1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và yếu tố liên quan tử vong ở bệnh nhân hạ natri máu tại khoa hồi sức tích cực Bệnh viện Chợ Rẫy

7 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 313,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết xác định tỉ lệ mắc, thời gian nằm hồi sức, thời gian thở máy và mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của BỆNH NHÂN hạ natri máu tại khoa Hồi sức tích cực (HSTC). Xác định tỉ lệ tử vong và các yếu tố liên quan tử vong ở bệnh nhân hạ natri máu tại khoa HSTC.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỬ VONG Ở BỆNH NHÂN HẠ NATRI MÁU

TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Phan Thanh Toàn*, Trương Ngọc Hải**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Hạ natri máu rất hay gặp trong thực hành lâm sàng, nhất là ở nhóm bệnh nhân (BỆNH

NHÂN) hồi sức Tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về tỉ lệ tử vong, các yếu tố liên quan tử vong của hạ natri máu trên nhóm BỆNH NHÂN hồi sức

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ mắc, thời gian nằm hồi sức, thời gian thở máy và mô tả một số đặc điểm lâm sàng,

cận lâm sàng của BỆNH NHÂN hạ natri máu tại khoa Hồi sức tích cực (HSTC) Xác định tỉ lệ tử vong và các yếu tố liên quan tử vong ở BỆNH NHÂN hạ natri máu tại khoa HSTC

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang ở các BỆNH NHÂN có

natri máu < 130 mmol/L được theo dõi, điều trị tại khoa HSTC-Bệnh viện Chợ Rẫy từ ngày 1/9/2016 đến ngày 31/1/2017

Kết quả và kết luận: Có 151 bệnh nhân với tuổi trung bình 59.6 ± 19.9, tỉ lệ nam/nữ 1,12/1, điểm GCS

10.2 ± 2.40, điểm APACHE II 23.25 ± 6.60, điểm SOFA 9.32 ± 3.94, tỉ lệ hạ natri máu chung là 24,04% (hạ natri máu lúc nhập hồi sức 9,39%), thời gian nằm hồi sức trung vị là 14 ngày, thời gian nằm hồi sức của hai nhóm hạ natri máu sau nhập hồi sức và tại thời điểm nhập hồi sức khác biệt có ý nghĩa thống kê (18 vs 6; p < 0,0001), thời gian thở máy trung vị là 8 ngày, thời gian thở máy của hai nhóm hạ natri máu sau nhập hồi sức và tại thời điểm nhập hồi sức khác biệt có ý nghĩa thống kê (13 vs 4; p < 0,0001) Tỉ lệ tử vong là 42,4%, tỉ lệ tử vong ở 2 nhóm hạ natri máu lúc nhập và sau nhập hôi sức không khác biệt (42,4% vs 42,4%; p = 0,998) Điểm APACHE II, điểm SOFA, nồng urea máu, nồng độ creatinine máu, nồng độ kali máu có liên quan đến tử vong.

Từ khóa: Hạ natri máu, hạ natri máu lúc nhập hồi sức, hạ natri máu sau nhập hồi sức, thời gian nằm hồi

sức, thời gian thở máy, yếu tố liên quan tử vong

ABSTRACT

STUDY OF CLINICAL AND NONCLINICAL CHARACTERISTICS AND MORTALITY- ASSOCIATED

FACTORS OF HYPONATREMIC PATIENTS IN THE INTENSIVE CARE UNIT

OF CHO RAY HOSPITAL

Phan Thanh Toan, Truong Ngoc Hai

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 75 - 81

Background: Hyponatremia is very commonly found in clinical practice, especially in ICU patients

However, there are few hyponatremia studies of mortality rate or mortality-associated factors in ICU patients in Viet Nam

Objectives: To determine the frequency, length of ICU stage, length of mechanical ventilation, mortality

rate, and mortality-associated factors and describe some clinical and nonclinical characters in ICU patients

* Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

** Bộ môn Hồi Sức – Cấp cứu – Chống độc, Đại học Y Dược TP HCM

- BV Đa Khoa Quốc Tế Vinmec Central Park

Trang 2

Methods and participants: Observational prospective study in patients with serum sodium concentration

lower than 130 mmol/L treated in the ICU of Cho Ray hospital from Sep 1, 2016 to Jan 31, 2017

Results and conclusions: 151 hyponatremic patients enrolled The mean age was 59.6 ± 19.9; male to

female was 1.12/1, mean GCS 10.2 ± 2.40, mean APACHE II score 23.25 ± 6.60, mean SOFA score 9.32 ± 3.94 The frequency of hyponatremia on ICU patients was 24.04% (ICU admission hyponatremia 9.39% and ICU acquired hyponatremia 14.65%) The median length of ICU stage was 14 days (the median length of ICU stage of ICU acquired hyponatremia group was significantly longer than that of ICU admission hyponatremia group with

p value < 0.0001) The median length of mechanical ventilation was 8 days (the median length of mechanical ventilation of ICU acquired hyponatremia group was significantly longer than that of ICU admission hyponatremia group with p value < 0.0001) The mortality was 42.4%, the mortality in both groups was not significantly different (42.4% vs 42.4%; p = 0.998) APACHE II score, SOFA score, serum urea and creatinine concentration, serum potassium concentration is associated to mortality

Keywords: Hyponatremia, ICU admission hyponatremia, ICU acquired hyponatremia, length of ICU stage,

length of mechanical ventilation, mortality-associated factor

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hạ natri máu rất hay gặp trong thực hành

lâm sàng hàng ngày nhất là ở nhóm BN hồi

sức(10,12) Triệu chứng của hạ natri máu rất thay

đổi, có thể từ buồn nôn, mệt mỏi nếu là hạ natri

máu nhẹ cho đến lừ đừ, đau đầu, thay đổi tri

giác, co giật hay hôn mê nếu hạ natri máu nặng

Hạ natri máu nếu không được phát hiện và xử lý

kịp thời có thể dẫn tới phù não, hôn mê hoặc tử

vong và làm tăng thêm chi phí điều trị Tần suất

hạ natri máu của BN nội trú cũng thay đổi theo

thời gian nằm viện và đối tượng BN được khảo

sát theo một số nghiên cứu Tần suất hạ natri

máu của BN hồi sức có thể lên đến 30-40%(12) Tỉ

lệ mắc hạ natri máu lúc nhập viện là 13,4% và hạ

natri máu trong lúc nằm viện là 12,6%(4) Một số

nghiên cứu trước đây cho thấy hạ natri máu làm

tăng số ngày nằm hồi sức, kéo dài thời gian thở

máy trong hồi sức và tăng tỉ lệ tử vong(12,20) Do

đó, việc phát hiện và điều trị đúng mức đối với

hạ natri máu có thể giúp giảm tỉ lệ tử vong của

BN, giảm số ngày nằm viện, và giảm chi phí điều

trị Thực tế trên lâm sàng vấn đề hạ natri máu

không phải lúc nào cũng được đánh giá và quan

tâm đúng mức, ngay cả tại Hoa Kỳ vẫn có

những trường hơp hạ natri máu nặng bị bỏ

qua(9) Tại Việt Nam, vấn đề hạ natri máu ở BN

nội trú cũng được một số tác giả quan tâm(5,15)

Trên đối tượng là BN hồi sức nội-ngoại khoa, các

nghiên cứu khảo sát về hạ natri máu chưa nhiều, đặc biệt chưa có báo cáo xác định rõ mối tương quan giữa hạ natri máu và tử vong Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về hạ natri máu trên nhóm BN hồi sức, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và yếu tố liên quan tử vong ở bệnh nhân hạ natri máu tại khoa Hồi sức tích cực-Bệnh viện Chợ Rẫy”

Mục tiêu nghiên cứu

1 Xác định tỉ lệ mắc, thời gian nằm hồi sức, thời gian thở máy và mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của BN hạ natri máu tại khoa HSTC

2 Xác định tỉ lệ tử vong và các yếu tố liên quan tử vong ở BN hạ natri máu tại khoa HSTC

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Các BN được theo dõi và điều trị tại khoa HSTC-Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 9/2016 đến tháng 1/2017

Tiêu chuẩn chọn bệnh

BN ≥ 16 tuổi, nhập khoa HSTC lần đầu có

Na+ máu < 130 mmol/L ở bất kỳ thời điểm nào trong thời gian điều trị tại khoa HSTC

Tiêu chuẩn loại trừ

BN được chẩn đoán suy thận mạn giai đoạn cuối đang chạy thận nhân tạo hay thẩm phân

Trang 3

phúc mạc định kỳ, BN có thai, BN ung thư giai

đoạn cuối

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang với

phương pháp chọn mẫu thuận tiện với cỡ mẫu

tối thiểu là 87 BN

Phân tích số liệu: số liệu được xử lý bằng

phần mềm SPSS 16.0, thống kê mô tả và phân

tích, giá trị có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

KẾT QUẢ

Từ tháng 9/2016 đến tháng 1/2017, tại khoa

HSTC-Bệnh viện Chợ Rẫy có 628 BN nhập vào,

chúng tôi ghi nhận có 151 BN có nồng độ natri

máu < 130 mmol/L thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh và

tiêu chuẩn loại trừ với 71/151 BN nữ (47%)

- Nhóm > 64 tuổi chiếm ưu thế (46,4%)

- Có 114/151 BN nhập vào là do tuyến trước chuyển, chiếm tỉ lệ ưu thế (75,5%), tỉ lệ tử vong khác biệt không có ý nghĩa thống kê theo phương thức nhập viện (P = 0,204, phép kiểm Chi bình phương)

Bảng 1 Tuổi trung bình

Giới tính

Số

ca

chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình

Nam 80 17 92 60.91 18.10

Nữ 71 16 91 58.17 21.91 Chung 151 16 92 59.62 19.96

- Đau bụng, khó thở, sốt là các lý do nhập viện chiếm phần lớn trong nhóm BN nghiên cứu với tỉ lệ lần lượt là 32,5%, 27,8%, 13,9%

BN nghiên cứu có thể tích dịch ngoại bào bình thường chiếm tỉ lệ cao nhất với 55% và thể tích dịch ngoại bào tăng chiếm tỉ lệ 40,4%

Bảng 2 Các điểm trung bình SOFA, APACHE II, GCS

Hầu hết (96,1%) BN nghiên cứu đều phải thở

máy và thở máy trong 24 giờ đầu chiếm tỉ lệ lớn

(57%), BN được dùng vận mạch cũng chiếm tỉ lệ

cao (69,1%) và dùng vận mạch trong 24 giờ đầu

chiếm 35,1%

Tỉ lệ hạ natri máu chung được ghi nhận là

24,04%

Bảng 3 Tần số và tỉ lệ hạ natri máu tại các thời điểm

nghiên cứu

Thời điểm

Mức hạ natri máu

Tần số Tỉ lệ (%) Tần số Tỉ lệ (%)

Lúc nhập hồi sức 59 9,39% 24 3,82%

Sau nhập hồi sức 92 14,65% 15 2,39%

Giá trị hạ natri máu tại thời điểm đầu tiên

phát hiện hạ của mẫu chung là 128 (125-129)

mmol/L, giá trị hạ natri máu lúc nhập khoa

HSTC là 127 (124-128) mmol/L, giá trị hạ natri

máu sau nhập khoa HSTC: 128 (127-129)

mmol/L

Kiểm định qua phép kiểm Mann-Whitney U,

cho thấy giá trị trung vị thời gian nằm hồi sức

giữa nhóm hạ natri máu tại thời điểm nhập và sau nhập khoa HSTC khác biệt có ý nghĩa thống

kê (p < 0,0001)

Thời gian thở máy của 2 nhóm hạ natri máu lúc nhập và sau nhập khoa HSTC khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,0001, phép kiểm Mann-Whitney U)

Tỉ lệ tử vong là 42,4%

Cách thức ra khỏi khoa HSTC không có mối liên quan với mức hạ natri máu (p = 0,326, phép kiểm Chi bình phương)

Tỉ lệ tử vong ở hai nhóm hạ natri máu lúc nhập và sau nhập khoa HSTC không khác biệt (42,4% so với 42,4%, p = 0,998, phép kiểm Chi bình phương)

Tỉ lệ tử vong không khác biệt giữa nhóm ≥ 65 tuổi và nhóm < 65 tuổi (47,1% so với 38,3%, p = 0,271, phép kiểm Chi bình phương)

Tỉ lệ tử vong của nam và nữ không khác biệt

ở nhóm BN ≥ 65 tuổi (56,8% so với 36,4%, p = 0,088, phép kiểm Chi bình phương)

Trang 4

23.2%

7.3%

51%

4.7%

2.6%

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

Mức hạ natri máu (mmol/L)

sau nhập hồi sức lúc nhập hồi sức

Biểu đồ 1 Phân bố mức hạ natri máu chung trong nghiên cứu (ba mức: ≤ 120 mmol/L, 121-125 mmol/L,

126-129 mmol/L)

Bảng 4 Thời gian nằm hồi sức

(phép kiểm Mann-Whitney U) Trung vị Tứ phân vị Ngắn nhất – dài nhất

Hạ natri máu lúc nhập khoa HSTC 59 6 4-17 2-101

<0,0001

Hạ natri máu sau nhập khoa HSTC 92 18 9,25-32 4-78

Bảng 5 Thời gian thở máy và thời điểm hạ natri máu

Man-Whitney U) Trung vị Tứ phân vị Ngắn nhất – dài nhất

Nhóm hạ natri máu lúc nhập khoa HSTC 59 4,0 2-8 0-37

<0.0001 Nhóm hạ natri máu sau nhập khoa HSTC 92 13,0 6-24 0-73

Bảng 6 Các yếu tố có liên quan đến tử vong

Điểm APACHE II & tử vong 0,842 0,787 - 0,901 < 0,0001 24,5; 0,770

Điểm SOFA & tử vong 0,803 0,727 - 0,888 < 0,0001 8,5; 0,722

Nồng độ urea máu & tử vong 0,989 0,982 - 0,995 0,001 63; 0,666

Nồng độ creatinine máu & tử vong 0,710 0,540 - 0,933 0,014 1,83; 0,614

Nồng độ K+ máu & tử vong 0,680 0,476 - 0,973 0,035 4,55; 0,595

BÀN LUẬN

Tuổi trung bình của BN trong nghiên cứu

chúng tôi là 59,6 (± 19,96) Các nghiên cứu khác

trên BỆNH NHÂN hồi sức hoặc BN nội trú như

của tác giả Rajesh Padhi(12), Shivaji Patil(14) Đặng

Học Lâm(5) đều cho thấy tuổi trung bình của BN

trên 58 tuổi

Trong 151 BN trong nghiên cứu của chúng

tôi có 71 BN nữ (chiếm tỉ lệ 47%) và 80 BN nam

(chiếm tỉ lệ 53%) Tỉ lệ nam nhiều hơn nữ cũng

gặp trong nhiều nghiên cứu khác(13) Điểm GCS trung bình của BN trong nghiên cứu là 10,2, giữa nhóm BN tử vong và nhóm sống sót có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với GCS trung bình của nhóm tử vong là 9,3 và nhóm sống sót là 10,9 (p < 0,0001), tuy nhiên chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa điểm GCS và mức độ hạ natri máu (p = 0,228) Nghiên cứu của Stelfox và cộng sự năm 2008 ghi nhận GCS trung bình của các nhóm BN hạ natri máu, tăng natri máu và

Trang 5

natri máu bình thường lần lượt là 9,2; 8,1 và 9,6

và giữa điểm GCS trung bình thấp nhất của

nhóm BN hạ natri máu và mức độ hạ natri máu

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

(OR =1,06; 95% CI là 1,03 đến 1,08)(17)

Điểm SOFA trung bình của BN trong nghiên

cứu là 9,32, điểm SOFA trung bình của nhóm BN

sống sót là 8,07 và của nhóm BN tử vong là 11,03

và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <

0,0001 Nghiên cứu của Edson A Nicolini và Cs

trên nhóm BN ngoại khoa nhập hồi sức ghi nhận

điểm SOFA trung bình của các nhóm BN như

sau: nhóm mẫu chung 4,8±2,5, nhóm BN hạ natri

máu 5,09±2,67, nhóm natri máu bình thường

4,63±2,4, nhóm tăng natri máu 7±3,5(11)

Điểm APACHE II trung bình của BN trong

nghiên cứu của chúng tôi là 23,25, có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa điểm APACHE II trung

bình của nhóm BN tử vong và nhóm sống sót

với điểm trung bình lần lượt của nhóm BN sống

sót và tử vong là 20,71 và 26,69 (p < 0,0001) Theo

nghiên cứu của tác giả Stelfox và cộng sự, điểm

APACHE II trung bình của BN hạ natri máu, BN

natri máu bình thường và BN tăng natri máu lần

lượt là 19,8 (7,9), 16,9 (7,5) và 21,8 (7,7)(17)

Tỉ lệ hạ natri máu chung tại hồi sức: 24,04%

Tỉ lệ hạ natri máu chung trên nhóm BN nội trú

cũng như trên BN hồi sức thay đổi theo các tác

giả với các mức điểm cắt hạ natri máu khác

nhau Tỉ lệ này theo Rajesh Padhi là 34,3%(12),

theo Bennani và Cs là 13,7%(1)

Tỉ lệ hạ natri máu lúc nhập khoa HSTC:

9,4% Tỉ lệ hạ natri máu lúc nhập khoa HSTC

tương đối cao qua các nghiên cứu nước ngoài

trên nhóm BN hồi sức với các điểm cắt hạ natri

máu khác nhau Theo Bennani tỉ lệ này là

13,7%(1), 17,7% theo Georg-Christian Funk và

Cs(6), Kirsten Cumming và Cs ghi nhận tỉ lệ

13,4%(4) Như vậy tỉ lệ hạ natri máu lúc nhập

khoa HSTC trong nghiên cứu của chúng tôi

tương đối thấp so với các nghiên cứu của các tác

giả trên thế giới, nhưng do hầu hết các tác giả

đều chọn điểm cắt natri máu < 135 hoặc <136

mmol/L, chỉ riêng nghiên cứu của tác giả Bennani và Cs là có điểm cắt natri máu ≤ 130 mmol/L và đương nhiên khi chọn điểm cắt lớn hơn thì tỉ lệ sẽ cao hơn nếu cùng đặc điểm dân số chọn mẫu, trong nước có nghiên cứu của tác giả Trần Công Tính(19) với dân số nghiên cứu là BN nội trú tổng quát và tỉ lệ hạ natri máu lúc nhập viện là 2,8% Do vậy, chúng tôi nghĩ tỉ lệ hạ natri máu tại thời điểm nhập viện hay nhập hồi sức sẽ thay đổi tùy theo nghiên cứu chọn điểm cắt mức

hạ natri máu nào và thể loại dân số nghiên cứu

Tỉ lệ hạ natri máu sau nhập khoa HSTC: 14,6% Chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào tương đồng để đối chiếu về tỉ lệ hạ natri máu sau thời điểm nhập viện/hồi sức Tuy nhiên, chúng tôi cũng nêu ra tỉ lệ hạ natri máu sau thời điểm nhập viện/hồi sức của một số nghiên cứu nhằm

so sánh một cách tương đối, giá trị này dao động trong khoảng từ 0,17%(3) đến 14,4%(7) với các mức cắt hạ natri máu khác nhau

Thời gian nằm hồi sức trung vị là 14 (6 – 28) ngày, thời gian nằm hồi sức ngắn nhất là 2 ngày

và dài nhất là 101 ngày

Thời gian nằm viện cũng như thời gian nằm hồi sức của BN hạ natri máu đã được ghi nhận qua nhiều nghiên cứu của các tác giả trên thế giới với kết quả là thời gian nằm viện hay nằm hồi sức luôn dài hơn có ý nghĩa thống kê so với

BN không có hạ natri máu như nghiên cứu của Mark A Callahan và Cs (thời gian nằm viện trung vị: hạ natri máu trung bình đến nặng là 8 ngày, hạ natri máu nhẹ đến trung bình là 8 ngày, natri máu bình thường là 6 ngày ; p < 0,001)(2) Khi xem xét thời gian nằm hồi sức trung bình của BN hạ natri máu tại thời điểm nhập và sau nhập khoa HSTC, chúng tôi ghi nhận thời gian nằm hồi sức trung bình của nhóm BN hạ natri máu sau nhập khoa HSTC là 23,24 ngày dài hơn so với 12,37 ngày của nhóm BN hạ natri máu lúc nhập khoa HSTC, và sự khác biệt này có

ý nghĩa thống kê (p < 0,0001) Trước đây, trong nghiên cứu của Ewout và Cs, tác giả cũng ghi nhận kết quả tương tự (30,7 ngày so với 18,2

Trang 6

ngày, p = 0,01)(8) và Trần Công Tính cũng ghi

nhận kết quả không khác (20 ngày so với 12,25

ngày, p < 0,0001)(19)

Thời gian thở máy trung vị của nhóm BN hạ

natri máu lúc nhập khoa HSTC là 4 (2 – 8) ngày

và của nhóm hạ natri máu sau nhập khoa HSTC

là 13 (6 – 24) ngày và có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê giữa 2 nhóm (p < 0,0001)

Chúng tôi không tìm được nghiên cứu nào

tương đồng để so sánh, nhưng theo nhận định

của chúng tôi thì kết quả này là phù hợp vì thời

gian nằm hồi sức của BN hạ natri máu sau nhập

khoa HSTC dài hơn có ý nghĩa thống kê so với

nhóm BN hạ natri máu lúc nhập khoa HSTC và

một trong những lý do chính của BN phải lưu lại

hồi sức là vì BN còn phụ thuộc máy thở Tác giả

Rajesh Padhi ghi nhận thời gian thở máy trung

bình của BN hạ natri máu dài hơn so với của BN

có natri máu bình thường(12), Jayadave Shakher

và cộng sự cũng ghi nhận hạ natri máu làm tăng

số ngày thở máy(16)

BN thuộc nhóm tử vong có 64/151 ca, chiếm

tỉ lệ 42,4% Tỉ lệ này nằm trong khoảng tỉ lệ tử

vong của các nghiên cứu về tỉ lệ tử vong của BN

hạ natri máu lớn tuổi trong quá khứ là 33% đến

86%(18) Đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả

trên thế giới cho thấy dù natri máu chỉ hạ ở mức

độ nhẹ thì vẫn làm tăng nguy cơ tử vong của BN

Nghiên cứu của Sushrut và Cs ghi nhận ở mức

natri máu 130-134 mmol/L thì tỉ lệ tử vong là

4,8% so với 2,4% của nhóm BN natri máu bình

thường (135-144 mmol/L; OR = 1,87)(20), Mark A

Callahan và Cs ghi nhận tỉ lệ tử vong của nhóm

hạ natri máu trong khoảng 130-134 mmol/L là

10% so với 4% của nhóm natri máu bình

thường(2), hay tác giả Whelan B và Cs ghi nhận tỉ

lệ tử vong ở nhóm hạ natri máu nhẹ từ 130-135

mmol/L là 15,14% so với 7,94% của nhóm natri

máu bình thường(21)

KẾT LUẬN

Qua tiến hành nghiên cứu 151 BN hạ natri

máu < 130 mmol/L trong tổng số 628 BN nhập

khoa HSTC-Bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi có những kết luận như sau:

BN nghiên cứu có tuổi trung bình cao, nhóm tuổi > 64 tuổi chiếm ưu thế, nam nhiều hơn nữ Mức độ bệnh nặng thể hiện qua điểm APACHE II trung bình và điểm SOFA trung bình cao

Tỉ lệ thở máy và dùng vận mạch cao

Phần lớn BN có mức độ hạ natri máu trung bình

Tỉ lệ hạ natri máu chung tại khoa HSTC là 24,04% (lúc nhập hồi sức ít hơn sau nhập hồi sức)

Thời gian nằm hồi sức trung bình của mẫu chung là 20 ± 16,9 ngày (nhóm hạ natri máu sau nhập khoa HSTC dài hơn so với nhóm hạ natri máu tại thời điểm nhập khoa HSTC)

Thời gian thở máy trung vị của nhóm mẫu chung là 8 (3 – 19) ngày (nhóm hạ natri máu sau nhập khoa HSTC dài hơn so với nhóm hạ natri máu tại thời điểm nhập khoa HSTC)

Tỉ lệ tử vong tương đối cao (42,4%)

Một số yếu tố liên quan tử vong được ghi nhận: điểm APACHE II, điểm SOFA, nồng độ urea máu, nồng độ creatinine máu, nồng độ kali máu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bennani SL, Abouqal R, Zeggwagh AA, Madani N, Abidi K, Zekraoui A, et al (2003), "Incidence, causes and prognostic

factors of hyponatremia in intensive care", Rev Med Interne,

24(4), 224-229

2 Callahan MA, Do HT, Caplan DW, Yoon-Flannery K (2009),

"Economic impact of hyponatremia in hospitalized patients: a

retrospective cohort study", Postgraduate Medicine, 121(2),

186-191

3 Clayton JA, Le Jeune IR, Hall IP (2006), "Severe hyponatraemia in medical in-patients: aetiology, assessment

and outcome", QJM, 99(8), 505-511

4 Cumming K, Hoyle GE, Hutchison JD, Soiza RL (2014),

"Prevalence, Incidence and Etiology of Hyponatremia in

Elderly Patients with Fragility Fractures", PLoS ONE, 9(2),

e88272

5 Đặng Học Lâm, (2009), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm

sàng và điều trị hạ natri máu ở bệnh nhân TBMN cấp điều trị tại bv Bạch Mai khoa Cấp cứu-Hồi sức từ 2005-2009, Luận văn thạc sĩ Y

học, Trường Đại học Y Hà Nội

6 Funk GC, Lindner G, Druml W, Metnitz B, Schwarz C, Bauer

P, et al (2010), "Incidence and prognosis of dysnatremias

Trang 7

present on ICU admission", Intensive Care Medicine, 36(2),

304-311

7 Hawkins RC (2003), "Age and gender as risk factors for

hyponatremia and hypernatremia", Clinica Chimica Acta,

337(1-2), 169-172

8 Hoorn EJ, Lindemans J, Zietse R (2005), "Development of

severe hyponatraemia in hospitalized patients:

treatment-related risk factors and inadequate management", Nephrol Dial

Transplant, 21(1), 70-76

9 Huda MSB, Boyd A, Skagen K, Wile D, van Heyningen C,

Watson ID, et al ( 2006), "Investigation and management of

severe hyponatraemia in a hospital setting", Postgrad Med J,

82(965), 216–219

10 Lê Hữu Thiện Biên (2013), Hạ Natri máu, trong: Phạm Thị

Ngọc Thảo Hồi sức cấp cứu chống độc, Nhà xuất bản Y học,

TP Hồ Chí Minh, tr.154-164

11 Nicolini EA, Nunes RS, Santos GV, da Silva SL, Carreira MM,

Pellison FG, et al (2017), "Could dysnatremias play a role as

independent factors to predict mortality in surgical critically ill

patients?", Medicine (Baltimore), 96(9), e6182

12 Padhi R, Panda BỆNH NHÂN, Jagati S, Patra SC (2014),

"Hyponatremia in critically ill patients", Indian Journal of

Critical Care Medicine, 18(2), 83-87

13 Panicker GI, Joseph S (2014), "A prospective study on clinical

profile of hyponatremia in ICU hospitalized patients ",

International Journal of Biomedical And Advance Research, 5(6),

297-303

14 Patil S, Mukherji A, Shetty A (2016), "Incidence of

Hyponatremia in Critically Ill Patients in Intensive Care Unit:

Observational Study", International Journal of Dental and

Medical Specialty, 3(1), 12-15

15 Phạm Duệ (2011), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm

sàng hạ natri máu ở bệnh nhân bị rắn hổ cắn", Tạp chí Y học

thực hành, 6(768), 134-137

16 Shakher J, Gandhi N, Raghuraman G (2013), "Impact of

hyponatraemia in critically ill patients", Endocrine Abstracts, 31,

55

17 Stelfox HT, et al (2008), "The epidemiology of intensive care

unit-acquired hyponatremia and hypernatremia in

medical-surgical intensive care units", Critical Care, 12(6), R162

18 Sterns RH (1987), "Severe symptomatic hyponatremia:

treatment and outcome A study of 64 cases", Ann Intern Med,

107(5), 656-664

19 Trần Công Tính, (2011), Khảo sát tình trạng hạ natri máu ở

bệnh nhân nhập viện Nhân Dân 115 từ ngày 01/01/2010 đến

ngày 15/4/2010, Luận án tốt nghiệp CK II, Đại học Y Dược

thành phố Hồ Chí Minh

20 Waikar SS, Mount DB, Curhan GC (2009), "Mortality after

Hospitalization with Mild, Moderate, and Severe

Hyponatremia", Am J Med, 122(9), 857–865

21 Whelan B, Bennett K, O'Riordan D, Silke B (2009), "Serum sodium as a risk factor for in-hospital mortality in acute

unselected general medical patients", QJM, 102(3), 175-182

Ngày đăng: 16/01/2020, 03:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w