1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, các yếu tố liên quan tử vong ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não

8 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 380,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu trên 48 bệnh nhân (BN) đột quỵ (ĐQ) nhồi máu não (NMN) tử vong điều trị tại Bệnh viện TWQĐ 108 (2010 - 2012). Kết quả cho thấy: đặc điểm lâm sàng BN NMN tử vong, tuổi trung bình 69, thời gian vào viện sớm trong ngày đầu (trung bình giờ thứ 22 sau ĐQ); rối loạn ý thức khi vào viện sớm với điểm Glasgow trung bình 9 - 10 điểm.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

TỬ VONG Ở BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO

Nguyễn Hoàng Ngọc*; Đào Thị Vân Anh*

TÓM TẮT

Nghiên cứu trên 48 bệnh nhân (BN) đột quỵ (ĐQ) nhồi máu não (NMN) tử vong điều trị tại Bệnh viện TWQĐ 108 (2010 - 2012) chúng tôi nhận thấy: đặc điểm lâm sàng BN NMN tử vong: tuổi trung bình 69, thời gian vào viện sớm trong ngày đầu (trung bình giờ thứ 22 sau ĐQ); rối loạn ý thức khi vào viện sớm với điểm Glasgow trung bình 9 - 10 điểm Rối loạn điện giải, hạ natri máu thường xảy ra sớm trong giai đoạn cấp Các yếu tố nguy cơ ĐQ hay gặp nhất là rung nhĩ (21%), suy tim suy vành, nhồi máu cơ tim cũ (14,6%) Tổn thương khu vực động mạch não giữa diện rộng chiếm 56,3%

Nguyên nhân tử vong chính do tổn thương não gây phù não ác tính 60,5%; 10,5% do nhồi máu cơ tim cấp kết hợp; 16,7% bội nhiễm phổi gây suy hô hấp; 12,3% do suy kiệt và các nguyên nhân khác Các yếu tố liên quan đến tình trạng tử vong của BN là điểm glasgow < 11 điểm khi vào viện và tiến triển xấu nhanh trong ngày đầu; tổn thương diện rộng động mạch não và một số bệnh lý tim mạch kết hợp như rung nhĩ, suy vành nhồi máu cơ tim

* Từ khóa: Đột quỵ; Nhồi máu não; Đặc điểm lâm sàng; Tử vong

clinical characteristics, factors associated with mortality in patients suffering from

cerebral infarction stroke

Summary

Study on 48 patients with cerebral infarction stroke who were dead, we found that: their mean age was 69, average time on admission was 22 hours after stroke; the disorder of sense early on admission with glasgow of 9 - 10 points on average Hyponatremia often happens in the acute phase The common risk factors for stroke was atrial fibrillation (21%), heart failure, coronary heart disease, myocardial infarction (14.6%) 56.3% of them having massive hemispheric ischemic stroke

in middle cerebral artery area

Main cause of death due to malignant brain edema accounted for 60.5%; 10.5% was due to combined myocardial infarction; 16.7% had lung infections leading to respiratory failure; 12.3% was due to exhaustion and other causes

The factors related to patient's death was glasgow under 11 points on admission and rapidly bad progressed in the first days; extensive damage of the middle cerebral artery and a number of cardiovascular diseases such as atrial fibrillation, coronary heart disease, myocardial infarction

* Key words: Stroke; Cerebral infarction; Clinical characteristics; Mortality

* Bệnh viện TWQĐ 108

Chịu trách nhiệm nội dung khoa học: GS TS Nguyễn Văn Mùi

PGS TS Nguyễn Minh Hiện

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đột quỵ não (§QN) là một trong những

bệnh cấp cứu thần kinh thường gặp Theo

thống kê tại Mỹ, ĐQN là nguyên nhân tử

vong đứng thứ ba sau các bệnh tim mạch và

ung thư, đứng hàng đầu trong các bệnh lý

về thần kinh Ở Việt Nam, theo Lê Văn Thành,

Lê Văn Thính, tỷ lệ tử vong dao động từ 19 -

46% Trong những năm gần đây, nhờ sự ra

đời các trung tâm ĐQ não nên việc chẩn

đoán sớm, hồi sức tích cực, góp phần làm

giảm tỷ lệ tử vong (dao động 7 - 10%)

ĐQN được chia thành hai loại: ĐQ chảy

máu não và ĐQ thiếu máu não (NMN)

chiếm khoảng 70 - 85% Hiện nay mặc dù

chưa có một liệu pháp chuẩn và hiệu quả

trong điều trị ĐQ thiếu máu não cục bộ cấp,

nhưng việc chẩn đoán sớm và phát hiện

các yếu tố nguy cơ, yếu tố tiên lượng xấu

của tiến triển nặng để xử trí tích cực nhằm

hạn chế tử vong và di chứng bệnh là chiến

lược hiệu quả nhất Xuất phát từ lý do trên,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm:

Đánh giá đặc điểm lâm sàng, nguyên nhân

và yếu tố liên quan đến tử vong của BN ĐQ

NMN cấp

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

250 BN điều trị tại Trung tâm ĐQ não,

Bệnh viện TWQĐ 108, thỏa mãn tiêu chuẩn

chẩn đoán của ĐQ NMN Chia BN thành

2 nhóm:

Nhóm I: 48 BN ĐQ NMN tử vong trong

giai đoạn nằm viện (kể cả BN xin ra viện tử

vong tại nhà theo tiên lượng)

Nhóm II: 202 BN ĐQ NMN cấp được điều

trị ổn định ra viện

* Tiêu chuẩn chọn BN:

- BN vào viện giai đoạn cấp trong tuần đầu khởi phát

- Thỏa mãn tiêu chuẩn chẩn đoán của

Tổ chức Y tế Thế giới về §Q: khởi phát đột ngột với các triệu chứng thần kinh khu trú hoặc toàn thể của não kéo dài > 24 giờ hoặc dẫn đến tử vong mà không có nguyên nhân rõ ràng ngoài tổn thương mạch máu não

- Tất cả BN được chụp cắt lớp vi tính sọ não có hình ảnh giảm tỷ trọng khu vực tưới máu não, phù hợp với triệu chứng thần kinh khu trú Các trường hợp không rõ ràng trên chụp cắt lớp vi tính sọ não được chụp cộng hưởng từ xác chẩn

- BN vào viện muộn di chứng

2 Phương pháp nghiên cứu

- Mô tả cắt ngang

- Thu thập số liệu: BN nghiên cứu được làm bệnh án, thống kê theo mẫu nhất định Lâm sàng xác định thời gian khởi phát, thời gian nhập viện, khám và khai thác các triệu chứng lâm sàng khi khởi phát, toàn phát Làm đầy đủ các xét nghiệm máu gồm: định lượng glucose, cholesterol, các chỉ số mỡ máu khác như HDL-C; LDL-C; triglicerid, xét nghiệm men tim, làm điện tim, siêu âm tim xác định các yếu tố nguy cơ như: tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid

- Đánh giá đặc điểm lâm sàng, vị trí tổn thương trên chụp cắt lớp vi tính sọ não BN

ĐQ NMN tử vong

- Đánh giá các yếu tố nguy cơ lâm sàng trên nhóm BN NMN còn sống và nhóm tử vong, từ đó, tìm hiểu các yếu tố liên quan đến tử vong của BN NMN

- Xử lý số liệu: theo chương trình thống

kê SPSS 18.0

Trang 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Bảng 1: Đặc điểm BN nghiên cứu

Giới: nam (%)

nữ (%)

35 (73%)

13 (27%)

138 (68%)

64 (32%)

0,65

Thời gian trung bình khởi phát đến khi vào viện (giờ) 22,8 ± 12,7 35,67 ± 10,5 0,046

Huyết áp tâm thu trung bình khi khởi phát (mmHg) 129,6 ± 22,5 155,3 ± 30,7 0,104

Huyết áp tâm trương trung bình khi khởi phát (mmHg) 100,3 ± 26 93,7 ± 24,5 0,345

Điểm Glasgow lúc vào viện trung bình 9,54 ± 3,2 14,01 ± 1,8 0,00

Nồng độ glucose máu trung bình lúc vào viện (mmol/l) 7,194 ± 3,03 7,65 ± 5,47 0,574

Nồng độ natri máu trung bình (mmol/l) 135,26 ± 7,4 142,2 ± 11,8 0,00

BN NMN tử vong trung bình 69 tuæi Tuổi

trung bình và giới giữa hai nhóm BN NMN

tử vong và sống sót không có sự khác nhau

Nam chiếm 73% thời gian được nhập viện

trung bình trong ngày đầu của bệnh So với

nhóm BN NMN sống sót, thời gian vào viện

của BN NMN tử vong thường sớm hơn

(trung bình sớm hơn 13 giờ) thường vào

ngày thứ nhất ngay sau ĐQ Sở dĩ nh÷ng

BN này vào viện sớm vì triệu chứng ban

đầu thường nặng với rối loạn ý thức hoặc

liệt nặng ngay từ đầu Đặc biệt, tình trạng

rối loạn ý thức ngay khi vào viện ở nhóm

BN tử vong cao hơn rõ rệt so với nhóm BN

sống sót với điểm Glasgow trung bình là

9 - 10 điểm, so với nhóm sống sót là 14 điểm

Sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Nguyễn Văn Thông gặp tỷ lệ tử vong chung

do NMN tại Trung tâm ĐQ não trong 10 năm

(2003 - 2012) là 32,9%; tuổi trung bình của

BN tử vong do NMN là 69 tuổi; nhóm tử

vong do chảy máu não: 60 tuổi 53,2% BN

tử vong do ĐQN MN khi vào viện hôn mê với điểm Glasgow < 8 điểm [1] Các yếu tố lâm sàng khác không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, nhóm BN tử vong có rối loạn điện giải với hạ natri máu gặp nhiều hơn nhóm sống sót Sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Ngoài tính chất, mức độ rộng của tổn thương trên não gây phù não ác tính, tình trạng hạ natri máu cũng là một trong những yếu tố làm rối loạn nội môi, gây phù tế bào làm tăng quá trình phù não cấp tính Nguyên nhân của hạ natri máu là do tổn thương hệ dưới đồi - tuyến yên gây hội chứng tiết ADH không hợp lý (SIADH), xen

kẽ với tình trạng tăng tiêu thụ muối trung ương (CSW) rất hay gặp khi tổn thương não lớn ở BN NMN diện rộng, tạo nên một vòng xoắn bÖnh lý khiến bệnh trở nên phức tạp hơn [3]

Trang 4

Bảng 2: Các yếu tố nguy cơ của ĐQ não

CÁC YẾU TỐ

NGUY CƠ

NHÓM I (n = 48)

NHÓM II (n = 202)

p

Tăng huyết áp 17 (35,4%) 40 (19,8%) 0,034

Đái tháo đường 3 (6,3%) 29 (14,4%) 0,155

Suy vành, tiền sử

có nhồi máu cơ tim 7 (14,6%) 2 (1%) 0,000

ĐQ não cũ 19 (39,6%) 55 (27,3%) 0,073

BN có > 1 yếu tố

nguy cơ

32 (66,7%) 46 (22,8) 0,012

Các yếu tố nguy cơ giữa hai nhóm không

có sự khác biệt Huyết áp tâm thu và tâm

trương trung bình của nhóm BN NMN sống sót

cao hơn nhóm NMN tử vong Theo cơ chế,

tăng huyết áp sau ĐQ cấp trong những ngày

đầu là phản ứng có lợi của cơ thể, nhờ đó bảo

đảm lưu lượng máu não tới vùng bị tổn thương

Trong hướng dẫn điều trị ĐQ giai đoạn cấp,

không nên hạ huyết áp quá nhanh, tránh hiện

tượng cướp máu và làm lan rộng vùng tranh tối

tranh sáng [2] Phải chăng nhóm BN NMN tử

vong là do huyết áp giai đoạn đầu không đảm

bảo lưu lượng tuần hoàn não, làm lan rộng tổn

thương, dẫn đến phù não cấp và làm nặng

bệnh? Điều này chưa đủ cơ sở kết luận trong

nghiên cứu của chúng tôi, vì sự khác nhau này

không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

rung nhĩ, suy vành, suy tim trong nhóm BN

Một số yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch

như tử vong cao hơn rõ rệt so với nhóm BN

sống sót (p < 0,05) Rung nhĩ và suy tim

thường tạo cục tắc trong nhĩ trái, từ đó đẩy

vào hệ tuần hoàn lên não, gây tắc mạch và

thường tắc mạch lớn ở ngay gốc động mạch

não giữa gây NMN diện rộng nặng Chính vì

vậy, rung nhĩ và các bệnh tim là một trong

những yếu tố nguy cơ cao của NMN (do tắc

mạch từ tim) tử vong do kết hợp cả hai bệnh

nặng cùng một thời điểm Một yếu tố làm BN NMN có bệnh tim kèm theo nặng vì trong giai đoạn đầu chúng ta cần truyền dịch bù điện giải chống phù não, trong khi đó, bản thân bệnh lý tim mạch suy tim lại hạn chế tình trạng truyền dịch Do vậy, tình trạng phù não khó kiểm soát hơn và BN tử vong khi có phù não ác tính

Đặc biệt, ở nhóm BN tử vong thường có kết hợp ≥ 2 yếu tố nguy cơ (66,7%), cao hơn nhóm sống sót (22,8%) có ý nghĩa thống kê (p = 0,012)

Bảng 3: Vị trí tổn thương trên chụp cắt

lớp vi tính sọ não

VỊ TRÍ TỔN THƯƠNG

NHÓM I (n = 48)

NHÓM II (n = 202) p NMN diện rộng động

mạch não giữa và NMN tuần hoàn trước toàn bộ

27 (56,3%)

7 (3,5%) 0,000

NMN tuần hoàn trước

(41,5%)

0,022

NMN tuần hoàn sau 9 (18,8%) 33

(16,4%)

0,358

(38,6%)

0,037

56,3% BN tử vong tổn thương do NMN diện rộng khu vực động mạch não giữa trên chụp cắt lớp vi tính sọ não Những BN này đều có tình trạng phù não ác tính từ ngày thứ hai trở đi 18,8% BN NMN tử vong do tắc động mạch thân nền hoàn toàn Nguyễn Văn Thông và CS nhận thấy, 57,3% BN tử vong do NMN tổn thương khu vực cấp máu của động mạch não giữa động mạch th©n nền 7,3% [1] Như vậy, bên cạnh các bệnh

lý kết hợp ảnh hưởng đến điều trị và tiên lượng, chúng tôi còn thấy mức độ tổn thương, đặc biệt, tổn thương diện rộng khu vực động mạch não giữa ngay gốc phân

Trang 5

chia của động mạch cảnh trong là đặc điểm

nổi bật của BN NMN tử vong Sự khác nhau

này có ý nghĩa với p < 0,05 Nhiều tác giả

đã nhận thấy NMN động mạch não giữa có

phù não ác tính gây tăng áp lực nội sọ tụt

kẹt não tử vong khi điều trị bảo tồn rất cao

(76 - 80%) [3, 4, 5, 8]

* Nguyên nhân tử vong chính của BN NMN:

Do phù não ác tính, hôn mê sâu không

hồi phục: 29 BN (60,5%); nhồi máu cơ tim

rõ trên lâm sàng và điện tim: 5 BN (10,5%);

bội nhiễm phổi suy hô hấp: 8 BN (16,7%);

suy tim, suy kiệt và các nguyên nhân khác:

6 BN (12,3%)

Thống kê trên 48 BN NMN tử vong, phân

tích trên lâm sàng chúng tôi thấy các nguyên

nhân trực tiếp gây tử vong những BN này là

phù não ác tính gây hôn mê sâu không hồi

phục; nhồi máu cơ tim cấp gây tử vong xảy ra

trong giai đoạn bị NMN, bội nhiễm phổi; một số

nguyên nhân khác như chảy máu tiêu hóa

nặng, các bệnh lý nội khoa kèm theo, hoặc BN

quá già suy kiệt Nguyên nhân tử vong trực

tiếp là do tình trạng tổn thương não quá lớn

gây phù não ác tính

Một điểm chú ý là trong tất cả BN phù

não ác tính này, chưa có BN nào được

phẫu thuật mở sọ giải chèn ép chống phù

não, mới điều trị hoàn toàn bằng nội khoa

dùng thuốc đơn thuần kết hợp thở máy

tăng thông khí chống phù não Trên thế

giới, có nhiều thống kê cho thấy mở sọ giải

chèn ép cho BN phù não ác tính sau NMN

diện rộng cho kết quả khả quan hơn Một

nghiên cứu so sánh giữa phương pháp mở

sọ giải chèn ép và điều trị đơn thuần nội

khoa ở Heidelerg cho kết quả điều trị nội

khoa 76% tử vong, số sống sót tàn phế

trung bình, trong khi nhóm điều trị phẫu

thuật tử vong 32%; 2/3 số sống sót tàn phế

ở mức độ nhẹ và trung bình [7] Hiện nay,

còn ít số liệu về thử nghiệm ngẫu nhiên để kết luận điều này bởi nhiều BN trẻ tuổi không phẫu thuật lại có kết quả tốt khi dïng thuốc Câu hỏi đặt ra là việc cân nhắc lựa chọn BN, thời gian phẫu thuật lúc nào thích hợp, hay bị tổn thương bán cầu trội hay không trội cũng như các bệnh lý kết hợp kèm theo [6, 7]

Trong một nghiên cứu thống kê tình hình

tử vong của BN ĐQ não giai đoạn cấp, nhóm tác giả cho thấy nhóm tử vong do NMN nguyên nhân trực tiếp tử vong do tổn thương não nặng chiếm 59,7%; 36,6% nguyên nhân khác kết hợp không do tổn thương não đơn thuần; 3,7% chưa rõ nguyên nhân [1]

Bảng 4: Các yếu tố liên quan đến tử vong

của BN NMN

CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

NHÓM I (n = 48)

NHÓM II (n = 202) p

56,3%

89 44,1 < 0,05 1,6

21%

9 45% < 0,05 3,2 Suy vành, nhồi máu

cơ tim cũ

7 15%

2 1% < 0,05 4,5

10,5%

5 2,5% < 0,05 2,8 Điểm Glasgow khi vào

viện ≤ 11 điểm

33 69%

17 8,5% < 0,05 8,8 Nhồi máu diện rộng

động mạch não giữa

có phù não đè đẩy đường giữa

30 62,5%

28 13,9%

< 0,05 5,5

Biến chứng hạ natri máu nặng và bội nhiễm phổi

10 21%

8 4% < 0,05 3,7 Qua phân tích thống kê các triệu chứng lâm sàng, các yếu tố nguy cơ liên quan giữa hai nhóm BN NMN có tử vong và

Trang 6

không tử vong (202 BN), chúng tôi thấy một

số yếu tố liên quan rõ rệt là tình trạng rối

loạn ý thức ngay khi mới xảy ra đột quỵ

- Với BN có rối loạn ý thức sớm, Glasgow

< 11 điểm, tiến triển tăng dần trong ba ngày

đầu của ĐQ là dấu hiệu xấu nói lên tình

trạng tổn thương não rộng, phù não nặng,

dễ dẫn đến tử vong với OR 8,8 (5,2 - 14,9;

p < 0,05) Trên chụp cắt lớp vi tính, tổn thương

diện rộng động mạch não giữa cũng là một

trong những yếu tố liên quan đến nguy

cơ tử vong của BN với OR 5,5 (3,33 - 9,14;

p < 0,05)

Các bệnh kết hợp khác, đặc biệt bệnh

lý tim mạch như suy vành, rung nhĩ ảnh

hưởng nhiều tới hiệu quả điều trị và liên

quan tới tử vong của BN với OR lần lượt là

4,5 và 3,2

Nhận xét của chúng tôi tương đương với

Nguyễn Văn Thông khi đánh giá đặc điểm

chung BN tử vong do ĐQ não, đó là điểm

Glasgow thấp (< 8 điểm) và tổn thương

động mạch não giữa [1]

Sự khác nhau có ý nghĩa thống kê với

p < 0,05

KẾT LUẬN

Đặc điểm lâm sàng: BN NMN tử vong có

tuổi trung bình 69, thời gian vào viện sớm

trong ngày đầu trung bình giờ thứ 22 sau

§Q; rối loạn ý thức khi vào viện sớm, điểm

Glasgow trung bình 9 - 10 điểm Rối loạn

điện giải hạ natri máu hay gặp trong giai

đoạn cấp Các yếu tố nguy cơ ĐQ hay gặp

nhất là rung nhĩ, suy tim suy vành, nhồi

máu cơ tim cũ 56,3% tổn thương khu vực

động mạch não giữa diện rộng

Nguyên nhân tử vong chính do tổn

thương não gây phù não ác tính (60,5%);

10,5% do nhồi máu cơ tim cấp kết hợp;

16,7% bội nhiễm phổi gây suy hô hấp;

12,3% do suy kiệt và các nguyên nhân khác

Các yếu tố liên quan đến tình trạng tử vong của BN là điểm Glasgow < 11 điểm khi vào viện và tiến triển xấu nhanh trong ngày đầu Tổn thương diện rộng động mạch não giữa và một số bệnh lý tim mạch kết hợp như rung nhĩ, suy vành nhồi máu

cơ tim

Hình ảnh NMN diện rộng có phù não ác tính

BN NMN toàn bộ động mạch não giữa

và động mạch não sau bên trái gây phù não nặng (phù não ác tính) đè đẩy đường giữa

độ 3 Đè bẹp toàn bộ não thất bên bên trái

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

hình tử vong của BN ĐQ não tại Trung tâm ĐQ,

Bệnh viện TWQĐ 108 từ tháng 1 - 2013 đến

6 - 2012 Tạp chí Y Dƣợc lâm sàng 108 2012,

tập 7, số đặc biệt 10/2012; tr.23-35

2 Adams HP Jr, del Zoppo G, Alberts MJ,

et al Guidelines for the early management

of adults with ischemic stroke: a guideline from

the American Heart Association/American Stroke

Association Stroke Council, Clinical Cardiology

Council, Cardiovascular Radiology and Intervention

Council and the Atherosclerotic Peripheral

Vascular Disease and Quality of Care Outcomes

in Research Interdisciplinary Working Groups:

the American Academy of Neurology affirms the

value of this guideline as an educational tool for

neurologists Stroke 2007, 38, pp.1655-1711

3 Caplan LR, MD Stroke - a clinical approach

fourth edition Copyright 2009 by Saunders, an

imprint of Elsevier Inc 2009

4 Jaramillo A Gongora-Rivera F, Labreuche J,

Hauw JJ, Amarenco P Predictors for malignant

middle cerebral artery infarctions: a postmortem

analysis Neurology 2006, 66, pp.815-820

5 Kasner SE, Demchuk AM, Berrouschot J,

et al Predictors of fatal brain edema in massive

hemispheric ischemic stroke Stroke 2001,32, pp.2117-2123

6 Krieger DW, Demchuk AM, Kasner SE, Ja uss M, Hantson L Early clinical and radiological

predictors of fatal brain swelling in ischemic stroke Stroke 1999, 30, pp.287-292

7 Manawadu D, Quateen A, Findlay JM

Hemicraniectomy for massive middle cerebral artery infarction: a review Can J Neurol Sci

2008, 35, pp.544-550

8 Sid Gilman, Neil Kitchen, With Hadi Manji,

et al Oxford American Handbooke of Neurology

Copyright 2010 by OXFORD University Press

2010

Ngày nhận bài: 21/2/2013 Ngày giao phản biện: 20/3/2013 Ngày giao bản thảo in: 26/4/2013

Ngày đăng: 21/01/2020, 07:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w