Tài liệu luôn hẳn là công cụ phục vụ tốt nhất cho công việc giảng dạy cũng như nghiên cứu của các nhà khoa học nhà giáo cũng như các em học sinh , sinh viên . Một con người có năng lực tốt để chưa hẳn đã thành công đôi khi một con người khác năng lực thấp hơn một chút lại có hướng đi tốt lại tìm đến thành công nhanh hơn trong khi con người có năng lực kia vẫn loay hay tìm lối đi cho chính mình . Tài liệu là một kim chỉ nang cho chúng ta một hướng đi tốt nhất đến với kết quả nhanh nhất . Tôi xin đóng góp một chút vào kho tàng tài liệu của trang , mọi người cũng có thể tham khảo đánh giá và góp ý để bản thân tôi có động lực đóng góp nhiều hơn những tài liệu mà tôi đã sưu tầm được và up lên ở trang.
Trang 1ĐỀ TÀI: “Nâng cao hiệu quả dạy – học môn hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan
đến bài học”
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 2I Cơ sở lí luận
Trong điều kiện hiện nay, khi hoa học của nhân loại phát triển như vũ bão, nền kinh tế tri thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng to lớn Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính giáo dưỡng nhưng cao hơn là giáo dưỡng hướng thiện khoa học
II Cơ sở thực tiễn
Phân môn hóa học ở trường THPT giữ một vai trò qiuan trọng trong việc hình thành vàphát triển trí dục của học sinh Mục đích của môn học là giúp học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết về thế giới con người thông qua các bài học, giờ thực hành của hóa học Hóa học để hiểu và giải thích được các vấn đềthực tiễn thông qua cơ sở cấu tạo nguyên tử, phân tử, sự chuyển hóa của các chất bằng phương trình phản ứng hóa học Để đạt được mục đích hóa học trong trường phổ thông thìgiáo viên dạy học hóa học là nhân tố tham gia quyết định chất lượng Do vậy ngoài những hiểu biết về hóa học người giáo viên dạy hóa còn phải có phương pháp truyền đạt thu hút gây hứng thú khi lĩnh hội kiến thức hóa học của học sinh Do vậy sáng kiến kinh nghiệm
đề cập khía cạnh:” Nâng cao hiệu quả dạy – học môn hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học” với mục đích góp phần sao cho học sinh dễ hiểu, thiết thực, gần gũi với đời sống và lôi cuốn học sinh khi học
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
“Nâng cao hiệu quả dạy – học môn hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học” sẽ tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam mê, học sinh hiểu được vai trò và ý nghĩa thực tiễn trong học hóa học
I Các giải pháp
“Nâng cao hiệu quả dạy – học môn hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học” bằng cách nêu các hiện tựơng thực tiễn xung quanh đời sống thường ngày sau khi đã kết thúc bài học Tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ ấp ủ câu hỏi vì sao? Lại có hiện tượng đó
II Các biện pháp để tổ chức thực hiện
Trong số hàng nghìn, hàng vạn hiện tượng, tình huống thực tiễn có thể áp dụng vào quan điểm trong từng vấn đề với đề tài “Nâng cao hiệu quả dạy – học môn hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học”
Vấn đề số 1: Vai trò của ozôn trong đời sống và công nghiệp như thế nào?
Ozon có khả năng cải tạo nước thải, có thể khử các chất độc như phenol, hợp chất xianua, nông dược, chất trừ cỏ, các hợp chất hữu gây bệnh có trong nước thải.Ozon có thể tác dụng với các iôn kim loại sắt, thiếc, chì, mangan Biến nứơc thải thành nước sạch vô hại Gần đây do công nghiệp phát triển, các nhà máy xuất hiện khí thải, động cơ phản lực thải vào khí quyển một lượng bụi và khí ô nhiễm thì ozon góp phần oxi hóa chất gây ô nhiễm, cũng chính vì vậy tầng ozon bị mỏng dần gây hiện tượng như bão, lũ lụt , cháy rừng, bệnhnan y…
Trang 3Lĩnh vực áp dụng: Đây là vấn đề có liên quan đến giáo dục môi trường và qua bài học
học sinh hiểu được tầm quan trọng của ozon, có ý thức bảo vệ môi trường và kích thíchsự tìm hiểu vấn đề này Giáo viên có thể đưa vào bài giảng phần Oxi – Ozon( tiết 50 lớp 10)
Lĩnh vực áp dụng: Trong y tế cồn được sử dụng đại trà khi tiêm rửa viết thương
nhưng có ít người quan tâm tại sao lại dùng cồn Trong khi học nếu học sinh được biết sẽ rất tốt cho cuộc sống Giáo viên có thể xen vào trong tiết dạy bài ancol( tiếp 55, 56 lớp 11)
Vấn đề số 3: Tại sao không dùng dung dịch HF đựng trong bình bằng thủy tinh
Dung dịch HF là axit yếu nhưng có tính chất đặc biệt là ăn mòn thủy tinh Do thànhphần chính là SiO2 cho dung dịch HF vào thì có phản ứng 4HF + SiO2–> SiF4 +2H2O
Dễ bay hơi
Lĩnh vực áp dụng: Đây là vấn đề bắt buộc trong quá trình dạy về Flo và tính chất của
dung dịch HF ( tiếp 43 lớp 10) giúp học sinh giải đáp được bài tập mà trong thực tiễn tránh đựng dung dịch HF đựng trong bình bằng thủy tinh khi gặp
Vấn đề số 4: Làm thế nào đề khắc được thủy tinh
Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy và nhấc ra cho nguộidùng vật nhọ tạo hình chữ, vạch… Cần khắc nhờ lớp sáp( nến) mất đi rồi nhỏ dung dịch
HF vào thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những nơi đã cạo đi lớp sáp ta có phương trình
4HF + SiO2–> SiF4 +2H2O
Dễ bay hơi
Lĩnh vực áp dụng: Đây là vấn đề thực tế với những gia đình, xí nghiệp kinh doanh và sản
xuất thủy tinh, không những cung cấp cho học sinh phương pháp khắc thủy tinh mà còn giải thích hiện tượng đó Giúp học sinh sẽ dễ nhớ đến bài học khi gặp vấn đề này Thậm chí đay là
cơ sở cho việc học nghề, khơi dạy niềm đam mề học tập và khám phá, càng tốt hơn nếu học sinh được tiến hành thí nghiệm Giáo viên có thể đề cập vấn đề này trong tiết dạy bài Flo( tiếp
Lĩnh vực áp dụng: Hiện tượng này thừơng thấy những phiến đá ở những dòng chảy đi
qua nếu không để ý trong xây dựng sẽ có ảnh hưởng không ít, góp phần hiểu được dụng ý củakhoa học hóa học qua câu tục ngữ làm cho hóa học trở nên gần gũi Giáo viên có thể xen vấn
Trang 4đề này trong khi dạy đến phần muối CaCO3 bài Hợp chất của kim loại kiềm thổ ( tiết 44 lớp 12)
Vấn đề số 6: Cao dao Việt Nam cĩ câu:
Lúa chiêm lấp lĩ đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lênMang hàm ý khoa học hĩa học như thế nào?
Câu ca dao nhắc nhở người là lúa vụ chiêm khi lúa đang trổ địng địng mà cĩ trận mưarào kèm theo sấm chớp thì sẽ rất tơt và cho năng suất cao sau này Do trong khơng khí chứakhoảng 80% khí N2 và 20% khí O2 khi chớp sinh ra tia lửa điện tạo điều kiện cho N2 hoạtđộng N2 + O2 3000 Co
-Oxi hoá NO thành NO2 bằng oxi không khí ở điều kiện thường 2NO + O2 2NO2
-NO2 tác dụng với nước và oxi kk tạo HNO3: 4NO2 + O2 + 2H2O 4HNO3
HNO3H+ + NO3
Nhờ hiện tượng này hàng năm phân đạm tăng 6 – 7 kg N2 cho mỗi mẫu đất Ngày nayngười ta điều chế ure từ khơng khí chủ động bĩn cho cây trồng và trong nền nơng nghiệp hiệnđại cần phải dùng nhiều phân bĩn và nhiệm vụ của ngành cơng nghiệp hĩa chất “hướng vềkhơng khí địi lương thực” là càng lớn
Lĩnh vực áp dụng: Đây là một câu ca dao mang một ý nghĩa thực tiễn thấy roc trong
đời sống Vấn đề này cĩ thể xen vào bài phân bĩn hĩa học ( tiết 19 lớp 11)
Vấn đề số 7: Hiện tượng tạo hang động và thạch nhũ với những hình dạng phong phú
và đa dang như thế nào?
Trong đá thơng thường chủ yếu CaCO3, khí trời mưa trong khơng khí cĩ CO2 tạo mơitrường axit làm tan được đá vơi, những giọt nước mưa rơi xuống như vơ vàn mũi dao nhọn,sắc khắc vào đá những đường nét khác nhau
Ca(HCO3)2 CaCO3 + CO2 + H2O
CaCO3 + CO2 + H2O Ca(HCO3)2
Và xuất hiện quá trình điện li
Lĩnh vực áp dụng: Hiện tượng này thường thấy trong các hang động núi đá Giáo viên
cĩ thể xen vấn đề này trong khi khi dạy đến phần muối cacbonat ( tiết 45 lớp 12)
Vấn đề số 8: Tại sao nước máy lại cĩ mùi clo
Khi sục vào một lượng nhỏ clo cho vào nước cĩ tác dụng sát trùng do clo tan một phần(gây mùi) và phản ứng một phần với nước Cl0 2 H O2 H Cl H Cl O1 1
Trang 5Hợp chất HClO không bền có tính oxi hóa mạnh HClO HCl + O.
Oxi nguyên tử có khả năng diệt khuẩn
Lĩnh vực áp dụng: Vấn đề này đang được sử dụng để làm sạch nước hiện nay trong
các nhà máy nước cung cấp nước trong thành phố , thị xã, thị trấn Giúp học sinh hiểu và giảitỏa thắc mắc, hiểu được vai trò của hóa học và học sinh có thể kiểm nghiệm qua thực tế Giáoviên có thể xen vào bài giảng về Clo ( tiết 38 lớp 10)
Vấn đề số 9: Tại sao sau những cơn mưa có sấm chớp đường xá, khu phố, rừng cây
bầu trời xanh sạch không khí trong lành hơn?
Do trong không khí có 20% O2, nên khi có sấm chớp tạo tia lửa điện tạo điều kiện 3O2 UV 2O3 Tạo một lượng nhỏ ozon, ozon có khả năng sát trùng O3 O2 + O.(sáttrùng) Nên ngoài ngoài những hạt mưa cuốn theo bụi ozon là tác nhân làm môi trường sạch
sẽ, trong lành
Lĩnh vực áp dụng: Vấn đề này đề cập trong bài Oxi - Ozon( tiết 50 lớp 10) giúp học
sinh kiểm nghiệm trong cuộc sống
Vấn đề số 10: “Ma chơi là gì”? “Ma chơi” thường gặp ở đâu?
Ma chơi chì là tên gọi mê tín mà thực chất trong cơ thể( xương động vật) có chứa mộthàm lượng phôtpho khi chết phân hủy tạo một phần thành khí PH3( phôtphin) có lẫn một chútkhí điphôtphin P2H4 khí PH3 tự bốc cháy ngay trong điều kiện thường tạo thành khối cầu khíbay trong không khí 2PH3 + 4O2 P2O5 + 3H2O cháy sáng Điều trùng lặp ngẫu nhiên người
ta thường gặp “ Ma chơi” ở các nghĩa địa
Lĩnh vực áp dụng: Vấn đề này đề cập trong bài giảng về phôtpho(tiết17 lớp 11) để
giải thích hiện tượng trong đời sống “Ma chơi” tránh tình trạng mê tín dị đoan
Vấn đề số 10:Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng lai có lớp cặn ở dưới đáy ấm? Cáchtẩy lớp cặn này
Trong tự nhiên ở một số vùng là nước cứng tạm thời, là nước có chứa muối Ca(HCO3)2
Mg(HCO3)2 Khi nấu nước sôi có phương trình hóa học
Ca(HCO3)2 CaCO3 + CO2 + H2O
Mg(HCO3)2 MgCO3 + CO2 + H2O
CaCO3,, MgCO3 sinh ra đóng cặn
nguộiqua đêm thì tạo thành một lớp cháo đặc chỉ cần hớt ra và lau mạnh là sạch
Lĩnh vực áp dụng: Giáo viên có thể xen vào bài giảng về nước cứng ( tiết 45 lớp 12).
Mục đích cung cấp mẹo vặt trong đời sống hàng ngày
Vấn đề số 12: Tại sao khi nấu, xào thịt, đậu phụ không nên cho muối ăn vào quá sớm
Vì trong thịt chứa protein( protit) vốn có tính keo khi gặp chất điện li mạnh sẽ ngưng
tụ thành những “óc đậu” Khi nấu xào cho muối ăn NaCl vào sớm gây khó khăn trong việcthẩm thấu vào đậu, thịt và bị đông tụ cứng lại không có lợi cho tiêu hóa
Lĩnh vực áp dụng: dụng vào bài Petit và protein ( tiết 17 lớp 12) Đây cũng là vấn đề
thiết thực trong cuộc sống và phục phụ thiết yếu trong việc chế biến thực phẩm
Vấn đề số 13: Tại sao khi nhai cơm kỹ sẽ thấy vị ngọt?
Trang 6Cơm chứa một lượng tinh bột khi ăn cơm trong tuyến nước bọt của con ngườicó các enzim.Khi nhai kỹ trộn đều tuyến nước bọt làm tăng cơ hội chuyển hóa một lượng tinh bột theophản ứng thủy phân tạo thành mantozo, glucozơ gây ngọt theo sơ đồ sau:
Tinh bột Amilaza H O, 2
Đetrin Amilaza H O, 2
Mantozơ mantozo H O, 2
Lĩnh vực áp dụng: Vấn đề này có thể đề cập đến trong bài dạy về tinh bột ( tiết 9 lớp
12) cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản của sự chuyển hóa tinh bột khi ăn Đó cũng làmột hiện tượng trong tự nhiên điều cảm nhận được trong các bữa cơm của chúng ta
Vấn đề số 14: Tại sao phải ăn muối có iôt?
Ăn muối để bổ sung hàm lượng iôt cho cơ thể, trong cơ thể người trưởng thành có chứa 20 –
25 mg iôt chủ yếu tập trung tuyến giáp trang thiếu iôt trong tuyến này thì cơ thể sẽ bị một sốbệnh : bướu cổ, nặng hơn là dẫn tới đần độn, phụ nữ thiếu iôt dẫn tới vô sinh, có thể biếnchứng sau khi sinh Mỗi ngày phải đảm bảo cho cơ thể tiếp xúc < 150microgam iôt
Lĩnh vực áp dụng: Điều này đề cập trong bài giảng về Iôt( tiết 44 lớp 10) giúp học
sinh hiểu được vai trò tại sao toàn dân phải ăn muối iôt Giúp các em tự nhận thấy tầm quantrọng của muối iôt, tăng tính hiểu biết hơn
Vấn đề số 15: Khi dạy về cách nhớ tên gọi theo công thức phân tửcủa các ankan có số
cacbon từ 1 đến 10: mêtan, etan, propan, butan, pentan, hexan, heptan, octan, nonan, đêcan cóthể đua ra dòng đọc vần điệu:
Me 1, e 2, bu 4, pro 3, pen 5, hex 6, 7 là heptan, thứ 8 là chú octan, nonan thứ 9 đêcan thứ 10
Hay Mẹ em phải bón phân hóa học ở ngoài đồng
Mê em phải bỏ phí học hành ôi người đẹp
Lĩnh vực áp dụng: Đây là cách có thể giúo học sinh nhớ ngay được số cacbon của
từng công thức mà áp dụng công thức tổng quát CnH2n+2( n là số nguyên tử cacbon) hay nhớđược các chữ cái đầu tiên của công thức mà nhớ ra tên gọi trong chốc lát Thực tế học sinhmới học đến ankan rất khó khăn trong tên gọi và viết ra công thức phân tử (áp dụng cho tiết
37 lớp 11)
Vấn đề số 16: Vải khác nhau có giá trị khác nhau nên nhận biết như thế nào?
Căn cứ vào bản chất của các chất liêụ làm nên vải ta có thể nhận biết cách đơn giảnsau:
Nếu vải làm bằng sợi bông: Khi đốt vải sợi cháy nhanh, ngọn lửa màu vàng, có mùinhư đốt giấy và tro có màu xám đậm
Nếu vải làm bằng sợi tơ tằm: Khi đốt vải sợi cháy chậm hơn vải sợi bông, có mùi khétnhư đốt tóc, sợ tơ co cục, màu nâu đen, lấy tay bóp ra thì tan
Nếu vải làm bằng lông cừu( lên lông cừu): Khi đốt bắt cháy không nhanh, bốc khói cómùi khét như đốt tóc và tạo thành những bọt phồng, rồi vón cục có màu đen hơi óng ánh,giòn, bóp tan
Nếu vải làm bằng sợi visco: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu vàng, có mùinhư đốt giấy và tro có màu xám nhưng rất ít
Nếu vải làm bằng sợi axetat: Khi đốt sợi vải bắt cháy chậm, thành giọt dẻo màu mâuđậm, có hoa lửa, không bốc cháy thành ngọn lứâu đó kết thành cục màu đen, dễ bóp nát
Trang 7Nếu vải làm bằng poliamit( nilon): Khi đốt sợi vải không cháy ngọn lửa mà co vón lại
và cháy thành từng giọt dẻo màu trắng, có mùi của rau cần, khi nguội bến thành cục cứng và
có hạn tôi mới chỉ đưa ra một số vấn đề để giúp cho trong mỗi bài giảng có sự lôi cuốn thuhút, tạo hứng thú cho học sinh khi học môn hóa học Rất mong sự đóng góp ý kiến củađồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn
MỤC LỤC trang
Tên đề tài 1
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 91 Sách giáo khoa hóa học lớp 10 – 11 – 12 Nhà xuất bản giáo dục –
Sách chỉnh lí2
Phân phối chương trình môn hóa học THPT( Tài
liệu chỉ đạo chuyên môn thực hiện từ năm 2011 –
2012 theo chương trình giảm tải)
Sách chỉnh lí
Trang 10Mục tiêu của ngành giáo dục hiện nay là đào tạo học sinh thành những con người pháttriển toàn diện, sáng tạo, có khả năng vận dụng linh hoạt hợp lí các vấn đề cho bản thân và xãhội Quá trình dạy học không phải là một quá trình tiếp nhận một cách thụ động những trithức khoa học, mà chủ yếu là quá trình học sinh tự nhận thức, tự khám phá, tìm tòi các trithức khoa học một cách chủ động, tích cực, là quá trình học sinh tự phát hiện và giải quyếtvấn đề.
Muốn làm tốt được điều đó trước hết giáo viên phải có phương pháp dạy học phù hợp,phải biết thiết kế, tổ chức các hoạt động tích cực cho học sinh Có như thế thì các em mớihứng thú say mê trong học tập
2 Lí do chủ quan
Bài tập hoá học là một trong những nguồn kiến thức để hình thành kiến thức và kĩ năngcho học sinh Thông qua giải bài tập hoá học, học sinh được rèn luyện, củng cố và tìm tòiphát hiện ra kiến thức, kĩ năng mới Giải bài tập hoá học là một trong những hình thức luyệntập chủ yếu được tiến hành nhiều nhất trong việc hình thành kĩ năng và vận dụng kiến thức.Bài tập hoá học là công cụ hữu hiệu để kiểm tra kiến thức, kĩ năng của học sinh, làm bộc lộnhững khó khăn, sai lầm trong việc học tập hoá học, qua đó giáo viên có những biện phápgiúp đỡ học sinh vượt qua khó khăn và khắc phục những sai lầm
Trong quá trình giảng dạy môn hoá học, tôi nhận thấy học sinh th ường lúng túng vàcòn nhiều vướng mắc khi giải bài tập tính theo phương trình hoá học Nhiều học sinh chưanắm chắc phương pháp giải bài tập hoặc cách trình bày còn thiếu lôgic và chưa chặt chẽ
Trang 11Lí do là môn Hoá học bắt đầu học từ năm học lớp 8, học sinh mới được làm quen cácthuật ngữ hoá học và các phương pháp giải bài tập hoá học Do đó học sinh chưa nắm đượccác định luật, các khái niệm cơ bản về hoá học, chưa hiểu được đầy đủ ý nghĩa định tính vàđịnh lượng của kí hiệu, công thức và phương trình hoá học Do mới được làm quen với hoáhọc cho nên việc được rèn luyện của học sinh còn hạn chế Điều đó cũng làm cho việc hìnhthành kĩ năng tính toán và phương pháp giải chung của học sinh gặp nhiều khó khăn Các em
có thể giải được các bài tập nhỏ nhưng khi lồng ghép vào các bài tập tổng hợp thì thường là bịlúng túng, mất phương hướng không biết cách giải quyết
Xuất phát từ những lí do trên và qua thực tế giảng dạy, tôi soạn thảo đề tài tổng kết
kinh nghiệm “Phương pháp giải bài tập tính theo phương trình hoá học”.Trong đề tài này
tôi muốn dùng những kiến thức cơ bản của hoá học để giải quyết các bài tập theo đúng thểloại, từ đó rút ra phương pháp chung để giải các bài tập hoá học nhằm phát triển năng lực,nhận thức của học sinh Với chút ít kinh nghiệm của bản thân và những kinh nghiệm học hỏiđược từ đồng nghiệp… tôi hy vọng rằng sẽ góp được một phần nhỏ trong việc nâng cao chấtlượng giảng dạy bộ môn
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Qua đề tài này tôi muốn giúp các em học sinh củng cố vững chắc kiến thức lí thuyết và
tự hoàn thiện các kĩ năng phân tích đề, rèn luyện cho các em kĩ năng nhạy bén khi giải bài tậphoá học Và từ đó sẽ tạo cho các em tự tin, hứng thú say mê tìm hiểu môn học, tạo cơ sở vữngchắc cho các em tiếp tục học môn Hoá học ở các lớp trên
III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Khách thể: học sinh lớp 10
- Đối tượng nghiên cứu: một số phương pháp giải bài tập tính theo phương trình hoá học
- Phạm vi nghiên cứu: Các bài tập hoá học không vượt qua chương trình THPT
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháo nghiên cứu lí luận: Tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng, sách giáo khoa,sách tham khảo…từ đó đưa ra một số bài tập tiêu biểu SGK và cách giải quyết cơ bản cho họcsinh thực hiện
- Phương pháp thực nghiệm: Áp dụng, hướng dẫn cho học sinh lớp 10 giải bài tập tính theophương trình hóa học
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Rút ra các ưu điểm, nhược điểm của học sinh trongphương pháp giải bài tập theo phương trình hóa học, từ đó đề các biện pháp hữu hiệu để khắcphục
PHẦN II: NỘI DUNG
Trang 12I BIỆN PHÁP
Để giải được bài tập tính theo phương trình hóa học, học sinh phải nắm được phương
pháp giải của từng dạng bài tập Muốn làm được điều này Giáo viên phải hướng dẫn học sinhnắm vững các bước giải, tìm ra các phương pháp giải thật dễ hiểu giúp học sinh tiếp thu một
cách nhẹ nhàng.
II NỘI DUNG
1 Các kiến thức liên quan đến bài tập tính theo phương trình hoá học
1.1 Các dạng bài tập tính theo phương trình hoá học trong phạm vi THCS
Dạng 1: Bài tập chỉ cho 1 dữ kiện: Tìm số mol của các chất theo yêu cầu của đề bài theo
dữ kiện đã cho
Dạng 2: Bài tập cho số mol của 2 chất tham gia: Thì lập tỉ lệ giữa số mol và hệ số phản
ứng của các chất đó, rồi xác định chất dư (nếu có), sau đó tìm số mol của các chất theo yêucầu của bài
Dạng 3: Bài tập cho số mol của 1 chất tham gia và số mol của1 chất sản phẩm: Tìm số
mol của các chất theo số mol của chất sản phẩm
1.2 Các bước giải của bài tập tính theo phương trình Hóa học:
Bước 1: Đổi dữ kiện đầu bài: chuyển đổi khối lượng chất hoặc thể tích chất khí thành số
mol chất
Bước 2: Lập phương trình hoá học: xác định được các chất tham gia phản ứng và các
chất sản phẩm, sau đó lập phương trình hoá học cho chính xác
Bước 3: Tìm số mol chất tham gia và các chất sản phẩm theo yêu cầu đề bài: dựa vào
phương trình hoá học, xét tỉ lệ giữa các chất, từ đó tính số mol của chất tham gia hoặc sảnphẩm theo yêu cầu của đề bài
Bước 4: Tính theo yêu cầu đề bài: chuyển đổi số mol chất thành khối lượng hoặc thể tích
Trang 13Công thức chuyển đổi giữa lượng chất và thể tích chất khí (ở điều kiện tiêu chuẩn)
2.1 Dạng 1: Bài tập chỉ cho 1 dữ kiện
2.1.1 Bài tập cho số mol của một chất tham gia phản ứng
Phương pháp giải:
Bước 1: Tính số mol của chất tham gia phản ứng mà đề cho
Bước 2: Viết phương trình hoá học
Bước 3: Dựa vào phương trình hoá học, tính số mol của các chất theo đề bài
Bước 4: Chuyển đổi số mol về khối lượng hoặc thể tích theo yêu cầu đề bài
Một số bài tập minh hoạ
Bài tập 1: Cho 5,6 g Fe tác dụng hoàn toàn với dung dịch HCl Tính khối lượng FeCl2 sinh ra
và thể tích khí H2 thu được sau khi kết thúc phản ứng, biết thể tích chất khí đo đktc
* Nghiên cứu đề bài: Từ khối lượng của Fe đầu bài cho ta phải đổi ra số mol, sau đó
dựa vào phương trình hóa học để lập tỉ lệ phản ứng qua đó tìm được số mol của các chất sảnphẩm, sau khi tìm được số mol các chất thì tính theo yêu cầu đề bài
* Xác định hướng giải:
Bước 1: Đổi dữ kiện đầu bài ra số mol
Số mol của Fe có trong 5,6g là: nFe
Fe Fe
m M
Trang 140,1.1
0,1 1
Bài tập 2: Oxi hóa hoàn toàn 5,4g nhôm tạo thành nhôm oxit Tính khối lượng nhôm oxit
được tạo thành và thể tích khí oxi cần dùng ở đktc
* Nghiên cứu đề bài: Từ khối lượng của Al đầu bài cho ta phải đổi ra số mol, sau
đó dựa vào phương trình hóa học để lập tỉ lệ phản ứng qua đó tìm được số mol của các chấttham gia và sản phẩm, sau khi tìm được số mol các chất thì tính theo yêu cầu đề bài
* Xác định hướng giải:
Bước 1: Đổi dữ kiện đầu bài ra số mol
Số mol của Al có trong 5,4g là: nAl
5,4 27
0,2 (mol)Bước 2: Viết phương trình phản ứng
TĐB: 0,2(mol) x(mol) y(mol)
+ Số mol của Al2O3 sinh ra sau khi kết thúc phản ứng là: x 0,2.2
4
+ Số mol của O2 cần dùng là: 0,2.3
0,15 4
Bước 1: Tính số mol của chất sản phẩm mà đề cho
Bước 2: Viết phương trình hoá học
Trang 15Bước 3: Dựa vào phương trình hoá học, tính số mol của các chất theo đề bài
Bước 4: Chuyển đổi số mol về khối lượng hoặc thể tích theo yêu cầu đề bài
Một số bài tập minh hoạ:
Bài tập : Cho Mg tác dụng vừa đủ với H2SO4 theo sơ đồ phản ứng sau:
* Xác định hướng giải:
Bước 1: Đổi dữ kiện đầu bài ra số mol
Số mol của H2 thoát ra sau khi kết thúc phản ứng là:
nH2
4,48 22,4
Từ các dữ kiện có liên quan tìm được số mol của các chất:
+ Số mol của MgSO4 sinh ra sau khi kết thúc phản ứng là: y 0,2.1
+ Khối lượng của MgSO4 sinh ra sau khi kết thúc phản ứng là
m MgSO4 = n MgSO4 M MgSO4 = 0,2 120 = 24 (g)+ Khối lượng của H2SO4 tham ra sau khi kết thúc phản ứng là m= n.M= 0,2.98 = 19,6 (g)
Trang 16Chú ý: Sau khi hướng dẫn cho học sinh làm 2 loại bài tập trên, yêu cầu học sinh nhận xét và
qua đó có thể khái quát lên cách giải bài tập tổng hợp của dạng bài tập cho một dữ kiện
2.1.3 Bài tập tổng hợp của dạng bài tập đầu bài chỉ cho 1 dữ kiện
Bài tập: Cho sơ đồ phản ứng: KClO3 t0
* Nghiên cứu đề bài:
+ Từ khối lượng KClO3 đầu bài cho phải đổi ra số mol, sau đó dựa vào phương trìnhhóa học đã cân bằng để lập tỉ lệ phản ứng qua đó tim được số mol của các chất sản phẩm, saukhi tìm được số mol các chất thì đi tính theo yêu cầu đề bài
+ Coi phần b như 1 bài tập mới và tiến hành theo các bước giải bài tập bình thường
* Xác định hướng giải:
a) Bước 1: Đổi dữ kiện đầu bài ra số mol
Số mol của KClO3 ban đầu khi tham gia phản ứng là:
n KClO3
61,25
0,5 122,5
Từ các dữ kiện có liên quan tìm được số mol của chất
+ Số mol của KCl sinh ra sau khi kết thúc phản ứng là: x 0,5.2
Trang 17Bước 1: Xác định lại số mol của O2 thu được ở trên là bao nhiêu
Bước 2: Viết phương trình phản ứng của Zn với O2
Bước 3: Dựa vào phương trình phản ứng và tỉ lệ tìm số mol các chất tham gia và các chất sảnphẩm theo yêu cầu đề bài
Từ các dữ kiện có liên quan tìm được số mol và tính được khối lượng của ZnO
Số mol của ZnO sinh ra sau khi kết thúc phản ứng là:
x = 0,75.2
Bước 4: Sau khi tìm được số mol của các chất có liên quan đến yêu cầu đề bài thì tính theoyêu cầu đề bài
+ Khối lượng của ZnO sinh ra sau khi kết thúc phản ứng là:
m ZnO = n ZnO MZnO = 1,5 81 = 121,5 (g)
2.2 Dạng 2: Bài toán cho số mol của 2 chất tham gia
Phương pháp giải:
Bước 1: Tính số mol của 2 chất tham gia phản ứng mà đề cho
Bước 2: Viết phương trình hoá học
Bước 3:- Dựa vào phương trình phản ứng xét tỉ lệ về số mol trên hệ số phản ứng của 2 chấttham gia, từ đó xác định xem chất nào phản ứng hết, chất nào còn dư Nếu tỉ lệ số mol trên hệ
số của chất nào lớn hơn thì chất đó dư
- Dựa vào phương trình hoá học, tính số mol của các chất theo yêu cầu đề bài theochất phản ứng hết
Bước 4: Chuyển đổi số mol về khối lượng hoặc thể tích theo yêu cầu đề bài
Một số bài tập minh hoạ:
Trang 18Bài tập 1: Đốt cháy 6,2(g) P trong bình chứa 6,72(l) khí O2 ở đktc
a) Sau phản ứng chất nào còn dư và nếu dư thì với khối lượng bao nhiêu
b) Tính khối lượng sản phẩm thu được
* Nghiên cứu đề bài: Từ khối lượng P và thể tích khí O2 đầu bài cho phải đổi ra sốmol, sau đó dựa vào phương trình hóa học đã cân bằng để lập tỉ lệ giữa số mol và hệ số phảnứng qua đó tìm được số mol của chất còn dư (nếu có) Sau khi tìm được số mol các chất thì đitính theo yêu cầu đề bài
* Xác định hướng giải:
Bước 1: Đổi dữ kiện đầu bài ra số mol
Số mol của O2 và P ban đầu khi tham gia phản ứng là:
0
t
2P2O5
Ta có tỉ lệ: 0,2 0,3
Từ (1) ta có: Sau khi kết thúc phản ứng thì O2 dư, vậy tìm số mol của các chất tham giaphương trình phản ứng theo số mol của P
Từ đó bài toán lại đưa về cách giải giống cách giải bài toán 1 dữ kiện
Từ các dữ kiện có liên quan tìm được số mol của các chất
+ Số mol của O2 tham gia phản ứng là: n O2
0,2.5 4
0,25(mol)+ Số mol của P2O5 sinh ra sau khi kết thúc phản ứng là:
2 5
P O
0.1 4
+ Số mol của O2 dư sau phản ứng là: nO2(dư) = 0,3 – 0,25 = 0,05 (mol)
Trang 19Bước 4: Sau khi tìm được số mol của các chất có liên quan đến yêu cầu đề bài thì tính theoyêu cầu đề bài.
+ Khối lượng của O2 dư sau khi kết thúc phản ứng là m O2 (dư) = n.M= 0,05 32 = 1,6(g)
+ Khối lượng của P2O5 sinh ra sau khi kết thúc phản ứng là:
b) Tính thể tích của H2 thu được
* Nghiên cứu đề bài: Từ khối lượng Zn đổi ra số mol kết hợp với số mol HCl đầu bài
cho, sau đó dựa vào phương trình hóa học đã cân bằng để lập tỉ lệ giữa số mol và hệ số phảnứng qua đó tìm được số mol của chất còn dư (nếu có) Sau khi tìm được số mol các chất thì đitính theo yêu cầu đề bài
* Xác định hướng giải:
Bước 1: Đổi dữ kiện đầu bài ra số mol
Số mol của Zn có trong 13(g) là nZn = 13
65= 0,2(mol) và số mol của HCl ban đầu là 0,3(mol)
Bước 2: Viết phương trình phản ứng
Bước 3: Dựa vào phương trình phản ứng và tỉ lệ tìm số mol và hệ số phản ứng của 2 chấttham gia và các chất sản phẩm theo PTPƯ
Ta có tỉ lệ: 0,2 0,3
Từ (1) ta có sau khi kết thúc phản ứng thì Zn dư vậy tìm số mol của các chất tham giaphương trình phản ứng theo số mol của HCl
Từ đó bài toán lại đưa về cách giải bài toán 1 dữ kiện
Từ các dữ kiện có liên quan tìm được số mol của các chất:
+ Số mol của Zn tham gia phản ứng:
Trang 20+ Số mol của Zn dư sau phản ứng: nZn(dư) = 0,2 – 0,15 = 0,05 (mol)
Bước 4: Sau khi tìm được số mol của các chất có liên quan đến yêu cầu đề bài thì tính theoyêu cầu đề bài
+ Khối lượng của Zn dư sau khi kết thúc phản ứng:
mZn(dư) = nZn(dư) MZn(dư) = 0,05 65 = 3,25 (g)
+ Thể tích của H2 ở đktc sinh ra sau khi kết thúc phản ứng:
V H2 = n 22,4 = 0,15 22,4 = 3,36 (l)
2.3 Dạng 3: Bài toán cho số mol của 1 chất tham gia và số mol của 1 chất sản phẩm Phương pháp giải:
Bước 1: Tính số mol của chất tham gia phản ứng mà đề cho
Bước 2: Viết phương trình hoá học
Bước 3: Dựa vào phương trình hoá học, tính số mol của các chất theo chất sản phẩm
Bước 4: Chuyển đổi số mol về khối lượng hoặc thể tích theo yêu cầu đề bài
Một số bài tập minh hoạ:
Bài tập 1: Cho 11,2g Fe tác dụng với axit sunfuric sau khi kết thúc phản ứng thu được 1,12 l
khí H2 (dktc) vào muối sắt (ll) sunfat
a) Sau khi kết thúc phản ứng thì Fe có dư không và nếu dư thì dư với khối lượng là baonhiêu
b) Tính khối lượng FeSO4 thu được sau khi kết thúc phản ứng
* Nghiên cứu đề bài:
- Từ khối lượng Fe và thể tích của H2 đổi ra số mol sau đó dựa vào phương trình hoáhọc đã cân bằng để lập tỉ lệ giữa số mol và hệ số phản ứng qua đó tìm được số mol của chấtcòn dư ( nếu có )
- Hay cách khác là có thể bỏ qua số mol của chất tham gia mà chỉ quan tâm đến sốmol của chất sản phẩm
- Sau khi tìm được số mol các chất thì tính theo yêu cầu đề bài
* Xác định hướng giải:
Trang 21Bước 1: Đổi giữ kiện đầu bài ra số mol.
+ Số mol của Fe có trong 11,2(g) là: nFe = 11,2
56 = 0,2 (mol) + Số mol của H2 thu được sau khi phản ứng kết thúc: n H2 = 1,12
22,4 = 0,05 (mol)Bước 2: Viết phương trình phản ứng
Bước 3: Dựa vào phương trình phản ứng và tỉ lệ tìm số mol các chất tham gia và các chất sảnphẩm theo yêu cầu đề bài
TLPƯ: 1(mol) 1(mol) 1(mol)
Từ các dữ kiện đầu bài ta có thể tìm được số mol của các chất:
+ Số mol của FeSO4 sinh ra sau phản ứng:
mFeSO4 = nFeSO4 MFeSO4 = 0,05 152 = 7,6 (g)
Bài tập 2: Cho 16,8g Fe tác dụng với O2, biết rằng sau khi kết thúc phản ứng thu được13,92(g) Fe3O4
a) Sau khi kết thúc phản ứng, Fe còn dư không và nếu dư thì có khối lượng là bao nhiêu.b) Tính thể tích của oxy cần dùng để điều chế được lượng Fe3O4 trên
* Nghiên cứu đề bài:
- Từ khối lượng Fe và khối lượng Fe3O4 đầu bài cho phải đổi ra số mol sau đó dựa vàophương trình hoá học đã cân bằng để lập tỉ lệ giữa số mol và hệ số phản ứng qua đó tìm được
số mol và tính được khối lượng của chất
Trang 22- Hay có thể sử dụng cách khác là có thể bỏ qua số mol của chất tham gia mà chỉ quantâm đến số mol của chất sản phẩm sau khi tìm được số mol các chất thì đi tính theo yêu cầu
đề bài.
* Xác định hướng giải:
Bước 1: Đổi dữ kiện đầu bài ra số mol
+ Số mol của Fe có trong 16,8(g) là:
TLPƯ: 3(mol) 2(mol) 1(mol)
Từ các dữ kiện có liên quan tìm được số mol của các chất
+ Số mol của Fe dư sau phản ứng là: nFe(dư) =0,3-(3.0,06)= 0,12(mol)
+ Số mol của O2 cần dùng cho PƯ là: nO2 = 0,06 2 = 0,12 (mol)
Bước 4: Sau khi tìm được số mol của các chất có liên quan đến yêu cầu đề bài thì tính theoyêu cầu đề bài
+ Khối lượng của Fe dư sau khi kết thúc phản ứng là;
mFe(dư) = nFe(dư) MFe(dư) = 0,12.56 = 6,72(g)Thể tích O2 cần dùng để tham gia phản ứng tạo ra 0,06 mol Fe3O4 là:
2
O
V = 0,12 22,4 = 6,688 (l)
* Trên đây là cách giải bài tập tính theo phương trình hóa học cơ bản nhất Đó là phương
pháp giải mà giáo viên thường áp dụng để hướng dẫn cho học sinh khi mới làm quen với giảibài tập hóa học Khi học sinh nắm chắc được phương pháp giải này rồi thì giáo viên có thểgiúp cho các em hình thành được nhiều phương pháp giải khác Ở các cách giải đó, học sinh
có thể không cần thực hiện đầy đủ cả 4 bước và cũng có thể phát triển thành phương phápgiải khác nhanh hơn Và cũng từ đó, học sinh hình thành được phương pháp giải các dạng bài
Trang 23tập hóa học khác như: bài tập xác định công thức phân tử, bài tập xác định thành phần củahỗn hợp, bài tập tổng hợp nhiều kiến thức….
IV KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRIỂN KHAI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
- Đối với đề tài này, sau khi học xong thì học sinh sẽ có khả năng giải được các dạngbài tập tính theo phương trình hóa học Và các em cũng có thể tìm cho mình cách giải riêngcho các dạng toán trên Không những thế mà các em còn có thể tìm được phương pháp giảicho các dạng bài tập khác của Hóa học, là cơ sở vững chắc để sau này các em nắm được kiếnthức ở các lớp cao hơn
- Sáng kiến kinh nghiệm với đề tài này có thể áp dụng đối với học sinh đại trà, đặcbiệt là khi các em mới làm quen với cách giải bài tập hóa học Tuy nhiên, tùy từng đối tượnghọc sinh mà giáo viên lựa chọn phương pháp hướng dẫn sao cho phù hợp, để các em dễ dàngnắm được cách giải, có như thế mới tạo được tính cực hoạt động và hứng thú cho học sinh
- Với đề tài này, giáo viên có thể áp dụng khi hướng dẫn cho học sinh làm bài tập, nhất
là vào các giờ luyện tập, ôn tập hoặc những giờ học bồi dưỡng thêm
VI MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐƯỢC RÚT RA
- Cần bổ sung và hệ thống lại cho HS các kiến thức cũ liên quan đến các kiến thứcmới
- Phân dạng các dạng bài tập để học sinh dễ nắm được phương pháp giải
- Cần rèn luyện cho học sinh tính linh hoạt khi vận dụng các kiến thức vào giải bài tập
- Thường xuyên kiểm tra uốn nắn, điều chỉnh cho học sinh
- Tạo điều kiện cho các em tích cực hoạt động tìm hiểu các kiến thức mới
- Thường xuyên tham khảo các tài liệu mới, cập nhật thông tin kịp thời để có kế hoạchgiảng dạy phù hợp, hiệu quả
PHẦN III: KẾT LUẬN
Sau khi áp dụng phương pháp trên để giảng dạy, tôi đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tìnhcủa học sinh và Đồng nghiệp Nhiều học sinh đã tự tìm hiểu tự nghiên cứu kiến thức do đó, đãphát huy được tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học, học sinh nắm kiến thứcnhanh hơn, nhớ lâu hơn Các em cảm thấy thích thú, thoải mái khi tìm phương pháp giải Vìvậy, việc hướng dẫn giải bài tập và hình thành phương pháp giải bài tập Hoá học, phải được
sử dụng thường xuyên trong quá trình giảng dạy hoá học THPT
Tuy nhiên nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoá học luôn được coi là một chủ đềlớn của nhân loại nói chung và của khoa học giáo dục nói riêng Việc tim hiểu phương phápdạy học hoá học tạo ra những cách thức dạy mới, áp dụng vào phương pháp giáo dục sao chođược hiệu quả không chỉ cần thiết cho hoạt động dạy học mà cho cả hoạt động nghiên cứu
Trang 24khoa học Đối với đề tài này chưa thực sự nêu bật được phương pháp cụ thể, hoàn chỉnh song
nó góp phần bổ sung vào phương pháp dạy học hoá học những định hướng cần thiết trongviệc hình thành kỹ năng giải bài tập
Mục đích nghiên cứu đề tài này chỉ có thể gợi mở một cách thức mới góp phần vào quátrình dạy học, do đó phải được nghiên cứu sâu hơn
Trên đây là những ý kiến nhỏ của tôi trong việc hình thành kỹ năng giải bài tập theophương trình hóa học Tôi rất mong được sự động viên, cổ vũ và khích lệ, ý kiến đóng gópquý báu của đồng nghiệp để đề tài này đưa vào giảng dạy thực sự có hiệu quả
Di Linh , ngày 07 tháng 01 năm 2011