1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG–THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

238 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 238
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 cũng xác định việc chuyển hướng từ thanh

Trang 1

NGUYỄN THỊ HÒA

THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO

CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI

CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

NGUYỄN THỊ HÒA

THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO

CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI

CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã ngành: 9 34 02 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

Hướng dẫn 1: PGS.TS.NGUYỄN KIM ANH Hướng dẫn 2: PGS.TS ĐỖ THỊ KIM HẢO

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tài liệu nêu trong luận án có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu của tác giả nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Nguyễn Thị Hòa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin cảm ơn các nhà khoa học, các chuyên gia của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Học viện Ngân hàng và đặc biệt là Ban Giám đốc Học viện cùng các đồng nghiệp đã luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện trong quá trình học tập, nghiên cứu giúp tác giả hoàn thành luận án

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Khoa Sau đại học cùng các thầy cô tham gia giảng dạy chương trình nghiên cứu sinh Những kiến thức, phương pháp nghiên cứu được tiếp thu từ các thầy cô là hành trang quan trọng giúp tác giả thực hiện nghiên cứu

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến hai nhà hướng dẫn khoa học cho tác giả là PGS.TS.Nguyễn Kim Anh và PGS.TS.Đỗ Thị Kim Hảo đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên, chia sẻ và giúp đỡ tác giả trong quá trình tìm tài liệu, thông tin và thực hiện điều tra khảo sát Các định hướng đúng đắn cùng sự chỉ bảo tận tâm của thầy

và cô đã giúp tác giả hoàn thành luận án

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, 2019 Tác giả luận án

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ vii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Tổng quan nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Những đóng góp mới của Luận án 14

7 Kết cấu của luận án 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 15

1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 15

1.1.1 Khái niệm thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng 15

1.1.2 Khái niệm thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của Ngân hàng Trung ương đối với các tổ chức tín dụng 17

1.1.3 Sự cần thiết thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các tổ chức tín dụng 19

1.2 HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG 21

1.2.1 Các điều kiện căn bản để triển khai thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của Ngân hàng Trung ương đối với các tổ chức tín dụng 21

1.2.2 Nội dung thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro 24

1.2.3 Phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro 30

1.2.4 Quy trình thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro 33

Trang 6

1.2.5 Công cụ thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro 34

1.3 KINH NGHIỆM VỀ THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA 42

1.3.1 Kinh nghiệm thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng tại Hàn Quốc 42

1.3.2 Kinh nghiệm thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng tại Malaysia 49

1.3.3 Kinh nghiệm thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng tại Mỹ 55

1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các tổ chức tín dụng 62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 67

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 68

2.1 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 68

2.1.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam 68

2.1.2 Khái quát về công tác thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng 69

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 77

2.2.1 Thực trạng các điều kiện triển khai thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro 77

2.2.2 Thực trạng thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng 96

2.3 ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 111

2.3.1 Thành tựu đạt được 111

2.3.2 Hạn chế 113

2.3.3 Nguyên nhân 116

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 126

Trang 7

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG NHÀ

NƯỚC VIỆT NAM 127

3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 127

3.1.1 Mục tiêu phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam 127

3.1.2 Yêu cầu đối với hoạt động thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng 127

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ÁP DỤNG THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 129

3.2.1 Hoàn thiện cơ cấu, tổ chức hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng 129

3.2.2 Tăng cường phối hợp và chia sẻ thông tin về thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng 133

3.2.3 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý phục vụ cho hoạt động thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro 134

3.2.4 Nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ thanh tra, giám sát ngân hàng 137

3.2.5 Hiện đại hóa hạ tầng công nghệ hỗ trợ thanh tra, giám sát ngân hàng 141

3.2.6 Khắc phục những hạn chế trong thực tiễn khi triển khai phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro 142

3.2.7 Đánh giá mức độ tuân thủ các nguyên tắc thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả của Ủy ban Basel 143

3.3 KIẾN NGHỊ VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG, CHÍNH PHỦ VÀ CÁC CƠ QUAN HỮU QUAN 143

3.3.1 Đối với các tổ chức tín dụng 143

3.3.2 Đối với Chính phủ và các cơ quan hữu quan 147

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 149

KẾT LUẬN 150

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN CỦA TÁC GIẢ ĐƯỢC CÔNG BỐ 1

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 2

Trang 8

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 2: MA TRẬN RỦI RO

PHỤ LỤC 3: NỘI DUNG THANH TRA TỪ NĂM 2009 ĐẾN NĂM 2018

PHỤ LỤC 4: NGUỒN THÔNG TIN, NỘI DUNG GIÁM SÁT, CÔNG CỤ GIÁM SÁT TỪ NĂM 2009 ĐẾN NĂM 2018

PHỤ LỤC 5: CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG TỪ NĂM 2009-2018

PHỤ LỤC 6: BẢNG TÓM LƯỢC CÁC QUY ĐỊNH VỀ THANH TRA, GIÁM SÁT ĐÃ VÀ DỰ KIẾN BAN HÀNH

PHỤ LỤC 7: ĐÁNH GIÁ CÁC KHOẢNG CÁCH DỮ LIỆU THỰC HIỆN THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO (RBS)

PHỤ LỤC 8: QUY TRÌNH THANH TRA, GIÁM SÁT RỦI RO

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1.1: Phân biệt phương pháp thanh tra, giám sát tuân thủ với phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro 24Bảng 2.1: Thống kê số lượng cán bộ và số lượt đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra, giám sát ngân hàng từ năm 2009 đến năm 2018 72Bảng 2.2: Tổng số cuộc thanh tra, kết luận thanh tra, kiến nghị, xử phạt vi phạm hành chính qua công tác thanh tra từ năm 2009 đến năm 2018 74Bảng 2.3: Thống kê số lượng văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng từ năm 2009 đến năm 2018 77

Biểu đồ 2.1: Đánh giá về khuôn khổ pháp lý của hoạt động thanh tra, giám sát từ năm 2010 đến nay 78Biểu đồ 2.2: Đánh giá về chất lượng văn bản đã ban hành của hoạt động thanh tra, giám sát từ năm 2010 đến nay 80Biểu đồ 2.3: Đánh giá về sự thống nhất trong chỉ đạo về công tác thanh tra, giám sát

từ trung ương đến địa phương 81Biểu đồ 2.4: Đánh giá về cơ chế phân cấp, phân quyền trong nội bộ CQTTGSNH 82Biểu đồ 2.5: Đánh giá về cơ chế phân cấp, phân quyền giữa CQTTGSNH với NHNN Chi nhánh 82Biểu đồ 2.6: Đánh giá về tính kịp thời của cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin trong nội bộ CQTTGSNH 83Biểu đồ 2.7: Đánh giá về tính hiệu quả của cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin trong nội bộ CQTTGSNH 83Biểu đồ 2.8: Đánh giá về tính hiệu quả của cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin giữa CQTTGSNH với NHNN Chi nhánh 84Biểu đồ 2.9: Đánh giá về tính kịp thời của cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin giữa CQTTGSNH với NHNN Chi nhánh 84Biểu đồ 2.10: Các chương trình đào tạo ngắn hạn trong thời gian gần đây nhất 86Biểu đồ 2.11: Ngoại ngữ được sử dụng phổ biến đối với cán bộ thanh tra, giám sát ngân hàng 87Biểu đồ 2.12: Đánh giá về mức độ thành thạo các ngoại ngữ của cán bộ của thanh tra, giám sát ngân hàng 87Biểu đồ 2.13: Đánh giá về mức độ hiểu biết của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng 88

Trang 10

Biểu đồ 2.14: Các nguồn thông tin phục vụ công tác thanh tra, giám sát 90

Biểu đồ 2.15: Đánh giá về chất lượng thông tin, dữ liệu phục vụ cho công tác thanh tra, giám sát 91

Biểu đồ 2.16: Đánh giá về hạ tầng công nghệ, hệ thống tự động tổng hợp báo cáo, số liệu 91

Biểu đồ 2.17: Ứng dụng các phần mềm hỗ trợ cho công tác chuyên môn của cán bộ thanh tra, giám sát ngân hàng 92

Biểu đồ 2.18: Sử dụng hệ thống tự động tổng hợp báo cáo, số liệu 92

Biểu đồ 2.19: Các tiêu chí đánh giá một hệ thống quản trị rủi ro 94

Biểu đồ 2.20: Đánh giá về công tác quản trị rủi ro của tổ chức tín dụng Việt Nam hiện nay 94

Biểu đồ 2.21: Mức độ áp dụng phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro 97

Biểu đồ 2.22: Các phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro đang được sử dụng 97

Biểu đồ 2.23: Mức độ áp dụng phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro 99

Biểu đồ 2.24: Các phương pháp giám sát đang được sử dụng 99

Biểu đồ 2.25: Nguyên tắc xác định nội dung thanh tra 101

Biểu đồ 2.26: Lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm của các cuộc thanh tra 101

Biểu đồ 2.27: Nội dung các cuộc thanh tra thường hay tham gia 102

Biểu đồ 2.28: Nội dung của hoạt động giám sát vi mô 103

Biểu đồ 2.29: Nội dung phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng 104

Biểu đồ 2.30: Nội dung phân tích, đánh giá khả năng quản trị, điều hành của tổ chức tín dụng 105

Biểu đồ 2.31: Lập hồ sơ rủi ro của từng tổ chức tín dụng 106

Biểu đồ 2.32: Nội dung dự báo tình hình tài chính của tổ chức tín dụng 106

Biểu đồ 2.33: Nội dung đề xuất các hành động can thiệp 106

Biểu đồ 2.34: Nội dung hoạt động giám sát vĩ mô 108

Biểu đồ 2.35: Trình tự, thủ tục thanh tra, giám sát ngân hàng 109

Biểu đồ 2.36: Nội dung quy trình thanh tra, giám sát 109

Biểu đồ 2.37: Các công cụ được nghiên cứu, ứng dụng trong hoạt động giám sát 110

Trang 11

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 Danh mục từ viết tắt tiếng Việt

Từ viết tắt Tiếng Việt

2 Danh mục từ viết tắt tiếng Anh

Supervision

Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng

Supervision Support Project

Dự án Tăng cường năng lực thanh tra, giám sát ngân hàng (do Bộ Ngoại giao, Thương mại và Phát triển Canada tài trợ)

CAMELS

Capital adequacy, Quality of Assets, quality of Management, Earnings, Liquidity, Sensitivity

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá Vốn (C), Chất lượng tài sản (A), Khả năng sinh lời (E), Khả năng quản trị,

Trang 12

Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

khoản (L), Độ nhạy với rủi ro thị trường (S)

gia Việt Nam

của các ngân hàng thương mại

Program

Chương trình Đánh giá ổn định tài chính của Quỹ tiền tệ Quốc tế/Ngân hàng Thế giới

Commission

Ủy ban giám sát tài chính Hàn Quốc

Reporting Standards

Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc

tế

Trang 13

Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

Financial Institutions

xuất vỡ nợ

giám sát trên cơ sở rủi ro

Company

Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm mục đích chung là đảm bảo một tổ chức tín dụng (TCTD) tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định nhằm đảm bảo các đối tượng này quản lý đầy đủ rủi ro của họ và tuân thủ những chuẩn mực tối thiểu nhất định Ở mức độ cao hơn, thanh tra, giám sát ngân hàng hướng tới mục tiêu ngăn chặn

sự đổ vỡ của hệ thống tài chính thông qua việc phát hiện và hạn chế những rủi ro ảnh hưởng đến toàn hệ thống trước khi nó vượt ra khỏi tầm kiểm soát Như vậy, có thể thấy, mục tiêu cuối cùng của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng là đảm bảo an toàn hệ thống tài chính ở cả hai cấp độ vĩ mô (toàn hệ thống) và vi mô (từng TCTD) Đây cũng là lý do giải thích vì sao hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm chú trọng đến hiệu quả, hiệu lực của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng

Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro là phương pháp thanh tra, giám sát trong

đó tập trung vào việc đánh giá mức độ rủi ro mà TCTD gặp phải khi không tuân thủ các quy định, quy trình đã có và khi không có các thủ tục, quy trình hoạt động phù hợp Theo đó, mục tiêu của phương pháp này là nhằm xác định, đo lường các hoạt động có rủi ro cao tới sự an toàn, lành mạnh của các TCTD để từ đó sử dụng các nguồn lực thanh tra, giám sát tương ứng nhằm đánh giá các rủi ro này được các TCTD quản lý như thế nào và kiểm soát rủi ro một cách kịp thời

Theo khuyến nghị của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel), việc áp dụng thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro giúp cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng các nước có quy trình đánh giá chặt chẽ và chính xác mức độ an toàn, lành mạnh của từng TCTD Đặc biệt, trong bối cảnh hoạt động tài chính ngân hàng ngày càng phức tạp, các tập đoàn ngân hàng với những hoạt động kinh doanh đa dạng ngày càng phát triển kéo theo sự xuất hiện và bùng nổ của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới, đến nay, nhiều cơ quan thanh tra, giám sát trên thế giới đã và đang có xu hướng chuyển sang áp dụng phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro Không nằm ngoài xu hướng nói trên, để hội nhập với kinh tế thế giới, Việt Nam cũng đã luật hóa, đưa ra định hướng và tiến hành triển khai, áp dụng phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

Luật NHNN năm 2010 quy định “kết hợp thanh tra, giám sát việc chấp hành

chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng với thanh tra, giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng” Chiến lược phát triển

Trang 15

ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 cũng xác định việc chuyển hướng từ thanh tra tuân thủ sang thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro là một trong những trọng tâm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của

hoạt động thanh tra, giám sát đối với hệ thống các TCTD, theo đó:

“- Tiếp tục đổi mới công tác thanh tra theo hướng: Chuyển nhanh và mạnh từ thanh tra tuân thủ sang thanh tra trên cơ sở rủi ro, gắn kết chặt chẽ với giám sát trên cơ sở rủi ro, từng bước áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; tăng cường thanh tra toàn diện, pháp nhân TCTD;

- Tiếp tục đổi mới công tác giám sát theo hướng: Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát an toàn vi mô và giám sát an toàn vĩ mô trên cơ sở triển khai các công cụ, phương pháp giám sát rủi ro mới gắn liền với đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; nâng cao khả năng cảnh báo sớm của Ngân hàng Nhà nước đối với những rủi ro tiềm ẩn mang tính hệ thống và ngăn ngừa nguy cơ vi phạm pháp luật ngành Ngân hàng của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; phối hợp chặt chẽ giữa công tác giám sát với công tác thanh tra, cấp phép và ban hành chế độ, chính sách”

Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình triển khai phương pháp này tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và chưa thực sự hiệu quả Một số vụ việc xảy ra gần đây gây ảnh hưởng rất lớn đến an toàn hệ thống ngân hàng cũng cho thấy năng lực quản lý, kiểm soát rủi ro của các TCTD của cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng còn yếu kém, hoạt động thanh tra giám sát chưa đi sát với thực tế Điều này đặt ra yêu cầu phải đổi mới hơn nữa công tác quản lý, thanh tra, giám sát đối với hệ thống các TCTD của NHNN Việt Nam nói chung và CQTTGSNH nói riêng

Với những lý do trên, nghiên cứu sinh lựa chọn chủ đề “Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng - thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu Luận án tiến sỹ nhằm hoàn thiện hơn nữa việc áp dụng phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro tại Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát đối với hệ thống các TCTD của CQTTGSNH

2 Tổng quan nghiên cứu

2.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài

2.1.1 Yêu cầu đổi mới về hoạt động thanh tra, giám sát đối với các tổ chức tín dụng

Florentin Blanc (2013) phân tích các lý do vì sao cần phải đổi mới hoạt động thanh tra, giám sát đối với các TCTD Theo đó, tác giả nhận định việc đổi mới, cải

Trang 16

cách hoạt động thanh tra, giám sát các TCTD đã được tiến hành ở nhiều quốc gia,

mở đầu là ở Mê xi cô năm 1995, tiếp theo là đến các quốc gia Trung và Đông Âu; Anh và Hà Lan lần lượt tiến hành cải tổ vào năm 2005 và 2006; Ý thực hiện cải tổ

hệ thống thanh tra, giám sát năm 2011 Mặc dù vậy, điểm chung của quá trình cải cách ở tất cả các quốc gia là nhằm đưa ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng và hiệu quả hơn cho hoạt động thanh tra, giám sát, hướng tới việc đảm bảo các hoạt động này ngày càng có chất lượng Theo đó, việc tập trung vào các rủi ro thị trường và việc thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro được các nước đặc biệt coi trọng

Lucia Quaglia (2008) nhấn mạnh quá trình cải cách hoạt động thanh tra, giám sát đối với các TCTD (đặc biệt là khuôn khổ pháp lý cho hoạt động này) ở các nước trong khu vực Châu Âu Quá trình cải cách này diễn ra mạnh mẽ hơn sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Những nội dung cải cách lớn có thể kể đến bao gồm: (i) Việc dịch chuyển từ mô hình giám sát thể chế sang mô hình giám sát hợp nhất và sự hình thành các cơ quan giám sát tài chính hợp nhất; (ii) Nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của NHTW các nước đối với việc giám sát an toàn hệ thống ở tầm vĩ mô để duy ổn định tài chính; (iii) Nhấn mạnh sự cần thiết của các cơ chế phòng chống khủng hoảng và việc thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro bên cạnh các phương pháp thanh tra, giám sát truyền thống

2.1.2 Xu hướng dịch chuyển từ thanh tra, giám sát truyền thống sang thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các tổ chức tín dụng

Xu hướng dịch chuyển từ phương pháp thanh tra truyền thống sang thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro cũng được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu Chẳng hạn như (MAC Review, 2008) chỉ ra rằng hoạt động thanh tra truyền thống trước đây tập trung vào việc thanh tra tuân thủ, tìm ra những vi phạm trái pháp luật dựa vào việc kiểm tra dữ liệu chi tiết tỏ ra khá tốn kém và không hiệu quả (lãng phí về mặt thời gian và con người) Hoạt động này được gọi là thanh tra tuân thủ hoặc thanh tra quy định Do đó, cùng với xu thế phát triển của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa dạng và phức tạp, các cơ quan thanh tra giám sát quốc gia có xu hướng chuyển sang

áp dụng phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

Bessis (2005) cũng nhận định các cơ quan giám sát đang có xu hướng thay đổi hướng tiếp cận theo hướng áp dụng các kỹ thuật thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

để hoàn thành tốt hơn mục tiêu của mình trong bối cảnh hoạt động tài chính ngân hàng ngày càng phức tạp, các tập đoàn ngân hàng với những hoạt động kinh doanh

đa dạng ngày càng phát triển

Trang 17

2.1.3 Hiệu quả của thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

Việc đánh giá hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với NHTW cũng được đề cập tại khá nhiều nghiên cứu Chẳng hạn như nghiên cứu của Beck và cộng sự (2003) chỉ ra những yếu tố tác động đến hiệu quả giám sát trong đó nhấn mạnh việc CQTTGSNH tiếp cận việc thanh tra, giám sát theo hướng nào ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả giám sát của cơ quan đó CQTTGSNH có thể đặt ra các quy định, tiêu chuẩn yêu cầu các TCTD phải đáp ứng để giảm thiểu rủi ro hoặc tiến hành các cuộc đánh giá từ xa một cách định kỳ về các báo cáo tài chính cũng như các thông tin khác

Ủy ban Basel (2003) cũng cho rằng việc áp dụng thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro giúp CQTTGSNH có được một quy trình đánh giá mức độ an toàn, lành mạnh của từng TCTD hướng tới mục tiêu đảm bảo cho từng TCTD hoạt động an toàn, lành mạnh Việc đánh giá này dựa trên hồ sơ rủi ro của từng TCTD, điều kiện tài chính; quy trình quản lý rủi ro và mức độ tuân thủ các quy định pháp luật

Santos (2006)nhận định phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro giúp CQTTGSNH phân bổ nguồn lực hiệu quả khi xác định được những lĩnh vực có rủi

ro lớn, những TCTD có rủi ro cao để tập trung nguồn lực thanh tra thay vì thanh tra dàn trải theo phương pháp truyền thống

2.1.4 Yêu cầu và cách tiếp cận đối với việc áp dụng thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng trên cơ sở rủi ro

Ủy ban Basel (2006) nhận định việc áp dụng thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi

ro đòi hỏi NHTW phải định hướng lại tổ chức và đặt việc quản lý hiệu quả rủi ro là trung tâm của mọi hoạt động và đặc biệt là đòi hỏi một hệ thống quản trị thông tin

đủ mạnh Bên cạnh đó, việc xác định các tiêu chuẩn quản trị hợp tác, các chính sách

rõ ràng phù hợp với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế cũng là những yếu tố quan trọng cần được lưu tâm trong quá trình triển khai

Alev Ozkan (2014) chỉ ra vai trò, nhiệm vụ của Cơ quan quản lý các TCTD Canada, cách tiếp cận rủi ro, các loại rủi ro tiềm ẩn, các bộ phận giám sát rủi ro… Tác giả cũng chỉ ra quan điểm khác nhau của từng quốc gia trong việc tiếp cận vấn đề này (Úc, Canada, Hong Kong, Niu Di-lân, Anh, Mỹ…) Quan điểm của Mỹ được nhiều quốc gia áp dụng trong đó có Việt Nam, đó là tập trung đánh giá trực tiếp quá trình quản lý rủi

ro, tập trung vào từng bước của quy trình quản lý rủi ro Canada lại quan tâm đến vấn đề quản trị ngân hàng, chia ngân hàng thành ba tuyến phòng thủ, tập trung năng lực của các phòng tuyến, để tận dụng được các kết quả kiểm tra, kiểm soát ở các phòng tuyến

Trang 18

2.1.5 Về các công cụ định lượng phục vụ thanh tra giám sát các tổ chức tín dụng trên cơ sở rủi ro

Mặc dù không có tài liệu tổng hợp đánh giá chung về các mô hình, công cụ định lượng phục vụ thanh tra giám sát trên cơ sở rủi ro; nhưng những tài liệu riêng

lẻ về từng mô hình, công cụ được sử dụng là khá phong phú Chẳng hạn như các nghiên cứu của Blaschke & cộng sự (2001) về Mô hình Kiểm tra sức chịu đựng; T.S.Lee & cộng sự (2002) về chấm điểm tín dụng; Nghiên cứu của Financial & Private Sector Development Vice Presidency of the World Bank (2010) về mô hình

dự báo tài chính;… Theo đó, hai phương pháp phân tích chủ yếu được các quốc gia

sử dụng để thực hiện giám sát từ xa đối với hệ thống TCTD là phương pháp phân tích tài chính và phương pháp phân tích thống kê (kinh tế lượng) Đối với các mô hình kinh tế lượng, hiện có 02 nhóm chính là nhóm các mô hình thống kê và nhóm các mô hình dựa trên cấu trúc Theo đó, trọng tâm mô hình thống kê là xác định xác xuất vỡ nợ (PD) nhằm xác định các biến giải thích (chỉ số phản ánh) đủ tin cậy có khả năng dự báo nguy cơ đổ vỡ của một ngân hàng Ngược lại, mô hình cấu trúc tập trung vào việc xây dựng các phương pháp đo lường rủi ro để lượng hoá rủi ro trong một phép đo đồng nhất, để từ đó có thể đánh giá/lượng hoá rủi ro tổng thể và rủi ro riêng lẻ (như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động,…) của một TCTD

Các nghiên cứu này là nguồn kinh nghiệm tham khảo quý giá cho Luận án để đưa ra các bài học và giải pháp cho việc áp dụng thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các TCTD của Việt Nam

2.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước

2.2.1 Yêu cầu đổi mới hoạt động thanh tra, giám sát đối với các tổ chức tín dụng

Yêu cầu đổi mới hoạt động thanh tra, giám sát đối với các TCTD được đề cập trong khá nhiều các công trình nghiên cứu trong nước.Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào một nội dung cụ thể như phương pháp giám sát, công tác quản lý cán bộ, các chỉ tiêu, tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế cho hoạt động giám sát ngân hàng Chưa có nghiên cứu đánh giá toàn diện yêu cầu cần phải đổi mới cũng như xác định được định hướng trọng tâm cần thực hiện để nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN Việt Nam đối với các TCTD

Các nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Tiệu (1995), Nguyễn Đăng Hồng (1995), Lê Như Cơ (1995), Trịnh Bá Tửu (1998), Ngô Bá Lại (2000) và Nguyễn Đình Tự (2001) đều mới đề cập đến nội dung cần thay đổi mô hình cơ cấu tổ chức CQTTGSNH, chưa

Trang 19

đề cập đến việc thay đổi phương thức, hoạt động thanh tra, giám sát Mặt khác, các nghiên cứu này đều khá cũ và những định hướng, giải pháp đưa ra, hầu hết đều được NHNN sử dụng và áp dụng cho giai đoạn cải tổ CQTTGSNH trước năm 2008

Một số nghiên cứu khác, không đề cập trực tiếp đến nội dung về mô hình, cơ cấu tổ chức CQTTGSNH mà tập trung vào một lĩnh vực hoặc một mảng hoạt động nhất định của cơ quan này như nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Tôn (1995) tập trung vào hoạt động giám sát từ xa và xếp loại các TCTD theo CAMEL; Trương Ngọc Anh (1995) đánh giá về hoạt động thanh tra tại chỗ của các định chế tài chính ở Việt Nam và Nguyễn Công Dương (2000) tập trung đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý và đào tạo cán bộ thanh tra Ngân hàng

Nghiên cứu của Nguyễn Đăng Hồng (2010) tuy không trực tiếp đề cập đến việc đổi mới hoạt động thanh tra, giám sát đối với các TCTD nhưng thông qua việc

hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về đảm bảo an toàn của hệ thống ngân hàng, tác giả đề xuất các giải pháp đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam, trong

đó có nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát ngân hàng (bên cạnh nhóm giải pháp về chính sách và nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống các TCTD) Theo đó, để nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát ngân hàng, ngoài việc hoàn thiện khuôn khổ thể chế và

hạ tầng cơ sở công nghệ, chế độ thông tin báo cáo phục vụ cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng; hoàn thiện mô hình tổ chức, bộ máy thanh tra, giám sát ngân hàng; nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ thanh tra, giám sát ngân hàng; đẩy mạnh hợp tác về thanh tra, giám sát ngân hàng, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới hoạt động, tiêu chí giám sát cũng như việc hoàn thiện phương pháp giám sát từ xa và phương pháp thanh tra tại chỗ

Để thực hiện được mục tiêu này, theo tác giả cần xây dựng khuôn khổ quy trình và phương pháp thanh tra, giám sát dựa trên cơ sở rủi ro kết hợp với thanh tra, giám sát tuân thủ phù hợp với thông lệ quốc tế và các nguyên tắc của Uỷ ban Giám sát ngân hàng Basel nhằm nâng cao năng lực cảnh báo sớm rủi ro trong hoạt động ngân hàng Cụ thể: Xây dựng hệ thống giám sát từ xa có khả năng cảnh báo sớm đối với các TCTD có vấn đề và các rủi ro trong hoạt động ngân hàng; xây dựng phương pháp thanh tra dựa trên cơ sở rủi ro Phương pháp thanh tra dựa trên cơ sở rủi ro chủ yếu tập trung vào xem xét, đánh giá các rủi ro của TCTD; chất lượng và hiệu quả hệ thống quản trị rủi ro của TCTD và khả năng chống đỡ rủi ro của TCTD; xây dựng

sổ tay thanh tra, giám sát ngân hàng

Trang 20

2.2.2 Sự cần thiết, điều kiện dịch chuyển từ thanh tra, giám sát truyền thống sang thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các tổ chức tín dụng

Ở Việt Nam, giai đoạn trước khi ban hành Luật NHNN năm 2010, chưa có một nghiên cứu cụ thể đánh giá sự cần thiết của việc chuyển đổi từ phương pháp thanh tra, giám sát truyền thống sang áp dụng phương pháp thanh tra, giám sát trên

cơ sở rủi ro đối với hệ thống các TCTD; hoặc các nghiên cứu đều chưa trực tiếp đề cập đến nội dung thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

Nghiên cứu của Nguyễn Đăng Hồng (2010) thông qua việc hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về đảm bảo an toàn của hệ thống ngân hàng, tác giả đề xuất các giải pháp đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam, trong đó có nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát ngân hàng (bên cạnh nhóm giải pháp về chính sách và nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống các TCTD) Theo đó, để nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát ngân hàng, ngoài việc hoàn thiện khuôn khổ thể chế và hạ tầng

cơ sở công nghệ, chế độ thông tin báo cáo phục vụ cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng; hoàn thiện mô hình tổ chức, bộ máy thanh tra, giám sát ngân hàng; nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ thanh tra, giám sát ngân hàng; đẩy mạnh hợp tác về thanh tra, giám sát ngân hàng, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới hoạt động, tiêu chí giám sát cũng như việc hoàn thiện phương pháp giám sát từ xa và phương pháp thanh tra tại chỗ

Để thực hiện được mục tiêu này, theo tác giả cần xây dựng khuôn khổ quy trình và phương pháp thanh tra, giám sát dựa trên cơ sở rủi ro kết hợp với thanh tra, giám sát tuân thủ phù hợp với thông lệ quốc tế và các nguyên tắc của Uỷ ban Giám sát ngân hàng Basel nhằm nâng cao năng lực cảnh báo sớm rủi ro trong hoạt động ngân hàng Cụ thể: Xây dựng hệ thống giám sát từ xa có khả năng cảnh báo sớm đối với các TCTD có vấn

đề và các rủi ro trong hoạt động ngân hàng; xây dựng phương pháp thanh tra dựa trên cơ

sở rủi ro Phương pháp thanh tra dựa trên cơ sở rủi ro chủ yếu tập trung vào xem xét, đánh giá các rủi ro của TCTD; chất lượng và hiệu quả hệ thống quản trị rủi ro của TCTD

và khả năng chống đỡ rủi ro của TCTD; xây dựng sổ tay thanh tra, giám sát ngân hàng Nguyễn Thị Thu Hằng (2010) bước đầu đề cập và nêu được vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ sở pháp lý của phương pháp thanh tra, giám sát của CQTTGSNH, tạo cơ sở cho cơ quan này thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giám sát các TCTD Việt Nam; trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quá trình chuyển đổi phương pháp thanh tra, giám sát trong điều kiện hội nhập

Trang 21

Tuy nhiên, sau thời gian này, cũng không có nhiều nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp đề cập đến nội dung về thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro trong hoạt động của các TCTD Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Huệ (2011) mặc dù đánh giá khá toàn diện về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng tại Việt Nam Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu mới chỉ bao gồm các đánh giá từ năm 2009 trở về trước Toàn

bộ bức tranh về hệ thống các TCTD và hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN Việt Nam từ sau 2009 (sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính – ngân hàng toàn cầu) chưa được phân tích, đánh giá; đồng thời, tác giả cũng không đề cập đến sự cần thiết phải chuyển sang phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

2.2.3 Về khái niệm, hiệu quả, yêu cầu và cách tiếp cận đối với việc thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các tổ chức tín dụng

một cách trực tiếp và tổng quát về công tác thanh tra trên cơ sở rủi ro Tác giả đã chỉ

ra sự cần thiết phải áp dụng phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro tại Việt Nam, những tồn tại hạn chế trong mô hình CQTTGSNH hiện tại trong việc triển khai công tác thanh tra trên cơ sở rủi ro tại Việt Nam; từ đó, đưa ra những định hướng về công tác thanh tra trên cơ sở rủi ro đối với các TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam trong từng giai đoạn cụ thể Mặc dù vậy, hạn chế của nghiên cứu là mới dừng lại ở việc áp dụng phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro cho các TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

Nội dung về thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro cũng được đề cập đến trong khá nhiều các nghiên cứu, như: Luận văn của Nguyễn Thị Thu Hằng (2010, Đại học Luật) “Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quá trình chuyển đổi phương pháp thanh tra ngân hàng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”đã nêu được vấn đề lý luận

và thực tiễn về cơ sở pháp lý của phương pháp thanh tra, giám sát của CQTTGSNH, tạo cơ sở cho cơ quan này thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giám sát các TCTD Việt Nam; trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quá trình chuyển đổi phương pháp thanh tra, giám sát ngân hàng trong điều kiện hội nhập Tài liệu do CQTTGSNH biên soạn “Sổ tay giám sát ngân hàng” (ban hành kèm theo Quyết định số 2145/QĐ-NHNN ngày 13/10/2017 của Thống đốc NHNN), đưa ra được những vấn đề như: phân tích cụ thể về giám sát rủi ro; phân tích, đánh giá các loại rủi ro của TCTD; các công cụ hỗ trợ giám sát an toàn vi mô và giám sát

an toàn vĩ mô… Đây được coi là cẩm nang để các thanh tra viên dựa vào đó để thực hiện quy trình giám sát ngân hàng Mặc dù cũng giới thiệu phương pháp thanh tra,

Trang 22

giám sát trên cơ sở rủi ro, chỉ ra yêu cầu kết hợp các chỉ tiêu định lượng và yếu tố định tính để mang đến hiệu quả cao trong hoạt động thanh tra, giám sát; tuy nhiên, tài liệu cũng chủ yếu tập trung vào các quy trình giám sát an toàn vi mô và vĩ mô cũng như phương pháp giám sát tuân thủ truyền thống

Khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô cho hệ thống tài chính trong đó có vai trò không nhỏ của CQTTGSNH cũng bước đầu được đề cập đến trong một số nghiên cứu như nghiên cứu của Phạm Tiên Phong (2014) “Xây dựng khuôn khổ chính sách

an toàn vĩ mô cho hệ thống tài chính Việt Nam” (DTNH.07/2014) trong đó đề xuất khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô cho hệ thống tài chính Việt Nam bao gồm các mục tiêu và công cụ thực hiện, khuôn khổ pháp lý, quy trình và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan (với vai trò chủ chốt của NHTW, CQTTGSNH) và các Bộ, ngành liên quan trong quá trình thực hiện

2.2.4 Về các công cụ định lượng phục vụ thanh tra giám sát trên cơ sở rủi ro

Nghiên cứu của Dương Quốc Anh (2011) về “Phương pháp luận đánh giá sức chịu đựng của TCTD trước các cú sốc trên thị trường tài chính (Stress Test)” hệ thống hóa những khái niệm cơ bản, hiểu biết chung về Kiểm tra sức chịu đựng và ứng dụng của nó trong quản lý và kiểm soát rủi ro, những kỹ thuật và cách tiếp cận phổ biến, quy trình thực hiện, sự tham gia của Cơ quan quản lý cũng như các tổ chức tài chính khi triển khai… Từ những nghiên cứu về các điều kiện để thực hiện Stress Test, và so sánh với bối cảnh hiện tại của NHNN và hệ thống ngân hàng, nghiên cứu cũng đưa ra những kiến nghị cụ thể để NHNN có thể vận dụng công cụ Stress Test để nâng cao chất lượng công tác thanh tra, giám sát ngân hàng Nghiên cứu cũng mở ra một hướng đi trong đổi mới hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng tại Việt Nam thông qua khuyến nghị việc NHNN nên kết hợp thực hiện Stress Test với các hoạt động thanh tra tại chỗ và sử dụng các công cụ giám sát khác để đem lại những kết quả có ý nghĩa Tác giả cũng cho rằng, Stress Test nên được sử dụng như một công cụ hỗ trợ NHNN trong việc lập kế hoạch và có các giải pháp đối với các cuộc khủng hoảng là kết quả của các kịch bản (nếu như xảy ra) và đề xuất kết quả của Stress Test nên là một phần trong các báo cáo định kỳ cho Ban lãnh đạo NHNN và trong các báo cáo định kỳ về thanh tra, giám sát

Tương tự, một số nghiên cứu khác như nghiên cứu của Trần Đăng Phi (2014) về

“Ứng dụng phương pháp Gauss-Seidel trong xây dựng mô hình giám sát an toàn hoạt động ngân hàng tại CQTTGSNH (DTNH.09/2014); nghiên cứu của Nguyễn Phi Lân (2015) về “Xây dựng và ứng dụng mô hình cấu trúc trong hoạt động thanh tra, giám

Trang 23

sát các TCTD” (DTNH.04/2015)cũng đề cập đến việc phải đổi mới hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng, trong đó đưa ra những đánh giá tổng quan về cách thức ứng dụng phương pháp Gauss-Seidel trong xây dựng mô hình giám sát an toàn hoạt động ngân hàng; các phương pháp xây dựng mô hình cấu trúc áp dụng tại các NHTW, tổ chức và cá nhân trên thế giới từ đó đề xuất ứng dụng thử nghiệm mô hình dự báo trong công tác thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa tại CQTTGSNH… Tuy nhiên, hạn chế của những nghiên cứu này là chưa đưa ra được những định hướng cụ thể và khái quát trong việc đổi mới hoạt động thanh tra, giám sát của Việt Nam và các ứng dụng

mô hình sử dụng trong hoạt động thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

2.3 Khoảng trống tri thức và câu hỏi nghiên cứu

2.3.1 Khoảng trống tri thức

Vấn đề đổi mới phương pháp thanh tra, giám sát theo hướng áp dụng thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro mặc dù không phải mới mẻ, nhưng là vấn đề đang được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm, đặc biệt sau những diễn biến phức tạp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Tuy nhiên, các nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn nhiều khoảng trống Cụ thể, các nghiên cứu nước ngoài về các điều kiện

và yêu cầu đặt ra cho các cơ quan giám sát trong việc áp dụng và thực thi phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro mặc dù cũng khá đa dạng và phong phú, tuy nhiên các nghiên cứu này thường là những nghiên cứu điển hình (kinh nghiệm của từng quốc gia trong việc áp dụng phương pháp này), chưa có nghiên cứu cụ thể nào đối với trường hợp của các nước đang phát triển, có cùng trình độ phát triển với Việt Nam Đối với các nghiên cứu trong nước, hiện cũng có rất ít các nghiên cứu về thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro Đặc biệt, chưa có nghiên cứu nào đánh giá tổng quan về sự cần thiết phải thực hiện đổi mới hoạt động thanh tra, giám sát các TCTD, chuyển từ thanh tra, giám sát tuân thủ sang thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi

ro Theo đó, các khoảng trống đặt ra cho nghiên cứu bao gồm:

(i) Chưa phân tích và hệ thống hóa được sự cần thiết phải triển khai thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro tại NHNN Việt Nam; bài học kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu thực trạng áp dụng của từng nước;

(ii) Chưa làm rõ và hệ thống hóa một cách đầy đủ những nguyên nhân, hạn chế của việc áp dụng phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của NHNN Việt Nam đối với các TCTD trên các phương diện: Khuôn khổ pháp lý; Mô hình, tổ chức bộ máy; Trình độ, năng lực cán bộ; Nguồn cơ sở dữ liệu và hệ thống công nghệ thông tin; Hoạt động quản trị rủi ro của bản thân các TCTD;

Trang 24

(iii) Chưa hệ thống hóa được những công cụ định lượng đã, đang nghiên cứu, ứng dụng trong công tác thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro hiện nay;

(iv) Chưa hệ thống hóa và đưa ra được những đề xuất giải pháp cả về góc độ quản lý (vai trò của NHNN) và góc độ thực tiễn hoạt động (vai trò của các TCTD) nhằm đổi mới công tác thanh tra, giám sát ngân hàng theo hướng áp dụng thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

Do đó, Luận án “Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các TCTD – thực trạng và giải pháp” nếu được thực hiện có thể lấp một phần khoảng trống trong nghiên cứu về vấn đề này

2.3.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Sự cần thiết phải chuyển đổi phương pháp thanh tra, giám sát truyền thống sang việc thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các TCTD; những ưu điểm và hiệu quả của việc áp dụng phương pháp này?

- Để thực thi có hiệu quả phương pháp thanh tra, giám sát các TCTD trên cơ

sở rủi ro tại Việt Nam thì cần phải xây dựng/hoàn thiện những điều kiện gì (về cơ cấu tổ chức bộ máy, về khuôn khổ pháp lý, nguồn lực con người, hệ thống công nghệ thông tin,…)? Và các giải pháp gì trong quá trình triển khai phương pháp này?

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về thanh tra, giám sát các TCTD trên cơ sở rủi ro

- Nghiên cứu kinh nghiệm các nước trong việc áp dụng phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các TCTD, rút ra bài học cho Việt Nam

- Nghiên cứu về thực trạng áp dụng thanh tra, giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro đối với các TCTD tại Việt Nam; chỉ ra những thành công, hạn chế trong quá trình triển khai

- Đề xuất giải pháp để áp dụng và xây dựng lộ trình triển khai phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của NHNN đối với hệ thống các TCTD của Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận án

Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các TCTD

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của NHNN đối với các TCTD

- Về thời gian: từ năm 2009 đến 31/12/2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 25

Trong quá trình nghiên cứu, NCS tiếp cận thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro theo các khía cạnh: sự cần thiết, điều kiện, nội dung, phương pháp, quy trình, công

cụ thực hiện và chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu dưới đây:

5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

- Báo cáo tổng kết công tác thanh tra, giám sát của NHNN từ năm 2009-2018

- Các nghiên cứu về thanh tra, giám sát nói chung và thanh tra, giám sát trên

cơ sở rủi ro nói riêng được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước

- Các đề tài nghiên cứu khoa học, Luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ có liên quan đến chủ đề nghiên cứu

- Các giáo trình chính thống được giảng dạy trong các cơ sở đại học

- Các tài liệu chính thống của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS); Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF); Ngân hàng thế giới (WB), Công ty kiểm toán Ernst & Young…

- Các tài liệu của các cơ quan giám sát/NHTW của một số quốc gia như: Malaysia, Hàn Quốc, Mỹ

5.1.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp:

- Dùng bảng hỏi khảo sát, phỏng vấn trực tiếp gồm 04 nội dung:

+ Các điều kiện cơ bản để thực hiện thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

+ Thực trạng thực thi công tác thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

+ Thực trạng công tác quản trị rủi ro tại các TCTD

+ Công tác thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của NHNN Việt Nam đối với các TCTD

- Đối tượng khảo sát: gồm 02 đối tượng:

+ Các cán bộ đang làm việc tại các đơn vị có chức năng thanh tra, giám sát trực thuộc CQTTGSNH bao gồm: Vụ Thanh tra, giám sát các TCTD trong nước,

Vụ Thanh tra, giám sát các TCTD nước ngoài, Vụ Giám sát an toàn hệ thống ngân hàng, Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP.Hà Nội, Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP.HCM và tại NHNN Chi nhánh tỉnh, thành phố

+ Các cán bộ lãnh đạo làm việc tại các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (thuộc các bộ phận có chức năng kinh doanh, hỗ trợ kinh doanh, ban

Trang 26

kiểm soát/kiểm toán nội bộ; thành viên Ban điều hành, thành viên Hội đồng quản trị)

- Mục tiêu:

Nhằm thu thập thông tin có cơ sở khoa học về thực trạng triển khai phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro tại Việt Nam (cả trên giác độ của cơ quan quản lý – NHNN và đối tượng chịu sự quản lý – các TCTD) Từ đó, tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế khi triển khai phương pháp này tại Việt Nam; làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp tăng cường triển khai công tác thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của NHNN Việt Nam đối với các TCTD

5.2 Phương pháp tổng hợp số liệu

Trong quá trình nghiên cứu, thông tin số liệu trong các báo cáo về công tác

thanh tra, giám sát của NHNN, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng từ năm 2009 đến năm 2018, được NCS chọn lọc, xử lý và đưa vào nghiên cứu tổng hợp, phân tổ thành các bảng thống kê Đặc biệt các số liệu/dữ liệu từ kết quả khảo sát điều tra được phân theo từng tiêu chí

ứng với các nội dung khảo sát và tổng hợp dưới dạng biểu đồ dễ quan sát, phân tích

5.3 Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê mô tả: Thu thập thông tin, số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ảnh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Nhằm khái quát hóa các vấn đề mang tính lý luận về thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của NHTW đối với các TCTD để hình thành khung nghiên cứu; Giúp hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn

- Phương pháp so sánh: Xác định xu hướng, mức độ biến động/mức độ ảnh hưởng của các tiêu chí khảo sát

Trong phạm vi và quy mô một cuộc điều tra, các câu hỏi được thiết kế đơn giản, tác giả sử dụng các phương pháp tính toán, phân tích sau:

+ Thống kê số phiếu cho mỗi phương án trả lời trong mỗi câu hỏi khảo sát + Tính toán và so sánh tỷ lệ phần trăm (%): Tỷ lệ phần trăm (%) giữa số phiếu lựa chọn phương án trả lời cụ thể trên tổng số phiếu trả lời cho câu hỏi tương ứng;

so sánh tỷ lệ phần trăm (%) để phân tích, đánh giá nội dung liên quan

- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích – tổng hợp và so sánh kết hợp với phương pháp nghiên cứu chung để giải quyết các vấn đề nghiên cứu

(Các nội dung về Phạm vi, thời điểm, đối tượng và phương pháp khảo sát; Mô tả mẫu khảo sát và mẫu phiếu khảo sát; Tổ chức khảo sát; và Kết quả khảo sát được nêu chi tiết tại Phụ lục 1 – Phương pháp khảo sát)

Trang 27

6 Những đóng góp mới của Luận án

6.1 Về lý luận

Khái quát hóa được các vấn đề cơ bản liên quan đến thanh tra, giám sát trên cơ

sở rủi ro mà các nghiên cứu trước đó chưa có hoặc chưa được đề cập một cách toàn diện, bao gồm:

- Nội dung, phương pháp, quy trình, công cụ thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi

ro của NHTW đối với các TCTD

- Các điều kiện căn bản để triển khai thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của NHTW đối với các TCTD

- Kinh nghiệm của các quốc gia triển khai thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro xuất phát từ nền tảng dữ liệu của hệ thống CAMELS

6.2 Về thực tiễn

- Phân tích được thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của NHNN Việt Nam đối với các TCTD từ khi triển khai hoạt động này đến 31/12/2018 Từ đó, đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế làm cơ sở đề xuất hoàn thiện hoạt động này

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro tại NHNN (như: Hoàn thiện cơ cấu tổ chức hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng; Tăng cường phối hợp và chia sẻ thông tin về thanh tra, giám sát các TCTD; Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý phục vụ cho hoạt động thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro; Nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, giám sát ngân hàng; Hiện đại hóa hạ tầng công nghệ hỗ trợ thanh tra, giám sát ngân hàng; Các giải pháp khắc phục những hạn chế trong thực tiễn khi triển khai phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro) và xây dựng lộ trình cụ thể để thực hiện các giải pháp đã đề

ra cho 2 giai đoạn: từ nay đến năm 2020 và từ năm 2021 đến năm 2025

- Kiến nghị với các TCTD, Chính phủ và các cơ quan hữu quan để hỗ trợ hoàn thiện các điều kiện triển khai thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án gồm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của ngân hàng trung ương đối với các tổ chức tín dụng

Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng

Chương 3 Giải pháp tăng cường áp phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ

sở rủi ro tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 28

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

Theo từ điển Cambridge, thanh tra là hành động xem xét, kiểm tra chính thức một

cơ quan, tổ chức để xem tổ chức này có tuân thủ pháp luật một cách đầy đủ hay không Theo Michael & Tony (World Bank, 2009), thanh tra là một hoạt động kiểm tra chính thức trong đó có việc thanh tra tại chỗ là một phần quan trọng của quá trình giám sát Thanh tra ngân hàng là hoạt động kiểm tra chính thức một ngân hàng để xem ngân hàng này có đáp ứng đúng các quy định pháp luật và tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực (Từ điển Oxford, 2000)

Đa số các cơ quan giám sát ngân hàng, tài chính trên thế giới cũng có cách hiểu tương tự về thanh tra ngân hàng - theo đó thanh tra ngân hàng là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền định kỳ hoặc đột xuất cử các nhân viên là thanh tra viên hoặc giám sát viên đến làm việc tại tổ chức tín dụng (TCTD)

Theo thông lệ quốc tế có 02 phương pháp thanh tra: (i) Thanh tra trên cơ sở tuân thủ (compliance-based/rules-based inspection) và (ii) Thanh tra trên cơ sở rủi ro (risk-based inspection) Trong đó, thanh tra trên cơ sở tuân thủ là phương pháp thanh tra truyền thống nhằm kiểm tra, phát hiện và đánh giá mức độ tuân thủ về pháp lý, các quy định và các chính sách của đối tượng được thanh tra (Barbados-FSC) Các cấp độ mà đối tượng được thanh tra phải đảm bảo tuân thủ bao gồm: luật, các quy định dưới luật, thông

lệ và chuẩn mực quốc tế

Ở Việt Nam, theo từ điển Tiếng Việt, thanh tra là việc kiểm soát, xem xét tại chỗ

do cơ quan nhà nước tiến hành, nhằm phát hiện và ngăn chặn những gì trái với quy định Thanh tra ngân hàng theo Luật Thanh tra năm 2010, là một hoạt động thanh tra chuyên ngành và theo Luật NHNN năm 2010là “hoạt động thanh tra của NHNN đối với các đối tượng thanh tra ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng”

Trang 29

1.1.1.2 Giám sát các tổ chức tín dụng

Giám sát ngân hàng là hoạt động nhằm mục đích đảm bảo một ngân hàng hoặc định chế tài chính (cấp độ vi mô) tuân thủ đúng và thống nhất các quy định, chuẩn mực tối thiểu, đảm bảo quản lý đầy đủ rủi ro Giám sát ngân hàng cũng bao gồm việc đánh giá

hệ thống các ngân hàng và định chế tài chính (cấp độ vĩ mô) ở mức độ tổng thể để phát hiện những rủi ro ảnh hưởng đến toàn hệ thống Các thanh tra, giám sát viên có thể ban hành các quyết định mang tính ràng buộc và áp dụng các hình phạt cho các định chế tài chính không tuân thủ quy định (European Union Committee, 2009)

Giám sát vi mô hiểu theo nghĩa rộng là việc giám sát từng ngân hàng/định chế riêng lẻ Theo tác giả, giám sát theo nghĩa hẹp được hiểu là việc giám sát hành vi của các định chế tài chính, đặc biệt là việc quản lý rủi ro và kiểm soát rủi ro, các biện pháp trừng phạt và quản lý khủng hoảng Giám sát an toàn vĩ mô hay còn gọi là kiểm soát rủi ro hệ thống là việc giám sát toàn bộ hệ thống các ngân hàng/định chế tài chính nhằm tìm ra những nguyên nhân gây ra rủi ro hệ thống - nhấn mạnh chức năng theo dõi khủng hoảng tài chính phát sinh từ các rủi ro hệ thống (Rosa, 2014)

Tương tự như thanh tra, có 02 phương pháp giám sát: (i) Giám sát trên cơ sở tuân thủ (compliance-based/rules-based supervision) và (ii) Giám sát trên cơ sở rủi ro (risk-based supervision)

Ở Việt Nam, giám sát ngân hàng là “hoạt động của NHNN trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin về đối tượng giám sát ngân hàng thông qua hệ thống thông tin báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (Luật NHNN Việt Nam, 2010)

Giám sát ngân hàng là hoạt động được tiến hành thường xuyên, liên tục thông qua giám sát an toàn vĩ mô, giám sát an toàn vi mô và sử dụng các phương pháp, tiêu chuẩn, công cụ giám sát và hệ thống thông tin, báo cáo do Thống đốc NHNN quy định Theo

đó, giám sát an toàn vi mô là hình thức giám sát an toàn đối với từng đối tượng giám sát riêng lẻ, được thực hiện trên cơ sở hệ thống xếp hạng, đánh giá đối tượng giám sát ngân hàng; hệ thống thông tin, báo cáo phục vụ giám sát an toàn vi mô; các chuẩn mực an toàn; hệ thống quy trình, công cụ, tiêu chuẩn và các kỹ năng phân tích tài chính, hoạt động; đánh giá, giám sát và cảnh báo các loại rủi ro, vi phạm pháp luật của đối tượng giám sát ngân hàng Giám sát an toàn vĩ mô là hình thức giám sát an toàn toàn bộ hệ thống các TCTD được thực hiện trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu phản ánh mức độ lành mạnh tài chính và an toàn hoạt động; hệ thống thông tin, báo cáo phục vụ phân tích và giám sát

an toàn vĩ mô; hệ thống phương pháp, công cụ, quy trình phân tích, giám sát, cảnh báo

Trang 30

sự an toàn, ổn định của hệ thống các TCTD; báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về an toàn và

ổn định hệ thống (Nghị định số 26/2014/NĐ-CP, 2014)

Như vậy, theo thông lệ quốc tế, nội hàm của giám sát ngân hàng theo nghĩa rộng bao quát hơn nội hàm của thanh tra ngân hàng, bản thân việc giám sát ngân hàng đã bao gồm cả việc thanh tra tại chỗ Ở Việt Nam, nội hàm “giám sát ngân hàng” thường được hiểu giới hạn trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin qua hệ thống báo cáo

1.1.2 Khái niệm thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của Ngân hàng Trung ương đối với các tổ chức tín dụng

1.1.2.1 Khái niệm về rủi ro

Theo định nghĩa truyền thống, rủi ro là những sự kiện xảy ra có thể làm mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ Ngày nay, khái niệm về rủi ro bao hàm nghĩa rộng hơn, không chỉ có rủi ro tài chính mà còn những rủi ro liên quan đến

Theo Cline (2015), rủi ro là khả năng mất mát những giá trị một cách không kiểm soát được (không nằm trong kế hoạch và không thể dự đoán trước) Rủi ro cũng đồng nghĩa với sự không chắc chắn Theo Horcher (2005), rủi ro tài chính là bất kỳ loại rủi ro nào liên quan đến tài chính, giao dịch tài chính bao gồm cả những khoản vay của doanh nghiệp có khả năng vỡ nợ

Theo Chartered Institute of Management Accountants (2005), rủi ro tài chính

là những rủi ro liên quan đến hoạt động tài chính của một đối tượng bao gồm: (i) Rủi ro tín dụng: khả năng tổn thất có thể xảy ra khi một bên thất bại trong việc thực hiện cam kết trong một hợp đồng giao dịch; (ii) rủi ro tiền tệ: rủi ro khi giá trị của một công cụ tài chính bị biến động do những thay đổi của tỷ giá; (iii) rủi ro lãi suất: rủi ro do sự thay đổi của lãi suất ảnh hưởng đến tình trạng tài chính của một đối tượng; (iii) rủi ro thanh khoản: là rủi ro khi một đối tượng gặp khó khăn trong bán tài sản hoặc bổ sung vốn để đáp ứng một cam kết liên quan đến các công cụ tài chính – còn được gọi là rủi ro tài trợ vốn

Theo Ủy ban Basel (1998), rủi ro tín dụng được định nghĩa đơn giản nhất là khả năng mà một người vay ngân hàng hoặc một đối tác sẽ không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận

Ủy ban cũng đưa ra 02 định nghĩa về rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động Theo đó, rủi ro thị trường được định nghĩa là rủi ro tổn thất phát sinh từ biến động giá cả thị trường Rủi ro hoạt động được định nghĩa là rủi ro của tổn thất phát sinh

từ các sai phạm trong quy trình nội bộ, con người, hệ thống hoặc các sự kiện bên ngoài Định nghĩa này bao gồm cả rủi ro pháp lý, nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và rủi ro danh tiếng

Trang 31

Theo Sổ tay giám sát ngân hàng (2017), rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất làm giảm vốn tự có, thu nhập dẫn đến làm giảm tỷ lệ an toàn vốn hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của TCTD Theo đó, có các loại rủi ro sau:

(i) Rủi ro tín dụng: là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả

năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với TCTD;

(ii) Rủi ro thị trường: là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá

chứng khoán và giá hàng hóa trên thị trường Rủi ro thị trường bao gồm:

- Rủi ro lãi suất: là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất trên thị trường đối

với giá trị của giấy tờ có giá, công cụ tài chính có lãi suất, sản phẩm phái sinh lãi suất trên sổ kinh doanh của TCTD;

- Rủi ro ngoại hối: là rủi ro do biến động bất lợi của tỷ giá trên thị trường khi

TCTD có trạng thái ngoại tệ;

- Rủi ro giá cổ phiếu: là rủi ro do biến động bất lợi của giá cổ phiếu trên thị

trường đối với giá trị của cổ phiếu, giá trị chứng khoán phái sinh trên sổ kinh doanh của TCTD;

- Rủi ro giá hàng hóa: là rủi ro do biến động bất lợi của giá hàng hoá trên thị

trường đối với giá trị của sản phẩm phái sinh hàng hóa, giá trị của sản phẩm trong giao dịch giao ngay chịu rủi ro giá hàng hóa của TCTD

(iii) Rủi ro thanh khoản là rủi ro do:

- TCTD không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc

- TCTD có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó

(iv) Rủi ro hoạt động: là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ

hoặc có sai sót, do yếu tố con người, do các lỗi, sự cố của hệ thống hoặc do các yếu

tố bên ngoài làm tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính đối với TCTD (bao gồm cả rủi ro pháp lý) Rủi ro hoạt động không bao gồm rủi ro danh tiếng và rủi ro chiến lược;

(v) Rủi ro danh tiếng: là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư

hoặc công chúng có phản ứng tiêu cực về uy tín của TCTD;

(vi) Rủi ro chiến lược là rủi ro do TCTD có hoặc không có chiến lược, chính

sách ứng phó kịp thời trước các thay đổi môi trường kinh doanh làm giảm khả năng đạt được chiến lược kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận của TCTD;

(vii) Các loại rủi ro khác phát sinh trong quá trình hoạt động của TCTD

1.1.2.2 Khái niệm thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

Trang 32

Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro là việc xác định các hoạt động có rủi ro cao tới sự an toàn, lành mạnh của các ngân hàng và việc sử dụng các nguồn lực giám sát tương ứng để đánh giá các rủi ro này được các ngân hàng quản lý như thế nào (Ủy ban Basel, 2006) Định nghĩa này cũng tương đồng với đánh giá của Bessis (2002) khi cho rằng phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro nhấn mạnh vào việc đánh giá hệ thống quản trị rủi ro của ngân hàng một cách đầy đủ, để xác định, đo lường và giám sát, kiểm soát rủi ro một cách kịp thời

Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro là phương pháp thanh tra, giám sát mang tính dự báo tương lai, và căn cứ vào hồ sơ rủi ro của TCTD để: (i) Đánh giá những rủi ro cố hữu (định lượng) và quản lý rủi ro (định tính) của TCTD; (ii) Căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro, nguồn lực thanh tra được phân bổ vào những lĩnh vực rủi ro cao và/hoặc những TCTD có rủi ro cao; (iii) Ngược lại với phương pháp thanh tra mang tính xem xét các sự kiện đã xảy ra (FSS, 2007)

Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro là việc xem xét, đánh giá cách một TCTD xác định và kiểm soát rủi ro Phương pháp này đòi hỏi cơ quan giám sát đánh giá hệ thống và đánh giá từng rủi ro riêng lẻ của mỗi TCTD phù hợp với quy trình đánh giá chung và có những can thiệp kịp thời Điều này giúp cơ quan giám sát phân bổ nguồn lực giám sát vào những TCTD có rủi ro lớn nhất và vào những lĩnh vực có rủi ro cao nhất tại từng TCTD đó (Michael Hafeman and Tony Randle, WB, 2009)

Như vậy, qua nghiên cứu những khái niệm phổ biến trên thế giới, có thể khái quát thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro là việc cơ quan thanh tra, giám sát đánh giá

hồ sơ rủi ro của từng TCTD bao gồm việc xác định mức độ tuân thủ quy định của pháp luật, các loại rủi ro, mức độ, xu hướng của rủi ro, tác động của rủi ro đến thu nhập, vốn thanh khoản và rủi ro tổng thể, cách thức mà TCTD giám sát, quản lý rủi

ro và khả năng tài chính (vốn) để chống đỡ rủi ro, đồng thời đưa ra các kiến nghị, khuyến nghị đối với TCTD (nếu có)

1.1.3 Sự cần thiết thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các tổ chức tín dụng

1.1.3.1 Đối với hoạt động quản lý Nhà nước của Ngân hàng Trung ương/Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng

Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro là một phương pháp được sử dụng không chỉ với lĩnh vực ngân hàng mà ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau như kiểm toán trên cơ sở rủi ro, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các công ty chứng khoán, bảo hiểm Trong khuôn khổ thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với lĩnh vực ngân hàng, lợi ích lớn nhất mà NHTW/CQTTGSNH nhận được

là việc các nguồn lực quản lý và giám sát được sử dụng một cách hiệu quả và

hiệu lực hơn vì nó tính đến từng hồ sơ rủi ro của mỗi TCTD Hồ sơ rủi ro của

Trang 33

từng TCTD giúp cơ quan quản lý đưa ra các chương trình thanh tra, giám sát một cách thích hợp và tiết kiệm thời gian

Ngoài ra, phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro còn đem lại những ưu điểm sau đây:

(i) Chủ động ứng phó với rủi ro: Khác với phương pháp thanh tra, giám sát tuân thủ - hoạt động thanh tra được thực hiện như nhau đối với tất cả các TCTD, thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro tập trung vào hồ sơ rủi ro cụ thể của từng TCTD, đánh giá cách thức mà người chủ sở hữu, người điều hành giám sát rủi ro tại

tổ chức của họ Phương pháp này yêu cầu thanh tra viên phải xem xét việc TCTD

đã, đang và sắp đối mặt với những loại rủi ro nào, trong phạm vi nào thì sẽ dẫn đến rủi ro làm ảnh hưởng đến toàn bộ ngành ngân hàng

(ii) Khả năng dự báo: Sau khi đánh giá rủi ro ròng cho từng hoạt động kinh doanh quan trọng, sẽ là dự báo về chiều hướng rủi ro mà hoạt động đó sẽ gặp phải trong tương lai Chiều hướng rủi ro này giúp TCTD đưa ra giải pháp về quản trị rủi

ro nhằm có những biện pháp giảm thiểu rủi ro cho hoạt động này trong tương lai (iii) Quá trình liên tục: Việc đánh giá được diễn ra liên tục theo từng bước của quy trình thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro, kết quả thu thập được trong quá trình thanh tra, giám sát được cập nhật để bổ sung cho thông tin ở bước tiếp theo

(iv) Khả năng tập trung: Không giống với thanh tra tuân thủ là quy trình thanh tra diễn ra giống nhau với tất cả các TCTD, trong thanh tra, giám sát trên

cơ sở rủi ro, việc đánh giá và xác định rủi ro chỉ tiến hành cho những hoạt động quan trọng trong TCTD, đối với từng hoạt động này cũng chỉ tiến hành đánh giá một số rủi ro chính quan trọng nhất Dựa vào mức độ rủi ro và tính ảnh hưởng của TCTD trong toàn hệ thống, cơ quan thanh tra, giám sát sẽ lập ra kế hoạch thanh tra và phạm vi thanh tra khác nhau cho từng TCTD Điều này giúp cơ quan thanh tra, giám sát cân đối được nguồn lực và tiến hành tập trung vào những rủi ro quan trọng cho từng TCTD và toàn hệ thống

1.1.3.2 Đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng

Khi cơ quan quản lý thực hiện phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi

ro sẽ có những thay đổi căn bản về nhận thức và vận hành tại các TCTD, đặc biệt

là về hệ thống quản trị rủi ro Khi cơ quan quản lý áp dụng thanh tra, giám sát trên

cơ sở rủi ro sẽ là một động lực vô cùng lớn hay nói đúng hơn là một áp lực tích cực thúc đẩy các TCTD hướng đến các chuẩn mực về quản trị rủi ro và vai trò giám sát của Hội đồng quản trị/Ban Điều hành, bởi khi áp dụng thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro, cơ quan quản lý sẽ xếp hạng chất lượng công tác quản trị của TCTD trong quá trình thanh tra, giám sát

Trang 34

Khuyến khích đẩy nhanh quá trình tập trung hóa hoạt động quản lý rủi ro của TCTD do thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đánh giá chất lượng quản lý toàn diện của

TCTD đối với bản thân TCTD và các đơn vị trực thuộc TCTD Điều này dựa trên nguyên tắc cơ bản là TCTD phải đảm bảo đủ vốn bù đắp cho các loại rủi ro khác nhau không chỉ cho bản thân TCTD mà phải tính đến rủi ro tại các công ty con, đơn vị thành viên Như vậy, cách thực hiện thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lượng quản lý rủi ro của TCTD theo hướng tập trung hóa

Đảm bảo sự minh bạch và khuyến khích trao đổi thông tin giữa cơ quan quản lý và TCTD Sự minh bạch được đảm bảo thông qua việc công khai cách thức

thực hiện thanh tra, giám sát (Sổ tay hướng dẫn thanh tra, cách thức xếp hạng, đánh giá các TCTD, chất lượng hội đồng quản trị, hệ thống quản lý rủi ro, kiểm toán nội

bộ, các biện pháp can thiệp tương ứng theo kết quả xếp hạng…) Ngoài ra, dù đứng trên góc độ của cơ quan quản lý hay TCTD, để hoạt động an toàn và hiệu quả, trước hết phải xác định rõ các hoạt động kinh doanh quan trọng và tập trung nguồn lực kiểm soát rủi ro phát sinh từ các hoạt động này Tuy nhiên, mức độ quan trọng của một hoạt động sẽ có thể được đánh giá theo mức độ khác nhau do cơ quan quản lý thường quan tâm nhiều hơn đến những hoạt động ảnh hưởng lớn đến an toàn của TCTD còn TCTD lại quan tâm đến những hoạt động tạo ra nhiều lợi nhuận Điều này, dẫn đến nhu cầu phải đối thoại trao đổi thường xuyên giữa 2 bên và đem lại lợi ích cho cả 2 bên, cơ quan quản lý sẽ nắm rõ hơn về tình hình hoạt động của TCTD còn TCTD sẽ hiểu rõ hơn kỳ vọng và các yêu cầu cụ thể từ phía cơ quan quản lý

Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro khuyến khích các đối tượng thanh tra, giám sát thường xuyên tự đánh giá tình hình của họ Bởi quá trình tự đánh giá

giúp các TCTD nhìn nhận được chiều hướng rủi ro đối với các hoạt động kinh doanh quan trọng; qua đó đưa ra các giải pháp về quản trị rủi ro nhằm đảm bảo việc giảm thiểu rủi ro một cách hiệu quả nhất trong tương lai; cải thiện hồ sơ rủi ro của chính mình trong mắt cơ quan quản lý; góp phần duy trì tốt việc đảm bảo các tỷ lệ

an toàn và năng lực tài chính của chính bản thân TCTD

1.2 HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG

1.2.1 Các điều kiện căn bản để triển khai thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của Ngân hàng Trung ương đối với các tổ chức tín dụng

1.2.1.1 Cần có một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, đồng bộ, phù hợp

Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng đòi hỏi phải có một cơ cấu tổ chức bộ máy hợp lý với sự tham gia của nhiều chủ thể, liên quan đến quyền và nghĩa vụ của

Trang 35

các bên liên quan, cùng các quy trình được chuẩn hóa Vì vậy, để triển khai thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro, việc phải có một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với đặc điểm của hệ thống chính trị, hệ thống giám sát tài chính và đặc điểm của hoạt động thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro, làm cơ sở để các bên liên quan tuân thủ trong quá trình thực hiện là yêu cầu bắt buộc

1.2.1.2 Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng có cơ cấu tổ chức bộ máy hợp lý

Các quốc gia khác nhau có thể áp dụng mô hình giám sát tài chính khác nhau, theo đó, cơ quan thực hiện thanh tra, giám sát các TCTD cũng có những đặc trưng khác nhau Tuy nhiên, dù là mô hình giám sát nào, cơ quan thực hiện chức năng thanh tra, giám sát cũng phải thiết lập cơ cấu tổ chức bộ máy hợp lý để vận hành trôi chảy, hiệu quả nội dung, quy trình thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro Mô hình phổ biến của các cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng, tài chính thế giới thường áp dụng gồm 4 khâu: cấp phép; ban hành cơ chế, chính sách; tổ chức thanh tra, giám sát (giám sát từ xa, thanh tra tại chỗ); xử phạt, thu hồi giấy phép

Một cơ cấu tổ chức bộ máy hợp lý là cơ cấu mà ở đó phân định rõ chức năng, nhiệm

vụ của từng đơn vị gắn với 4 khâu của quá trình thực hiện thanh tra, giám sát; đồng thời đảm bảo được sự phối hợp, chia sẻ thông tin hiệu quả giữa các đơn vị, bộ phận này

1.2.1.3 Cần hoàn thiện và xây dựng một đội ngũ thanh tra, giám sát viên đủ năng lực, trình độ

Khi triển khai thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro, chất lượng thanh tra, giám sát phụ thuộc rất nhiều vào sự am hiểu, sự nhìn nhận, đánh giá của các thanh tra viên, giám sát viên về rủi ro của từng hoạt động nghiệp vụ cũng như rủi ro tổng thể của TCTD (đối với thanh tra tại chỗ và giám sát vi mô) hay toàn hệ thống (đối với giám sát vĩ mô), đặc biệt, đối với các chỉ số/chỉ tiêu định tính như chất lượng quản trị điều hành của Hội đồng quản trị/các vị trí quản lý cấp cao; tính đầy đủ của các chính sách, quy trình, thủ tục; tính đầy đủ của hệ thống quản lý; chất lượng hoạt động của kiểm soát nội bộ từ đó xếp hạng và lập hồ sơ rủi ro của TCTD Điều này đòi hỏi thanh tra viên, giám sát viên phải nắm chắc các quy định của pháp luật, quy trình thanh tra, giám sát, am hiểu tường tận về thực trạng của TCTD, để từ đó có những nhận định, đánh giá chuẩn xác Nói cách khác, đội ngũ thanh tra, giám sát viên phải có năng lực, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu của hoạt động thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

Ngoài ra, trong quá trình triển khai thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro, các thanh tra viên, giám sát viên được sự trợ giúp của phần mềm công nghệ thông tin, sử dụng các mô hình, công cụ định lượng Điều này, đòi hỏi thanh tra viên, giám sát viên phải

có am hiểu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động chuyên môn

Trang 36

Như vậy, để có thể thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro, tất yếu phải có một đội ngũ thanh tra, giám sát viên có năng lực về chuyên môn nghiệp vụ và có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình tác nghiệp

1.2.1.4 Cần phải có nguồn cơ sở dữ liệu đủ độ tin cậy và hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng được yêu cầu quản lý, đặc biệt là công tác quản trị rủi ro

Bước đầu tiên của quy trình thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro là xây dựng

hồ sơ tổ chức mà “đầu ra” của bước này là báo cáo tóm tắt đánh giá rủi ro của tổ chức, nhấn mạnh những vấn đề liên quan đến giám sát cần quan tâm, và tùy quốc gia có thể bao gồm ma trận rủi ro – là một bảng trình bày về số lượng rủi ro, chất lượng của quản lý rủi ro và xử lý rủi ro của tổ chức Theo đó, để có một hồ sơ tổ chức chất lượng, tất yếu cần phải có một nguồn cơ sở dữ liệu đủ độ tin cậy Cơ

sở dữ liệu phải được chuẩn hóa bởi các quy định của cơ quan quản lý về các tiêu chí/chỉ tiêu, về thời gian, thời điểm báo cáo, về hệ thống thu thập, xử lý và lưu trữ dữ liệu để đảm bảo tính đồng bộ, chính xác, cập nhật và an toàn của thông tin Trong giám sát vĩ mô, nguồn thông tin dữ liệu đầy đủ, chính xác và cập nhật,

đủ “độ rộng” và “độ sâu” là cơ sở để đưa ra các cảnh báo sớm giảm thiểu rủi ro cho hệ thống

Việc áp dụng phương pháp thủ công không thể đảm bảo có một nguồn cơ sở

dữ liệu đầy đủ, chính xác, cập nhật Các hoạt động tác nghiệp về quản trị rủi ro của thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro cần phải được sự hỗ trợ của hệ thống công nghệ thông tin Hệ thống công nghệ thông tin phải đáp ứng được quy mô, mức độ phức tạp trong hoạt động và quản lý, đảm bảo an toàn, bảo mật

1.2.1.5 Tổ chức tín dụng phải có khả năng quản trị trên cơ sở rủi ro

Để triển khai phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro, bản thân TCTD phải am hiểu về rủi ro – là sự tồn tại cố hữu cùng với hoạt động của các TCTD và phải nhận dạng, đo lường, đánh giá được rủi ro, từ đó, theo dõi và giám sát rủi ro

Khi đã đo lường, đánh giá được rủi ro, TCTD có trách nhiệm theo dõi và kiểm soát rủi ro Nghĩa là sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hành động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu các tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi

Theo thông lệ quốc tế, để nhận dạng, đo lường, giám sát và xử lý tốt các loại rủi ro, TCTD phải có một hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả được thể hiện qua bốn nội dung cơ bản: (1) Giám sát và quản trị rủi ro tích cực, hiệu quả của Hội đồng quản trị (HĐQT)/Hội đồng thành viên (HĐTV) Trong đó, nhấn mạnh các thành

Trang 37

phần chủ chốt của quản trị rủi ro như văn hóa rủi ro, khẩu vị rủi ro và mối quan hệ giữa chúng với năng lực quản trị rủi ro của TCTD Đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của các bộ phận trong TCTD để xử lý và quản lý rủi ro, theo nguyên tắc độc lập 3 chức năng: chức năng kinh doanh, chức năng quản lý rủi ro và chức năng đánh giá độc lập; (2) Hệ thống chính sách, quy định nội bộ được xây dựng đầy đủ và phù hợp với pháp luật hiện hành và đặc thù của TCTD; (3) Bộ phận kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ hoạt động hiệu quả; (4) Hệ thống công nghệ tin đáp ứng yêu cầu quản lý và quản trị rủi ro (Nguyễn Thị Thu Hương, 2014).

1.2.2 Nội dung thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro

Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với TCTD tập trung vào việc xác định những lỗ hổng hệ thống và các hoạt động quản lý yếu kém tại TCTD nhằm đánh giá chính xác về mức độ rủi ro, chất lượng của các hệ thống quản lý rủi ro, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời Phương pháp này có những điểm khác biệt cơ bản so với phương pháp thanh tra, giám sát truyền thống, cụ thể như:

Bảng 1.1: Phân biệt phương pháp thanh tra, giám sát tuân thủ với phương

pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro Thanh tra, giám sát tuân thủ Thanh tra, giám sát dựa trên cơ sở rủi ro

Tập trung chủ yếu vào việc tuân thủ

các quy định của pháp luật

Đánh giá tất cả những lĩnh vực rủi ro bao gồm

cả việc tuân thủ các quy định của pháp luật Tập trung vào tình hình quá khứ và

hiện tại của đối tượng giám sát ngân

hàng (tác động lẫn nhau)

Tập trung vào tình hình hoạt động trong quá khứ (kể từ cuộc kiểm tra trước), những xu hướng hiện tại và trong tương lai (chủ động) Tất cả các đối tượng giám sát ngân

hàng được giám sát giống nhau

Cán bộ giám sát có thể thực hiện các nội dung mở rộng đối với các TCTD có mức độ rủi ro cao hoặc thu hẹp phạm vi giám sát đối với TCTD ít rủi ro

Tần suất thanh tra thường là định kỳ

đối với tất cả các đối tượng

Chu kỳ thanh tra (thời gian giữa các cuộc thanh tra) có thể gia tăng hoặc giảm bớt tùy theo hồ sơ rủi ro của TCTD

Sử dụng không hiệu quả các nguồn lực

giám sát do được phân bổ cho tất cả các

TCTD mà không quan tâm đến mức độ

rủi ro

Các nguồn lực giám sát được sử dụng hiệu quả hơn bằng cách bố trí nguồn lực tập trung vào những lĩnh vực có nhiều rủi ro

Nguồn: Tổng hợp của Nghiên cứu sinh

Trang 38

1.2.2.1 Nội dung thanh tra trên cơ sở rủi ro

Kế hoạch thanh tra được xây dựng trên cơ sở kết quả giám sát, trọng tâm là các hoạt động/nghiệp vụ rủi ro cao Bao gồm từ công tác quản trị điều hành, cơ cấu tổ chức

bộ máy; quy trình, chính sách nội bộ; công tác kiểm soát, kiểm toán nội bộ; hệ thống thông tin quản lý đến từng hoạt động nghiệp vụ chuyên môn Trong đó các hoạt động trọng yếu cần tập trung như: cho vay tài trợ thương mại, cho vay tài trợ dự án, cho vay tiêu dùng, cho vay lĩnh vực bất động sản, chứng khoán, cho vay dự án BOT, BT, cho thuê tài chính, đầu tư chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu), hoạt động góp vốn, mua cổ phần, kinh doanh ngoại tệ, hoạt động huy động vốn, phát hành tín phiếu

Từ đó, đưa ra báo cáo kết quả thanh tra, đánh giá các rủi ro trọng yếu, rủi ro tổng thể và đưa ra các kiến nghị, khuyến nghị trong đó bao gồm các khuyến nghị đối với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp lý, các kiến nghị yêu cầu TCTD phải thực hiện, chỉnh sửa Ngoài ra, nội dung thanh tra còn bao gồm việc xác định các hành vi vi phạm nếu có để đề xuất áp dụng hình thức, biện pháp xử lý, xử phạt theo quy định của pháp luật

1.2.2.2 Nội dung giám sát trên cơ sở rủi ro

a) Nội dung giám sát vi mô:

(1) Lập hồ sơ rủi ro của từng TCTD: Theo đó, các cán bộ giám sát sẽ phân tích,

đánh giá những loại rủi ro mà các TCTD có thể gặp phải theo các nội dung chi tiết sau:

(i) Rủi ro tín dụng: Đánh giá phân loại tài sản, phân loại nợ; sự đầy đủ dự

phòng rủi ro nói chung và dự phòng rủi ro tín dụng nói riêng; các khoản cho vay nội

bộ, cho vay công ty con, các khoản cho vay lớn, sự tập trung tín dụng vào một số ít khách hàng, ngành Kiểm tra sự tuân thủ các quy định pháp luật (các quy định liên quan đến yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống quản trị rủi ro tín dụng nội bộ, các quy định liên quan đến việc ban hành các quy định nội bộ về hoạt động tín dụng nói riêng và quản lý tài sản có nói chung…) Phương pháp này giúp cán bộ phân tích đưa ra được đánh giá tổng thể về chất lượng tín dụng nói riêng và chất lượng tài sản nói chung của đối tượng giám sát ngân hàng

(ii) Rủi ro thị trường

- Rủi ro lãi suất: Đánh giá khe hở kỳ hạn của nợ phải trả và tài sản có nhạy

cảm với lãi suất, các khoản mục ngoại bảng và tác động mà những thay đổi về lãi suất đến thu nhập ròng từ lãi và đến vốn của ngân hàng

- Rủi ro ngoại hối: Đánh giá trạng thái mở ròng của những loại ngoại tệ của

đối tượng giám sát ngân hàng, trên bảng cân đối hoặc ngoại bảng

- Rủi ro về giá: Đánh giá ảnh hưởng về thu nhập và vốn của đối tượng giám sát

Trang 39

ngân hàng nếu được yêu cầu thanh lý tài sản hoặc nợ phải trả tại một thời điểm nào đó Kiểm tra tính tuân thủ pháp luật (các quy định liên quan đến yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống quản trị rủi ro thị trường, các quy định liên quan đến việc ban hành các quy định nội bộ về quản trị rủi ro thị trường…)

(iii) Rủi ro thanh khoản: Đánh giá thanh khoản toàn diện của đối tượng giám

sát ngân hàng thông qua khe hở kỳ hạn của tài sản và nợ phải trả, các chỉ số phản ánh mối quan hệ giữa hoạt động huy động vốn và sủ dụng vốn Kiểm tra sự tuân thủ pháp luật (các quy định liên quan đến yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống quản trị rủi

ro thanh khoản, các quy định liên quan đến việc ban hành các quy định nội bộ về quản lý rủi ro thanh khoản…)

(iv) Rủi ro hoạt động: Đánh giá rủi ro hoạt động tổng thể của đối tượng giám

sát ngân hàng đến một mức có thể, đánh giá báo cáo kết quả kinh doanh cho các khoản lỗ bất thường mà có thể là do thiếu các hoạt động lành mạnh hoặc kiểm soát nội bộ yếu kém Kiểm tra tính tuân thủ pháp luật (các quy định liên quan đến yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống quản trị rủi ro hoạt động, các quy định liên quan đến việc ban hành các quy định nội bộ về quản trị rủi ro hoạt động…)

(v) Rủi ro danh tiếng: Đánh giá thông tin công chúng hiện có về đối tượng

giám sát ngân hàng (hình ảnh, thương hiệu, sản phẩm…), đánh giá khả năng xảy ra tổn thất về tài chính, danh tiếng bị tổn thương, hủy hoại khi đối tượng giám sát ngân hàng bị kiện tụng, vướng vào tranh chấp…

(vi) Rủi ro chiến lược: Đánh giá, phân tích sự phù hợp của chiến lược căn cứ

vào các văn bản về chiến lược, kế hoạch, xác định những yếu kém tiềm tàng về chiến lược của đối tượng giám sát ngân hàng bằng cách đánh giá báo cáo cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh (lưu ý sự dịch chuyển tài sản hoặc nợ phải trả hoặc những tổn thất bất thường, lợi nhuận mà cho thấy mức độ rủi ro cao) Ngoài

ra, cần tập trung đánh giá cách thức mà chiến lược, kế hoạch được thực hiện ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của đối tượng giám sát ngân hàng như thế nào Việc đánh giá rủi ro chiến lược không thể tách rời việc phân tích diễn biến của các yếu tố bên ngoài, biến động của thị trường

Kết quả phân tích, đánh giá rủi ro được thể hiện thông qua ma trận rủi ro (chi

tiết nêu tại Phụ lục 2 – Ma trận rủi ro)

(2) Phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của TCTD theo các nội dung sau:

- Tình hình bảo đảm an toàn và phát triển vốn chủ sở hữu (bao gồm cả tình hình cổ đông, cổ phần, cổ phiếu)

- Tình hình huy động vốn từ các đối tượng đáp ứng các điều kiện tham gia

Trang 40

giao dịch theo quy định pháp luật hiện hành bao gồm: cá nhân, tổ chức kinh tế, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức khác

- Tình hình sử dụng vốn; trong đó bao gồm: tình hình cấp tín dụng đối với các đối tượng đáp ứng các điều kiện tham gia giao dịch theo quy định pháp luật hiện hành bao gồm: cá nhân; tổ chức kinh tế; TCTD; tổ chức khác; tình hình đầu tư giấy

tờ có giá; hoạt động sử dụng vốn khác

- Tình hình nợ xấu và xử lý nợ xấu

- Kết quả hoạt động kinh doanh (Khả năng sinh lời)

(3) Phân tích, đánh giá khả năng quản trị, điều hành của TCTD

Đánh giá, phân tích hoạt động quản trị ngân hàng trong đó tập trung vào phân tích, đánh giá năng lực của Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên và Ban điều hành (quản lý cấp cao) với vai trò phát hiện, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro trong các hoạt động của đối tượng giám sát ngân hàng và đảm bảo ngân hàng hoạt động

an toàn, lành mạnh và hiệu quả, tuân thủ pháp luật Cụ thể, cán bộ giám sát cần đánh giá quản lý cấp cao trong việc thực hiện các yêu cầu như: (i) Đảm bảo hệ thống thông tin quản lý, kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro, kiểm toán nội bộ được thực hiện hiệu quả; (ii) Nắm rõ trạng thái rủi ro và tình hình thực hiện chính sách quản lý rủi ro của đơn vị; (iii) Có các biện pháp ngăn ngừa, xử lý kịp thời các tổn thất để nâng cao hiệu quả, an toàn trong hoạt động của đơn vị

(4) Dự báo tình hình tài chính của TCTD

Sự phát triển của khu vực ngân hàng và thị trường tài chính với hàng loạt các loại hình dịch vụ hiện đại kéo theo không ít những rủi ro tiềm ẩn Theo đó, hoạt động giám sát phải đảm đương nhiệm vụ trong việc cảnh báo sớm và phòng ngừa rủi ro cho các TCTD Thực tiễn công tác giám sát các TCTD cho thấy cần nắm bắt được thường xuyên thực trạng hoạt động của các TCTD, đặc biệt là tình hình tài chính tương lai, qua đó phát hiện những yếu tố dẫn đến rủi ro gây mất an toàn, xử lý kịp thời những vấn đề nghiêm trọng xảy ra

Đơn vị thực hiện giám sát an toàn vi mô có thể dự báo tình hình tài chính của đối tượng giám sát ngân hàng bằng cách dự báo các khoản mục trong báo cáo tài chính, các tỷ lệ đảm bảo an toàn, dòng tiền trong tương lai của đơn vị trên cơ sở các giả định cho trước

Căn cứ vào kết quả dự báo, đơn vị thực hiện giám sát an toàn vi mô kịp thời

đề xuất các hành động can thiệp, chỉnh sửa tùy thuộc vào sự lành mạnh được dự báo của đối tượng giám sát ngân hàng (nếu ngân hàng được dự báo có vấn đề tiềm ẩn rủi ro, thì cảnh báo rủi ro; nếu ngân hàng được dự báo có khả năng gặp vấn đề về

Ngày đăng: 28/12/2019, 11:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Huy Thọ (2014), Hoàn thiện công tác cấp phép về nội dung hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác cấp phép về nội dung hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Bùi Huy Thọ
Năm: 2014
7. Chính phủ (2014), Nghị định số 26/2014/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra, giám sát ngân hàng, ban hành ngày 07 tháng 4 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 26/2014/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra, giám sát ngân hàng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
8. Chính phủ (2015), Nghị định số 33/2015/NĐ-CP quy định việc thực hiện kết luận thanh tra, ban hành ngày 27 tháng 3 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 33/2015/NĐ-CP quy định việc thực hiện kết luận thanh tra
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
9. Dự án BRASS (2017), Khung thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro (RBS), đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt tháng 6 năm 2017 và các dự thảo về tài liệu hướng dẫn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khung thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro (RBS)
Tác giả: Dự án BRASS
Năm: 2017
10. Dương Quốc Anh (2011), Phương pháp luận đánh giá sức chịu đựng của tổ chức tín dụng trước các cú sốc trên thị trường tài chính ( Stress Test), Đề tài nghiên cứu khoa học, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận đánh giá sức chịu đựng của tổ chức tín dụng trước các cú sốc trên thị trường tài chính ( Stress Test)
Tác giả: Dương Quốc Anh
Năm: 2011
11. Đoàn Thanh Hà (2012), Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng đối với các TCTD trên địa bàn TP.HCM, Đề tài nghiên cứu khoa học, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng đối với các TCTD trên địa bàn TP.HCM
Tác giả: Đoàn Thanh Hà
Năm: 2012
14. Lê Như Cơ (1995), Vị thế thanh tra Ngân hàng trong cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, Đề tài nghiên cứu khoa học, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thế thanh tra Ngân hàng trong cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Lê Như Cơ
Năm: 1995
15. Lê Thanh Hằng (2012), Đổi mới hoạt động thanh tra tại chỗ đối với các TCTD của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, Luận văn thạc sĩ, Học viện Ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới hoạt động thanh tra tại chỗ đối với các TCTD của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng
Tác giả: Lê Thanh Hằng
Năm: 2012
16. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2007), Quyết định số 1976/QĐ-NHNN về việc ban hành Đề án cải cách tổ chức và hoạt động thanh tra ngân hàng, ban hành ngày 24 tháng 8 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1976/QĐ-NHNN về việc ban hành Đề án cải cách tổ chức và hoạt động thanh tra ngân hàng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2007
17. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2011), Thông tư số 44/2011/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 29 tháng 12 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 44/2011/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2011
18. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2013), Thông tư số 02/2013/TT-NHNN hướng dẫn việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro, ban hành ngày 21 tháng 01 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 02/2013/TT-NHNN hướng dẫn việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2013
20. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014), Thông tư số 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2014
21. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2015), Thông tư số 03/2015/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 26/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra, giám sát ngành ngân hàng, ban hành ngày 20 tháng 3 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 03/2015/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 26/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra, giám sát ngành ngân hàng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2015
22. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2015), Thông tư số 35/2015/TT-NHNN quy định chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 35/2015/TT-NHNN quy định chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2015
23. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2016), Thông tư số 06/2016/TT-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2014/TT-NHNN, ban hành ngày 27 tháng 5 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 06/2016/TT-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2014/TT-NHNN
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2016
24. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2016), Thông tư số 36/2016/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục thanh tra, ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 36/2016/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục thanh tra
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2016
25. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2016), Thông tư số 41/2016/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 41/2016/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2016
26. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2017), Quyết định số 2145/QĐ-NHNN về Sổ tay giám sát ngân hàng, ban hành ngày 13 tháng 10 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2145/QĐ-NHNN về Sổ tay giám sát ngân hàng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2017
27. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2017), Thông tư số 08/2017/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng, ban hành ngày 01 tháng 8 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 08/2017/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2017
28. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2018), Thông tư số 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 18 tháng 5 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w