó trước trong ở trước bó sau ngoài Trong phẫu thuật tái tạo DCCT dạng 2 bó với 3 đường hầm (2 đường hầm đùi và 1 đường hầm chày), cả 2 bó đều đi qua 1 đường hầm chày, bó trước trong có thể không ở trước bó sau ngoài

Bài báo này tổng kết kinh nghiệm của chúng tôi đối với kỹ thuật tái tạo DCCT dạng 2 bó với 3 đường hầm ở 120 trường hợp (85 nam, 35 nữ, tuổi từ 17 - 50) sử dụng gân chân ngỗng và vít chèn sinh học

Chúng tôi lưu ý: vị trí của bó trước trong và bó sau ngoài ở đường hầm chày có liên quan đến tương quan giữa kích thước của 2 mảnh ghép và kích thước của đường hầm chày, vị trí của vít so với 2 mảnh ghép dây chằng trong đường hầm chày

* Từ khóa: Dây chằng chéo trước; Tái tạo dây chằng chéo trước 2 bó 3 đường hầm; Nội soi

A TECHNICAL NOTE OF ARTHROSCOPIC RECONSTRUCTION

OF THE DOUBLE BUNDLE ANTERIOR CRUCIATE LIGAMENT

WITH THREE TUNNELS SUMMARY

The anterior cruciate ligament (ACL) is composed of 2 bundles: anteromedial (AM) and posterolateral (PL) bundles On the tibial insertion, AM bundle is located anterior to the PL bundle In double bundle ACL reconstruction with three tunnels (2 femoral tunnels and only

1 tibial tunnel), both two bundles go through a single tibial tunnel, AM bundle perhaps should not be locate anterior to the PM bundle

This article summarizes our experiences to double bundle anterior cruciate ligament with three tunnels of 120 patients (85 males, 35 females; age ranged 17 to 50 years) with the use of hamstring tendons and interference screw for fixation

We note that: positions of the AM bundle and PM bundle in the tibial tunnel is associated with the correlation between the tibial tunnel size and two graft size, position of bioabsorbable screw in the tibial tunnel

* Key words: Anterior cruciate ligament; Reconstruction of double - bundle anterior

cruciate ligament; Arthroscopy

* Bệnh viện 103

** Học viện Quân y

Người phản hồi (Corresponding): Vũ Nhất Định (vunhatdinh103@yahoo.com.vn)

Ngày nhận bài: 18/9/2013; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 4/11/2013

Ngày bài báo được đăng: 14/11/2013

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mặc dù còn có những tranh cãi về kết

quả phẫu thuật nội soi tái tạo DCCT

dạng 2 bó và phẫu thuật tái tạo DCCT

dạng 1 bó, nhưng phẫu thuật nội soi tái

tạo DCCT dạng 2 bó vẫn ngày càng

được đón nhận [1, 2, 3, 4, 5]

Hiện nay có 3 kỹ thuật tái tạo DCCT

dạng 2 bó được sử dụng nhiều, đó là: kỹ

thuật tái tạo DCCT dạng 2 bó với 2

đường hầm, kỹ thuật tái tạo DCCT dạng

2 bó với 3 đường hầm và kỹ thuật tái tạo

DCCT dạng 2 bó với 4 đường hầm

Mỗi kỹ thuật có những ưu nhược

điểm nhất định và cũng có đòi hỏi về kỹ

thuật riêng biệt để tạo 2 bó DCCT riêng

biệt, đó là bó trước trong và bó sau

ngoài

Trong kỹ thuật tái tạo DCCT dạng 2

bó với 3 đường hầm (2 đường hầm đùi

và 1 đường hầm chày), 2 bó có thể nằm

trước sau (theo đúng giải phẫu) (ảnh 1B)

hoặc nằm ngang (không đúng theo giải

phẫu) (ảnh 1C) tại miệng đường hầm

chày

Nghiên cứu này rút ra những lưu ý kỹ

thuật từ 120 bệnh nhân (BN) được tái

tạo DCCT dạng 2 bó với 3 đường hầm

để đảm bảo 2 mảnh ghép DCCT ở vị trí

trước sau tại miệng đường hầm chày

theo như giải phẫu đã mô tả (ảnh 1A)

A Giải phẫu DCCT

B Bó trước trong nằm phía trước

bó sau ngoài

C Bó trước trong nằm ngang với

bó sau ngoài

Ảnh 1: Hình ảnh giải phẫu và hình

ảnh sau tái tạo của DCCT

Trang 3

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

120 BN, trong đó 35 nữ và 85 nam

với độ tuổi từ 17 - 50 tuổi, bị đứt DCCT

được phẫu thuật nội soi tái tạo DCCT

dạng 2 bó với 3 đường hầm bằng gân cơ

bán gân và gân cơ thon tự thân chập đôi

tại Bệnh viện 103 BN không bị tổn

thương dây chằng chéo sau (DCCS), dây

chằng bên, gãy xương chi dưới hoặc

thoái hóa khớp gối nặng nề

Nguyên nhân tổn thương chủ yếu liên

quan đến tai nạn thể thao gặp 82 trường

hợp, do tai nạn sinh hoạt gặp 11 trường

hợp, còn lại là do các nguyên nhân khác

(tai nạn giao thông, tai nạn trong hoạt

động quân sự)

Có 38 trường hợp có tổn thương sụn

chêm kèm theo, không lựa chọn các

bệnh nhân bị đứt dây chằng chéo sau và

các dây chằng bên kết hợp

Thời gian từ khi bị tổn thương đến

khi được mổ tái tạo dây chằng sớm nhất

là 3 tuần và muộn nhất là 10 năm

2 Phương pháp nghiên cứu

* Kỹ thuật mổ:

- Tư thế BN: BN nằm ngửa trên bàn

phẫu thuật, tiến hành khám và đánh giá

lại tình trạng lỏng khớp gối sau khi vô

cảm Chân không bị tổn thương duỗi

thẳng trên bàn Chân bị đứt DCCT gấp

gối 90º, tựa vào các dụng cụ hỗ trợ ở

mặt ngoài 1/3 giữa (G) đùi và bàn chân

Ga rô hơi đặt ở 1/3G đùi và duy trì suốt

trong thời gian phẫu thuật với áp lực 300 mmHg

Sử dụng 3 đường vào khớp gối: trước trong (ngang khe khớp gối, sát bờ trong gân bánh chè), trước ngoài (ngang khe khớp, sát bờ ngoài gân bánh chè) và đường vào phía trong cách lối vào trước trong 2 cm, ngang khe khớp

Chuẩn bị mảnh ghép dây chằng: rạch

da dài 3 cm ở mặt trước trong 1/3T cẳng chân, tương ứng với vị trí bám của gân

cơ bán gân và gân cơ thon, đường rạch theo hướng của gân Bộc lộ và lấy gân bằng dụng cụ chuyên dụng (triper) Làm sạch cơ khỏi các gân cơ bán gân và gân

cơ thon Gập đôi gân cơ bán gân làm mảnh ghép bó trước trong, gập đôi hoặc gập 3 gân cơ thon làm mảnh ghép bó sau ngoài Nếu các gân này nhỏ, lấy thêm gân cơ bán gân chân bên đối diện Đo đường kính riêng biệt đầu gập đôi của 2 mảnh ghép dây chằng để xác định đường kính của 2 đường hầm đùi và đo đồng thời đường kính 2 mảnh ghép dây chằng

để xác định đường kính của đường hầm chày

Tạo đường hầm đùi: dùng shaver và arthrocare dọn, bộc lộ xác định rõ dấu vết vị trí bám giải phẫu của bó trước trong và bó sau ngoài ở mặt trong lồi cầu ngoài Tạo đường hầm đùi cho bó trước trong: khoan đinh dẫn đường ở tư thế gối gấp tối đa qua lối vào trước trong; khoan đường hầm chột với đường kính tương ứng đường kính mảnh ghép

bó trước trong, sâu 30 mm theo đinh dẫn đường Luồn chỉ chờ theo đinh dẫn

Trang 4

đường Tạo đường hầm đùi cho bó sau

ngoài: khoan đinh dẫn đường ở tư thế

gối gấp 90º qua lối vào bổ sung phía

trong; khoan đường hầm chột với đường

kính tương ứng đường kính mảnh ghép

bó sau ngoài, sâu 25 mm theo đinh dẫn

đường Luồn chỉ chờ theo đinh dẫn đường

Tạo đường hầm chày: không dọn

điểm bám của dây chằng ở điểm bám

chày Khoan đinh dẫn đường theo dụng

cụ định vị từ mặt trước trong cẳng chân

tới trung tâm điểm bám DCCT ở mâm

chày Khoan đường hầm chày có đường

kính bằng đường kính của cả 2 mảnh

gân ghép

Kéo bó sau ngoài qua đường hầm

chày lên đường hầm đùi Dùng que thăm

đưa chỉ chờ bó trước trong ra trước bó

sau ngoài, kéo bó trước trong qua đường

hầm chày lên đường hầm đùi (mảnh

ghép có đường kính lớn cho bó trước

trong, mảnh ghép có đường kính nhỏ

cho bó sau ngoài) Cố định các mảnh

ghép dây chằng bằng vít chèn sinh học

Cố định bó sau ngoài ở đường hầm đùi,

tư thế gối gấp tối đa Tiến hành gấp duỗi

gối thụ động với biên độ từ 0 - 120º Cố

định 2 bó ở đường hầm chày, tư thế gối

gấp 30º Cố định bó trước trong ở đường

hầm đùi, tư thế gối gấp tối đa Sau khi

cố định mảnh ghép dây chằng ở các

đường hầm, tiến hành kiểm tra vị trí và

sức căng của mỗi bó dây chằng, có hay

không va chạm giữa mảnh ghép dây

chằng với mái liên lồi cầu đùi

Ảnh 2: DCCT trước mổ, khoan tạo 2

đường hầm đùi, 2 bó DCCT sau tái tạo

Tháo ga rô, đặt dẫn lưu, đóng vết mổ,

cố định gối duỗi

Tập vận động sau phẫu thuật tái tạo 2

bó với 3 đường hầm tương tự như phẫu thuật tái tạo dây chằng dạng 1 bó

Trang 5

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1: Kích thước của 2 bó mảnh ghép dây chằng

MẢNH GHÉP DÂY CHẰNG

KÍCH THƯỚC MẢNH GHÉP DÂY CHẰNG

BÓ TRƯỚC TRONG

BÓ SAU NGOÀI

Trong nghiên cứu này, chúng tôi ưu tiên bó có kích thước lớn và dài cho bó trước trong, trường hợp kích thước của bó trước trong < 6 mm hoặc bó sau ngoài < 5 mm, lấy thêm gân cơ bán gân ở chân đối diện để đảm bảo mảnh ghép dây chằng có kích thước đủ lớn

Bảng 2: Vị trí của 2 bó mảnh ghép dây chằng tại miệng đường hầm chày (n = 120)

VỊ TRÍ 2 BÓ TAI MIỆNG ĐƯỜNG HẦM

ĐƯỜNG KÍNH MIỆNG ĐƯỜNG HẦM CHÀY

HAI BÓ NẰM NGANG NHAU

HAI BÓ NẰM

Tất cả các trường hợp đường kính đường hầm chày lớn hơn đường kính của cả 2

bó mảnh ghép dây chằng, bó trước trong đều bị nằm ngang bằng với bó sau ngoài tại miệng đường hầm chày Tất cả các trường hợp có đường kính đường hầm chày chặt

so với đường kính của cả 2 bó mảnh ghép dây chằng, bó trước trong đều nằm phía trước bó sau ngoài tại miệng đường hầm chày

Trang 6

Bảng 3: Vị trí của vít và độ rộng đường hầm chày trong nhóm bệnh nhân có 2 bó

bị nằm ngang nhau tại miệng đường hầm chày (n = 25)

VỊ TRÍ VÍT SO VỚI 2 MẢNH GHÉP DƯỜNG KÍNH MIỆNG

ĐƯỜNG HẦM CHÀY

VÍT BẮT Ở BỜ TRONG CỦA 2 MẢNH GHÉP

VÍT BẮT Ở BỜ NGOÀI CỦA 2 MẢNH GHÉP

Σ

Đường hầm chặt

so với mảnh ghép dây chằng

Đường hầm vừa

so với mảnh ghép dây chằng

- 10 10

Đường hầm lớn hơn

so với mảnh ghép dây chằng

Trong 25 BN bó trước trong không nằm phía trước bó sau ngoài tại miệng đường hầm chày, không có trường hợp nào đường hầm chày chật so với đường kính 2 bó mảnh ghép dây chằng

Bảng 4: Vị trí của vít và độ rộng đường hầm chày trong nhóm BN có 2 bó nằm

trước sau tại miệng đường hầm chày (n = 95)

VỊ TRÍ VÍT SO VỚI 2 MẢNH GHÉP DƯỜNG KÍNH MIỆNG

ĐƯỜNG HẦM CHÀY

VÍT BẮT Ở BỜ TRONG CỦA 2 MẢNH GHÉP

VÍT NẰM Ở BỜ NGOÀI CỦA 2 MẢNH GHÉP

Σ

Đường hầm chặt

so với mảnh ghép dây chằng

Đường hầm vừa

so với mảnh ghép dây chằng

Đường hầm lớn hơn

so với mảnh ghép dây chằng

Trong 95 trường hợp bó trước trong nằm phía trước bó sau ngoài ở miệng đường hầm chày (như giải phẫu), tất cả đều được bắt vít chèn ở bờ trong 2 mảnh ghép dây chằng

Trang 7

Bảng 5: Đường kính của vít và đường kính đường hầm

ĐƯỜNG KÍNH VÍT

ĐƯỜNG HẦM

ĐƯỜNG KÍNH VÍT LỚN HƠN ĐƯỜNG KÍNH ĐƯỜNG HẦM

ĐƯỜNG KÍNH VÍT BẰNG ĐƯỜNG KÍNH ĐƯỜNG HẦM

ĐƯỜNG KÍNH VÍT NHỎ HƠN ĐƯỜNG KÍNH ĐƯỜNG HẦM

Đường hầm đùi

cho bó trước trong

Đường hầm đùi

cho bó sau ngoài

Đường hầm đùi cho bó sau ngoài được bắt vít chèn đầu tiên, không BN nào sử dụng vít có đường kính nhỏ hơn đường hầm đã khoan Tất cả các đường hầm chày đều được bắt vít chèn có đường kính bằng hoặc lớn hơn đường hầm, đáng lưu ý, chỉ

có 2 BN sử dụng vít chèn có đường kính nhỏ hơn đường hầm đùi cho bó trước trong

BÀN LUẬN

1 Kích thước và chất liệu của mảnh

ghép

Mảnh ghép tự thân hoặc đồng loại

được lựa chọn để tái tạo DCCT Mảnh

ghép tự thân bao gồm gân bánh chè, gân

cơ bán gân và gân cơ thon hoặc là gân

cơ tứ đầu đùi Tiêu chí lựa chọn mảnh

ghép phải đảm bảo không làm mất hoàn

toàn chức năng của nhóm cơ được lựa

chọn làm mảnh ghép Các mảnh ghép tự

thân gân bánh chè, gân cơ bán gân và

gân cơ thon, gân cơ tứ đầu đùi đáp ứng

được yêu cầu này

Gân cơ thon gập đôi làm mảnh ghép

bó sau ngoài, gân cơ bán gân gập đôi

làm mảnh ghép bó trước trong trong tái

tạo 2 bó dây chằng được nhiều tác giả đề

cập [3, 4, 5]

Trong nghiên cứu này, 32 BN phải

lấy thêm gân cơ bán gân bên chân đối

diện để tạo mảnh ghép 2 bó dây chằng

có kích thước đủ lớn Mặc dù vậy, mảnh ghép bó trước trong có đường kính lớn nhất cũng chỉ đạt được 7,5 mm và bó

sau ngoài là 7 mm (bảng 1) (nhỏ hơn

mảnh ghép được công bố trong các báo cáo nước ngoài) Trường hợp lấy thêm gân đối diện phần lớn được phẫu thuật trong năm đầu tiên thực hiện kỹ thuật này Chúng tôi thấy, bó sau ngoài chỉ

cần dài 8 cm là đủ (bảng 1) Bởi vậy,

thay vì gập đôi gân cơ thon, chúng tôi gập 3 gân cơ thon để làm bó sau ngoài Hiện nay, chúng tôi chỉ lấy thêm gân cơ bán gân bên đối diện khi mà gân cơ thon ngắn không đủ chiều dài 8 cm khi gập 3 Chính vì vậy, số lượng BN phải lấy thêm gân ở chân đối diện giảm rất nhiều

so với năm đầu thực hiện kỹ thuật này Theo Ips O và CS (2010) [2], đường kính bó sau ngoài ít nhất phải đạt 5 mm Trong nghiên cứu này, không có BN nào đường kính bó sau ngoài < 5 mm

Trang 8

Một số báo cáo sử dụng mảnh ghép

có đường kính trung bình lớn hơn đường

kính mảnh ghép của nghiên cứu này Ở

Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về

kích thước riêng biệt của từng bó DCCT

để làm cơ sở hướng dẫn trong lâm sàng

Ở những BN trẻ tuổi, gần đây chúng

tôi sử dụng gân ghép đồng loại để chủ

động hơn về kích thước mảnh ghép,

đồng thời giữ gìn tối đa thành phần gân

cơ quanh khớp gối Số BN này không

thuộc diện nghiên cứu

2 Làm thế nào để đảm bảo bó

trước trong nằm phía trước bó sau

ngoài (như giải phẫu DCCT)

Đối với kỹ thuật tái tạo DCCT dạng 2

bó với 4 đường hầm, mỗi bó mảnh ghép

dây chằng đi qua 1 đường hầm riêng biệt

dành cho chính nó Vì vậy, bó trước

trong luôn nằm trước bó sau ngoài ở

mâm chày Tuy nhiên, kỹ thuật này

không thực hiện được ở trường hợp

mâm chày nhỏ và khó ki khoan tạo 2

đường hầm chày đúng giải phẫu, có

nguy cơ bị vỡ miệng đường hầm trong

khớp Thêm nữa, chi phí phẫu thuật cao

hơn, do phải sử dụng thêm phương tiện

cố định ở đường hầm chày so với kỹ

thuật 3 đường hầm, thời gian phẫu thuật

kéo dài hơn

Kỹ thuật tái tạo DCCT dạng 2 bó với

2 đường hầm rất khó có thể tạo được 2

bó riêng biệt với vị trí của 2 bó đúng

như giải phẫu Vì vậy, kỹ thuật này được

coi chỉ để tạo 2 bó, không phải phục hồi

đúng giải phẫu dây chằng

Kỹ thuật tái tạo DCCT dạng 2 bó với

3 đường hầm phải đảm bảo bó trước

trong nằm phía trước bó sau ngoài ở miệng đường hầm chày, trong khi 2 bó này lại nằm chung trong 1 đường hầm Khi kéo bó trước trong qua đường hầm chày lên đường hầm đùi, bó trước trong luôn có xu hướng nằm ở phía trong, ngang bằng với bó sau ngoài ở miệng đường hầm chày, vì đường hầm đùi cho

bó trước trong nằm sau hơn và phía trong hơn đường hầm đùi cho bó sau ngoài khi gối gấp, làm cho hướng kéo bó trước trong luôn có xu hướng lệch về phía trong hơn so với bó sau ngoài

Để đảm bảo cho bó trước trong nằm phía trước bó sau ngoài ở miệng đường hầm chày, sau khi kéo bó sau ngoài qua đường hầm chày lên đường hầm đùi, chúng tôi sử dụng que thăm (palpateur) đưa “chỉ chờ” kéo bó trước trong ra phía trước bó sau ngoài và giữ như vậy cho tới khi bó sau ngoài được kéo lên đường hầm đùi, đồng thời giữ như vậy cho đến khi cố định xong mảnh ghép dây chằng

ở đường hầm đùi cho bó sau ngoài và 2 mảnh ghép ở đường hầm chày

Tuy vậy, khi không giữ được que thăm, bó trước trong vẫn có thể bị lệch vào trong nếu đường kính đường hầm chày lớn hơn đường kính của 2 mảnh ghép Trong nghiên cứu này, 15 BN có đường kính đường hầm chày lớn hơn đường kính 2 mảnh ghép dây chằng, bó

trước trong đều bị lệch vào trong (bảng 2)

(không đúng vị trí giải phẫu)

Trang 9

10 BN đường hầm chày có đường

kính vừa với đường kính 2 mảnh ghép

dây chằng, nhưng bó trước trong vẫn bị

lệch vào trong so với bó sau ngoài ở

miệng đường hầm chày trong khớp

(bảng 2) Cả 10 BN này vít chèn đều

được bắt ở bờ ngoài của 2 mảnh ghép

dây chằng (bảng 3) Chúng tôi cho rằng,

bó trước trong luôn có xu thế lệch trong

như đã nói ở trên, khi bắt vít chèn ở bờ

ngoài 2 mảnh ghép, vít sẽ đẩy mảnh

ghép bó trước trong lệch vào trong so

với bó sau ngoài Từ kinh nghiệm này,

chúng tôi chủ trương bắt vít chèn ở bờ

trong của 2 mảnh ghép dây chằng ở

đường hầm chày để chèn đẩy bó trước

trong ra phía trước và phía ngoài so với

bó sau ngoài ở miệng đường hầm chày

Trong nghiên cứu này, 8 BN có 2

mảnh ghép dây chằng được bắt vít chèn

ở bờ trong (bảng 3), nhưng bó trước

trong vẫn nằm ngang với bó sau ngoài là

do cả 8 BN này có đường hầm chày đều

lớn hơn 2 mảnh ghép

Tất cả 95 trường hợp bó trước trong

nằm phía trước bó sau ngoài trong

nghiên cứu này đều có đường hầm chày

vừa hoặc chặt so với 2 mảnh ghép dây

chằng và đều được bắt vít chèn ở bờ

trong của 2 mảnh ghép tại đường hầm

chày (bảng 4)

3 Lựa chọn cỡ số vít chèn cố định 2

mảnh ghép dây chằng ở đường hầm

đùi và chày

Lựa chọn cỡ vít không phù hợp thì

mảnh ghép dây chằng sẽ bị tuột hoặc vít

bị gãy, vỡ, mảnh ghép dây chằng bị xoắn theo vít, nghiền đứt

15 BN có đường kính đường hầm chày lớn hơn đường kính của cả 2 mảnh ghép bó trước trong và sau ngoài Đây là những trường hợp gân cơ bán gân và gân cơ thon ngắn, sau khi gập đôi đã tạo được chiều dài vừa đủ Chính vì vậy, 2 đầu gập đôi được kéo lên 2 đường hầm đùi có đường kính lớn hơn đường kính của 4 đầu mút của 2 gân, nhưng khi khoan đường hầm chày phải khoan với đường kính tương ứng với đường kính của 2 đầu gập đôi để kéo 2 mảnh ghép này cùng đi qua 1 đường hầm chày Với trường hợp gân cơ bán gân và gân cơ thon dài, sau khi gập đôi đầu mút của gân sẽ nằm thừa ra ngoài đường hầm chày Khi đó, đoạn gân nằm trong đường hầm chày sẽ có đường kính tương ứng đầu gập đôi của gân

Chính vì vậy, việc lựa chọn vít chèn phải căn cứ vào tương quan của đường kính đường hầm chày và đường kính đoạn gân của 2 mảnh ghép nằm trong đường hầm này Ngoài ra, cảm giác khi khoan đường hầm là cơ sở để đánh giá chất lượng xương quanh đường hầm Chúng tôi sử dụng dụng cụ nong đường hầm (có hình chóp nón) để vừa có tác dụng nén xương ra xung quanh, đồng thời thăm dò đường kính cỡ vít sẽ sử dụng Đây là những yếu tố chính để lựa chọn cỡ vít

Chúng tôi sử dụng phần lớn vít có cỡ

số lớn hơn hoặc bằng với đường kính đường hầm đã khoan 2 BN sử dụng vít

Trang 10

có đường kính nhỏ hơn đường hầm đùi

cho bó trước trong (bảng 5) Đây là

những trường hợp mảnh ghép dây chằng

chặt khít với đường hầm đã khoan (kéo

vào đường hầm rất khó khăn), sau khi

bắt vít chèn ở đường hầm đùi cho bó sau

ngoài làm xương bị nén ra xung quanh,

khi nong đường hầm chưa sâu đến

đường kính đã khoan, phát hiện nguy cơ

vỡ xương nếu cố đóng thêm

Để không làm mảnh ghép dây chằng

“to ra” do “trương nước”, nên hút khô

nước trong khớp để bắt vít chèn cố định

các mảnh ghép Sử dụng dụng cụ nong

đường hầm còn có tác dụng phòng ngừa

vít nghiền đứt hoặc xoắn cuốn mảnh

ghép dây chằng khi vặn vít Từ khi có

dụng cụ nong đường hầm, chúng tôi không

sử dụng ta rô Kỹ thuật bắt vít chèn ở cả

2 đường hầm đùi làm tăng khả năng cố

định 2 mảnh ghép dây chằng, vì lồi cầu

đùi được nén ép và chèn đẩy bởi khối

lượng của 2 vít chèn và xương được nén

ra xung quanh khi nong đường hầm

KẾT LUẬN

Kích thước 2 bó DCTT được tái tạo

phụ thuộc vào kích thước của nguồn

cho, gân cơ thon có thể gập 3 nếu đủ dài

để tạo bó sau ngoài có chiều dài > 8 cm

Trong trường hợp gân ngắn hơn, lấy

thêm gân ở chân đối diện Nguồn gân

ghép đồng loại là một lựa chọn để chủ

động về kích thước và chiều dài của

mảnh ghép dây chằng

Để đảm bảo bó trước trong nằm phía

trước bó sau ngoài ở miệng đường hầm

chày, đường kính của đường hầm chày

phải vừa hoặc chặt so với 2 mảnh ghép

dây chằng và vít được bắt chèn ở bờ trong của 2 mảnh ghép ở đường hầm chày Trong trường hợp đường kính đường hầm chày lớn hơn 2 mảnh ghép dây chằng, vít chèn bắt ở bờ ngoài 2 mảnh ghép, nguy cơ bó trước trong nằm không đúng vị trí giải phẫu ở điểm bám chày sẽ xuất hiện

Cỡ số vít chèn ở đường hầm chày luôn lớn hơn hoặc bằng đường kính đường hầm chày, việc lựa chọn cỡ vít còn phụ thuộc vào chất lượng xương mâm chày

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ahn J.H, Lee S.H Anterior cruciate

ligament double bundle reconstruction with hamstring tendon autografts Arthroscopy

2007, 23 (1), 109.e1-109.e4

2 Ips O, Vivek J, Kuldeep S.N Anatomical

double bundle ACL reconstruction using hamstring tendon graft clinical evaluation JCOT 2010, Vol 1, No 1, pp.26-31

3 Jarvela T Double - bundle versus

single - bundle anterior cruciate ligament reconstruction: a prospective, randomize clinical study Knee Surg Sports Traumatol Arthrosc 2007, 15, pp.500-507

4 Siebold R, Dehler C, Ellert T

Prospective randomized comparison of double bundle versus single bundle anterior cruciate ligament reconstruction Arthroscopy 2008,

24, pp.137-145

5 Yagi M, Kuroda R, Nagamune K, Yoshiya

S, Kurosaka M Double - bundle ACL

reconstruction can improve rotational stability Clin Orthop Relat Res 2007, 454, pp.100-107

Ngày đăng: 20/01/2020, 16:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w