1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Việt nam trong thế giới đang đổi thay

754 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 754
Dung lượng 23,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người nhân mạnh những nội dung chính trong việc chỉnh đốn Đảng bao gồm: Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta, “các đông chí lừ Trung ương đến các chi bộ cầ

Trang 2

VIETNAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG ĐỔI THAY

Trang 3

GS.N G N D VŨ DƯƠNG NINH

(Chủ biên)

VIẸT NAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG ĐOI THAY

NHÀ X U Ấ T BẢN ĐẠI HỌC Q U ố C GIA HÀ NỘI

Trang 4

MỤC LỤCI I

TrangLời mở đầu 9

Trang 5

6 I V IỆT NAM TRONG THỂ GIỚI ĐANG Đổl THAY

9 TS Đinh Tiến Hiếu

Quan hệ bang giao giữa Đại Việt với Trung Hoa dưới triều đại Tây Sơn

ASEAN - những chặng đường trong nửa thế kỷ (1967 - 2017) 231

15 G S.TS Nguyễn Cồng Khanh - TS Nguyễn Anh Chương

Xây dựng cộng đổng Đông Á - Thách thức và các mô hình nhất thể hóaĐông Á .257

16 PGS.TSKH Trần Khánh

Cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN Său một năm nhìn lại

và hướng tới 270

17 PG S.TS Đinh Công Tuấn

Chiến lược toàn cầu Mỹ - Nga - Trung trong trật tự thế giới mới

và đối sách của Nga .283

18 PG S.TS Trấn Nam Tiên

Sự “trỗi dậy” cùa Ấn Độ trong cấn cân quyền lực mới ở châu Á

và những tác động đến quan hệ Ấn Độ - Việt Nam 310

19 PG S.TS Nguyễn Thu Mỹ - TS Đàm Huy Hoàng

Đối sách của Singapore truớc sự trỗi dậy của Trung Quốc

từ đầu thế kỳ XXI đến n ay 337

Trang 6

MỤC LỤC I 7

20 TS Lý Tường Vân

Tác động của chính sách thực dân Anh ở Malaya: Góc nhìn

về sự phát triển kinh tế thuộc địa với vai trò chủ thể của ngoại kiều 361

25 PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Thủy

Những thành công và bài học của chính sách đối ngoại Việt Nam

trong quan hệ với Mỹ 30 năm qua .450

26 PGS.TS Hoàng Vẫn Hiển - Võ Trẩn Ngọc Minh

Vài nét về quan hệ kinh tế Việt Nam - Đài Loan từ năm 1992

đến nữa đầu năm 2016 469

27 TS Phạm Văn Thủy

Chuyển biến kinh tế - chính trị khu vực Đông Á nửa sau thế kỷ XX

và Đổi mới ở Việt Nam 497

28 ThS Vũ Thị Anh Thư

Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc và những nỗ lực

của Việt Nam .511

29 ThS Trần Trung Hiếu

Giáo dục lịch sử trong tiến trình đổi m ới 521

Trang 7

8 I VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG Đổl THAY

Biển đảo trong lịch sử, văn hóa Việt Nam- Một cách thức diễn giải khác 555

32 PGS.TS Hoàng Anh Tuân

Mạng ỉiiới thương mại nội Á và bang giao Hà Lan - Đại Việt (1601 - 1638) 577

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

T h ế giới đang biến đổi - tin tức hằng ngày cho thây những sự kiện diễn ra liên tiếp, không ngưng nghỉ trên khắp Trái đất, trong mọi lĩnh vực Cuộc sống diễn biến không ngừng, lôi cuốn mọi quốc gia, mọi dân tộc vào vòng quay của nó Những làn sóng văn minh nối tiếp từng đựt đưa loài người từ thời đại văn minh nông nghiệp, trải qua văn minh công nghiệp tiến sang thới đại văn minh thông tin Các cuộc cách mạng cóng nghiệp đi từ lần thứ nhất đang bước vào cuộc cách mạng fân thứ tư Những thành tựu đó làm thay đổi cuộc sống vật chất và tinh thân của loài người, tác động đến từng quốc gia, đến mối quan

hệ quốc tế, đến toàn xã hội, cả mặt tích cực lẫn tiêu cực

Trong sự biến đổi chung của thế giới, mỗi quốc gia chịu ảnh hưdng như thế nào và ứng phổ ra sao? Việt Nam luôn phải trả lời câu hỏi đó qua những giải pháp về đối nội cũng như đối ngoại, đã thành công và chưa thành công,

để lại nhiêu kinh nghiệm có giá trị và đặt ra nhiêu vân đê cần giải quyết

Trong bôi cảnh đó, công trình 'Việt Nam trong t h ế giới đang đổi thay

tiêp cận từ góc độ khoa học lịch sử tìm hiểu, phân tích và nêu lên suy nghĩ về những ngày đã qua và năm tháng sắp tới Cuốn sách được chia làm 6 phần theo các chủ đề sau đây:

Phần 1: Chủ tịch Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam phân tích nhĩừig nét lớn trong tư tưởng và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những sự kiện lịch sử trọng đại và lời căn dặn tâm huyết trong Di chúc

của Người

Phân 2: Việt Num và cá c mối quan hệ bang giao truyền thông đê cập từ

lý thuyết chung về quan hệ quốc tế đến các mối bang giao truyền thống giữa Việt Nam với Trung Quốc và các nước trong khu vực

Phần 3: Đỏng Á - Một khu vực nhiều biển động đi sâu vào các mối quan

hệ thời hiện đại ở khu vực Đông Á, chủ yếu là hoạt động của ASEAN trong nửa thế kỷ, bước chuyển từ Hiệp hội đến Cộng đồng

Trang 9

10 I VIỆT NAM TRONG TH Ể GIỚI ĐANG Đổl THAY

Phân 4: Việt Nam trong tiến trình đ ổi mới và hội nlìập quốc tẽ đê cập đốn đường lối, tiến trình và những thành tựu của công cuộc Đổi mới Việt Nam.Phân 5: Việt Nam và vân dề biên giới, biển đ ả o bàn vê không gian biển,

ý thức vồ hiển và công cuộc phòng thủ biển đảo trong lịch sử; đồng thời phân tích những căn cứ lịch sử cho việc hoạch định biên giới Việt Nam

phía Bắc và phía Tây Nam

Phần Kết khép lại cuốn sách với bài phân tích “ Việt Nam tronu vòng xoáy của Trật tự thê giới hai cự c", điểm lại những bước đi của cách mạng Việt Nam trong môi liên hệ quốc tế qua những giai đoạn trước, trong và sau Chiến tranh lạnh, xuyên suốt từ đầu thê kỷ X X đến đâu thế kỷ XXI

Công trình Việt Nam trong thê giới đang đ ổi thay là sự đóng góp kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học công tác tại các trường đại học và viện nghiên cứu ở Việt Nam Vù cũng là tấm lòng Ưu ái của các tác giả dành cho cá nhân tôi - người chủ biên - coi như món quà mừng sinh nhật lần thứ 80 Với ý nghĩa đó, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đôi với sáng kiến của Bộ môn Lịch sử T h ế giới, Khoa Lịch sử và Khoa Quốc tế học - Trường Đại học Khoa học X ã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xuất bẩn công trình khoa học này T ồ i chân thành cảm ơn các tác giả - những bạn đông nghiệp, các cựu sinh viên và nhiêu nhà nghiên cứu -

đã gửi bài với ý nghĩa như một lời chúc mừng tốt đẹp Tôi đặc biệt cảm

ơn G S T S Nguyễn Văn Kim P G S T S Hoàng Khắc Nam T S Nguyễn Mạnh Dũng, TS Phạm Văn Thủy và ThS Vũ Thị Anh Thư đã góp phần tích cực cho việc tổ chức bản thảo Tôi xin dành lời cảm ơn sâu sắc đến Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện để cuốn sách ra mắt bạn đọc

Cuốn sách gồm kết quả nghiên cứu của nhiêu tác giả được xây dựng trên tinh thần “ hoan nghênh sự đồng thuận và tôn trọng sự khác biệt” Đó cũng có thể là những gợi mở, trao đổi học Ihuật cho các nhà nghiên cứu Trong quá trình biên soạn, mặc dù các tác giả đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn cuốn sách

sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong những lân tái bản sau

Trân trọng cỏm ơn!

Hà Nội, tháng 7/2017

Chủ biên

GS.NGND Vũ Dương Ninh

Trang 10

Phần 1

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

VÀ CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG

Trang 11

DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH Hố CHÍ MINH - BỌC LẠI VÀ SUY NGẪM■ ■ ■

GS.NGND Vũ Dương Ninh

Đã 48 năm kể từ ngày Chủ tịch Hổ Chí Minh rời xa chúng ta, đi vào cỏi vĩnh hằng Bản Di chúc' của Người để lại vẫn là lời nhắc nhở cho cuộc sống hôm nay và có giá trị lâu dài trong tiến trình dựng xây và bảo vệ đất nước Không khỏi bùi ngùi cảm động khi đọc lại những trang bản thảo với bút tích của Người cùna những dòng gạch xóa, những đoạn viết bàng mực xanh, mực đỏ mà vào mỗi tháng năm từ 1965 đến 1969, Người xem lại, sửa chữa, bổ sung Điều đó thể hiện sự lo lắng, bãn khoăn của Người về những công việc của Đảng, của đất nước và cả “ việc riêng” Tưởng nhớ công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta ôn lại những điểm chính trong Di chúc

và suy nghĩ vê những vân đề đang đặt ra trong công cuộc Đổi mới hôm nay

1 Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt bút viết Di chúc vào tháng 5/1965 khi đất nước đứng Irước những thách thức vô cùng hiểm nguy Đã hớn 10 năm kể từ ngày ký Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương, Việt Nam bị tạm thời chia cắt theo vĩ tuyến 17 Đề nghị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành hiệp thương tiến tới thống nhất không được chính quyên Việt Nam Cộng hòa tiếp nhận Đ ế quốc Mỹ can thiệp ngày càng sâu, nguy cơ chiến iranh ngày càng lộ

rõ Sau thất bại của chiến lược “ Chiến tranh đặc biệt”, từ năm 1964 - 1965 giới cầm quyền Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ, đổ quân trực tiếp vào miền Nam đồng thời gây ra “ sự kiện vịnh Bắc B ộ" để lấy cớ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc Do vậy, đã xuất hiện “ tình hình cả

HỒ C hi Minh toàn tập, Tập 15 Nxb Chính irị Quốc gia, H., 2011, tr 605-624.

trong ngoặc kép và không chú thích s ố trang.

Trang 12

14 I VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG Đổl THAY

nước có chiến tranh”, trong đó “ miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lổn nhưng nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến đâu, vừa chi viện cho tiên tuyến miên Nam" Cuộc chiến diễn

ra ác liệt, trải qua các chiến dịch mùa khô 1965 - 1966 1966 -1967 rồi đến cuộc Tổng tiến công Mậu Thân buộc đối phương phải ngôi vào bàn đàm phán Paris Ngày 17/7/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời hiệu triệu “ Không có gì quý hơn Độc l ậ p - T ự do”, kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và loàn dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược

Tinh thân quyết chiến quyết thắng thâm nhuần trong các bản thảo Di chúc: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa Đồng bào

ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn” Người gửi gắm niềm tin vào thắng lợi cuối cùng: “Dù khó khăn gian khổ đến mây, nhân dân ta nhât định

sẽ hoàn toàn thắng lợi Đ ế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất” Đến bản thảo cuối cùng sửa vào tháne 5/1969, Người khẳng định: “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiêu hơn nữa, song nhất định tháng lợi hoàn toàn Đó là một điêu chắc chắn Lặp lại những từ nhất định để đi đến kết luận một điều chắc chắn, Chú tịch Hổ Chí Minh đã thê hiện tầm nhìn chiến lược và niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến cứu nước Và cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam cả hai miền Nam - Bắc đã thực hiện đúne lời di huấn của Người “ đánh cho Mỹ cút” với bản Hiệp định Paris năm 1973 - quân Mỹ phải rút hoàn toàn khôi Việt Nam; “đánh cho ngụy nhào” - chính quyền Sài Gòn sụp đổ năm 1975

Từ đó hai miền đất nước thống nhất đúng như lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong năm đầu thành lập Nhà nước Việt Nam Dán chủ Cộng hòa:

“ Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ây không bao giờ thay đổi"’

Đáng Cộng sản Việt Nam, Vân kiện D àng toàn tập, Tập 26, Nxb Chính trị Quốc gia H., 2003, tr 108

Trang 13

DI CHÚC CÙA CHỦ TỊCH Hổ CHÍ MINH - ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM I 15

Nhà nước thống nhất Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình thành, song cho đến hôm nay, người dân Việt Nam vẫn chưa được hưỏng một nên hòa bình trợn vẹn Đã xảy ra cuộc chiến tranh lân chiếm của bè lũ Khmer Đỏ

biên giới Tây Nam cuộc tiến công xâm lược của quân Trung Quốc biên giới phía Bắc, biển Đông nổi sóng với tham vọng chủ quyền “ hình lưỡi bò” của chính quyền Bắc Kinh cùng những vụ chiếm đóng và quây rối biển đảo Tinh hình ngày nay đã khác trước rất nhiều song nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ vẫn không hề thay đổi Chân lý “ Không có gì quý hơn Độc lập - Tự do” vẫn là nội dung cốt lõi của tư tưởng Hổ Chí Minh, chỉ đạo xuyên suốt cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam Niêm tin “ nhất định thắng lợi ” trong Di chúc của Người mãi là nguồn động viên mạnh mẽ cho các thế hệ quyết tâm bảo vệ biển đảo và đất liền của Tổ quốc Việt Nam

tịch Hồ Chí Minh nhân mạnh trong các bản thảo Di chúc: “ trước hết nói về Đảng”,“ việc cần làm trước tiên ià chỉnh đốn lại Đáng” Người nhân mạnh những nội dung chính trong việc chỉnh đốn Đảng bao gồm:

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân

ta, “các đông chí lừ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”;

Thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh phê bình

và tự phê bình, qua đó “ phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”;

Phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vỏ tư, giữ gìn Đảng thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân;

Phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, “ bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”

Từ đó, Người kết luận với niềm tin “Làm được như vậy thì dù công việc

to lớn đến mấy, chúng ta cũng nhất định thắng lợi

Trang 14

16 I VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG Đổl THAY

Có thể nói di huấn của B ác về việc chỉnh đốn Đảng gói gọn trong ba việc: đoàn kết - dân chủ - liêm chính Mỗi đảng viên, mỗi tổ chức Đảng từ chi bộ đến Trung ương thực hiện được ba điều ấy thì Đảng sẽ giành được lòng tin cậy của nhân dân Lịch sử của thời kỳ hoạt động bí mật đâu tranh giành chính quyền, của hai cuộc kháng chiến cứu nước, của những năm đàu sau hòa bình thống nhất đất nước đã minh chứng chân lý đó Và ngày nay,

ở nơi nào chi bộ vững mạnh, đảng viên trong sáng thì người dân vẫn giữ trọn niềm tin

Nhưng tiếc rằng, qua nhiều kỳ Đại hội, mặc dù Đảng đã nghiêm khắc kiểm điểm, đã ra lời cảnh báo nhưng cuộc sống thực tế đặt ra nhiêu vấn đề đáng lo ngại Đại hội Đảng lần thứXII (tháng 1/2016) một lân nữa chỉ ra “ bốn nguy cơ ” vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp như tham nhũng, lãng phí diễn biến hòa bình và nhữriíỉ biểu hiện “ tựdiễn biến”, “ tựchuyển hóa” trong nội bộ' Hậu quả tai hại của những khuyết điểm đó là “ làm cho Đảng ta chưa thật sự trong sạch, vững mạnh, làm giảm niêm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và ch ế độ”2 Trong cuộc sống hôm nay đôi khi nghe lời phàn nàn vì sao trong chiến tranh người ta có thể sẻ chia ngọt bùi, đắng cay, thậm chí giành nhau sự hy sinh mà trong thời bình, những người đồng chí năm xưa lại không nhường nhau một lợi ích, lại tranh giành, kèn cựa

có khi trở nên thù địch Có Ihể đổ lỗi cho tác động xấu của kinh tế thị trường chăng? Rõ ràng không phải cái gốc là do cuộc đâu tranh chống chủ nghĩa cá nhân bị coi nhẹ, ngày nay hình như ít người nói đến

Trong cuộc đấu tranh chống iham nhũng, làm thất thoát tài sản nhà nước, đứng trước vành móng ngựa, không chỉ có những cán bộ cấp thấp, những nhàn viên bình thường mà nhiều người đã một thời quyền cao chức trọng, giữ nhiều

vị trí lớn trong các cấp ủy, các cấp chính quyền Chính họ đã chiếm đoạt hàng trăm, hàng ngàn lỷ đồng, được tích lũy bởi mồ hôi, công sức của ngàn vạn người lao động sống trong cảnh vất vả, thiêu thôn Nhìn thẳng vào sự

H., 2017 ir 68 Chú thích: từ năm 1994, Đảng đà xác định 4 nguy cư irước mắc là: nguy cơ tụt hậu xa hớn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nehìa; nạn tham nhùng và các tộ nạn xà hội: âm mưu

và hành động ’diễn biến hòa bình" cỏa các thế lực thù địch.

20J7.tr 197.

Trang 15

DI CHÚC CÙA CHỦ TỊCH Hổ CHỈ MINH - ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM I 17

thật, Đại hội Đảng lần thứ XII một fân nữa nêu lên “ tình trạng suy thoái vê tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đẳng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi Tội phạm và tệ nạn

xã hội còn diễn biến phức tạp; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp nghiêm trọng”' Do vậy Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (khóa X II) xác định: “ Từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác thực hiện”2

Thực trạng biến chất, suy thoái của một bộ phận cán bộ đảng viên, nhất là những người nắm nhiêu chức quyền cho thấy ý nghĩa mối quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mặt rèn luyện đạo đức cách mạng Ngay từ tài liệu đâu tiên huấn luyện thanh niên Đường kủch mệnh (1927), Người đã nêu mục “ Tưcách người cách mạng” Đến khi thành lập Nhà nước Dân chủ Cộng hòa, trong nhiều bức thư gửi chính quyền nhân dân các địa phương, Người cảnh báo những thói hư, tật xấu của “ các quan cách mạng” và vợ con họ Ngay trong năm đầu của cuộc kháng chiến gian khổ, Người viết hẳn một tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, nhắc nhở việc tu dưỡng đạo đức cách mạng và nêu lên những việc cân phải tiến hành Đặc biệt, trong bài viết “ Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969)', Người phân tích sâu sắc nguồn gốc và tác hại của chủ nghĩa cá nhân, nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng Xem vậy để thây rằng điều quan tâm hàng đầu và xuyên suốt của Chủ tịch

Hồ Chí Minh chính là việc xây dựng Đảng và việc tu dưỡng đạo đức cách mạng của từng đảng viên Người đã nhìn thấy trước rằng “ Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không

gia, 11, 2017, tr 61.

2 Báo Nhân (lânngày 15/10/2016.

Bác đến các ủ y viên Bộ Chính trị để lấy ý kiến đóng góp, các đồng chí đồu có phdn hồi Điều đó cho thây lầnì quan trọng của vấn đ'ê B á c nêu lên Báo Nhân dân số 5409 ngủy 3/2/1969 đăng trang trọng bài viết ký hút danh T L (tham khảo bài viết của Nguyền Thị Quang, Chu Ngọc Lan trong cuốn

H 2015 tr 21-22) ; Đ A ! HQ C Q J Q C QIA H A ¿ 0] “ Ị

; rrcuNG ỈẦM t h ô n g tin t h ư v ỉè n

Trang 16

18 I VIỆT NAM TRONG THỂ GIỚI ĐANG Đổl THAY

nhất thiết hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”'

3 Chiến tranh sẽ qua đi, hòa bình được lập lại, trong Di chúc, Chủ tịch

Hồ Chí Minh xác định nhiệm vụ kiến thiết đất nước với niềm tin: “ Còn non còn nước, còn người; thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay” Để thực hiện nhiệm vụ xây dựns đất nước “ đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, có ihể thấy được trong lời căn dặn của Naười những công việc chính sau đây:

Một là phải “chuẩn bị mọi mặt để thống nhất Tổ quốc” Từ “ thống nhất

Tổ quốc” được viết mực đỏ Và cả đoạn này được đánh dấu bằng một gạch đỏ dọc theo lề Hai là phải “ mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man” Ba là “ Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” Người nhắc nhở: “Chúng ta phải có k ế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm" Người dành hẳn một đoạn: “ ở đây nói về k ế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh” Người chỉ ra những việc phải làm về kinh tế, vệ sinh, y tế, giáo dục và quốc phòng

Quan điểm nhân dân là một điểm sáng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, được ihê hiện rõ nét trong tất cả các bản thảo Di chúc cũng như trong cuộc đời hoạt động của Người Điều đó được phản ánh trên 2 mặt:

Một mặt là niềm tin vào nhân dân, thấy hết sức mạnh của nhân dân:

“ nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cân cù ” và nêu bật “ sự gắn

bó của nhân dân với Đảng”, “ từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng”

Mặt khác là nhiệm vụ chăm lo cho nhân dân bởi vì “ Đầu tiên là công việc đối với con người” Trong bản thảo tháng 5/1968 Người vạch ra kế hoạch sau chiến tranh đối với những người đã đóne góp phân xương máu cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ quốc Đây là một dự án tỉ mĩ tính đến từng đối tượng: thương binh, gia đình liệt sĩ, bộ đội, thanh niên xung

1 HỒ C h i Minh toàn tập, Tập 15, N xb Chính trị Quốc gia, H.t 2 0 1 !, tr 672.

Trang 17

DI CHÚC CÙA CHÙ TỊCH Hổ CHÍ MINH - ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM I 19

phong, phụ nữ nông dân và cả những người là nạn nhân của chế độ xã hội

cũ ở đây, sự quan tâm của Người vừa có ý nghĩa đền đáp công lao trong kháng chiến, vừa tạo điều kiện có công ăn việc làm và được học hành để bồi dưỡng cho họ năng lực góp phần xây dựng đất nước Đặc biệt là dự kiến miễn thuế nông nghiệp I năm cho hợp tác xã “ để đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”

Thực hiện Di chúc, ngay từ những ngày đầu tiên của tiến trình Đổi mới, Đảng đã xác định “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt

tư tưởng “ lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”1 Điêu này được coi là bài học kinh nghiệm hàng đâu trong 4 bài học cơ bản mà Đại hội VI nêu lên để định hướng cho công cuộc Đổi mới Cuôc chiến đấu xóa đói giảm nghèo đạt được một số thành tựu, những chính sách đền ơn đáp nghĩa những người có công với cách mạng luôn được quan tâm, nhiêu chế độ đãi ngộ đã được thực thi đối với thê hệ cháu con, song còn

bê bộn biết bao công việc chưa làm tốt, chưa làm xong để nâng cao đời sống nhân dân, để tiến đến một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Điêu Bác dạy “ Đầu tiên là công việc đối với con người” vẫn là lời nhắc nhở đôi với các chính sách xã hội, các tổ chức quân chúng và cả với phương cách ứng xử hăng ngày trong cộng đồng dân cư ở phố phường, thôn xóm

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy trước những khó khăn trong việc thực hiện kê hoạch thời hậu chiến, đó“ là một cuộc chiến đấu chống lại những gì

đã cũ kỹ hư hỏng để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi” Đứng trước “ cuộc chiến đấu khổng lồ này”, Người đặt tất cả niềm tin vào nhân dân và đề ra nhiệm vụ “ cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân” Quả là những điều dự háo thiết thực, những lời cảnh tỉnh nghiêm khắc Đã có biết bao tấm gương lao động sáng tạo vươn lên tự hoàn thiện bản thân mình, đồng thời đóng góp cho sự nghiệp Đổi mới Những thành tựu đạt được ngày nay chính là nhờ vào công sức của quần chúng nhân dân, từ những cải tiến của bao người nông dân tiên tiến,

ư 29.

Trang 18

20 I VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI OANG Đổl THAY

những sáng kiến của đội ngũ công nhân hiện đại cho tới những phát minh của tâng lớp trí thức luôn tiếp cận cái mới cùng những đổng góp của các nhà doanh nghiệp đầy năng động Nhưng ngược lại, trong cuộc đấu tranh cho một xã hội âm no, công bằng cũng có không ít người đã từne đù ne mãnh trong lửa đạn nay lại đầu hàng trước những cám dỗ của đồng tiền, khôn« vượt được những tính toán sai lâm đổ rơi vào vòng phạm pháp, xa rời nhân dân, cấu thành những tập đoàn quan liêu hại dân, hại nước Luật pháp đã trừng trị họ song đau xót thay khi biết rằng trước đó họ cũng là những có 111» dân iương thiện, những đảng viên trong sáng, những chiến sĩ đũnẹ cảm, những cán bộ mẫu mực Rõ ràng “ cuộc chiến đâu khổng lồ” mà Người liên đoán thật sự không kém phần gian nan và không loại trừ một ai

Từ trong nội dung tư tưởng Hổ Chí Minh, quan điểm nhân dân nổi lên

rõ rệt vừa về lý trí, vừa về tình cảm Nhân dân được nhìn từ hai phía: vừa là động lực của cách mạng, nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi, nguồn lao động xây dựng nên xã hội mới to đẹp hơn, đàng hoàng hơn; vừa là đối tượng phục vụ của cách mạng, cách mạng phải giành cho họ quyền làm chủ, quyên tự do, phải đem lại cho họ quyên hưởniỉ những lợi ích vật chất và tinh thần vốn là sản phẩm do trí tuệ và sức lao động của chính họ Cũng nên nói thêm rằng nhân dân chính là người kiểm định công tâm và nghiêm khắc phẩm chất người cán bộ cũng như chất lượng các công trình Cho nên, cách mạng phải thật sự dựa vào nhân dân, phát động nhân dân, đông thời mang lại quyền lợi cho nhân dàn: quyền con người và quyền công dàn, quyền được ăn no mặc ấm, dược học hành, quyền hưởng hạnh phúc như Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định, như điêu mong ước của Người: “ Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do đôn2 bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc,

Trang 19

DI CHÚC CÙA CHỦ TỊCH Hổ CHÍ MINH - ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM I 21

vừa 78 tuổi, vào lớp người trung thọ”, Người lại đưa đoạn này lên đầu bản

Di chúc, trước khi đê cập đến những vấn đc chung của đất nước

Viết là “ việc riêng" nhưng nội dung lại chính lại là những công việc chung, những điều cần làm sau khi Người qua đời Trước hết là “ chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân” Chỉ với một dòng ngắn ngủi nhưng lời dặn dò của Người chứa đựng tấm lòng thướng yêu nhân dân sâu sắc, không muốn vì mình mà người dân phải “ lãng phí thì giờ và tiền b ạc”

Người đưa ra ycu cầu “ thi hài tôi được đốt đi, tức là hỏa táng” vì làm như vậy, "đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng”

và “ khi ta có nhiêu điện, thì điện táng lại càng tốt hơn” Nhìn lại những năm 60, (ì nước ta chưa có tục hỏa táng nhưng Người đã thấy trước vấn đ'ê Đến nay, từ những năm đầu thế kỷ X X I, điện táng đã dần dần trỏ thành phổ biến, trước hết là ỏ các thành phố lớn

Trong bản thảo đầu tiên, Người gợi ý “Tro xương thì tìm một quả đồi

mà chôn Gân Tam Đảo, Ba Vì hình như có nhiều đồi tốt” Phải chăng Người

đã nhắm đến một địa điểm thích hợp mà ngày nay được là Khu di tích K9 (Đá Chông) Người còn dặn: “ Nếu tôi qua đời trước ngày nước ta được thống nhất, thì nên gửi một ít tro xương cho đông bào miền Nam” Thật đúng như Người đã từng thổ lộ: “ Đồng bào miền Nam luôn ỏ trong trái tim tôi” Cho đến khi chuẩn bị đi xa, Người vẫn không quên nhắc tới đồng bào nơi chiến tuyến, với di cốt của mình, Người coi như vẫn đang ở bèn các chiến sĩ và nhân dân yêu quí

Đến bản thảo viết năm 78 tuổi, nghĩ tới tấm lòng của đồng bào cả nước trong điều kiện non sông bị chia cắt, Người đưa ra giải pháp “ Tro thì chia làm

ba phần, bỏ vào ba cái hộp sành” dành cho ba miên của Tổ quốc Những hộp tro đó được chôn trên quả đồi, “ không nên có bia đá tượng đồng”, mà nên xây một ngôi nhà giản đơn, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng

có chỗ nghỉ ngơi Ở đó “ nên có kế hoạch trồng cây ”, ai đến thăm thì trồng

Trang 20

22 I VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG Đổl THAY

một vài cây làm kỷ niệm Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phoniỉ cảnh và lợi cho nông nghiệp Quả là một dự định có ý nghĩa sâu sắc, vừa đáp ứng tình cảm trong lòng dân, vừa đem lại lợi ích lâu dài cho đất nước Đó là một kê hoạch đây ý tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh Người luôn nghĩ cho các thế hệ con cháu hôm nay và mai sau

5 Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn quân

và toàn dân Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi cuộc khán" chiến cứu nước, thống nhất hai miền Nam - Bắc; bảo vệ thành công biên giới của Tổ quốc

phía Tây Nam và phía Bắc, ngày đêm gìn giữ biển đảo bảo vệ chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ Ba mươi năm thực hiện đường lối Đổi mới đã khôi phục và kiến thiết đất nước “ đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”; cải thiện rõ rệt đời sống của nhân dân và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc

tế Đó là một thực tê không thể phủ nhận

Song có thể thấy ở đây dự báo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những khó khăn đang chờ đợi phía trước Sau ngày chiến Ihắng, khá phổ biến từ cán bộ đến người dân một suy nghĩ đánh Mỹ được thì những việc khác có gì không làm dược Tư tưỏng chủ quan, nóng vội đã phải trả giá đắt

cả về mặt đối ngoại và đối nội Đất nước bị bao vây cô lập nền kinh tế kiệt quệ, “ nhiều nhu câu chính đáng tối thiểu của nhân dân về đời sống vật chất và văn hóa chưa được bảo đảm ” Do vậy, mục tiêu đầu tiên về kinh tế - xã hội đề ra trong Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) mới chi là

“ sản xuất đủ hàng tiêu dùng và có tích lũy”, “ bảo đảm ăn đủ no, có thêm dinh dưỡng, mặc đủ ấ m ”1 Từ xuất phát điểm rất thấp như vậy, ba mươi năm Đổi mới (1986 - 2016) đã đưa đất nước tiến lên vê mọi mặt: “ Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc t ế ” Nhưng “ một số chỉ tiêu kinh

tế - xă hội chưa đạt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cci bản trở thành nước công nghiệp theo hướng

H., 1987, tr 1 8 ,4 3

Trang 21

DI CHÚC CÚA CHỦ TỊCH Hổ CHÍ MINH - ĐỌC LAI VÀ SUY NGẪM I 23

hiện đại không đạt được”' Rõ ràng, cho đến hôm nay, nguy cơ tụt hậu vẫn

là hiện hừu, vẫn là điều cảnh báo nghiêm khắc Có rất nhiều công việc phải làm, thực hiện k ế hoạch phát triển kinh tế và xã hội, giáo dục và văn hóa.Hơn bao giờ hết, chúng ta nhớ lại lời nhắc nhở của Người: “ việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”, “ đầu tiên là công việc đối với con người” Người nhân mạnh, những công việc trên là “ rất to lớn, nặng n ề ”, là

“ cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi” Người coi đó là "cuộc chiến đấu khổng lồ ” mà nhân tố dẫn đến thành công chính là “ dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”

Tiếp bước trên con đường Đổi mới rất rõ ràng cuộc chiến đấu chông lại những gì cũ kỹ, hư hỏng trong mỗi con người, mỗi tổ chức Đảng, mỗi cộng đồng cư dân đều là cuộc chiến đấu khổng lồ, rất to lớn và nặng nề Đảng luôn quan tâm đến nhiệm vụ trọng đại này song để những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành hiện thực, không gì khác là phải thật sự dựa vào nhân dân, phát huy quyền dân chủ và sự đóng góp trí tuệ của nhân dân, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh yêu cầu quán triệt tư tưởng “ lấy dân làm g ố c”, bộ máy chính quyên cũng luôn nhấn mạnh tinh thần “ của dân do dân, vì dân” Trên tinh thần đó, Đảng đã từng nêu chủ trương làm cho “ dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, song phải chăng còn thiếu một v ế là "dân hưởng"? Khi nhữns thành quả của quá trình trên (biết, bàn làm, kiếm tra) không thuộc vê người dân mà rơi vào túi quan tham như đã và đang diễn ra thì quá trình dân chủ hóa chỉ dừng lại trên khẩu hiệu! Cuộc vận động “ Sống, học tập và làm việc theo gương Chủ tịch Hổ Chí Minh” đạt nhiều kết quả nhưng phải chăng chưa được như mong muốn? Có lẽ cân một sự phân tích thực trạng xã hội từ góc độ khoa học, trở lại kinh nghiệm lịch sử về thời hưng thịnh và suy vong của các triều đại, tìm ra nguồn gốc về mặt tâm lý, kinh tế và xã hội thay vì chỉ thu hẹp trong những đợt vận động chính trị Cha ông ta đã từng nói: “ Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân” (Nguyễn Trãi), “ Dân là dân nước,

Quốc gia H 2016 t r 6 5 ,60.

Trang 22

24 I VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG Đổl THAY

nước là nước dân, được lòng dân thì sống, không được lòng dân thì ch ết” (Phan Bội Châu) Đó là những bài học lịch sử, đồng thời là những lời nhắc nhở cân được lưu tâm

*

* *

Khép lại những trang Di chúc, điều cảm nhận trong mỗi người Việt Nam chúng ta là tình cảm thiêng liêng của Chủ tịch Hổ Chí Minh dành cho đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc tế Người có ý định đến ngày thắng lợi

sẽ đi khắp hai miền Nam - Bắc để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ,

để thăm hỏi các cụ phụ lão và các cháu thiếu niên, nhi đồng Người cũng sẽ

đi thăm và cảm ơn nhân dân các nước đã ủng hộ và giúp đcỉ cuộc kháng chiến của nhân dân ta Người “để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng” và gửi lời chào thân ái đến bạn bè quốc tế Đón nhận tình cảm cao quý và sâu đậm, rất cần một sự quyết tâm cao hơn nữa để thực hiện irọn vẹn Di chúc

của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 5/017

Trang 23

Sau này, trong dịp trò chuyện với những người đồng chí của mình, Chủ lịch Hồ Chí Minh nói rằng Người tôn trọng và đánh giá cao tinh thần

ái quốc của các thế hệ đi trước nhưntĩ Người không đồng tình sự lựa chọn

đó bởi không mang lại hiệu quả Trả lời một nhà văn Mỹ Anna Luy Xtơ- rông về sự lựa chọn của mình, Người nói: Nhân dân Việt Nam, trong đó có

cả ông cụ thân sinh ra Người, lúc đó thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp được Việt Nam thoát khỏi sự thống trị của thực dân Pháp? Có người cho rằng nhờ người Anh, có người nói nhờ người Mỹ Tôi (Hồ Chí Minh - TG) thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ Sau khi xem họ làm ăn ra sao, tôi

Trang 24

26 I VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG Đổl THAY

sẽ trở về giúp đồng bào tôi' Chuyến đi của Người sang phươna Tây là một

sự kiện mới rất đặc biệt chưa từng xảy ra

Hai là, mục đích của chuyến đi

Khác với các thế hệ cha anh trước đây thường xuất dương sang phương Đông, lên phương Bắc đ ể cầu viện, đ ể học hỏi, đ ể tập hợp lực lượng, đ ể đ ào tạo cán bộ, nhân lực đưa về nước tổ chức hoạt động; chuyên đi của Nguyễn Tất Thành lại nhằm tìm ra con đường cứu nước ở chính đất nước đang áp đặt ách thống trị Việt Nam Người muốn đến tận nơi để hiểu rõ hơn câu khẩu hiệu - tiêu chí của cuộc Cách mạng Tư sản: "T ự do - Bình đẳng - Bác

á i” được Chính phủ Pháp thực hiện như thế nào ở chính quốc và lý giải tình cảnh người dân Việt Nam đang phải chịu đựng dưới sự đàn áp, bóc lột của thực dân, tư bản Pháp

Với trí tuệ mẫn tiệp, Người quan sát, suy nghĩ vê các trào lưu yêu nước, dân tộc, các cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tục trong nước nhưng đều không thành công, đặt ra câu hỏi cần phải có lời giải đáp đó là vì sao các phong trào, cuộc vận động, các cuộc khởi nghĩa đó thất bại? Nếu vẫn theo suy nghĩ

cũ, phương cách cũ, chắc chắn kết cục cũng không thay đổi Vì thế, vấn đê đặt ra là phải tìm hướng đi mới, đối tượng mới, cách thức mới và cả lực lượng mới; phải có sự kết hợp giữa lực lượng trong nước với lực lượng bên ngoài, với sự giúp đỡ của các nước thì sự nghiệp cứu nước mới có kết quả Với suy nghĩ như vậy, Người đã lên đường

B a là, cuộc ra đi của Người chỉ đơn độc một mình

Đây là điều đặc biệt với một người thanh niên chưa từng ra nước ngoài, với hành trang chỉ có đôi bàn tay voi V chí quyết tâm mãnh liệí Chúna »ôi cũng chưa có được tư liệu chứng minh trước khi lên tàu xuất dương, Người

có trò chuyện, xin phép người cha thân yêu - cụ Phó bảng Nguyễn Sinh sắc (còn gọi là Nguvễn Sinh Huy (1862 - 1929) - về mục đích chuyến đi hay

1 HỒ C h ỉ Minh - B iên niên tiểu sử, Nxb Chinh trị Quốc gia H 1993, tập l, tr.46.

Trang 25

NGHĨ VỂ HÀNH TRÌNH 30 NĂM TÌM ĐƯỜNG cứu Nước CỦA Hổ CHÍ MINH I 27

không, hay đây chính là ý định đã được nung nấu từ lâu và Người tìm mọi cách thực hiện cho được, kể cả sự không đồng ý của gia đình?

Có ý kiến cho rằng chuyến xuất dương của Người mục đích ban đầu chỉ nhằm để kiếm sống và thỏa mãn ý thích phiêu lưu đi đây đi đó của tuổi trẻ

Cũng có ý kiến cho rằng, do cụ Phó bảng Nguyễn Sinh s ắ c bị cách chức, sau đó lưu lạc vào Nam Kỳ khiến cho Người phẫn chí, thúc đẩy Người rời bỏ đất nước

Theo chúng tôi, đây là những ý kiến, quan điểm mang tính chât suy diễn chủ quan, không phản ánh đúng thực chất mục đích chuyến đi của Người Hầu hết các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho rằng Người xuíít dương là nhằm tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Điều này xuất phát từ lòng yêu nước trao truyền, hun đúc trong dòng máu của gia đình, quê hương của Người, xuất phát từ ý thức dân tộc, từ hoài bão "phải có danh

gì với núi sông” của tuổi trẻ

Tuy nhiên, cuộc ra đi của Người lại chỉ có một mình “ Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn B á c ” Nhà thơ C h ế Lan Viên đã viết như vậy để nói lên cảm xúc của mình trước

sự quyết tâm “ dấn thân” của Người đến một phương trời xa xôi, chưa được định hình một cách chi tiết, cụ thể về cuộc sống sinh hoạt cũng như cách làm như thế nào để tìm ra con đường cứu nước Mục đích sự ra đi của Người

là rõ ràng nhưng mục tiêu hướng tới, tìm đến quả là chưa cụ thể, nhưng không thể nói là mơ hồ, gặp chăng hay chớ Chỉ có lòng yêu nước mãnh liệt, ý chí kiên định về giải phóng dân tộc, nhân dân khỏi cảnh áp bức, lầm than và lòng quả cảm mới đưa Người tới quyết định có tính lịch sử như vậy Phong trào Đông Du, vận động đưa được khoảng 200 người Việt Nam sang Nhật học tập, do Phan Bội Châu khởi xướng và tổ chức trong những năm đầu thế kỷ X X , là phong trào khá quy mô, có tính tổ chức cao, mục đích rỗ ràng, mục tiêu cụ thể, là ví dụ về sự khác biệt so với chuyến ra đi của Nguyễn Tất Thành

Trang 26

28 I VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG Đổl THAY

MỘT HÀNH TRÌNH KÉO DÀI BA THẬP KỶ

Với công việc làm phụ bếp, trên chiếc tàu vận tải mang tên Đô đốc Latútsơ Trêvin, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Văn Ba) rời Sài Gòn bắt đầu cuộc hành trình đặc biệt trong cuộc đời của mình và có tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ đến vận mệnh của cả nước Việt Nam và thế giới sau này Tìm hiểu về chuyến đi ra nước ngoài có thể nói là dài nhất về mặt thời gian đối với cuộc đời một con người, khônẹ phải để định cư, không phải để kiếm sống, mà chủ yếu là để tìm hiểu, quan sát, học hỏi, vận động sự ủng hộ giúp đỡ quốc tế, tập hợp tổ chức lực lượng nhằm mục tiêu cứu nước, giải phóng dân tộc, có thể chia ra ba thời đoạn, tương ứng với khoảng thời gian một thập kỷ là một thời đoạn, để thấy được hành trình hoạt động sôi nổi phong phú của Người, thể hiện qua các sự kiện chủ yếu dưới đây:

- Thời gian từ tháng 6/1911 đến 12/1920

Đây là 10 năm đầu Ngưdi vừa lao động kiếm sống vất vả bằng nhiêu công việc khác nhau cả trên tàu biển và khi ở trôn bộ, ỡ nhiêu đất nước, châu lục khác nhau, thời gian dài ngắn khác nhau Đây cũng là thời gian Nuười quan sát, tìm hiểu, tự học tập, viết báo, tham gia các tổ chức, đảnc phái, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy con đường cứu nước chân chính cho dân tộc Việt Nam

Trong tổng s ố 28 nước Người đã tới trong 30 năm ở nước ngoài (1911- 1941), thì 10 năm đầu, Người đã có mặt đi qua 21 nước Nhiều nước trong số các quốc gia này, Người chỉ ghé qua trên hải trình của con tàu Người làm việc trên đó Trong quãng thời gian này, có ba nước Nqười ỉưu lại lâu nhất là Mỹ (1912 - 1913), Anh (1913 - 1917), và Pháp (1917 - 1923) Đi qua bất cứ nơi đâu, dù thời gian dài hay ngắn Người cũng tranh thủ quan sát, tìm hiểu đời sống của người dân nơi đó, đặc biệt là người dân các nước đang là thuộc địa của chỏ nghĩa tư bản, thực dân Người xúc độne trước cảnh sống khổ cực, bị

áp bức, bóc lột của người dân các nước, không khác gì cảnh ngộ của đồng bào

ở quê hương Người nhận thấy ở đâu người dân cũng mong muốn được sống tự

do, thoát khỏi ách thống trị, bóc lột của thực dân Vì thế, điều cần thiết là phải

Trang 27

NGHĨ VỂ HÀNH TRÌNH 30 NẢM TÌM ĐƯỜNG cửu Nước CỦA Hổ CHÍ MINH I 29

lìm cách đoàn kết, tập hợp những người bị áp bức, các dân tộc bị nô dịch lại để đấu tranh giải phóng con người, giải phóng dân tộc

Đây cũng là khoảng thời gian Người làm nhiều nsh'ê, nhiêu loại công việc khác nhau để kiếm sống Từ công việc của bản thân, Người cũng thấu hiểu và đồng cảm với những người lao động các nước và càng nhận thấy phải có sự liên kết chặt chẽ giữa cuộc đấu tranh của người dân các nước thuộc địa với giai cấp côns nhân ở chính quốc

Những năm cuối của giai đoạn này Người sông ở nước Pháp Đây là những năm đánh dấu sự chuyển biến mang tính bước ngoặt trong hành trình tìm đường cứu nước của Người Có 3 sự kiện nổi bật minh chứng cho điêu đó

Thứ nhất tháng 6/1919 Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước ỏ Pháp, gửi lới Đoàn đại biểu Pháp dự Hội nghị hòa bình Vécxây bản

Yêu sách của nhân dân An Nam. Người ký tên bên dưới bản Yêu sách là Nguyễn Ái Quốc (người Việt Nam yêu nước họ Nguyễn) Tiếp đó, Người viết thư gửi Tổng thống Mỹ dự Hội nghị hòa bình Vécxây đ'ê nghị lưu ý và ủng hộ bản Yêu sách gồm tám điểm này Tuy các nước tham dự Hội nghị Vécxây không xem xét nhưniỉ sự kiện này đánh dấu hoạt động chính tri công khai gây tiếng vang lân đầu tiên của Người với tên gọi Nguyễn Ái Quốc

Thứ hai, tháng 7/1920, Ngưỉri đọcđược trên báo Nhân đạo ( ư Humanité) bài viết của Lênin có tiêu đê: Sư thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn dề thuộc địa. Đây là bản Sơ thảo mà Lênin - lãnh tụ và là người thầy của phong trào cách mạng vô sản thế giới, người đứng đầu Quốc tế Cộng sản thứ ba (thành lập năm 1919) chủ động cho đăng tải để tham khảo ý kiến của những người cộng sản, những người yêu nước trên toàn thế giới, trước khi trình bày tại Đại hội ĩân thứ hai của Quốc tế Cộng sản Trong văn kiện này Lênin đã mạnh mẽ phê phán các quan điểm sai lầm của những người đứng đầu Quốc tế Cộng sản thứ hai về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, lên án tư tưởng sôvanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ

Trang 28

30 I VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG Đổl THAY

của các Đảng Cộng sản là phải tìm cách giúp đỡ một cách thực sự, hiệu quả phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân các nước thuộc địa; khẳng định

sự cần thiết phải đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng lao động của tất cả các dân tộc để chống lại kể thù chung là tư bản, thực dân, phong kiến

Văn kiện này đã thực sự giải đáp cho Người về con đường đâu tranh giành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân mà Người đi tìm bấy lâu nay Sau này, Người nhớ lại cảm giác xúc động sau khi đọc Luận cương cùa Lênin: “ Luận cươns của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng

tỏ và tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hởi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cân thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta! Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ b a ”1

Một điều khá đặc biệt là những nội dung trong bản Yêu sách tám điểm

mà Người gửi đến Hội nghị Vécxây, tuv có nội dung rất cụ thể nhưne lại giống với tinh thần bản Luận cương của Lênin, trong khi bản Yêu sách lại viết trước tới 1 năm so với Luận cương của Lênin Đây là điểm trùng hợp thú vị và độc đáo vì suy nghĩ và ý tưởng của hai nhà cách mạng lại “ gặp nhau” ở vân đề dân tộc và vấn đ'ê thuộc địa Sau này, Người nói: “ Lúc bấy giờ tôi ủng hộ Cách mạng tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên Tôi chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó Tôi kính yêu Lênin vì Lênin

là một người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình, trước đó tôi chưa

hề đọc một cuốn sách nào của Lênin”

Việc đọc được Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa đã trở thành dấu mốc vô cùng quan trọng trong quá trình ủm đường cứu nước của Người, đưa Người từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Lênin, giúp iNgười giải đáp được những vân đề về mặt ]ý luận của cách mạng giải phóng dân tộc

H ồ C h ỉ Minh toàn tậ p Tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia> H., 1996, tr 126.

Trang 29

NGHĨ VỂ HÀNH TRÌNH 30 NĂM TÌM ĐƯỜNG cứu Nước CỦA Hồ CHÍ MINH I 31

Thứ ba, đó là sự kiện Người tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng X ã hội Pháp tổ chức tại thành phố Tua (Tours) tháng 12/1920 với tư cách là đại biểu Đông Dương Trước đó, Người tham gia các hoạt động của ủy han Quốc tếIII của Đảng Xã hội, một trong những tổ chức đảng phái lớn nhất ở Pháp lúc đó, nhằm vận động Đảng Xã hội gia nhập Quốc tế Cộng sản III Ngay tại Đại hội Tua, Người đã cùng một số thành viên Đảng Xã hội Pháp tách ra thành lập Đảng Cộng sản Pháp để tổ chức này ra nhập Quốc tế III với tư cách là phân

bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản

Giải thích về quyết định của mình, Người v iế t “ Tôi hiểu rõ một điều Quốc tê III rât chú ý đến vân đề giải phóng thuộc địa Quốc tế III nói sẽ eiúp đờ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ Còn Quốc

tế II không hề nhắc tới vận mệnh các thuộc địa, vì vậy tôi bỏ phiếu tán thành Quốc tế III Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đây là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu”'

Với việc gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, người thanh niên yêu nước họ Nguyễn đã đến với chủ nghĩa cộng sản, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, chiến sĩ cách mạng quốc tế đầu tiên của Việt Nam Một bước ngoặt quan trọng đã mở ra trong cuộc đời hoạt động của Người

- Thời gian từ 1921 đến 1929

Đây là quãng thời gian hoạt động thực tiễn rất phong phú và sôi nổi của Người, sau khi đã tìm thây con đường giải phóng dân tộc Trong 10 năm này, tuy Người chỉ có mặt ở 11 nước thời gian dài, ngắn khác nhau (Xrilanca (1928); Pháp (1921 - 1923; 1927); Đức (1923; 1927- 1928); Ý (1928); Thụy

Sĩ (1928); Liên Xô (1923 - 1924; 1927); Trung Quốc (1924 - 1927; 1929); Nhật ( 1924); Bỉ (1927); Thái Lan (1928 - 1929); Lào (1928 - 1929)\ nhưng

ba nước Pháp, Liên Xô, Trung Quốc là những quốc gia Người có những hoạt động nổi bật

H 2 0 l 2 t r 11-26

Trang 30

32 I VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG Đổl THAY

Tại Pháp, vẫn vừa phải lao động kiếm sống nhưng Người đã tham gia các hoạt động liên tục đóng góp cho phong trào cộng sản, công nhân quốc

tế, phong trào giải phóng dân tộc nói chung và phong trào cách mạng Việt Nam Dưới đây là những hoạt động chủ yếu:

+ Người tham gia với tư cách là ủy viên Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp (6/1921)

+ Người tham gia dự phiên họp đầu tiên của Hội Liên hiệp thuộc địa (4/10/1921) và trở thành thành viên tích cực của tổ chức này

+ Người tham gia sáng lập báo Người cùng khổ (Le Puria), sô 1 ra ngày 1/4/1922 Các bài viết của Người tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa đăng trên báo Người cùng khổ

sau đó được tập hợp lại thành cuốn Bản án c h ế độ thực dân Pháp (1925)

Tại Liên Xô, Người từ Pháp đi qua Đức và đến Lêningrát (Xanh Pêtécbua) ngày 30/6/1923 Trong khoảng thời gian từ 7/1923 đến 10/1924, Người đã tham gia Hội nghị lần thứ nhất của Hội Quốc tế Nông dân (10/1923) với tư cách là đại biểu chính thức của nông dân Đông Dương, được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân

Từ 17/6 đến 8/7/1924 Người tham dự Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản, phát biểu nhấn mạnh vấn đề dân tộc và thuộc địa, khẳng định tầm quan trọng, vị trí của cách mạng ihuộc địa và nêu sự cần thiết phải có sự liên hệ chặt chẽ giữa cách mạn? ở chính quốc và phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch Người yêu cầu Quốc tê Cộng sản phải giúp đỡ cách mạng thuộc địa về tổ chức, về cán bộ

và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng

Trong thời gian ở Liên Xô, Naười làm việc trong cơ quan của Quốc tế Cộng sản tham dự các hoạt động quan trọng của Quốc tế Cộng sản Người theo học một khóa ngắn hạn tại trường Đại học Cộng sản của những người lao động phương Đông (còn gọi là Trường Đại học Phương Đông) Người tham

Trang 31

NGHĨ VỂ HÀNH TRÌNH 30 NĂM TÌM ĐƯỜNG cứu Nước CỦA Hổ CHÍ MINH I 33

dự Đại hội Quốc tế Công đoàn; Đại hội Quốc tế Thanh niên; Tổ chức Quốc

tế cứu trợ các chiến sĩ cách mạng (còn gọi là Quốc tế Cứu tế đỏ); Quốc tế Phụ nữ vv

Tháng 10/1924, Quốc tế Cộng sản đồng ý với đề nghị của Nguyễn Ái Quốc được về nước với tư cách là ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách văn phòng Phương Nam của Quốc tế Cộng sản, theo dõi và chỉ đạo phong trào cách mạng các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Trên cơ sở được giao trách nhiệm như vậy, Người đã đề nghị Quốc tế Cộng sản cho Người đóng vai phiên dịch cho cố vấn Borodine, bên cạnh Chính phủ Trung Hoa Dân quốc do Tôn Trung Sơn làm Tổng thống

Tại Trung Quốc, địa điểm đầu tiên Người đặt chân đến là thành phố Quảng Châu, thủ phủ tỉnh Quảng Đông, nơi lúc đó được mệnh danh là Mátx- cơva của phương Đông, vào đầu tháng 11/1924 Đây cũng là nơi trú chân của nhiều nhà hoạt động yêu nước và cách mạng Việt Nam thời đó Mục đích đến Quăng Châu của Người nhằm từng bước thực hiện tâm nguyện: trỏ về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huân luyện họ, đưa họ ra đâu tranh giành tự do độc lập1

Khoảng thời gian từ 1924 đến 1927 ở Quảng Châu là khoảng thời gian Người chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời một chính đảng vô sản Việt Nam Người cải tổ Tâm tâm xã, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925); vận động đưa người từ trong nước sang; liên

hệ gửi vào Trường Quân chính Hoàng Phố; ra báo Thanh niên; tổ chức các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ cho phong trào cách mạng trong nước Người đã trực tiếp biên soạn, giảng bài cho học viên các lớp này, sau

đó tập hợp lại thành cuốn sách Đường cách mệnh. Đây là tác phẩm mang tính lý luận đầu tiên của cách mạng Việt Nam, là cơ sở cho việc hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam sau này

HỒ C h í Minh toàn tập, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr 192.

Trang 32

34 I VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG oổl THAY

Sau sự kiện Tưởng Giới Thạch làm chính biến, đóng cửa Trường Quàn chính Hoàng Phô" (cuối 1927) Người chỉ đạo một số cán bộ Việt Nam tham gia Công xã Quảng Châu, ủng hộ cách mạng Trung Quốc Người rời Trung Quốc trỏ lại Mátxcơva và sang năm 1928, Người trở lại khu vực Đông Nam

Á, Nam Á, đến Xirilanca, Thái Lan, Lào, Malaixia để gây dựng cơ sở cách mạng tại các nước này đồng thời tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam

- Thời gian từ 1930 đến tháng 1/1941

Cuối năm 1929, được biết Việt Nam đã thành lập các tổ chức cộng sản

ở cả ba miền nhưng các tổ chức này không thống nhẩt, đoàn kết, còn công kích, tranh giành ảnh hưởng của nhau Trước tình hình đó, Người đã từ Thái Lan sang Hương Cảng (Hồng Công), lấy danh nghĩa là phái viên của Quốc tế Cộng sản, triệu tập đại diện của các tổ chức cộng sản từ trong nước sang, tổ chức Hội nghị hợp nhất thành lập một chính đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam Hội nghị có sự tham dự của đại diện Đông Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản đảng, họp từ 6/ ĩ đến đầu tháng 2/1930, đã thảo luận và thông qua các văn kiện do Người soạn Ihảo: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Hội nghị đã nhất trí đặt tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam Việc tổ chức thành lập Đảng là công lao to lớn của Người đối với cách mạng Việt Nam Từ đây, phong trào cách mạng Việt Nam đã có một chính đảng, có đường lối đúng đắn, phù hợp lãnh đạo, là điều kiện quyết định đảm bảo thắng lợi cho cuộc đấu tranh giải phóns dân tộc của nhân dân ta

Sau sự kiện lịch sử thành lập Đảng, Người đi Malaixia tham gia thành lập Đảng Cộng sản Mã Lai (4/1930); theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam, báo cáo Quốc tế Cộng sản vê cao trào cách mạng 1930 - 1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh Tháng 6/1931, Người bị thực dân Anh bắt và giam ở Hồng Công đến cuối năm 1932 mới được trả tự do Người trở lại Liên Xô, được phân công phụ trách nhóm sinh viên Việt Nam tại Viện

Trang 33

NGHĨ VỂ HÀNH TRÌNH 30 NĂM TÌM ĐƯỜNG cứu Nước CỦA Hổ CHÍ MINH I 35

Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa Sau đó, tháng 10/1934, Người được nhận vào học tại Trường quốc tế Lênin Từ đó cho đến năm 1938, Người vừa làm nghiên cứu sinh tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa tham dự Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản (1935), đề nghị Quốc tế Cộng sản tạo điều kiện trở về nước hoạt động

Từ tháng 10/1938, Người rời Mátxcơva về Trung Quốc, tham gia vào các hoạt động của phong trào cách mạng Trung Quốc và bắt liên lạc, chỉ đạo phong trào cách mạng V iệt Nam, chuẩn bị điều kiện để trd về nước lãnh đạo cách mạng; mở lớp huấn luyện cán bộ Việt Nam; viết báo gửi về nước đăng trên các tờ báo của Đảng

Ngày 28/1/1941, Người cùng một số’ cán bộ vượt qua cột mcíc số 108 trên biên giới Trung Quốc - V iệ t Nam, đặt chân lên quê hương sau 30 năm ra đi tìm đường cứu nước, để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam

Đây thực sự là cuộc hành trình vĩ đại của một con người vĩ đại

Trang 34

XÁC LẬP CHÊ flộ CỘNG HÒA DÂN CHỎ - MỘT THÀNH Tựu v ĩ BẠI

GS.TS Phạm Hồng Tung*

1 Mở đầu

Vấn đ'ê bản của tất cả các cuộc cách mạng !à vấn đ'ê chính quyền Trong bản Tuyên ngôn Độc lập đọc tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội) ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hổ Chí Minh đã tóm lược quá trình giành chính quyền

và những thành tựu cơ bản nhất của cuộc Cách mạng tháng Tám như sau: liPháp chạy, Nhạt hàng, vua Bảo Đại thoái vị Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam đ ộ c lộp. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên c h ế độ Dân chủ Cộng hòa"'. Như vậy, “ nước Việt Nam độc lập” và “ chế độ dân chủ cộng hòa” là hai thành tựu cd bản, to lớn nhât của cuộc Cách mạng tháng Tám

Về vân đê thứ nhất, tức là cuộc đâu tranh của nhân dân Việt Nam nhằm giành độc lập, củng c ố và giữ gìn nên độc lập dân tộc thỏ ne nhíu đất nước

và sự toàn vẹn của chủ quyền quốc gia, đã được giới nghiên cứu cả Việt Nam và nước ngoài dành cho sự quan tâm sâu sắc và mạnh mẽ Hàng vạn công trình đã đi sâu nghiên cứu về cuộc đấu tranh này trong các giai đoạn lịch sử n ước, trong và sail cuộc Cách mạng tháng Tám Tuy nhiên, về vãn

đề thứ hai, tức là cuộc đấu tranh nhằm lật đổ ch ế độ quân chủ chuyên chế, xác lập và củng c ố ch ế độ cộng hòa ở Việt Nam, thì cho tới nay vẫn còn là

1 Hồ C hí Minh toàn tập. Tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia - .Sự ứìật Hà Nội 2 0 1 1 tr.3 Nhừng chữ in nghiông do PHT nhấn mạnh.

Trang 35

XÁC LẬP CHÊ' Độ CỘNG HÒA DÂN CHỦ - MỘT THÀNH Tựu v ĩ ĐẠI I 37

một khoảng trống lịch sử chưa được siới nghiên cứu dành cho sự quan tâm thỏa đáng Đây thực sự là một điều rất đáng tiếc, bởi việc xác lập ch ế độ cộng hòa chắc chắn là một dấu mốc lớn, một bước ngoặt có ý nghĩa lớn lao trong lịch sử chính trị toàn thế giới cũng như trong lịch sử chính trị của nhiều quốc gia - dân tộc, trong đó có Việt Nam Làm rõ vấn đề này chắc chắn sẽ góp phần quan trọng vào việc nhận thức đầy đủ, đúng đắn hđn về tầm vóc, tính chất và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945

2 K hái lược về nền cộng hòa trong lịch sử chính trị th ế giởi

Trong lịch sử chính trị thế giới, cộng hòa là một hình thức chính trị đượcghi nhận là xuất hiện khá sớm - khoảng 5 thế kỷ trước Công nguyên ở Hy Lạp và La Mã cổ đại Trải qua hàng chục thế kỷ, đã có nhiều mô hình nền cộng hòa xuất hiện, tuy mang những sắc thái và đặc trưng khác nhau, nhưng hai đặc điểm phổ biến, có thể được xem như cốt lõi hay bản chất của chế độ cộng hòa là: quyền lực của Nhà nước được ủy thác vào các cá nhân và các thiết ch ế chính trị hình thành thông qua bầu cử và các cá nhân và thiết chế chính trị đó thực thi quyền lực của mình dựa trên hệ thống luật pháp được xã hội thừa nhận Như vậy, xét về bản chất, c h ế độ cộng hòa vừa là sản phẩm của nền dân chủpháp quyền, lại vừa là công cụ duy trì và thực thi nền dân chupháp quyền. Do đó, ch ế độ cộng hòa được xem như mặt đối lập trực tiếp và tuyệt đối của các loại hình quyền lực chính trị thế tập (hereditary pow er - quyền lực do thừa k ế tnà có) và thần quyền (divine power), tức là đối lập hoàn toàn với chế độ quân chủ, nhất là chế độ quân chủ chuyến chế Đây chính là lý do mà trong lịch sửchính trị thế giới cận đại và hiện đại, việc lật đổ

ch ế độ quân chủ, xác lập nền cộng hòa luôn luôn được xác định là mục tiêu chiến lược quan trọng nhất của tất cả các cuộc vận động dân chủ, bao gồm cả các cuộc vận động cải cách và cách mạng

Đ ể có thêm cơ sở cho việc tìm hiểu và thảo luận về tư tưởng cộnghòa và cuộc đâu tranh xác lập ch ế độ cộng hòa dân chủ ở Việt Nam trong

Trang 36

38 I VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG Đổl THAY

Cách mạng tháng Tám năm 1945, có lẽ cũng cần phải điểm qua về một sô

mô hình nền cộng hòa đã từng xuất hiện trong lịch sử chính trị thế giới.Thời cổ đại, ch ế độ cộng hòa đã từng tồn tại ở La Mã và Hy Lạp cổ đại (Athena và Sparta) Dù được tổ chức dưới các hình thức khác nhau, song,

về bản chất, đây đều là những c h ế độ cộng hòa chủ nô, dựa trên nền dân chủ chủ nô và thực thi pháp luật của Nhà nước chiếm hữu nô lệ

Trong thời kv trung đại, lịch sử phương Tây chính là lịch sử của ch ế độ phong kiến với nền chính trị quân chủ chuyên chế, trong đó vương quyên cấu kết chặt chẽ với thần quyền, cùng nhau thống trị xã hội theo những luật pháp

hà khắc của Nhà nước quân chủ và giáo hội Thiên chúa Rõ ràng là ở phướng Tây thời này không có chỗ cho sự tồn tại của bất kỳ nền cộng hòa dân chủ nào Trong khoảng thời gian từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15 đã xuất hiện những thành thị dựa trên cơ sở phát triển của mầm mống kinh tế hàng hóa với các phường hội thủ công và buôn bán nhỏ - thường gọi là các thành thị trung đại

v ề phương diện chính trị có thể xem các thành thị này là một mô hình cộng hòa đặc biệt, v ề cơ bản các thành thị là những ốc đảo tự do, có quyền tự trị, ở

đó các “ công dân” thành thị được tự do, không bị trói buộc bởi các luật lộ hà khắc của các lãnh chúa phong kiến Tuy nhiên, cuộc sống của họ lại bị chế định bởi vô số quy ước không kém phần phức tạp và nghiêm khắc của các phường hội Vì vậy, ch ế độ “ cộng hòa phường hội” cũng không để lại nhiều dấu ấn trong thời đại của nó cũng nhưtrong lịch sửchính trị thế giới

Ncn cộnc hòa dân chủ chỉ thực sự bắt đầu với các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại, đặc biệt là cuộc Đại Cách mạng Pháp (1789) Dưới hai hình thức chủ yếu - nền cộng hòa đại nghị {parliamentary republic) và cộng hòa tổng thống (presidential republic) - nền cộng hòa đã trở thành một trong những thành tựu chính trị vĩ đại của văn minh phưưna Tây và văn minh nhân loại, thực sự là phương thức tổ chức quyền lực cơ bản nhất của chê độ dân chủ Đương nhiên, ở phương Tây và ngay tại chính nước Pháp, cuộc đấu tranh giữa thể ch ế cộng hòa và quân chủ đã diễn ra quyết liệt, ròng rã suốt

từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kv 20, trong đó, không ít lần nền cộng hòa bị lật đổ và chế độ quân chủ chuyên ch ế lại được phục hồi toàn vẹn hoặc phục

Trang 37

XÁC LẬP CHẾ Độ CỘNG HÒA DÂN CHỦ - MỘT THÀNH Tựu v ĩ ĐẠI I 39

hồi một phần Phải đến sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất dường như địa vị thống trị của nền cộng hòa mới được khẳng định vững chắc ở phương Tây Kể từ đó, chế độ quân chủ dù còn tồn tại một số nước, như Anh, Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan v.v thì ngôi vị quân chủ cũng chủ yếu chỉ còn mang tính biểu tương

Trong cuộc hành trình chung của nhân loại đi tới nền cộng hòa dân chủ, việc xác lập chế độ Cộng hòa Xô viết ở nước Nga vào năm 1917 có một ý nghĩa lịch sử đặc biệt Đây là thành tựu của cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới, và do đó, nền cộng hòa dân chủ được xác lập mang bản chất chính trị khác với nền cộng hòa tư sản: vừa là phương thức khẳng định quyền lực chính trị, quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vừa là một công cụ chuyên chính để trấn áp sự nổi dậy của các thê lực phản cách mạng và xây dựng ch ế độ xã hội mới Sau năm 1917, chế độ cộng hòa

Xô viết còn được xác lập ở một số nước hoặc địa phương ở Tây Âu trong làn sóng cách mạng 1918 - 1923, song, đều chỉ tồn tại được trong một thời gian ngắn Sự xuất hiện của ch ế độ cộng hòa Xô viết ở Liên Xô và một số nước Tây Âu trước năm 1945 chắc chắn có giá trị tham khảơ cao cả về lý luận và thực tiễn đối với Đảng Cộng sản Việt Nam sau này, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam trên hành trình dẫn dắt dân tộc Việt Nam đến bến bờ độc lập, tự do

3 Vân đề nền cộng hòa trong lịch sử chính trị Việt Nam

Ớ Việt Nam, với chiến công vĩ đại trên sông Bạch Đằng năm 938, nền độc lập dân tộc được khôi phục sau hơn 1000 năm Bắc thuộc Suốt 9 thế kỷ sau đỏ, mô hình nhà nước Việt Nam độc lập là Nhà nước quàn chủ chuyên chế Mặc dù tư tưởng thân dân, coi việc “ khoan thư sức dân để làm k ế sâu

rễ bền g ố c ” là “ thượng sách giữ nước”' hay công khai tuyên bố “ việc nhân nghĩa cốt an dân” 1 và cho dù đã ban hành nhiều bộ luật để “ trị nước”, song, ch ế độ quân chủ chuyên ch ế ở Việt Nam cũng vẫn là mặt đối lập tuyệt đối với nền cộng hòa, bởi ở đó không có chỗ cho bât kỳ sự tham dự chính trị nào của người dân

I D ại Việt sử ký toàn thư. Tập II, Nxb Khoa học Xã hội H., 1998, ư 79.

Trang 38

40 I VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI ĐANG Đổl THAY

Trong làng xã, chốn hương thôn truyền thống, các nhà nghiên cứu đều ghi nhận có sự tồn tại của một loại hình “dân chủ làng x ã ” nào đó - một thứ dân chủ được biểu trưng bởi sự tồn tại của hội đồns kỳ mục, của tục lệ bầu lý trưởng, của phép chia cấp công điền v.v đã từng khiến cho Paul Doumer và một số quan chức thực dân Pháp ngỡ ngàng, gọi làng xã Việt Nam là những

“ nền tiểu cộng hòa” (le petit republique). Tuy nhiên, nghiên cứu sâu hơn về hiện tượng này từ tiếp cận văn hóa chính trị đã cho thấy rõ, cái gọi là “dân chủ làng x ã ” thực chất chỉ là một thứ dân chủ của một nhóm nhỏ những phần tử

“bề trên” ở nông thôn (rural elite), và do đó, là một thứ đầu sỏ chính trị được

tổ chức một cách khôn khéo ( well-organized oligarchy), ở đó, tuyệt đại đa sô người dân vẫn bị gạt ra ngoài quá trình chính trị2 Cái gọi là “chúng chí thành thành” hay "anh em hòa mục, cả nước nhà góp sức”1 chỉ là biểu hiện nhất thời của đoàn kết dân tộc trong những thời khắc vận nước nguy nan, còn ngay sau đó, trật tự của chế độ quân chủ chuyên chế lại phải được khôi phục, ở đó, nói theo cách của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, thì: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ ! ”4

Càng về sau, chế độ quân chủ chuyên chế càng trở nên tập quyền (centralized) hơn, thậm chí đạt đến mức cực quyền (totalitarian) dưới thời Nguyễn Không chỉ ở cấp độ trung ương, nơi người dân không thể có bất kỳ tiếng nói nào, mà ngay cả ở chốn hương thôn, hương đảng đã trở thành “ tiểu triều đình”, kéo bè kết cánh, hà lạm và ra sức áp bức dân lành Chính ch ế độ quân chủ chuyên chế tập quyền cao đó đã bóp nghẹt mọi sáng kiến, làm hao mòn và triệt tiêu các nguồn xung lực phát triển của dân tộc làm cho đất nước trở nên suy kiệt, lạc hậu, yếu hèn

Theo phân tích của Phan Bội Châu và các nhà Nho yêu nước, cấp tiến hồi đâu thế kỷ 20 thì đó chính là nguyên nhân cội nguồn của việc nước ta mất vào tay giặc Pháp. Phan Bội Châu khẳng định: “Không phải người Pháp

1 Đ ại Việt sử ký toàn rhư. Tập II, Nxb Khoa học Xã hội H., 1998 t 282.

3 Đ ại Việt sử ký toàn thư. Tập iỉ, Nxb Khoa học Xã hội, H-, 1998 tr 79.

4 Đợi Việt sử ký toàn thư, Tập II Sđd, tr 74.

Trang 39

XÁC LẬP CHÊ Độ CỘNG HÒA DÂN CHỦ - MỘT THÀNH Tựu v ĩ ĐẠI I 41

đến lấy nước ta mà nước ta bị mất Chính người nước Nam ta đã làm mất nước Nam ta ”' Và Cụ lý giải điều này như sau: “ Một là từ trước đến nay vua không biết đến có dân; một nữa là từ trước đến nay quan lại không biết

có dân; lại một nữa là từ trước đến nay dân của nước không biết có nước”2 Gộp chung cả ba điều trên, Phan Bội Châu vạch rõ: “Cái nọc độc chuyên chế của bọn người hại dân ấp ủ đã hàng ngàn năm nay từ bên Trung Quốc lây sang nước ta, đến nỗi một tên độc phu (vua) và vài vạn kẻ dung nhân (quan) làm cá làm thịt trăm họ dân ta T h ế mà dân ta ngu ngô"c khờ dại, không biết giành dân quyền, siữ quốc mệnh, chỉ ngày đêm lo hết lòng hết sức đem máu mỡ của mình cung đốn cho bọn độc phu phu, dung nhân uống nuốt!”'

Vì vậy, muốn cứu nước, giải phóng dân tộc thì Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và thế hệ nhà Nho cấp tiến đầu thế kỷ 20 đêu nhất trí với nhau trong một định hướng chiến lược chung: phải thức tỉnh nhân dân, đoàn kết nhân dân, “ khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, gắn sự nghiệp cứu quốc với sự nghiệp duy tổn để mỏ đường đi tới một “ nước Việt Nam m ới” Trong hình dung của Phan Bội Châu v'ê “ nước Việt Nam mới” sau khi đã giành được độc lập và tiến hành duy tân, ch ế độ chính trị phải là một nên cộng hòa dân chủ Năm 1907, cụ Phan viết: “ Sau khi đã duy tân rồi, thì dân trí sẽ mở mang, dân khí sẽ lớn mạnh, dân quyên sẽ phát đạt; vận mệnh nước

ta do dân ta nắm giữ Giữa đỏ thành nước ta đặt một tòa Nghị viện lớn Bao nhiêu việc chính trị đều do công chúng quyết định. Thượng nghị viện phải đợi Trung nghị viện đồng ý, Trung nghị viện phải đợi Hạ nghị viện đồng ý mới được thi hành Hạ nghị viện là nơi đa số công chúng có quyền tài phán việc của Trung nghị viện và Thượng nghị viện Phàm nhân dân nước ta, không cứ là sang hèn, giầu nghèo, lớn bé đều có quyền bỏ phiếu bầu cử. ”4

Như vậy là từ những năm đầu thế kỷ 20, chế độ cộng hòa dân chủ đã thực sự trở thành một mục tiêu chiến lược trong cương lĩnh của phong trào

1 Phan B ội C hâu to<)n tập. Tập 2 Nxb Thuận Hóa, Huế, 1990 tr 87.

2 Phan B ội Châu toìin tập, Tập 2 Nxb Thuận Hóa, Huế, 2001 tr 129.

3.4 Phan B ội Châu toàn tập, Tập 2. Sđd, tr 179.

Trang 40

42 I VIỆT NAM TRONG THỂ GIỚI ĐANG Đổl THAY

yêu nước và cách mạng Việt Nam', v ề sau, hầu hết tất cả các đảng phái chính trị, kể cả các đảng phái cải lương và các tổ chức yêu nước và cách mạng, cho dù khác biệt, thậm chí đối lập với nhau về lập trường và ý thức

hệ chính trị, như: Việt Nam Quang phục hội (1912), Đàng Lập hiến (1917)

“Đảng Nguyễn An Ninh” (1923), H ội Việt Nam Cách mạng Thanh niên

(1925) Việt Nam Quốc dân đảng (1927), Tân Việt (1927), Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), Việt Nam Đồng minh hội (1936), Việt Nam Cách mạng đảng (1940) v.v đều tán thành xác lập chế độ cộng hòa sau khi nền độc lập dân tộc được khôi phục

Điều đáng ngạc nhiên là: chính một số nhóm trí thức Tây học đưực coi

là hạt nhân của giới “ thượng lưu bản xứ” d Việt Nam thời cận đại lại là những nhóm giữ lập trường quân chủ, không chủ trương thành lập c h ế độ cộng hòa dân chủ Ba nhóm điển hình nhất nổi lên từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nhất là trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai là: nhóm Nam Phong, nhổm Phục Quốc và nhóm Nội các Trần Trọng Kim

Nhóm Nam Phong vốn là một nhóm khá đông đảo, không thuần nhất

về thành phần, trình độ và lập (rường, quy tụ xung quanh tờ Nam Phong tạp chí (7/1919 - 12/1934) Với vai trò là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút và là cây bút có ảnh hưởng nhiều nhất, Phạm Quỳnh chính là thủ lĩnh của nhóm này

Là người quảng bác, lại để tâm khảo cứu và truyền bá tích cực cho các học thuvết và thể chế, luật pháp Đông, Tây, nhưng cho đến năm 1930 hầu như Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong còn chưa dám bộc lộ công khai chính kiến của mình về chính thể mà họ khao khát về “ một tương lai huy hoàng

và độc lập xứng đáng với hoài bão của giống nòi”2 Nhưng từ năm 1931, nhất là tron? dịp Bộ trưởng Thuộc địa Paul Reynaud sang kinh lý Đông Dương thì nhóm này đã công khai tuyên bố về khát vọng cải cách, x ác lập

c h ế độ quân chủ lập hiến, chứ không phải chế độ cộng hòa dân chủ, coi đó

khi đó, việc lựa chọn c h ế độ cộng hòa dân chủ làm hình mẫu lý tưởng cho “ nước Việt Nam m ớ i" là hoàn toàn nhất quán Tuy về sách lược Phan Bội Châu vẫn tôn Hoàng thân Cường Đ ể làm ‘ minh chủ ” và tán đồng ch ế độ quân chỏ lập hiến, song cụ lại viết rõ: “ Trên là vua nén clé hay nên truât; dưới là quan nên thăng hay nên giáng, dân ta đều có quyền quyết đoán c á ” Như trên tr 179

2 Nam Phong tọp chí, số 161, tháng 4 1 9 3 1 tr 43.

Ngày đăng: 20/12/2019, 00:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w