Hàng ngày chúng ta vẫn thường tập luyện Yoga và nhận được những lợi ích tuyệt vời từ nó mang lại. Hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về lịch sử, ý nghĩa và tác dụng của yoga đối với cuộc sống hiện đại qua cuốn sách yoga toàn tập này nhé.
Trang 1TRIẾT HỌC YOGA
Hương Anh Fitness & Yoga
149A Phố Huế - Hai Bà Trưng – Hà Nội
http://huonganhyoga.vn
0936 657 555
Niềm tin mang tính khoa học
Trang 2LỜI GIỚI THIỆU
• “Yoga không phải là câu chuyện thần thoại nào đó bị lãng quên Yoga chính là di sản đáng quý nhất còn hiện hữu Yoga là nhu cầu bức thiết của ngày hôm nay, và là cả một nền văn hóa trong tương lai.” -Swami Satyananda Saraswati (người tiên phong trong Yoga và triết học Vệ Đà)
Yoga là môn khoa học về lối sống đúng đắn, với mục đích đưa vào cuộc sống Yoga tác động tới mọi khía cạnh của một con người: Thể chất, tinh thần, cảm xúc, tâm linh, tinh thần.
“Yoga” bắt nguồn từ tiếng Sanskrit (từ Yui), nghĩa là thống nhất, hay hợp nhất, hòa làm một “Sự hợp nhất” hiểu trên góc độ tinh thần chính là sự hợp nhất giữa nhận thức của cá nhân và nhận thức của vũ trụ Trên phương diện thực tiễn, Yoga là công cụ tạo nên sự cân bằng và hài hòa giữa cơ thể, tâm trý và cảm xúc Điều này được tạo nên thông qua việc thực hành các bài tập Asana, Pranayama, Mudra, Bandha, Shatkarma và Thiền định, và cần phải đạt được trước khi hợp nhất diễn ra ở thực tế cao hơn.
Môn khoa học Yoga trước tiên tác động lên mặt ngoài cơ thể_ mặt thể chất Đối với đại đa số người tập mặt thể chất chính là cấp độ bắt đầu có ý nghĩa thực thiễn nhất với họ Tại cấp độ này nếu xảy ra sự mất cân bằng, thì các cơ quan,
hệ cơ và hệ thần kinh sẽ không còn hoạt động hòa hợp nữa, mà tác động tiêu cực lẫn nhau Ví dụ, hệ nội tiết hoạt động thất thường, hay suy giảm hệ thần kinh đến mức có thể sinh bệnh Mục đích của Yoga là nhằm gắn kết các bộ phận có chức năng riêng biệt trong cơ thể, giúp chúng hoạt động hài hòa, tạo nên hiệu quả hoạt động trong toàn bộ cơ thể.
Trang 3 Bắt đầu từ cấp độ thể chất, “Yoga” “tiến tới” tinh thần và xúc cảm Rất nhiều người trải qua cảm giác sợ hãi, hay chứng rối loạn thần kinh như một hệ quả của stress và những tác động từ cuộc sống hàng ngày Yoga không thể chữa trị các loại bệnh, mà thực chất nó cung cấp cho ta những phương thức đã được kiểm chứng nhằm đối phó với bệnh tật.
Swami Sivananda đã định nghĩa Yoga chính là “…sự hòa nhập và hài hòa giữa tư tưởng, ngôn ngữ và hành động_ cũng là sự hài hòa giữa khối óc, con tim và đôi tay” Thông qua việc tập luyện Yoga, nhận thức phát triển như một kết quả của mối quan hệ tương tác giữa cảm xúc, tinh thần và thể chất Dần dà, nhận thức này giúp ta có thêm kiến thức
về những không gian tồn tại bí ẩn xung quanh.
Yoga bao gồm rất nhiều nhánh như: Raja, Hatha, Jnana, Karma, Bhakti, Mantra, Kundalini và Laya Mỗi nhánh lại có những ghi chép vô cùng chi tiết về chúng Mỗi cá nhân có nhiệm vụ tìm ra nhánh phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của bản thân Trong nửa thế kỷ trở lại đây Hatha Yoga trở thành loại hình Yoga phổ biến nhất trong hệ thống Yoga Những khái niệm cấu thành nên Yoga vô cùng lớn và đang được truyền
bá rộng rãi Trong những tài liệu cổ, Hatha Yoga chỉ bao gồm Shatkarmas (bài tập thanh lọc cơ thể) Thế nhưng ngày nay, nó còn bao hàm cả những loại hình luyện tập khác như: Asana, Pranayama, Mudra
và Bandha.
Giới thiệu về Yoga
Trang 4 Yoga mà chúng ta biết tới ngày nay được phát triển như một phần của nền văn minh Tantra tồn tại ở Ấn Độ 10 ngàn năm trước Tại thung lũng Indus (Pakistan ngày nay), các nhà khảo cổ học đã tìm được rất nhiều bức tượng có tạo hình tương đồng với thần Shiva và Parvati đang thực hiện các tư thế Asana và thiền định Đây là những tàn tích còn lại chứng minh sự phồn thịnh của nền văn minh tiền-Vệ Đà (trước cả nền văn minh cổ Aryan) tại tiểu lục địa Ấn Độ Theo những quan niệm truyền thống mang hơi hướng thần thoại, thần Shiva chính là vị thần khai sinh ra Yoga và cũng
là người thầy của Parvati (cũng là một vị thần trong thần thoại Ấn Độ).
Lịch sử Yoga
Trang 5 Thần Shiva từ ngàn xưa đã được coi như biểu tượng hay sự hiện thân của nhận thức vĩ đại Trong khi đó, Parvati là biểu tượng của kiến thức, ý chí, hành động và sự sáng tạo Những nguồn năng lượng này được gọi là Kundalini Shakti_ nguồn năng lượng từ vũ trụ ẩn sâu bên trong mỗi sinh thể sống Parvati được xem như người mẹ của toàn vũ trụ Mỗi linh hồn đơn lẻ đều găn với một cái tên và hình hài nhất định, được giải phóng khỏi những ngăn trở, tiến tới hợp nhất với nhận thức vĩ đại dưới lòng nhân từ của
bà Bằng sự thương yêu và lòng trắc ẩn của mình, người mẹ vĩ đại
ấy truyền lại cho những đứa con kiến thức về tự do_chính là Tantra Những kỹ năng trong Yoga ngày nay bắt nguồn từ chính Tantra, và 2 ý niệm này không bao giờ được tách rời, giống như việc thần Shiva không thể tách rời Shakti_nguồn năng lượng của mình.
•
Lịch sử Yoga
Trang 6 Yoga khởi thủy từ thời kỳ sơ khai của nền văn minh loài người, khi
mà con người bắt đầu nhận thức được năng lực tinh thần và phát triển năng lực ấy Dần dần bộ môn khoa học Yoga được phát triển bởi những nhà hiền triết trên khắp thế giới ở nhiều nên văn minh khác nhau Cũng chính vì vậy mà bản chất về Yoga thường bị giấu
đi hoặc được giải thích bằng nhiều hình tượng, ngôn ngữ đa dạng Theo một số đức tin, Yoga là món quà thiêng liêng được ban cho những nhà hiền triết cổ đại, giúp con người có cơ hội được tiếp cận
và nhận thức bản chất linh thiêng của mình.
Trang 7Lịch sử Yoga
Từ thời cổ đại, các kỹ năng Yoga không được ghi chép lại hay truyền
bá dưới hình thức công khai Các kiến thức này thường được những nhà hiền triết truyền miệng cho những môn đệ của mình Chính dưới hình thức này, ý nghĩa và mục đích của Yoga được hiểu rõ và sâu hơn Thông qua những trải nghiệm từ chính bản thân, những Yogis và các nhà hiền triết biết cách hướng những môn đệ của mình đi theo con đường đúng đắn, giải quyết được những vấn đề khó nắm bắt, khó hiểu.
Cuốn sách đầu tiên có liên quan tới Yoga chính là cuốn Tantras, và sau này là cuốn kinh Vệ Đà được ghi chép trong thời kỳ hưng thịnh của nền văn hóa thung lũng Ấn Độ Mặc dù không đưa ra bài tập chi tiết, những cuốn sách này vẫn ám chỉ Yoga Trên thực tế, những đoạn thơ trong kinh Vệ Đà được những nhà hiền triết, những Rishi (các vị thánh) “thấm thía” trong trạng thái thiền định sâu và tĩnh, và được coi như những bài kinh Tới Upnishads( một cuốn kinh Yoga khác), Yoga được định nghĩa hoàn chỉnh hơn Chính những bài thơ đã tạo nên cuốn kinh Vệ Đà, bao hàm cái “cốt” của thần học Vệ Đà.
Trang 8Lịch sử Yoga
Trong cuốn Yoga Sutra của mình (Raja Yoga), nhà hiền triết Patanjali đã hệ thống Yoga theo cách bài bản, thống nhất và dễ hình dung nhất Với nội dung chính là 8 con đường trong Yoga, bao gồm Yama_quy tắc ứng xử với xã hội; Niyama_quy tắc ứng xử với bản thân, Asana, Pranayama, Pratyahara_làm chủ cảm xúc trước tác động bên ngoài; Dharana_sự tập trung; Dhyana_thiền định và Samadhi_trạng thái phúc lạc.
Thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, sự ảnh hưởng của Đức Phật đã đặt những tư tưởng thiền định, đạo đức và nhân cách con người lên hàng đầu, dẫn đến bỏ qua các bài tập tiền đề trong Yoga Dù vậy, các nhà tư tưởng Yoga sớm nhận ra điểm hạn chế trong tư tưởng này Thánh Matsyendranath cho rằng trước khi bước vào thiền định, cơ thể cần phải được thanh lọc Trong Yoga cũng có một tư thế mang tên ông: Matsyendrasana Môn đồ chính của ông, Gorakhnath, đã viết một cuốn sách về Hatha Yoga bằng tiếng địa phương và tiếng Hindi.
Trang 9Lịch sử Yoga
Theo truyền thống Ấn Độ, các ghi chép nguyên bản phảiđược viết theo tiếng Sanskrit (tiếng phạn) Trong một sốtrường hợp họ biến đổi chữ viết của họ thành ký hiệu đểđảm bảo rằng chỉ những người đã chuẩn bị và sẵn sànggiảng dạy có thể hiểu được Một trong những tác giả nổibật trong trường phái Hatha yoga, Swami Swatmarama, đãviết cuốn sách “Hatha Yoga Pradipika” hay “Ánh sángYoga”, bằng tiếng Sanskrit (tiếng Phạn), đối chiếu tất cảnhững tài liệu còn tồn tại về chuyện này Để làm vậy, ông
đã giảm bớt sự nhấn mạnh về yếu tố Yama và Niyamatrong Hatha Yoga, qua đó loại bỏ được những khó khăn
mà những người mới tập gặp phải Trong cuốn “HathaYoga Pradipika”, Swatmarama bắt đầu với cơ thể, chỉ khitâm trý ổn định và cân bằng, người tập mới có khả năng tựchủ và tự kỷ luật
Trang 10Sự cấp thiết trong việc học
Yoga ngày nay
Ngày nay, khi chúng ta đã bước vào thế kỷ 21, thì Yoga giờ đã được chứng minh như một di sản của nhân loại.Thế nhưng trong khi mục đích chính của Yoga là mang lại lợi ích về mặt tinh thần và tâm linh, thì ngày nay nhiều hướng dẫn viên Yoga vẫn hướng mọi người tới những lợi ích về mặt vật chất và hữu hình trong khi bỏ qua yếu tố tinh thần và tâm linh cốt lõi.
Trị liệu về cả tinh thần và thể chất là một trong những mục tiêu lớn nhất trong Yoga Điều khiến Yoga “quyền năng” đến vậy là nhờ vào
cơ chế hoạt động dựa trên những nguyên tắc mang tính hài hòa và thống nhất Yoga thành công đến vậy là dựa trên phương thức trị liệu nhiều loại bệnh như: hen suyễn, tiểu đường, huyết áp, viêm khớp, rối loạn tiêu hóa và các chứng bệnh kinh niên khác khi mà y học phương tây “bó tay” Những nghiên cứu về tác dụng của Yoga đối với các chứng bệnh tình dục cũng đang được hoàn thiện với kết quả hứa hẹn Theo các nhà y khoa, trị liệu Yoga mang lại kết quả tuyệt vời vì tao ra sự cân bằng trong hệ thống thần kinh và hệ nội tiết (đây là 2 hệ tác động trực tiếp lên các hệ và các cơ quan khác trong cơ thể)
Trang 11Sự chính đáng của việc luyện tập
Yoga ngày nay
Đối với hầu hết mọi người, Yoga giờ đây như 1 công cụ duy trỳ sức
khỏe và hạnh phúc trong cuộc sống đầy căng thẳng hiện nay Các tư thế Asanas giúp loại bỏ những hạn chế về mặt thể chất khi mà con người phải dành ra nhiều giờ mỗi ngày vào các công việc bàn giấy.
Kỹ thuật thư giãn trong Yoga thì tối ưu hóa tác dụng của khoảng thời gian nghỉ ngời đang ngày càng bị cắt giảm Trong thời đại của công nghệ, tin nhắn hay shopping 24/24 giờ, các bài tập Yoga không chỉ giúp ích cho con người trong lối hành xử, mà còn trong công việc.
Ngoài việc đáp ứng nhu cầu cá nhân, mục tiêu của Yoga còn nằm ở
việcgiải quyết những mâu thuẫn trong xã hội Ở vào thời điểm mà thế giới trở nên hỗn loạn với guồng quay cuộc sống nhanh tới chóng mặt, những giá trị xưa cũ bị đánh mất trong khi những giá trị mới chưa kịp tạo nên, Yoga trở thành công cụ giúp con người tìm ra
cách thức kết nối với bản ngã của chính mình Thông qua kết nối ấy, con người sẽ có khả năng thể hiện sự hòa hợp trong nhịp sống hiện đại.
Trang 12Sự chính đáng của việc luyện tập
Yoga ngày nay
những bài tập thông thường Yoga là
tồn tại cả hiện thực trong lẫn ngoại vi.
Trang 13Luyện tập
Chìa khóa của bộ môn khoa học Yoga
Trong thời kỳ văn hóa Vệ Đà Ấn Độ, có một học thuyết phát triển con người, giải phóng chúng ta khỏi những giới hạn về nhận thức và tên gọi Học thuyết ấy như một món quà ban cho con người nhận thức mang tầm vũ trụ, được coi như thứ nhận thức tối cao Đó là Para Vidva (thuật ngữ)
Việc lĩnh hội Para Vidva không chỉ nằm ở việc hiểu, mà còn phải tập luyện, thực hành Para vidva không đơn giản là nắm bắt được kiến thức, mà hơn hết là đưa những kiến thức ấy vào hành động và trải nghiệm thực tế Bởi lẽ, Para Vidva (hay khoa học Yoga) chính là bộ môn khoa học thực tiễn áp dụng vào cuộc sống Đây chính là thực tế, là điểm mấu chốt trong mối quan hệ với Yoga Mỗi người cần
mang trong mình khát vọng và lòng kiên định, tuân thủ những hướng dẫn, đưa
Yoga vào cuộc sống của mình, vào những hoạt động mang tính tinh thần, lời nói, thể chất Đây chính là cốt lõi của kiến thức Ta chỉ có thể lĩnh hội tri thức ấy thông qua mục đích mang tính khoa học và chuyển đổi chúng sang hành động thực tiễn đưa vào cuộc sống thực tế của bản thân.
Tất cả những khía cạnh trong Yoga, từ điểm khởi đầu, đều là những kiến thức được truyền tải với mục đích chuyển đổi sang Abhyasa (Luyện tập mang tính tâm linh), bởi Abhyasa chính là “trái ngọt kiến thức”, là những trải nghiệm hiếm có khó tìm Chính vì điều này, ta cần khắc cốt ghi tâm thuật ngữ Abhyasa, bởi lẽ Yoga chính là
bộ môn khoa học “Tự nhận thức bản thân mình”, và Abhyasa chính là cốt lõi của môn khoa học ấy Ta học, chính là để sống, và để đưa những kiến thức ta học được vào cuộc sống.
Trang 14Trạng thái của con người
Triết lý Yoga nói rằng: “Không Bạn đã thực sự thoát ly khỏi những
điều đó Bạn không còn chịu sự khổ hạnh Bạn không thấy đói, thấy khát, buồn ngủ, hay mệt mỏi Bạn không còn cảm thấy đau đớn, hay khoái lạc Bạn không còn buồn rầu, kích động, lo âu, bồn chồn Bạn sẽ trở thành con người hoàn hảo, hoàn thiện Bạn không còn điều gì thiếu sót, tràn đầy niềm vui, bình an, hạnh phúc.” Vậy, nếu đây là thực tế, thì điều gì xảy ra nếu như những trải nghiệm của bạn hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế được đưa ra? Câu trả lời là gì? Lý do ra sao? Tại sao lại nảy sinh sự mâu thuẫn phức tạp này? Vấn đề nảy sinh từ đâu?
Theo triết lý Yoga, nhân cách con người như những tinh thể pha lê
trong suốt,nguyên chất Những tinh thể này hoàn toàn có thể biến đổi màu sắc nếu như chúng bị đặt cạnh những vật thể có màu Những vật thể đó có thể là một trái bóng màu xanh lá cây, hay một bông hoa màu đỏ, Những vật thể ấy đều có thể khiến cho các tinh thể trong suốt biến đổi màu sắc thành màu sắc của vật thể Vì vậy, triết lý Yoga nói rằng nếu như trạng thái của bạn tương đồng, hoặc có liên quan tới điều gì
đó, thì trạng thái của điều đó có thể ảnh hưởng, thậm chí chiếm hữu bạn.
Trang 15Trạng thái thực sự của
con người
Như trường hợp của tinh thể pha lê, khi ta đã nhuốm màu sắc của vật thể khác, ta phải làm gì để một lần nữa trở nên trong suốt và thuần khiết, như chính
trạng thái ban đầu của mình? Câu trả lời là TÁCH
BIỆT Điều ta cần làm là loại bỏ sự tương đồng giữa 2
cá thể: tinh thể và vật thể Nếu như vật thể có màu
đang đứng quá sát tinh thể, thì điều ta cần làm là đẩy vật thể có màu đó ra xa tinh thể Khi đó, tinh thể sẽ lại một lần nữa được cách ly khỏi vật thể đa màu
sắc_thứ đã ảnh hưởng tới tính chất của tinh thể, và lại một lần nữa tinh thể quay về trạng thái trong suốt của mình Tinh thể không còn chịu sự ảnh hưởng bởi thứ không có mối liên hệ với bản chất của nó Điều này cũng tương đồng với bản chất của con người
Trang 16Tâm lý học Yoga
Triết lý Yoga và tâm lý học Yoga là 2 khái niệm song
hành Mỗi khi cân nhắc một khía cạnh, người ta đều phải xem xét khía cạnh còn lại bởi việc luyện tập Yoga về cơ bản dựa trên cơ sở tâm lý-triết lý học Triết lý Yoga và
tâm lý học Yoga không chỉ là tấm phông nền của Yoga,
mà chính là cơ sở nền tảng của nó Dựa trên cơ sở này những bài tập khác nhau được hình thành tuyệt đối trong tâm trý, không chỉ trong lúc chúng ta học, mà còn trong khi luyện tập Asanas Chỉ khi ấy các bài tập mới trở nên ý nghĩa và được hoàn thiện Khi việc luyện tập đạt kết quả tích cực, ta cần nhớ tới lý do vì sao ta luyện tập? ta mong muốn đạt được điều gì trong quá trình tập luyện? hiệu quả của bài tập đối với bản chất và trạng thái tinh thần của mình ra sao?
Trang 17 Một khi chưa trả lời được nhữ câu hỏi trên, ta sẽ
chưa thể xác định được liệu con đường ta đang đi
có đúng đắn va tích cực hay không Dựa trên việc trả lời câu hỏi ấy, ta sẽ xác định được việc tập luyện của mình liệu có đang tiến triển hay đang dậm chân tại chỗ? liệu có hiệu quả hay chỉ là việc làm vô ích? Làm thế nào để ta tiến bộ? Chỉ khi có được câu trả lời, ta mới kiểm soát được quá trình tập luyện, từ đó tiến hành luyện tập có ý nghĩa và mang lại hiệu quả
Đó cũng chính là lý do vì sao bạn nên ghi nhớ cơ sở tâm lý-triết lý học trong quá trình luyện tập Yoga.
Tâm lý học Yoga
Trang 18 Do vậy, 8 nhánh chính là những phẩm chất và đặc tính của Yoga Chúng phát triển trong cuộc sống của con người, trở nên trưởng thành và hoàn thiện hơn.
Trang 198 nhánh Yoga
Maharishi nói rằng 8 nhánh này cấu thành nên
phần trọng tâm của Yoga Và để hiểu Yoga 1 cách thấu đáo, ta buộc phải quan tâm tới các nhánh
này
8 nhánh này cấu thành nên phần trọng tâm trong Yoga Việc chú ý tới các nhánh này giúp ta lĩnh hội cấu trúc của Yoga Yoga Sutras_cuốn kinh Yoga, là cuốn sách mang tới kiến thức toàn diện về Yoga Nhà hiên triết Patanjali chính là người đã nghiên cứu tất cả
những khía cạnh của cuộc sống và truyền tải phần
thân Yoga, trạng thái cuộc sống trong sự hợp nhất,
tóm gọn lại trong 8 nhánh Yoga
Trang 208 nhánh Yoga
Với những tư tưởng như vậy, hãy cùng nhìn vào những chú giải mà Maharishi đề cập trong mỗi nhánh nhằm hiểu được chúng bao hàm những điều gì 8 nhánh đó bao gồm:
1 Yama- Nhà cầm quyền- quản lý 8 khía cạnh trong Yoga, kết dính các khía cạnh này với nhau.
2 Niyama- Luật lệ, mà dựa vào đó nhà cầm quyền sử dụng như công
cụ để quản lý
3 Asana- Sự vững vàng, ổn định của một khối thống nhất.
4 Pranayama- sự vận động, động cơ của hành động
5 Pratyahara- Những trải nghiệm đáp ứng nhu cầu về mặt xúc cảm
6 Dharana- Công cụ duy trì sự thống nhất.
7 Dhyana- Thiền luyện.
8 Samadhi- Ý thức mang tính trừu tượng Sự hợp nhất của những nhận thức mang tính cá nhân với tri thức vũ trụ.
Trang 211 Yama
(Đạo lý)
Yama là nhánh đầu tiên trong Yoga Yama bắt nguồn từ tiếng Sanskit (tiếng Phạn) Trong đó Yam nghĩa là giúp đỡ, hỗ trợ Yama thường được hiểu là tự kiểm soát, tự kiềm chế bản
thân Trong mối quan hệ với Yoga, Yama thường được hiểu như những quy tắc ứng xử Hầu hết những nhà nghiên cứu đều cho rằng thông qua việc rèn luyện 5 Yamas, mỗi cá nhân
sẽ cải thiện khả năng tương tác với những cá nhân khác và với môi trường , qua đó tạo nên trải nghiệm và nâng cao khả năng luyện tập
Maharishi thì khác, ông miêu tả Yama như chất lượng của trí tuệ, là thứ quản lý 8 khía cạnh trong Yoga, kết nối chúng trong một khối thống nhất Đây cũng chính là động lực giúp duy trì trạng thái hợp nhất của một khối thống nhất Trong đó sự
sống đơn lẻ và sự sống vũ trụ hòa làm một Điều này mang tới
sự sáng tỏ, trong đó cái tôi vĩnh cửu được duy trì với sự sống
cá nhân
Trang 22bộ cơ thể Yoga
Yama vận hành dựa trên 5 phương diện, với chức năng kết nối các nhánh lại với nhau 5 phương diện ấy được biết đến là 5
Yamas.
I Satya- Sự thật không bao giờ thay đổi.
II Ahimsa- Không gây tổn hại tới người khác
III Asteya- Không trộm cắp.
IV Brahmacharya- Kiểm soát cảm xúc.
V Aparigrana- Không vụ lợi, tích cóp.
Trang 23 1 Ahimsa-Lòng trắc ẩn đối với mọi sinh thể sống trên Trái Đất.
Ahimsa theo nghĩa đen là không được gây tổn hại hay hành xử tàn nhẫn đối với bất kỳ sinh thể sống nào bằng bất kỳ phương thức nào Thế nhưng, Ahimsa không chỉ là phi bạo lực, như được áp dụng trong Yoga Ahimsa nghĩa là tử tế, thân thiết, suy xét kỹ lưỡng đối với người khác và với vạn vật xung quanh Ahimsa phải được thể hiện như nghĩa vụ và trách nhiệm
Ahimsa ngụ ý dù ở vào hoàn cảnh nào, ta cũng cần đưa ra cách hành xử phù hợp và
không gây tổn hại tới người khác
2 Satya- Tuyệt đối thành thật
“Satya” nghĩa là “nói lên sự thật”, dù vậy không phải lúc nào ta cũng muốn nói lên sự thật bởi
có những hoàn cảnh sự thật có thể gây tổn hại tới người khác Ta cần luôn luôn cân nhắc
những điều mình nói ra, nói ra như thế nào, và điều mình nói có gây tổn hại tới ai không Nếu việc nói ra sự thật gây hậu quả tiêu cực đối với người khác, vậy tốt hơn hết là không nói gì Satya không nên mâu thuẫn với Ahimsa Ahimsa phải dựa trên việc hiểu rõ về thật thà trong giao tiếp, và cách ứng xử hình thành cơ sở của những mối quan hệ, cộng đồng, nhà nước tốt đẹp Loại bỏ những điều dối trá, phóng đại gây tổn hại tới người khác.
không được nhận bất cứ thứ gì được cho một cách miễn cưỡng Nghĩa là không nên nuôi
dưỡng ý định “xin xỏ”, hoặc “hỏi” ai đó về thứ mà họ không muốn cho, bắt họ phải cho, điều
ấy trong một chừng mực nào đó, cũng là trộm cắp
Trang 24• 4 Brahmacharya- Kiểm soát cảm xúc.
• Brahmacharya thường được hiểu dưới nghĩa tiết chế bản thân, đặc biệt trong mối quan hệ tình dục Brahmacharya chỉ ra rằng ta cần hình thành những mối quan hệ có khả năng phát triển sự hiểu biết Brahmacharya
không bắt ép con người phải sống độc thân Mà ý nghĩa đích thực của nó là hành xử có trách nhiệm với sự tôn trọng và có mục đích tốt đẹp (tiến tới sự thật) Rèn luyện Brahmacharya nghĩa là ta phải dùng năng lượng sinh dục của mình để tái tạo kết nối tới tinh thần Cũng có nghĩa là không được dùng năng lượng sinh dục của mình gây tổn thương người khác
• 5 Aparigraha- Trung hòa những ham muốn vụ lợi hoặc tích lũy làm giàu cho bản thân mình Aparigraha nghĩa là chỉ nhận những thứ mình cần,
không lợi dụng hoàn cảnh đê hành xử tham lam Ta chỉ nên nhận những thứ mà ta đáng được nhận; nếu như ta nhận nhiều hơn, nghĩa là ta đang lợi dụng người khác Yogi cảm nhận việc thu thập và tích lũy của cải nghĩa là thiếu niềm tin vào Chúa cũng như thiếu niềm tin vào bản thân Aparigraha cũng ngụ ý bỏ qua những điều nhỏ nhặt để hiểu rằng sự nhất thời và
những thay đổi mới là bất biến.
• Cuốn Yoga Sutra đã miêu tả những điều diễn ra khi 5 cách hành xử này cùng tồn tại và trở thành 1 phần của cuộc sống con người Khi ấy, Yamas
là những chuẩn mực đạo đức chính làm thuần khiết bản năng của con
người, đồng thời đóng góp vào sức khỏe và hạnh phúc của cộng đồng
Trang 252 Niyama
(Sự tuân thủ cá nhân)
Niyama nghĩa là luật lệ, thường được quy vào những loại hình luật lệ hay sự tuân thủ khác nhau Trong cuốn Yoga Sutra, Niyama là những luật lệ mà dựa vào đó Yama thực thi, cùng duy trì và quản lý cấu trúc của một khối thống
nhất Maharishi nói rằng theo tiếng Phạn, “Ni” nghĩa là dẫn dắt_nghĩa là những luật lệ này dẫn dắt Yama_nhà cầm
quyền quản lý toàn bộ các luật lệ
Danh sách 5 Yamas:
I Sauca – Thanh lọc.
II Santosa – Sự bằng lòng
III Tapas – gia tăng ánh sáng của cuộc sống.
IV Tvadhyaya – Mở ra một chương mới của bản thân.
V Isvara-pranidhana – Mở ra nhận thức duy trì vũ trụ
Trang 26 1 Sauca- Thanh lọc.
Niyama đầu tiên chính là Sauca, nghĩa là thanh lọc, hay gột rửa Sauca có 2 tác động: bên trong và bên ngoài Tác động bên ngoài đơn giản là làm sạch
cơ thể, trong khi tác động bên trong là thanh lọc, giúp cơ thể khỏe mạnh, các
cơ quan hoạt động trơn tru linh hoạt, khai sáng tâm trý Pranayamas và
Asanas chính là những công cụ thiết yếu nhằm đạt được điều này Asanas đẩy mạnh khả năng hoạt động của cơ thể, thải loại chất độc trong khi
Pranayamas làm sạch phổi, cung cấp đầy đủ Oxi cho máu và thanh lọc hệ thần kinh “Nhưng so với thanh lọc về mặt thể chất, thanh lọc về mặt tâm trý khỏi những cảm xúc căm thù, ham mê, giận dữ, ham muốn, tham lam, lừa dối, kiểu căng có ý nghĩa quan trọng hơn “
2 Santosa – Sự bằng lòng
Niyama tiếp theo là Santosa_ sự nhún nhường, bằng lòng với những gì mình đang có Điểm quan trọng là phải giữ được tâm trý thanh thản, hài lòng với cuộc sống của mình dù đối mặt với hoàn cảnh khó khăn, tạo nên quá trình phát triển bất chấp nghịch cảnh Ta cần chấp nhận 1 điều: mọi thứ diễn ra đều có mục đích – người ta gọi đó là Karma (nghiệp) Và mục đích của việc rèn luyện đức tính bằng lòng là “chấp nhận những gì xảy ra” Nghĩa là bằng lòng với những gì ta có, hơn là không bằng lòng vì những điều mình không
có