1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn hội chứng bắt chẹn vai bằng phác đồ điện trị liệu kết hợp vận động trị liệu

6 57 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 297,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá kết quả điều trị bảo tồn và các yếu tố ảnh hưởng hội chứng bắt chẹn vai nguyên phát bằng phác đồ điện trị liệu kết hợp vận động trị liệu.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN HỘI CHỨNG BẮT CHẸN VAI BẰNG PHÁC ĐỒ ĐIỆN TRỊ LIỆU KẾT HỢP VẬN ĐỘNG TRỊ LIỆU

Mai Văn Thu*, Đỗ Phước Hùng**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Điều trị bảo tồn thường là chọn lựa đầu tiên trong điều trị hội chứng bắt chẹn dưới mỏm cùng

vai

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn và các yếu tố ảnh hưởng hội chứng bắt chẹn vai

nguyên phát bằng phác đồ điện trị liệu kết hợp vận động trị liệu

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 129 bệnh nhân hội chứng bắt chẹn vai nguyên phát (ICD: M 75)

được điều trị từ 1 đến 3 tháng, phát Bệnh nhân được chỉ định điện trị liệu kết hợp vận động trị liệu khớp vai tổn thương Đánh giá kết quả theo thang điểm VAS và Constant -Murley

Kết quả nghiên cứu: Điểm VAS trung bình trước điều trị là 7,16±2,00; Điểm VAS trung bình sau điều trị

là 1,71±1,73; Điểm Constant –Murley trung bình trước điều trị là 20,12±3,28 sau điều trị là 55,50±10,16 Sự khác biệt trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Kết quả khá tốt đạt 84,5%, thất bại điều trị 15,5% Các yếu tố tuổi, thời gian mắc bệnh, nghề nghiệp, tổn thương trên MRI ảnh hưởng đến kết quả điều trị có ý nghĩa thống kê p < 0,05 Giới tính không ảnh hưởng kết quả điều trị

Kết luận: Điều trị hội chứng bắt chẹn vai bằng phác đồ điện trị liệu kết hợp vận động trị liệu mang lại hiệu

quả Cần lưu ý yếu tố tuổi, thời gian mắc bệnh, nghề nghiệp, tổn thương trên MRI trong tiên lượng

Từ khoá: Hội chứng bắt chẹn vai, điều trị bảo tồn, chóp xoay

ABSTRACT

EFFECTIVENESS OF COMBINED ELECTROTHERAPY AND THERAPEUTIC EXERCISE

ON SUBACROMIAL IMPINGEMENT SYNDROME

Mai Van Thu, Do Phuoc Hung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 21 - No 2 - 2017: 127 - 132

Background: Conservative treatment is usually the first choice for primary subacromial impingement

syndrome

Purpose: To evaluate outcomes of conservative treatment in subacromial impingement syndrome, using

electrotherapy in combined with therapeutic exercise, and to identify the factors that affect the outcomes

Materials and Method: 129 patients suffering primary shoulder impingement syndrome (ICD M75) were

involved in the study We applied the combination of electrotherapy and professional therapy The duration of treatment was within 1 to 3 months The outcome was evaluated by VAS and Constant –Murley scale

Results: The average pre-treatment VAS was 7.16±2.00 and post-treatment VAS 1.71±1.73 The average

*Bệnh viện Chỉnh hình & Phục hồi chức năng TP Hồ Chí Minh,

**Bộ môn Chấn thương chỉnh hình – Phục hồi chức năng, Đại học Y Dược TPHCM

Trang 2

pre-treatment and post-treatment Constant – Murley score were 20.12±3.28 and 55.50±10.16, respectively The final outcome was 84.5% of fairly well and 15.5% of failure The Pre-and post-treatment outcome were different

in term of statistical significance with p<0.05 Age, duration of suffering, job and lesions found in MRI could affect the outcome

Conclusion: The combination of electrotherapy and therapeutic therapy to treat subacromial impingement

syndrome was effective Age, duration of suffering, job and lesions found in MRI should be noted in prognosis

Keywords: subacromial impingement syndrome, conservative treatment, rotator cuff

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng bắt chẹn vai là hậu quả của tình

trạng bệnh lý chỉnh hình diễn tiến do sự thay đổi

cơ sinh học hoặc bất thường cấu trúc vùng vai

hoặc cả hai Sự thay đổi bất thường này dẫn đến

mô mềm bị “kẹt” giữa các cấu trúc không hoặc

kém đàn hồi (xương, dây chằng, sụn viền…)

Diễn tiến lâu dài làm cho “mô mềm” bị tổn

thương (viêm, rách bán phần, rách toàn phần…)

Thay đổi tổn thương “mô mềm” này có thể

ngược lại làm hội chứng bắt chẹn vai nặng nề

hơn Dù do nguyên nhân gì, khởi đầu điều trị

hội chứng bắt chẹn vai nguyên phát thường là

phục hồi chức năng bao gồm vật lý trị liệu và

vận động trị liệu, có hoặc không kết hợp phương

pháp khác như thuốc, tâm lý trị liệu…Tuy nhiên

vai trò của phục hồi chức năng đối với hội chứng

bắt chẹn vai vẫn chưa thống nhất Việt Nam

chưa có báo cáo chính thức về kết quả điều trị

bảo tồn hội chứng này Do đó, chúng tôi tiến

hành đề tài: “Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn

hội chứng bắt chẹn vai bằng phác đồ điện trị liệu

kết hợp vận động trị liệu”

Mục tiêu

Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn bằng phác

đồ điện trị liệu phối hợp vận động trị liệu

Xác định một số yếu tố chính ảnh hưởng đến

kết quả điều trị bảo tồn hội chứng bắt chẹn vai

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

129 bệnh nhân đau khớp vai tuổi từ trên 18, khám các nghiệm pháp Neer, Hawkins và Yocum dương tính, chỉ định MRI Bệnh nhân được điều trị tại Khoa PHCN Bv CTCH và CH-PHCN TPHCM từ 4/2015 đến 4/2016

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu mô tả dọc

Công cụ đánh giá

Đánh giá kết quả điều trị theo thang điểm Constant và Murley (1987); đánh giá đau theo thang đểm VAS

Sau điều trị, theo thang điểm Constant, nếu bệnh nhân đạt loại khá, tốt và rất tốt thì xếp vào điều trị thành công, nếu bệnh nhân thuộc loại kém và trung bình thì xếp vào điều trị thất bại Đánh giá lại kết quả sau mỗi 4 tuần điểu trị

Xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được xử lý theo thuật toán thống kê y học sử dụng phần mềm SPSS 16.0 Kết quả được thể hiện dưới dạng: giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ % Các phép toán

sử dụng: test χ² (so sánh 2 tỷ lệ), One way Anova (kiểm định hai giá trị trung bình), kiểm định PAIRED SAMPLE T TEST (so sánh 2 trung bình cặp mẫu) tương quan PEARSON và hồi qui tuyến tính Kết quả nghiên cứu được coi là có ý nghĩa thống kê khi (p < 0,05)

Trang 3

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG BẮT CHẸN VAI

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tỷ lệ nữ tương đương với nam Vai (P) tổn

thương nhiều hơn Thời gian mắc bệnh trung

bình 2,2 tháng Bệnh nhân lao động phổ thông

tổn thương khớp vai nhiều nhất Tiền căn bệnh phối hợp ghi nhận trong nghiên cứu 30,3% Dạng mỏm cùng vai hình cong hoặc móc chiếm 39,5%

Bảng 1: Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu

ĐIỆN TRỊ LIỆU

HỘI CHỨNG BẮT CHẸN VAI

TƯ VẤN VẬN ĐỘNG TRỊ LIỆU

Sóng ngắn: Là kỹ thuật làm

tăng nhiệt độ trong tổ chức sâu Tác dụng làm tăng oxy, tăng thực bào, tăng lưu thông máu trong cơ và giảm đau

Liều điều trị:

1-2 lần mỗi ngày, mỗi lần 10-15 phút

Tập vận động thụ động: Tập

gấp duỗi, tập dạng khép và tập xoay vai

BN nghỉ ngơi

chủ động

BN điều chỉnh

tư thế Tập vận động chủ động: BN tự

tập vận động theo tầm vận động của khớp vai: Gấp, duỗi, dạng, khép, xoay trong, xoay ngoài khớp vai Điện xung trị liệu: Giúp

giảm đau qua kích hoạt đường ức chế đau, sưng, giảm co thăt cơ, tăng cường sức cơ, kích thích tái sinh

Liều điều trị:

15 phút/ 1 lần /ngày

BN sử dụng

vai

Tập với dụng cụ trợ giúp

BN giảm lực

tác động lên

Trang 4

Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu N %

Thoái hóa & viêm phù nề gân cơ chóp xoay 52 40,3

Lắng đọng calci trong gân cơ chóp xoay 8 6,2 Viêm dày bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai 15 11,6

Bảng 2: Diễn tiến điều trị

Điểm VAS 7,16 ± 2,007 1,71 ± 1,738 <0,05

Điểm Constant 20,12 ± 3,288 55,50 ± 10,161 <0,05

Nhận xét: Bệnh nhân giảm đau và cải thiện

chức năng sau điều trị rõ rệt

Bảng 3: Kết quả điều trị

bình

Nhóm

NC

% 7,0 24,0 53,5 12,4 3,1 100,0

Như vậy, kết quả thành công là 84,5%; Thất

bại 15,5%

BÀN LUẬN

Chẩn đoán

Biểu hiện lâm sàng của hội chứng bắt chẹn

vai tùy thuộc vào vị trí bị chèn ép

Theo vị trí bị bắt chẹn, hội chứng được chia

làm 3 nhóm:

Bắt chẹn bên ngoài còn được biết như bắt

chẹn dưới mỏm cùng vai

Bắt chẹn bên trong hay bắt chẹn dưới bề mặt

Bắt chẹn mỏm quạ

Bắt chẹn bên ngoài được mô tả đầu tiên bởi

Neer Hội chứng này xảy ra tại khoang giữa mặt

dưới mỏm cùng vai và mặt trên gân chóp xoay

Neer lại chia nhóm này thành 2 nhóm nhỏ là bắt

chẹn chỗ thoát (outlet) và bắt chẹn không phải chỗ thoát (non - outlet) Bắt chẹn outlet xảy ra khi cung quạ - cùng chèn lên gân ở thoát ra cung quạ cùng của gân trên gai, trong khi bắt chẹn non - outlet xảy ra thứ phát do túi hoạt dịch hay gân

cơ chóp xoay bị phì đại hay dày lên(5) Walch và Jobe mô tả hội chứng bắt chẹn trong do sự chèn ép giữa mặt dưới phần sau gân trên gai hoặc/và phần trước gân dưới gai vào bờ sau trên ổ chảo Tuy nhiên một số tác giả khác

mô tả mặt dưới gân cơ chóp xoay còn bị chèn ép bởi phức hợp sụn viền ổ chảo phía trước trên nữa Do đó, hội chứng bắt chẹn bên trong còn được chia thành bắt chẹn bên trong phía trước

và bắt chẹn bên trong phía sau Hội chứng bắt chẹn bên trong thường xảy ra ở người trẻ và trung niên, đa số dưới 40 tuổi.(1,5)

Trong nghiên cứu 3 nghiệm pháp Neer, Hawkins và Yocum giúp phát hiện Hội chứng trên Số liệu ghi nhận được tỉ lệ dương tính nghiệm pháp Neer 93,79%; nghiệm pháp Hawkins 92,25% và nghiệm pháp Yocum 88,37%

Về lâm sàng đau, đau làm thức giấc về đêm: Các mẫu NC 100% bệnh nhân đau vai trước điều trị (Bảng 1) theo thang điểm VAS có (55,8%) đau nặng; (41,1%) đau trung bình và (3,1%) đau nhẹ; không có bệnh nhân nào không đau (Bảng 1)

Trang 5

Về cận lâm sàng: kết quả cộng hưởng từ

78,3% bệnh nhân nghiên cứu có tổn thương

mỏm cùng (Bảng 1)

Như vậy, sự kết hợp lâm sàng và cận lâm

sàng giúp chẩn đoán xác định Điều này phù

hợp NC của Neer và các tác giả khác như Haahr

JP, Kitchel SH, Aoki M, Bergman AG, Bigliani

LU và Trần Trung Dũng(7)

Tuổi

129 bệnh nhân độ tuổi trung bình là (52,57 ±

13,01) Phần lớn bệnh nhân mắc bệnh ở tuổi trên

40 (81,4%), trong đó hay gặp nhất là nhóm tuổi

41 - 60 có tỷ lệ mắc (58,14%) Kết quả nghiên cứu

này phù hợp với kết quả của hầu hết các nghiên

cứu trong và ngoài nước.(2, 3,6,7)

Giới tính

Nhiều tác giả trên thế giới nhận thấy hội

chứng bắt chẹn vai thường gặp ở nữ nhiều hơn

nam, các tác giả này cho rằng có thể do người

phụ nữ thường phải đảm đương nhiều công

việc, trong đó có công việc nội trợ, quá trình lão

hóa tiến triển nhiều hơn và nhanh hơn nam giới

Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ

mắc hội chứng bắt chẹn vai ở nam (48,1%) và nữ

(51,9%) là tương đương nhau Kết quả này thu

được trên một mẫu nghiên cứu còn quá nhỏ so

với một điều tra dịch tễ nên sự phân bố này có

thể chưa phản ánh được tình hình chung về giới

tính trong hội chứng bắt chẹn vai

Nghề nghiệp

Qua nghiên cứu cho thấy nhóm bệnh nhân

có sử dụng tay đưa lên cao, nhất là những người

lao động phổ thông phải dùng tay trong các

công việc hàng ngày và chấn thương vùng vai

trong tai nạn lao động sẽ mắc hội chứng bắt chẹn

vai cao hơn nhóm nhân viên văn phòng

Tiền căn bệnh khớp vai

Hầu hết bệnh nhân bị hội chứng bắt chẹn vai

đơn thuần (69,7%), các bệnh kết hợp có thể gặp

là tăng huyết áp (16,3%), đái tháo đường (6,2%)

và chấn thương vùng vai (7,8%) Tại thời điểm

nghiên cứu, các bệnh nhân có THA, ĐTĐ và chấn thương vùng vai đã được điều trị ổn định.Theo Trần Trung Dũng(7) 20% bệnh nhân có tiền sử chấn thương vùng vai (đã loại trừ tổn thương rách gân chóp xoay và rách sụn viền) Theo Wright, bệnh liên quan hội chứng bắt chẹn vai như bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh tuyến giáp ở phụ nữ, bệnh tiểu đường ở phụ nữ, liệt nửa người, lao phổi, viêm phế quản mạn tính, và bệnh động kinh

Thời gian mắc bệnh

Đa số bệnh nhân mắc bệnh trên 3 tháng (45,7%) Kết quả này tương tự với kết quả nghiên

cứu của Trần Trung Dũng

Vị trí tổn thương của khớp vai

Kết quả nghiên cứu thấy tỷ lệ mắc bệnh của vai phải (51,9%) cao hơn vai trái (36,5%), tổn thương cả hai vai ít gặp (11,6%) Tỷ lệ này phù hợp với y văn.Theo Cailliet R, đứt gân cơ xoay thường xảy ra ở cánh tay thuận, đối với nam giới khoảng 50 tuổi, lao động với cánh tay phải đưa lên cao (dọn nhà, giao hàng )

Các nghiệm pháp chẩn đoán

Các nghiệm pháp dương tính thể hiện trên bệnh nhân đồng thời hoặc riêng lẻ Đa số bệnh nhân có cả 3 nghiệm pháp (66,7%) Kết quả thăm khám này của chúng tôi cũng tương tự một số tác giả khác(2,3)

Mức độ đau

Đau với cường độ đáng kể cùng với hạn chế vận động khớp vai là lý do khiến bệnh nhân đến khám Trong nghiên cứu số bệnh nhân đau nặng (55,8%), đau vừa (41,1%), và đau nhẹ (3,1%)

Điểm đau ban đầu trung bình theo VAS (7,16 ±

2,007) Trần Trung Dũng ghi nhận điểm đau ban đầu trung bình (8,4 ±1,25) tương đương nghiên

cứu của chúng tôi

Hạn chế vận động

100% bệnh nhân trước điều trị có hạn chế tầm vận động khớp vai do đau Tuy nhiên, nếu

Trang 6

có sự trợ giúp thì bệnh nhân vẫn hoạt động hết

tầm vận động khớp vai

Đặc điểm mỏm cùng vai trên X-quang

Qua nghiên cứu, mỏm cùng vai dạng

phẳng chiếm (60,5%) Mỏm cùng vai dạng

cong chiếm (33,3%) Mỏm cùng vai dạng móc

chiếm (6,2%) Kết quả này phù hợp với các

nghiên cứu tác giả Panni AS (1996) Tuy nhiên,

tác giả Hoàng Mạnh Cường(4) và Bigliani thì

mỏm cùng vai dạng móc và dạng cong chiếm

đa số, do các nghiên cứu của tác giả trên bệnh

nhân rách gân cơ chóp xoay

Đặc điểm các tổn thương nhận thấy trên

MRI khớp vai

Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu đều

được chỉ định MRI khớp vai với kết quả tổn

thương không hoàn toàn gân cơ chóp xoay

hoặc không phát hiện tổn thương sụn viền

Chúng tôi ghi nhận có 4 loại tổn thương là

thoái hóa và viêm gân cơ chóp xoay (40,3%);

lắng đọng can-xi (6,2%); viêm dày bao hoạt

dịch dưới mỏm cùng vai (11,6%) và đặc biệt có

(20,2%) rách nội gân (độ 1, 2) Kết quả thất bại

phải chuyển phương pháp điều trị rơi vào các

bệnh nhân nhóm rách nội gân

Thất bại điều trị

Trong loạt ca nghiên cứu, tỉ lệ thất bại điều

trị chiếm 15,5% kết quả này tương đồng với các

tác giả trên thế giới như Haahr và CS, Kendall và

CS, Kibler JE

Nguyên nhân được ghi nhận ở đa số nhóm

bệnh nhân lớn tuổi (9,3%); nhóm bệnh nhân mắc

bệnh kéo dài trên 3 tháng (10%); nhóm bệnh

nhân hết tuổi lao động (11,6%); nhóm bệnh nhân

rách nội gân (5,5%) Các yếu tố trên có ý nghĩa thống kê P < 0,05

KẾT LUẬN

Sự kết hợp điện trị liệu và vận động trị liệu mang lại hiệu quả điều trị rõ rệt, biểu hiện qua

sự cải thiện thang điểm đau VAS, tầm vận động khớp vai, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và lực của vai theo thang điểm của Constant CR và Murley AHG (1987)

Các yếu tố tuổi, thời gian mắc bệnh, nghề nghiệp, hình dạng mỏm cùng vai, có tổn thương nhận dạng trên MRI ảnh hưởng đến kết quả điều trị có ý nghĩa thống kê p < 0,05

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bigliani LU, Levine WN (1997), “Subacromial impingement

syndrome”, J Bone Joint Surg Am 79:1854–1868

2 Hanratty CE, McVaieigh JG, Kerr DP, Basford JR, Finch MB, Pendleton A, & Sim J (2012) “The effectiveness of physiotherapy exercises in subacromial impingement

syndrome: a systematic review and meta-analysis” In Seminars

in arthritis and rheumatism (Vol 42, No 3, pp 297-316) WB

Saunders

3 Haahr JP, Ostergaard S, Dalsgaard J, Norup K, Frost P, Lausen

S, Andersen JH (2005) “Exercises versus arthroscopic decompression in patients with subacromial impingement: a randomised, controlled study in 90 cases with a one year follow

up” Annals of the rheumatic diseases, 64(5), 760-764

4 Hoàng Mạnh Cường (2009) Đánh giá kết quả sử dụng nội soi và

đường mổ nhỏ điều trị rách chóp xoay Luận án chuyên khoa II

CTCH-Đại học y dược TPHCM

5 Kitchel SH, Butters KA, Rockwood CA (1984), “The shoulder

impingement syndrome”, Orthop Trans 8: 510–518

6 Trần Ngọc Ân (1999), “Viêm quanh khớp vai”, Trần Ngọc Ân,

Bệnh khớp, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 334-344

7 Trần Trung Dũng (2014), “Điều trị hội chứng hẹp khoang dưới

mỏm cùng vai bằng tiêm Corticoid”, Tạp chí y học thực hành số 1

(903), tr 56-60

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 18/12/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 21:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w