1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những khó khăn, thách thức của các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới

130 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ Luận văn thạc sĩ “Những khó khăn, thách thức của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới” đã được xây dựng xuất phá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

-

VÕ NGỌC THANH PHƯƠNG

Những khó khăn, thách thức của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong

quá trình hội nhập kinh tế thế giới

Chuyên ngành: Quản Trị Doanh Nghiệp

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2006

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học : Tiến Sĩ Lê Thành Long

Cán bộ chấm nhận xét 1 :

Cán bộ chấm nhận xét 2 :

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày tháng 07 năm 2006

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC

Tp HCM, ngày 30 tháng 06 năm 2006

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên : Võ Ngọc Thanh Phương Phái : Nam

Ngày, tháng, năm sinh : 10/07/2006 Nơi sinh : Tp HCM

Chuyên ngành : Quản Trị Kinh Doanh MSHV : 01704437

I- TÊN ĐỀ TÀI:

Những khó khăn, thách thức của các ngân hàng thương mại cổ phần

Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới

II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

9 Đánh giá các tiêu chuẩn, yêu cầu của WTO, AFTA về thị trường tài chính

ngân hàng

9 Xác định lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương

mại cổ phần Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới

9 Kiến nghị các giải pháp chiến lược nhằm tăng khả năng cạnh tranh của các

ngân hàng thương mại cổ phần VN

III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 31/12/2006

IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 30/06/2006

V- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : Tiến Sĩ Lê Thành Long

(Học hàm, học vị, họ tên và chữ ký) QL CHUYÊN NGÀNH

Tiến Sĩ Lê Thành Long

Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội đồng chuyên ngành thông qua

Ngày tháng năm 2007

TRƯỞNG PHÒNG ĐT – SĐH TRƯỞNG KHOA QL NGÀNH

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Lời đầu tiên xin chân thành cảm ơn đến Tiến Sĩ Lê Thành Long - người Thầy

đã tận tình hướng dẫn tác giả trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thành

đề tài

Xin được trân trọng ghi nhận công sức của toàn thể Giáo Sư, Tiến Sĩ, các Cán bộ khoa Quản Trị Doanh Nghiệp trường ĐH Bách Khoa Tp.HCM đã nhiệt tình giảng dạy, tận tâm chia sẽ những kinh nghiệm thực tiễn, truyền đạt nhiều kiến thức

vô cùng quý báu Qua thời gian học tập, tác giả đã tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, không ngừng học hỏi rèn luyện tư duy nhằn hoàn thiện bản thân

Xin chân thành cảm ơn các anh chị đồng nghiệp thuộc Phòng Sản Phẩm Dịch

Vụ - Ngân hàng TMCP Đông Á, xin cám ơn các anh chị cán bộ nhân viên các ngân hàng cũng như bạn bè đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình thực hiện

đề tài

Và cuối cùng, luận văn là một món quà tinh thần kính gửi đến người Mẹ hiền

đã hy sinh cả cuộc đời vì các Con

Đề tài được xây dựng, hoàn thành trên cơ sở tác giả tự nghiên cứu tư liệu, so sánh thực tế và đưa ra nhận định dựa trên thực trạng của ngành Ngân hàng TMCP Việt Nam Do kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế cũng như giới hạn nghiên cứu của đề tài, tác giả rất mong nhận được những góp ý xây dựng để đề tài phù hợp thực tế và tính khả thi cao

Một lần nữa, xin được gửi lời tri ân đến toàn thể thầy cô, đồng nghiệp, bạn

bè và gia đình

Tp.HCM, tháng 06 năm 2006

Tác giả

Võ Ngọc Thanh Phương

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Luận văn thạc sĩ “Những khó khăn, thách thức của các Ngân hàng thương

mại cổ phần Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới” đã được xây dựng

xuất phát từ quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam, từ nhu cầu đánh giá hoạt động cũng như năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam hiện nay

Phương pháp phân tích được ứng dụng từ mô hình Diamond của Giáo Sư Michael Porter, tác giả đưa vào phân tích lợi thế cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam xoay quanh các yếu tố:

_ Các yếu tố đầu vào: Nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn tri thức, cơ sở hạ tầng ngành

_ Các điều kiện về cầu thị trường nội địa: các nhu cầu cá nhân và doanh nghiệp

về các dịch vụ tài chính ngân hàng

_ Khả năng hoạt động, cạnh tranh của các ngành công nghệ hỗ trợ: công nghệ phần mềm ngân hàng; ngành sản xuất máy móc, thiết bị điện tử ngân hàng; ngành viễn thông

_ Nội lực của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam: chiến lược phát triển, trình độ quản lý, trình độ thông tin, công nghệ mới, cấu trúc tổ chức và mạng lưới hoạt động

Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam được đánh giá qua các yếu tố trên và sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó thông qua các phương pháp: phân tích thống kê, thảo luận tình huống và phương pháp chuyên gia

Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp chiến lược giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới

Trang 6

ABSTRACT

The Master thesis “Difficulties and challenges that the Vietnam joint-stock commercial banks have to face in the integration process of world business” is base

on the rising from the integration process of world business in Vietnam and demand

to evaluate the operation as well as other the competence to rival of joint-stock commercial bank in Vietnam

Using the Diamond model of Professor Michael Porter, author apply it to analyze competitive the advantage of Vietnam joint-stock commercial bank by these elements:

_ Factor conditions: charter capital, human resources, knowledge resources, infrastructures

_ Demand conditions: individual and enterprise's needs from banking financial services

_ Related and supporting industries: banking software technology, machinery industry, banking electronic devices, telecommunication

_ Internal resources of Vietnam joint stock commercial bank: enterprise strategies, management, standard of information, new technologies, organization structure and operation network

The competitiveness of Vietnam joint-stock commercial banks are evaluated based on above elements and the interactions of those elements by following methods: analytical statistics, discussion of situations and professional methods Therefore, the author proposes some strategic solutions to improve the competitiveness of Vietnam joint-stock commercial banks in the integration process

of world business

Trang 7

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU -1U

1 Giới thiệu – Lý do hình thành đề tài -1

2 Mục tiêu đề tài -3

2.1 Mục tiêu -3

2.2 Trả lời các câu hỏi -3

2.3 Phạm vi đề tài -4

3 Khung nghiên cứu -4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU -6U 1 Cơ sở lý thuyết -6

1.1 Mô hình Diamond – Michael Porter -6

1.2 Mô hình Diamond trong phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia -7

1.3 Mô hình Diamond trong phân tích lợi thế cạnh tranh của các NH TMCP VN -9

2 Phương pháp nghiên cứu - 11

2.1 Phương pháp phân tích thống kê - 11

2.2 Phương pháp thảo luận tình huống - 12

2.3 Phương pháp chuyên gia - 12

CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ - 14

1 Khái niệm, bản chất của toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế - 14

2 Giới thiệu các tổ chức kinh tế quốc tế - 16

2.1 AFTA (ASEAN Free Trade Area) – Khu vực tự do thương mại ASEAN 16 2.2 WTO (World Trade Organization) – Tổ chức thương mại thế giới - 21

3 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam - 31

3.1 Quan hệ ngoại giao - 31

3.2 Việt Nam gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế - 32

3.3 Ký kết các Hiệp định thương mại và đầu tư - 32

Trang 8

3.4 Các cam kết và chương trình hội nhập kinh tế quốc tế - 32

4 Sự tác động của hội nhập đến ngành Ngân hàng Việt Nam - 33

4.1 Lý do tập trung vào hội nhập quốc tế - 33

4.2 Một số thay đổi về pháp lý để thực hiện các cam kết thương mại - 34

4.3 Hành động của ngành Ngân hàng trước quá trình hội nhập - 36

5 Kết luận: - 39

CHƯƠNG 4: GIỚI THIỆU CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM - 41

1 Quá trình phát triển, cải tổ của ngành Ngân hàng Việt Nam - 41

1.1 Cải tổ hệ thống ngân hàng lần thứ nhất (1987 – 1990) - 43

1.2 Cải tổ hệ thống ngân hàng lần thứ hai (1990 – 2-000) - 45

1.3 Cải tổ hệ thống ngân hàng lần thứ ba (2000 – nay) - 47

2 Sự hình thành các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam - 51

CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 54 1 Mô hình Diamond và 4 yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh - 54

1.1 Các yếu tố đầu vào - 54

1.2 Các điều kiện về cầu thị trường tài chính ngân hàng nội địa - 80

1.3 Khả năng hoạt động, cạnh tranh của các ngành công nghệ hỗ trợ và có liên quan - 86

1.4 Nội lực của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam - 89

2 Kết luận -104

2.1 Các yếu tố trong mô hình Diamond và sự tác động giữa các yếu tố -105

2.2 So sánh các yếu tố trong mô hình Diamond của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam với các ngân hàng nước ngoài -107

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN -109

Trang 9

MỤC LỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 4.1: Phát triển Ngân hàng thương mại Việt Nam từ 1991 – 1997 -47

Bảng 4.2: Phát triển Ngân hàng thương mại Việt Nam từ 1997 – 2001 -50

Bảng 5.1: Vốn điều lệ tại một số NH TMCP Việt Nam -55

Bảng 5.2: Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và cá nhân -62

Bảng 5.3: Cho vay tổ chức kinh tế và cá nhân trong nước -63

Bảng 5.4: Tỷ trọng cho vay các tổ chức kinh tế so với nguồn vốn -64

Bảng 5.5: Thị phần cho vay các tổ chức kinh tế -64

Bảng 5.6: Số lượng cán bộ nhân viên của một số ngân hàng vào ngày 31/12/2005 -69

Bảng 5.7: Thu nhập bình quân của cán bộ nhân viên Ngân hàng -70

Bảng 5.8: Triển khai ứng dụng mới Core banking tại một số ngân hàng -74

Bảng 5.9: Số lượng chi nhánh, phòng giao dịch của một số Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (đến ngày 20/06/2006) -99

Bảng 5.10: Thị phần tiền gửi, tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam qua các giai đoạn 1993, 2000, 2002 - 101

Trang 10

MỤC LỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Khung nghiên cứu của Luận Văn - 4 Hình 2.1: Mô tả mô hình Diamond của M.Porter được ứng dụng trong phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia - 7 Hình 2.2: Mô hình Diamond áp dụng phân tích các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam - 9 Hình 4.1: Mô tả tổ chức hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trước khi bắt đầu cải tổ -43 Hình 4.2: Tổ chức hệ thống Ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1987 – 1990 -44 Hình 4.3: Tổ chức hệ thống Ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1990 – 1997 -45 Hình 5.1: Mô hình tổ chức trực tuyến của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trước khi tái cấu trúc -96 Hình 5.2: Sơ đồ tổ chức của ACB -97 Hình 5.3: Mô hình Diamond áp dụng phân tích các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam - 104

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1 Giới thiệu – Lý do hình thành đề tài

Thị trường tài chính ngân hàng tại Việt Nam (VN) luôn là một thị trường hấp dẫn, có tỷ suất lợi nhuận cao nhất trong các ngành Những năm gần đây tỷ lệ chia lãi cổ đông của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) luôn đạt ở mức cao, trung bình từ 15% - 20% mỗi năm; cá biệt có ngân hàng như Ngân hàng Á Châu (ACB) có mức chia lãi cao hơn 30%/ năm

Từ lúc Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới từ Đại Hội Đảng lần thứ 6 (năm 1986) thì nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, đa dạng hóa các ngành nghề, các thành phần kinh tế Riêng ngành tài chính ngân hàng, từ sau những năm

90 đã ra đời hàng loạt các ngân hàng như: ngân hàng Đông Á, Á Châu, Gia Định,

Kỹ Thương, Nam Á, Sài Gòn Thương Tín, …

Tuy nhiên trong thời điểm hiện tại, môi trường kinh doanh luôn biến đổi, đòi hỏi các ngân hàng phải thay đổi, điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình cho phù hợp với môi trường mới

“Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc giành được nhiều lợi ích và giảm thiểu tối đa những tác hại rủi ro được quyết định bởi chỗ mỗi nước phải có một chiến lược xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và cơ cấu lại nền kinh tế để tranh thủ được các nguồn lực quốc tế, phát huy có hiệu quả mọi nguồn nội lực và kiểm soát được nền kinh tế - xã hội của mình Với nhận định như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp trong tình hình mới.”

(Theo Website Đảng Cộng Sản Việt Nam http://www.cpv.org.vn )

"WTO không thể mang lại sự công bằng cho tất cả mọi thành viên, nhưng nó giúp giảm thiểu sự bất bình đẳng, tạo cơ hội cho các nước nhỏ nói lên tiếng nói của chính mình Gia nhập WTO là cần thiết để hiện đại hoá kinh tế và tham gia đầy đủ hơn trong nền kinh tế toàn cầu, nhưng đây chỉ là bước đầu tiên để giúp VN nhận thức được tiềm năng kinh tế của mình" – Shishir Priyadarshi (Ban Thư ký WTO)

Trang 12

Nhận định của Đảng Cộng Sản Việt Nam và ông Shishir Priyadarshi (Ban Thư ký WTO) đã thể hiện được mục đích của việc gia nhập các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế của Việt Nam nói riêng, và của các nước trên thế giới nói chung Đây cũng là xu hướng chung của các nền kinh tế trên thế giới

Đây cũng là đề tài mang tính thời sự hiện nay của Việt Nam (VN) Việc VN chuẩn bị đàm phán gia nhập WTO, Hiệp Định Thương Mại Việt – Mỹ có hiệu lực,

VN gia nhập AFTA, đã ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế của VN Trong

đó ngành tài chính, ngân hàng vốn trước đây do Chính Phủ quản lý chặt chẽ, giờ phải chuẩn bị mở cửa thị trường cho các ngân hàng nước ngoài, điều này đã tạo ra những khó khăn, thánh thức đối với các ngân hàng VN đang hoạt động

Trong năm 2005, VN đang nỗ lực đàm phán với các đối tác trong WTO để

có thể gia nhập vào WTO cuối năm 2005 tại HongKong, tuy nhiên VN vẫn chưa thỏa thuận thành công với tất cả các đối tác yêu cầu Do đó trong năm sau VN vẫn tiếp tục từng bước đám ứng các yêu cầu của đối tác, nhưng vẫn đảm bảo cho sự phát triển của mình để gia nhập WTO trong thời gian sớm nhất

Việt Nam đang tích cực chuẩn bị gia nhập WTO trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều thuận lợi đan xen với những thách thức khó lường Đây là thách thức không nhỏ đối với một nước đang phát triển như VN, đòi hỏi phải quyết tâm và nỗ lực rất lớn, nhất là từ phía Chính phủ và các ngành kinh tế chủ chốt

Trong lĩnh vực ngân hàng, ngành ngân hàng đã chủ động thực hiện các chủ trương chính sách của Chính phủ về đổi mới kinh tế và đã có nhiều chuyển biến tích cực, đã xây dựng được những cơ sở quan trọng cho một nền tiền tệ và hệ thống ngân hàng phù hợp dần với cơ chế thị trường, hiện đại hóa công nghệ và tự do hóa hoạt động kinh doanh tiền tệ, góp phần củng cố và phát triển hệ thống ngân hàng Trong đó, thể chế hoạt động ngân hàng đã được hoàn thiện đáng kể, cơ chế điều hành chính sách tiền tệ được đổi mới căn bản, các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế

về hoạt động của các ngân hàng thương mại đang từng bước được áp dụng, chất lượng tín dụng vì thế đã được cải thiện đáng kể

Trang 13

Các ngân hàng Việt Nam, trong đó có các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, đang nỗ lực hiện đại hóa, phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính, tái

cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, mở rộng hệ thống ngân hàng để chuẩn bị sẵn các nguồn lực cạnh tranh khi Việt nam hội nhập

Trong môi trường mới, trong điều kiện hoạt động kinh doanh mới thì các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam phải thay đổi chiến lược kinh doanh, thay đổi cơ cấu tổ chức, cũng như phải nâng cao được năng lực cạnh tranh trước các đối thủ mạnh về nguồn lực, mạnh về quy mô, trình độ công nghệ cũng như giàu kinh nghiệm quốc tế

Từ những yêu cầu đánh giá năng lực cạnh tranh, tìm ra lợi thế cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam gặp phải trong quá trình hội nhập; tôi

đã quyết định chọn đề tài “Những khó khăn, thách thức của các Ngân hàng thương

mại cổ phần Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới” để tìm ra một số

giải pháp chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại

2.2 Trả lời các câu hỏi

_ Thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam hiện nay như thế nào?

_ Thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam khi hội nhập sẽ thay đổi ra sao?

Trang 14

_ Các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam phải làm gì để tăng sức cạnh tranh trong môi trường mới?

2.3 Phạm vi đề tài

Vấn đề hội nhập kinh tế thế giới của ngành ngân hàng là một phạm vi rộng, trong điều kiện giới hạn về thời gian, không gian nghiên cứu và trình độ kiến thức còn hạn chế của tác giả, do đó phạm vi nghiên cứu của Luận văn này chỉ tập trung vào:

_ Khảo sát tình hình thực tế tại các Hội Sở, chi nhánh, phòng giao dịch của một số ngân hàng thương mại cổ phần tại Tp HCM

_ Chủ yếu nghiên cứu các chính sách, hoạt động của 2 tổ chức WTO và AFTA

và các yêu cầu đối với thị trường tài chính ngân hàng

_ Phân tích, đánh giá trên một số ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đại diện nhóm ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

3 Khung nghiên cứu

Hình 1.1: Khung nghiên cứu của Luận Văn

lý thuyết

Phân tích các yếu tố trong mô hình

Phân tích mối quan

hệ giữa các yếu tố

Kết luận, kiến nghị

Thu thập

dữ liệu sơ

cấp

Trang 15

_ Nghiên cứu cơ sở lý thuyết, mô hình lý thuyết

_ Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các nguồn: Internet, các số liệu công bố của ngân hàng nhà nước Việt Nam, các ngân hàng thương mại Việt Nam

_ Số liệu được thu thập, phân tích có chọn lọc từ một nhóm ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, một số ngân hàng nước ngoài mang đầy đủ các tính chất đại diện cho tất cả các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

_ Chuyển các số liệu vào mô hình lý thuyết để phân tích

_ Phân tích số liệu và sử dụng phương pháp chuyên gia (phỏng vấn sâu từ 2-5 chuyên gia về lĩnh vực tài chính ngân hàng) để xây dựng mô hình

_ Đưa ra những xu hướng thay đổi trong chính sách, luật pháp của Việt Nam,

và môi trường kinh doanh trong ngành tài chính khi VN hội nhập

_ Từ kết quả phân tích mô hình lý thuyết và xu hướng thay đổi chính sách để kiến nghị một số giải pháp chiến lược cho các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong môi trường mới

Trang 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT – PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lý thuyết

1.1 Mô hình Diamond – Michael Porter

Trong môi trường kinh doanh mới, áp lực cạnh tranh sẽ gia tăng lên các Ngân hàng, trong đó năng lục cạnh tranh sẽ quyết định sự sống còn của Ngân hàng

Vì lẽ đó các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam luôn tìm cách để đánh giá, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để tồn tại và phát triển

Để đánh giá đựơc khả năng cạnh tranh, cũng như những khó khăn, thách thức mà các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam gặp phải trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới; ta cần phân tích các yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành kinh tế, của một quốc gia Mô hình Diamond (mô hình kim cương) của Giáo Sư Michael Porter sẽ được áp dụng để phân tích các yếu tố trên trong Luận Văn này

Theo Porter thì không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở tất

cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành Các quốc gia chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một

số ngành nào đó Porter phê phán các học thuyết cổ điển trước đây cho rằng ưu thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thương trường cạnh tranh quốc tế là chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối của Adam Smith hay chỉ có lợi thế so sánh của David Ricardo Theo ông, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành của quốc gia đó Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất toàn cầu hoá thì nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế

Trang 17

Lý luận của Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiện tượng thương mại quốc tế trên góc độ các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế và vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiện thuận lợi để giành lợi thế cạnh tranh quốc gia chứ không phải cho một vài doanh nghiệp cụ thể Sự thành công của các quốc gia ở ngành kinh doanh nào đó phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao động bền vững và sự liên kết hợp tác

có hiệu quả trong cụm ngành

Một cách tổng quát, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại là khả năng tạo lập, duy trì lợi nhuận và thị phần trên cơ sở đa dạng và nâng cao chất lượng, tiện ích các dịch vụ tài chính ngân hàng

1.2 Mô hình Diamond trong phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia

Hình 2.1: Mô tả mô hình Diamond của M.Porter được ứng dụng trong phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia

Trang 18

Bốn yếu tố tạo nên thế mạnh của một quốc gia trong quan hệ kinh doanh quốc tế gồm có:

Các điều kiện về yếu tố đầu vào, hay xuất phát điểm của quốc gia so với các quốc gia khác như thế nào? Các yếu tố này đựơc chia làm hai loại: căn bản và

tiên tiến Yếu tố căn bản gồm tài nguyên, địa lý, nhân chủng Yếu tố tiên tiến gồm

cơ sở hạ tầng về viễn thông, tay nghề, lao động lành nghề, các phương tiện nghiên cứu, kỹ năng, công nghệ Các yếu tố tiên tiến đóng vai trò quan trọng trong lợi thế cạnh tranh vì khác với yếu tố căn bản, chúng là kết quả của sự đầu tư của chính phủ

và dân chúng

Các điều kiện cầu thị trường, hay sức cầu nội địa có cao hay không? Các

yêu cầu của người tiêu dùng nội địa sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp phải đáp ứng để tồn tại; đồng thời phải cạnh tranh về chất lượng, dịch vụ và liên tục đổi mới cho phù hợp với các yêu cầu mới

Khả năng hoạt dộng, cạnh tranh của các ngành công nghệ hỗ trợ và có liên quan Nếu khả năng cạnh tranh quốc tế của các ngành này cao thì sẽ giúp cho

ngành đó có đựơc lợi thế cạnh tranh Đây là hiệu ứng tiếp nối trong sản xuất Các lợi ích thu được từ một sự đầu tư vào các yếu tố tiên tiến của một ngành nào đó mà ngành này lại hỗ trợ hay có liên quan đến một ngành khác thì ngành sau sẽ được hưởng lợi từ ngành trước

Nội lực ngành (nỗ lực của các doanh nghiệp) như: Chiến lược của doanh nghiệp, cơ cấu và sự cạnh tranh của doanh nghiệp như thế nào Phẩm chất này

của các công ty ảnh hưởng nhiều đến lợi thế cạnh tranh của họ Khi các công ty bị buộc phải cạnh tranh để giành khách hàng trong nước thì họ cũng bị thúc đẩy phải nâng cao chất lượng, giảm giá thành, cải tiến quản lý Khi ấy, họ sẽ có sức cạnh tranh với bên ngoài Đồng thời, khi điểm qua các phẩm chất giúp các doanh nghiệp

có sức cạnh tranh trên trường quốc tế, người ta nhận ra vai trò rất quan trọng của chính phủ Chính phủ có ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực đối với các phẩm chất trên qua các biện pháp áp dụng như trợ cấp, tín dụng ưu đãi, giáo dục

Trang 19

Bốn yếu tố này tác động tương hỗ, qua lại lẫn nhau để tạo nên lợi thế cạnh tranh của một quốc gia, một ngành kinh doanh

1.3 Mô hình Diamond trong phân tích lợi thế cạnh tranh của các

NH TMCP VN

Từ mô hình Diamond của M.Porter áp dụng phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia, ta sẽ xem xét mô hình này trong việc phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành ngân hàng, cụ thể hơn là áp dụng cho các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Hình 2.2: Mô hình Diamond áp dụng phân tích các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, bốn yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh gồm có:

Thứ nhất: Các điều kiện về yếu tố đầu vào hay xuất phát điểm của các

ngân hàng Các yếu tố đầu vào có thể là:

Trang 20

_ Năng lực tài chính của các ngân hàng Đó chính là nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn huy động được của các ngân hàng

_ Nguồn nhân lực: số lượng lao động, trình độ kỹ năng, giá nhân công (tính luôn các nhà quản lý)

_ Nguồn tri thức: công nghệ, kỹ thuật, các kiến thức thị trường về hàng hóa, dịch vụ

_ Cơ sở hạ tầng của ngành như: trụ sở, hệ thống thông tin, hệ thống mail, hệ thống thanh toán, văn hóa doanh nghiệp, …

Ta cần phân tích các yếu tố này và so sánh với các loại hình ngân hàng khác như ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngay cả với các ngân hàng nước ngoài đang chuẩn bị thâm nhập thị trường Việt Nam khi Việt Nam mở cửa thị trường tài chính

Thứ hai: Các điều kiện về cầu thị trường tài chính ngân hàng nội địa Ta

cần khảo sát nhu cầu của thị trường nội địa đối với các sản phẩm tài chính ngân hàng Đây là yếu tố rất quan trọng để thúc đẩy lợi thế cạnh tranh cho ngành ngân hàng nói chung Các ngân hàng thường nhạy bén với nhu cầu của khách hàng ở sát mình Yêu cầu của người tiêu thụ nội địa sẽ thúc đẩy ngân hàng phải đáp ứng rồi phải cạnh tranh về mặt chất lượng và đổi mới Các ngân hàng sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh nếu người tiêu dùng nội địa tỏ ra khó tính trong việc chọn hàng Đối tượng khách hàng của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam chủ yếu gồm 2 đối tượng: khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ

Thứ ba: Khả năng hoạt động, cạnh tranh của các ngành công nghệ hỗ trợ và có liên quan Luận Văn này sẽ phải làm rõ được các ngành công nghệ hỗ trợ

và có liên quan của ngành ngân hàng nói chung và đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nói riêng, đồng thời cũng phân tích khả năng cạnh tranh của các ngành này như thế nào để biết được sự phát triển của các NHTMCP khi các ngành này phát triển Các ngành công nghệ hỗ trợ như: công nghệ phần mềm ngân

Trang 21

hàng (Core banking, hệ thống xử lý Thẻ, hệ thống thông tin quản lý); các ngành sản xuất máy móc, thiết bị điện tử cho ngành ngân hàng (ATM, hệ thống giao dịch điện

tử, thiết bị an ninh mạng, …); ngành viễn thông (hệ thống mạng, viễn thông)

Thứ tư: Nội lực của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam gồm chiến lược phát triển kinh doanh, cơ cấu tổ chức và sự cạnh tranh trong ngành Ta sẽ đánh giá xem chiến lược kinh doanh, tầm nhìn chiến lược của các

NHTMCP VN được hoạch định ra sao, và đánh giá trình độ quản lý, trình độ thông tin công nghệ mới, xem cơ cấu tổ chức đã phù hợp chưa, có tạo điều kiện để hoạt động hiệu quả không; đồng thời cũng khảo sát mức độ cạnh tranh giữa nội bộ các

NH TMCP và giữa các ngân hàng với nhau

Sau khi phân tích từng yếu tố trên, ta cần phải phân tích mối quan hệ, tác động qua lại giữa bốn yếu tố trên Với kết quả tổng hợp ta sẽ thấy rõ được lợi thế cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trước các ngân hàng đối thủ khác Từ đó kiến nghị các giải pháp để nâng cao lợi thế cạnh tranh hiện có; khắc phục những điểm không có lợi thế cạnh tranh

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Phương pháp phân tích thống kê

Để có được số liệu đầy đủ, chính xác đưa vào các mô hình phân tích, Luận Văn này đã thu thập thông tin từ rất nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu là các nguồn thông tin sau:

_ Trang web Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

_ Trang web các ngân hàng Việt Nam, chủ yếu là các ngân hàng thương mại

cổ phần VN

_ Các trang web thông tin, báo chí

_ Từ Bộ ngoại giao Việt Nam

Trang 22

_ Các báo cáo thống kê số liệu kinh tế xã hội của Việt Nam từ Tổng cục thống

_ Sử dụng phương pháp phân tích để đánh giá các số liệu thống kê từ các nguồn thông tin trên

Số liệu thứ cấp sau khi được thu thập sẽ áp dụng phương pháp thống kê, loại

bỏ các dữ liệu thừa, và nhóm các dữ liệu tương tự lại với nhau Tương ứng với từng nhóm dữ liệu sẽ được đưa vào các yếu tố, các tiêu chí trong các mô hình để phân tích theo yêu cầu

2.2 Phương pháp thảo luận tình huống

Sau bước phân tích số liệu sơ bộ, tác giả sẽ chuẩn bị trước nội dung tóm tắt kết quả đó Sau đó trao đổi với một nhóm cán bộ nhân viên của một số ngân hàng

về kết quả trên nhằm khai thác thêm thông tin cần bổ sung và tìm ra được kết luận

sơ bộ, cùng những kiến nghị giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của các NH TMCP VN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Mỗi khi thảo luận xong với một nhóm cán bộ nhân viên, ta sẽ điều chỉnh lại kết quả trước đó và sử dụng kết quả mới này để thảo luận với nhóm kế tiếp

Dự kiến sẽ thảo luận với hai hoặc ba nhóm, mỗi nhóm sẽ có từ hai đến ba cán bộ nhân viên làm việc trong các bộ phận khác nhau của các NH TMCP VN

2.3 Phương pháp chuyên gia

Trong Luận văn này, để có được kết quả đánh giá năng lực cạnh tranh của các NH TMCP VN khách quan, khoa học hơn, tác giả đã ứng dụng phương pháp chuyên gia với các bước thực hiện như sau:

2.3.1 Lựa chọn nhóm các chuyên gia để đánh giá, phân tích

Đây là nhóm các nhà quản lý bao gồm những người có vị trí lãnh đạo trong các ngân hàng từ cấp trưởng phó các phòng ban, trung tâm, cho đến cố vấn cao cấp,

Trang 23

Ban Tổng Giám Đốc, ngoài ra còn có các chuyên viên phân tích, các nhà khoa học

về lĩnh vực tài chính, ngân hàng

2.3.2 Tham khảo ý kiến của các chuyên gia

Tham khảo ý kiến chuyên gia là một giai đoạn của phương pháp chuyên gia Sau khi có được dữ liệu phân tích sơ bộ, tùy theo đặc điểm thu nhận và xử lý thông tin mà chọn những phương pháp trưng cầu cơ bản như: tham khảo ý kiến theo nhóm

và cá nhân; tham khảo vắng mặt và có mặt; tham khảo trực tiếp hay gián tiếp

2.3.3 Xử lý ý kiến chuyên gia

Sau khi thu thập ý kiến của các chuyên gia, cần phải tiến hành một loạt các biện pháp xử lý các ý kiến này Đây là bước quan trọng để đưa ra kết quả dự báo Nói chung lại có hai dạng vấn đề cần giải quyết khi xử lý ý kiến chuyên gia:

_ Đánh giá các yếu tố cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

_ Đánh giá tầm quan trọng tương đối của các yếu tố trên

Trang 24

CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC

TẾ

1 Khái niệm, bản chất của toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc

tế

Toàn cầu hóa xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên

hệ, sự tác động và phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các nước trong khu vực Toàn cầu hóa chính là kết quả của sự phát triển cao độ của quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động quốc tế

Đây là một tất yếu khách quan, không thể cưỡng lại được, không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, dù là quốc gia phát triển nhất Thực chất của toàn cầu hóa kinh tế là tự do hóa kinh tế, mà trước hết là tự do hóa thương mại, đầu tư tài chính…, là bước nhảy vọt mới về chất của quá trình quốc tế hóa kinh

tế, là sự chuyển hóa nền kinh tế thế giới thành nền kinh tế toàn cầu, phù hợp với trình độ mới của lịch sử phát triển lực lượng sản xuất và sự xã hội hóa của loài người

Trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức chủ yếu và là một tất yếu khách quan Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện qua các chính sách tự do hóa, mở cửa thị trường hoặc tham gia các liên kết kinh tế khu vực, quốc tế, tham gia các thỏa thuận, cam kết song phương, khu vực và đa phương

Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay có các đặc trưng sau:

Sự gia tăng mạnh mẽ, vượt trội của các quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế, thể hiện ở khối lượng và tốc độ tăng trưởng của thương mại quốc tế Từ năm 1950 đến năm 2000, tổng khối lượng thương mại thế giới đã tăng lên 17 lần Chỉ trong khoản 10 năm, từ 1987 đến 1997, tỷ trọng của thương mại trong GDP thế giới đã tăng từ 20,6% lên 29,6% Cùng với thương mại, luồng vốn đầu tư quốc tế cũng tăng

Trang 25

trưởng vượt bậc Tổng mức đầu tư nước ngoài trên thế giới năm 1967 là 112 tỷ USD, đến năm 1999 đã tăng lên tới mức 4.000 tỷ USD, tức tăng gần 40 lần trong hơn 30 năm

Đặc trưng thứ hai là xu hướng liên kết khu vực, liên kết quốc tế tăng mạnh, dẫn đến sự ra đời của hàng loạt thể chế kinh tế, định chế kinh tế, liên kết kinh tế khu vực, liên kết quốc tế Các liên kết hay các định chế quốc tế có ảnh hưởng và sức mạnh chi phối toàn cầu, điển hình như WB, IMF, WTO, …

Đặc trưng thứ ba là sự phát triển và tăng cường vai trò của các công ty xuyên quốc gia (TNC) Quy mô hoạt động của các công ty xuyên quốc gia ngày càng tăng lên Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, nếu đầu thập kỷ 70 toàn thế giới có khoảng 7.000 TNC thì đến tới thập kỷ 80 con số này là 12.000 và đến thập kỷ 90 là 35.000, đến nay đã tăng lên gần 65.000 công ty Xét trên nhiều bình diện, các công ty xuyên quốc gia đang ngày càng đóng vai trò là các chủ thể chính trong hoạt động kinh tế - thương mại quốc tế hiện nay

Đặc trưng thứ tư là thể chế kinh tế thị trường, đặc biệt là thể chế kinh tế thị trường mở đang là xu thế nổi bật, tồn tại và phát triển trên quy mô rộng khắp thế giới Với những nguyên lý kinhtế thị trường được điều chỉnh, thể chế kinh tế thị trường mở đang tạo động lực cho nhiều nền kinh tế tăng trưởng cao Khi thị trường quốc gia được khai thông, liên kết với thị trường khu vực và toàn cầu sẽ đem lại lợi thế khai thác thị trường, phân bổ nguồn lực, thu hút đầu tư, vốn, công nghệ, … tạo động lực cho tăng trưởng và phát triển

Trang 26

2 Giới thiệu các tổ chức kinh tế quốc tế

2.1 AFTA (ASEAN Free Trade Area) – Khu vực tự do thương mại ASEAN

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN

ASEAN được thành lập ngày 8-8-1967 sau khi Bộ trưởng Bộ ngoại giao các nước Indonesia, Malaysia, Philipines, Singapore và Thái lan ký bản tuyên bố ASEAN (còn gọi là Tuyên bố Bangkok) Hiện nay tổ chức này có 10 hội viên bao gồm 5 nước hội viên nguyên thuỷ và 5 hội viên gia nhập sau này là Brunei Darussalam (8-1-1984), Việt Nam (28-7-1995), Lào và Myanma (23-7-1997), Campuchia (30-4-1999) Trong thập kỷ 90, ASEAN nổi lên như là một tổ chức tiểu khu vực hoạt động năng nổ và hữu hiệu, tuy nhiên cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính từ giữa năm 1997 đang đặt ra một số thách thức lớn đối với ASEAN

Khu vực ASEAN có 500 triệu dân, diện tích rộng 4,5 triệu km2, tổng GDP là

737 tỉ USD và tổng kim ngạch ngoại thương là 720 tỉ USD (2001)

Kể từ trước khi chính thức gia nhập với tư cách thành viên đầy đủ năm 1995 tại Hội nghị ngoại trưởng các nước ASEAN tại Brunei, Việt Nam đã được mời tham

dự các cuộc họp hàng năm của ngoại trưởng các nước ASEAN tại Singapore (1993)

và Thái Lan (1994) cũng như một số cuộc họp khác của ASEAN Từ đầu năm 1994, Việt Nam được mời tham gia vào một số dự án hợp tác chuyên ngành của ASEAN trên 5 lĩnh vực đã được hai bên thoả thuận: khoa học kỹ thuật, văn hoá thông tin, môi trường, y tế và du lịch Hiện nay Việt Nam đã tham gia hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động của ASEAN với tư cách thành viên đầy đủ Việt Nam tham gia Khu Mậu Dịch Tự Do ASEAN từ năm 1996

Tuyên ngôn ASEAN khẳng định mục đích của Hiệp hội là:

(i) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa

trong khu vực bằng những nỗ lực chung theo tinh thần bình đẳng

Trang 27

và quan hệ đối tác nhằm tăng cường nền tảng cho một cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á thịnh vượng và hòa bình; và

(ii) Củng cố hòa bình và ổn định trong khu vực trên cơ sở tôn trọng

luật pháp trong quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc

Hợp tác kinh tế ASEAN được bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ trước Một số chương trình hợp tác về thương mại và công nghiệp quan trọng như Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA), Chương trình bổ trợ công nghiệp ASEAN (AIC)

đã được ký kết và đưa vào thực hiện trong những năm 1970-1980 Tuy nhiên, kết quả của các chương trình hợp tác này rất hạn chế Năm 1992, các nước ASEAN đã

ký Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (Common Effective Preferential Tariff Scheme - CEPT) quy định việc xây dựng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) với mục tiêu nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của khu vực ASEAN Việc từng bước xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan theo CEPT giữa các nước thành viên cũng nhằm mục đích nâng cao hơn nữa sức cạnh tranh, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN 5 tổ chức tại Băng cốc năm 1995 Chương trình Hội nhập Kinh tế sâu sắc hơn giữa các nước ASEAN

đã được thông qua, theo đó thời hạn thực hiện AFTA đã được đẩy nhanh từ 15 năm xuống còn 10 năm

Tầm nhìn ASEAN được các nhà Lãnh đạo ASEAN thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN không chính thức diễn ra vào tháng 12/1997 tại Kuala Lumpur Tầm nhìn ASEAN 2020 đã vạch ra phương hướng tiến tới năm 2020 là "ASEAN 2020: Quan hệ đối tác trong phát triển năng động" nhằm tạo quan hệ liên kết kinh tế chặt chẽ hơn trong ASEAN Chương trình Hành động Hà Nội (HPA) đã được thông qua năm 1998 và là chương trình tổng thể đầu tiên được xây dựng với hàng loạt các

kế hoạch hành động được đề ra nhằm hiện thực hóa các mục tiêu đặt ra trong Tầm nhìn ASEAN

Trang 28

2.1.2 Giới thiệu AFTA

Năm 1992, tại Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ IV các nước thành viên ASEAN họp ở Singapore (27-28/1/1992), các nước ASEAN đã ký kết Hiệp định về Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), nhằm đẩy nhanh tiến trình hợp tác kinh

tế giữa các nước ASEAN

Việc hình thành AFTA là ưu tiên hàng đầu trong chương trình hợp tác của ASEAN trong thập kỷ 90 AFTA nhằm mục đích thiết lập một thị trường khu vực trong đó các loại thuế quan đối với 15 nhóm sản phẩm vốn cao từ khoảng 40% được giảm đồng loạt ở tất cả các nước xuống mức độ chỉ còn 0 – 5% vào năm 2003 (2006 cho Việt Nam, 2008 cho Lào, Myanmar và 2010 cho Campuchia) và các mối quan

hệ mậu dịch sẽ không bị cản trở bởi các loại hàng rào phi quan thuế (non-tariff barriers) như các biện pháp cấm hoặc hạn chế xuất nhập khẩu hoặc thủ tục hải quan,

Trước những thay đổi nhanh chóng và các xu thế phát triển mới của mậu dịch thế giới – WTO, sự hình thành các khu vực mậu dịch tự do khác trên thế giới… sau nhiều lần nghiên cứu và thay đổi, các nước ASEAN đã quyết định rút ngắn thời hạn thực hiện chương trình Thuế quan ưu đãi hiệu lực chung (Common Effective Preferential Tariff (CEPT) từ 15 năm xuống còn 10 năm theo đó AFTA sẽ được hình thành vào năm 2003 Hiện các nước ASEAN đã đưa một danh mục bao gồm khoảng 42.000 mặt hàng, chiếm khoảng 81% tổng số các sản phẩm đã qua chế tác (manufactured goods) và nhiều sản phẩm nông sản chưa qua chế biến vào danh mục giảm thuế Là công cụ chủ yếu của AFTA, CEPT quy định các nước thành viên ASEAN cùng áp dụng một biểu thuế quan chung đối với cùng một số sản phẩm của các nước thành viên Thuế quan đánh vào các mặt hàng xuất nhập khẩu đối với các nước khác không phải thành viên sẽ do các nước thành viên tự quyết định

ASEAN áp dụng phương thức “hai đường ray” (two-track approach) cho dự

án giảm thuế quan trong AFTA có nghĩa là cùng lúc tiến hành hai chương trình

Trang 29

giảm quan thuế với các khung thời gian khác nhau đối với các loại mặt hàng có biểu khung thuế khác nhau

2.1.3 Chương trình cắt giảm thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)

Mục tiêu của CEPT là đến năm 2003 sẽ áp dụng thuế quan ưu đãi chung ở mức 0-5%, đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và tiến tới loại bỏ hàng rào phi thuế quan trong thương mại nội bộ giữa các nước thành viên ASEAN Riêng đối với các nước gia nhập chậm và có nền kinh tế chậm phát triển thì được phép kéo dài thời gian thực hiện hơn, cụ thể là Việt Nam được kéo dài đến năm

2006, Lào và Myanmar được kéo dài đến năm 2008 và Campuchia đến 2010 Các sản phẩm thực hiện giảm thuế nhập khẩu do các nước hội viên ASEAN tự đề nghị căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh kinh tế của mỗi nước

Chương trình cắt giảm thuế quan theo CEPT được thực hiện theo 4 danh mục sau:

1 Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL – General Exchusion List): Là danh

mục các sản phẩm không bị cắt giảm thuế và không đưa vào chương trình thực hiện AFTA vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ đạo đức xã hội, bảo vệ sức khoẻ, bảo tồn các giá trị văn hoá nghệ thuật, di tích, lịch sử, khảo cổ

2 Danh mục sản phẩm cắt giảm thuế ngay (IL – Inclusion List): Gồm các

sản phẩm sẵn sàng cắt giảm thuế quan với lịch trình thống nhất và được phân bổ theo hai lộ trình: lộ trình cắt giảm bình thường (normal track) và lộ trình cắt giảm nhanh (fast track)

+ Lộ trình cắt giảm bình thường được thực hiện như sau: Đối với các sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống 20% vào thời điểm 1/1/98 và tiếp tục giảm xuống 0-5% vào thời điểm 1/1/2003 Đối với các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ được giảm xuống mức 0-5% vào thời điểm 1/1/2000

+ Lộ trình cắt giảm nhanh thực hiện như sau: Đối với các sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống 0-5% vào thời điểm 1/1/2000 Đối với các sản

Trang 30

phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ được giảm xuống mức 0-5% vào thời điểm 1/1/1998

3 Danh mục sản phẩm loại trừ tạm thời (TEL – Temporary Exclusion List)

Các sản phẩm trong danh mục loại trừ tạm thời bao gồm các loại sản phẩm chưa sẵn sàng cắt giảm nên tạm thời chưa giảm thuế và sẽ không được hưởng nhượng bộ từ các nước thành viên Tuy nhiên danh mục này chỉ có tính chất tạm thời và sau một khoảng thời gian nhất định các quốc gia phải đưa toàn bộ các sản phẩm này vào danh mục giảm thuế

Lịch trình chuyển các sản phẩm trong danh mục này sang danh mục cắt giảm cần được thực hiện trong vòng 5 năm, từ 1/1/1996 đến 1/1/2000, mỗi năm chuyển 20% số sản phẩm trong danh mục TEL và giảm thuế xuống mức 0-5% vào năm

2003

4 Danh mục sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm (Sensitive List)

Các quy định cụ thể về lịch trình cắt giảm thuế quan cho các sản phẩm nhạy cảm cho đến nay vẫn đang trong quá trình thoả thuận Tuy nhiên, đối với các sản phẩm trong danh mục nhạy cảm, thời điểm bắt đầu thực hiện cắt giảm đã được xác định là 1/1/2001 và kết thúc vào năm 2010 với mức thuế suất phải đạt 0-5% Đối với các sản phẩm trong danh mục nhạy cảm cao, thời hạn kết thúc đã được xác định là năm

2010, tuy nhiên sẽ có một số linh hoạt nhất định sẽ được áp dụng liên quan đến mức thuế suất kết thúc, các biện pháp tự vệ phòng ngừa bất trắc…

CEPT, khi hoàn tất vào 2003, về cơ bản sẽ bao gồm 98% dòng thuế của ASEAN vào năm 2003; còn lại chỉ khoảng 1% thuộc diện loại trừ và một số sản phẩm nông nghiệp nhạy cảm được gia hạn đến 2010

2.1.4 Một số cam kết của Việt Nam mở cửa khu vực ngân hàng khi

gia nhập AFTA

Một số yêu cầu mà nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam) đã cam kết trong khuôn khổ Hiệp định khung về hợp tác thương mại dịch vụ (AFAS) của Hiệp hội ASEAN, cụ thể các nước phải:

Trang 31

_ Xây dựng môi trường pháp lý về Ngân hàng phù hợp thông lệ quốc tế

_ Không hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng

_ Không hạn chế về tổng giá trị các giao dịch về dịch vụ ngân hàng

_ Không hạn chế về tổng các hoạt động tác nghiệp hay tổng số lượng dịch vụ ngân hàng

_ Không hạn chế về tổng số người được tuyển dụng của các tổ chức tài chính nước ngoài

_ Không có các biện pháp hạn chế hay yêu cầu phải mang một hình thức pháp nhân nào cụ thể

_ Không hạn chế việc tham gia góp vốn của bên nước ngoài dưới hình thức tỷ

lệ phần trăm tối đa số cổ phiếu nước ngoài được nắm giữ theo nguyên tắc thoả thuận

_ Đến năm 2008 Việt Nam sẽ phải dỡ bỏ các hạn chế về tỷ lệ tham gia vốn, bỏ các khống chế về giá trị giao dịch, dịch vụ của các ngân hàng ASEAN

2.2 WTO (World Trade Organization) – Tổ chức thương mại thế giới

2.2.1 Giới thiệu WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO (World Trade Organization) - ra đời năm 1995 Tuy non trẻ, WTO là hậu thân của GATT, một hệ thống thương mại đa phương được thành lập sau Thế chiến II và đã có hơn 50 năm tồn tại

Trong khuôn khổ WTO, các cuộc đàm phán vẫn tiếp tục nhằm tự do hoá thương mại hơn nữa Tháng 2/1997, một hiệp định về dịch vụ viễn thông đã được

ký, theo đó, 69 chính phủ đã thoả thuận những biện pháp tự do hoá thương mại vượt

xa những thỏa thuận của Vòng Đàm phán Urugoay Cùng năm 1997, 40 chính phủ

đã hoàn tất các thương lượng bãi bỏ thuế quan cho các sản phẩm công nghệ tin học,

Trang 32

và 70 thành viên đã ký kết một thoả ước về dịch vụ tài chính chi phối hơn 95% thị trường ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và thông tin tài chính Tháng 5/1998, cuộc họp cấp bộ trưởng ở Geneva đã đồng ý nghiên cứu các chủ đề phát sinh từ thương mại điện tử toàn cầu Năm 2000 đã diễn ra các cuộc thảo luận về nông nghiệp và dịch vụ

Hiện nay, WTO có 140 nước thành viên, chiếm hơn 90% thương mại thế giới 34 nước quan sát viên đang thương lượng xin gia nhập

Mục đích bao trùm của WTO là làm cho thương mại hoạt động thông suốt,

tự do, công bằng và tiên đoán được Để đạt mục đích đó, WTO có những chức năng sau đây:

_ Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận thương mại đa phương, giám sát, tạo thuận lợi, kể cả việc trợ giúp kỹ thuật cho các quốc gia thành viên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ, đồng thời thụ hưởng các quyền lợi được quy định trong hiệp định đa phương

_ Tổ chức các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng của Tổ chức Thương mại Thế giới Tổ chức Thương mại Thế giới là diễn đàn để thông qua đó, các quốc gia thành viên tiến hành đàm phán về những vấn đề được quy định trong các Hiệp định thương mại đa phương và về các vấn đề thương mại quốc tế

_ Tổ chức Thương mại Thế giới tiến hành giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới, các hiệp định thương mại đa phương, nhiều bên _ Tổ chức Thương mại Thế giới lập ra cơ chế để xem xét, kiểm định và rà soát chính sách thương mại của các quốc gia thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 33

_ Tổ chức Thương mại Thế giới thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế

- thương mại quốc tế khác như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) trong việc hoạch định những chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu

(Ðiều III – Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới)

2.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của WTO

Các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) rất nhiều và phức tạp bao gồm cả nông nghiệp, dệt may, ngân hàng, viễn thông, nông nghiệp và cả thực phẩm Tuy nhiên, xuyên suốt các hiệp định này là những nguyên tắc, và chúng được coi là nền tảng của hệ thống thương mại đa phương

Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) Mỗi thành viên sẽ dành cho sản

phẩm của một thành viên khác đối xử không kém ưu đãi hơn đối xử mà thành viên

đó dành cho sản phẩm của một nước thứ 3 (Đãi ngộ Tối huệ quốc - MFN) Tuy nhiên, vẫn có một số ngoại lệ trong nguyên tắc này Chẳng hạn, các nước có thể thiết lập một hiệp định thương mại tự do áp dụng đối với những hàng hoá giao dịch trong một nhóm quốc gia, phân biệt với hàng từ bên ngoài nhóm

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT) Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia được hiểu

là hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hóa cùng loại trong nước Trong phạm vi Tổ chức Thương mại Thế giới, nguyên tắc đãi ngộ quốc gia chỉ áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ có sự khác nhau

Nguyên tắc tiếp cận thị trường (Market Access) Nguyên tắc này được

hiểu là việc mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ và đầu tư nước ngoài cho các quốc gia khác trong khối Nguyên tắc tiếp cận thị trường thể hiện nghĩa vụ có tính chất ràng buộc thông qua việc thực hiện cam kết về mở cửa thị trường mà quốc gia chấp nhận khi đàm phán gia nhập WTO

Trang 34

Nguyên tắc cạnh tranh công bằng (Fair Competition) Nguyên tắc cạnh

tranh công bằng thể hiện ở sự tự do cạnh tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau

(Theo World Trade Organization)

2.2.3 Mười lợi ích của hệ thống WTO

™ Lợi ích thứ nhất: Hệ thống này giúp gìn giữ hoà bình

Hoà bình phần nào là một thành quả của hai nguyên tắc cơ bản nhất của hệ thống thương mại: giúp thương mại được thuận buồm xuôi gió và đưa đến cho các nước một lối thoát bình đẳng và mang tính xây dựng để giải quyết những bất đồng

về các vấn đề thương mại Đó cũng là một kết quả của sự hợp tác và lòng tin quốc

tế do hệ thống này tạo ra và duy trì

Lịch sử bị vấy bẩn bởi những tranh chấp thương mại dẫn đến chiến tranh Một trong những ví dụ sống động nhất là cuộc chiến tranh thương mại những năm

1930, khi các nước cạnh tranh với nhau nhằm tăng thêm các hàng rào mậu dịch để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước và để trả đũa rào cản của các nước khác Điều này càng làm cho cuộc đại suy thoái thêm tồi tệ và cuối cùng góp phần làm bùng nổ Chiến tranh Thế giới thứ 2

Hai bước phát triển ngay Chiến tranh Thế giới thứ 2 đã giúp tránh được nguy

cơ những căng thẳng thương mại thời kỳ trước chiến tranh xuất hiện trở lại Thứ nhất, ở châu Âu, hợp tác quốc tế phát triển trong các ngành công nghiệp than, sắt và thép Thứ hai, trên phạm vi toàn cầu, Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT) đã hình thành

Cả 2 bước phát triển trên đều tỏ ra thành công, thành công đến mức hiện nay chúng được mở rộng rất mạnh - một trở thành Liên minh châu Âu và một trở thành

Tổ chức Thương mại Thế giới

™ Lợi ích thứ hai: Giải quyết các mâu thuẫn thương mại một cách xây dựng

Trang 35

Do thương mại tăng lên về khối lượng, số lượng sản phẩm được trao đổi, và

số lượng các nước và công ty tham gia thương mại, nên có thêm nhiều cơ hội để những tranh chấp thương mại nảy sinh Hệ thống WTO giúp giải quyết các tranh chấp này một cách hoà bình và mang tính xây dựng

Nếu để mặc chúng thì những tranh chấp này có thể dẫn đến những xung đột nghiêm trọng Một trong những nguyên tắc của WTO là các thành viên có nghĩa vụ phải đưa những tranh chấp của mình tới WTO và không được đơn phương giải quyết Khi họ đưa ra các tranh chấp ra giải quyết tại WTO, thủ tục giải quyết của WTO là tập trung chú ý của họ vào các nguyên tắc Một khi nguyên tắc được thiết lập, các nước phải chú trọng nỗ lực tuân thủ nguyên tắc, và có lẽ sau đó tái thương lượng về các nguyên tắc - chứ không phải là tuyên chiến với nhau

™ Lợi ích thứ ba: Một hệ thống dựa trên những nguyên tắc chứ không phải là sức mạnh để làm cho cuộc sống dễ dàng hơn với tất cả mọi người

WTO không thể tuyên bố sẽ làm cho tất cả các nước đều bình đẳng Nhưng WTO thực sự làm giảm bớt một số bất bình đẳng, giúp các nước nhỏ hơn có nhiều tiếng nói hơn Đồng thời cũng giải thoát cho các nước lớn khỏi sự phức tạp trong việc thoả thuận các hiệp định thương mại với các đối tác của mình

Các quyết định và hiệp định của WTO được thực hiện bằng nhất trí ý kiến Các hiệp định này áp dụng cho mọi người Các nước giàu cũng như nước nghèo đều

có thể bị chất vấn nếu họ vi phạm một hiệp ước, và họ có quyền chất vấn các nước khác trong quy trình giải quyết tranh chấp của WTO Thiếu một cơ chế đa phương kiểu hệ thống WTO, các nước mạnh hơn sẽ càng được tự do đơn phương áp đặt ý muốn của mình cho các nước yếu hơn Các nước lớn hơn cũng được hưởng những lợi ích tương xứng Các cường quốc kinh tế có thể sử dụng diễn đàn duy nhất của WTO để thương lượng với tất cả hay với hầu hết các đối tác thương mại của họ cùng một lúc

Trên thực tế, có riêng một hệ thống nguyên tắc áp dụng với tất cả các nước thành viên, điều đó đã đơn giản hoá rất nhiều toàn bộ cơ chế thương mại

Trang 36

™ Lợi ích thứ tư: Thương mại tự do hơn giúp giảm chi phí cuộc sống

Hệ thống toàn cầu WTO đã giảm bớt các hàng rào mậu dịch thông qua thương lượng và áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử Kết quả là chi phí sản xuất giảm, giá hàng hoá thành phẩm và dịch vụ giảm và cuối cùng là chi phí cuộc sống thấp hơn

Cho đến nay, các hàng rào mậu dịch đã giảm đi rất nhiều so với trước đây Các hàng rào này còn tiếp tục được giảm và tất cả chúng ta đều có lợi

™ Lợi ích thứ năm: Đem đến cho người tiêu dùng nhiều lựa chọn hơn,

và phạm vi chất lượng rộng hơn để lựa chọn

Hiện nay chúng ta có thể có được tất cả các hàng hoá bởi chúng ta có thể nhập khẩu chúng Nhập khẩu cho phép chúng ta có nhiều lựa chọn hơn - cả hàng hoá và dịch vụ lẫn phạm vi chất lượng Thậm chí chất lượng của hàng sản xuất nội địa có thể nâng lên do chính sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu Nhiều lựa chọn hơn không đơn giản là vấn đề người tiêu dùng mua hàng thành phẩm của nước ngoài Hàng nhập khẩu còn được sử dụng làm nguyên liệu, linh kiện và thiết bị cho sản xuất trong nước

Điều này mở rộng phạm vi của các thành phẩm và dịch vụ do các nhà sản xuất trong nước làm và nó làm tăng phạm vi những công nghệ mà họ có thể sử dụng Đôi khi, sự thành công của một sản phẩm hay dịch vụ nhập khẩu tại thị trường trong nước cũng có thể khuyến khích các nhà sản xuất trong nước cạnh tranh, làm gia tăng lựa chọn nhãn hàng hoá sẵn có cho người tiêu dùng cũng như tăng phạm vi hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước

™ Lợi ích thứ sáu: Thương mại làm tăng thu nhập

Giảm bớt hàng rào thương mại cho phép thương mại tăng trưởng, điều này làm tăng thu nhập - cả thu nhập quốc dân và thu nhập cá nhân

Dự tính của WTO về tác động của các thoả thuận thương mại tại vòng đàm phán Uruguay 1994 là thu nhập của thế giới có thêm từ 109 tỷ USD– 510 tỷ USD

Trang 37

™ Lợi ích thứ bảy: Thương mại kích thích tăng trưởng kinh tế và đó có thể là tin tốt lành cho vấn đề việc làm

Trên thực tế đã có bằng chứng căn cứ trên sự việc cho thấy rằng việc giảm các rào cản thương mại là điều kiện tốt cho công ăn việc làm Nhưng bức tranh này rất phức tạp do nhiều yếu tố Tuy nhiên, bảo hộ cũng không phải là cách để giải quyết các vấn đề việc làm

Có nhiều tình huống cho thấy rằng cơ hội đã được nắm bắt - đó là những trường hợp thương mại tự do hơn có lợi cho việc làm Uỷ ban EU tính toán rằng việc thiết lập thị trường duy nhất của nó có nghĩa là có thêm khoảng từ 300.000 đến 900.000 việc làm nữa so với lúc không có thị trường duy nhất Thực tế cũng cho thấy, chế độ bảo hộ đã làm hại công ăn việc làm như thế nào Ví dụ điển hình là ngành công nghiệp xe hơi của Mỹ Các hàng rào mậu dịch được thiết lập để bảo vệ việc làm ở nước này bằng cách hạn chế nhập khẩu từ Nhật Bản lại dẫn đến việc làm cho xe hơi ở Mỹ đắt thêm, lượng xe hơi vì thế được bán ít đi và việc làm giảm

™ Lợi ích thứ tám: Các nguyên tắc cơ bản làm cho hệ thống có hiệu quả hơn, và giảm bớt chi phí

Thương mại cho phép thực hiện phân công lao động giữa các nước Nó cho phép sử dụng một cách phù hợp và hiệu quả các nguồn lực vào sản xuất Nhưng hệ thống thương mại WTO còn đem lại nhiều hơn như thế Nó giúp làm tăng hiệu quả

và thậm chí còn giảm bớt chi phí nhiều hơn bởi những nguyên tắc quan trọng được thiết lập trong hệ thống

Không phân biệt đối xử chỉ là một trong những nguyên tắc của hệ thống thương mại WTO Những nguyên tắc khác gồm có:

* Minh bạch Thông tin rõ rằng về các chính sách, nguyên tắc và quy định

* Tin chắc vào các điều kiện thương mại Những cam kết cắt giảm các hàng rào thương mại và làm tăng khả năng tiếp cận các thị trường của một số nước cho các nước khác có sự ràng buộc pháp lý

Trang 38

* Đơn giản hoá và chuẩn hoá các thủ tục hải quan, xoá bỏ tình trạng quan liêu, tập trung hoá cơ sở dữ liệu thông tin và các biện pháp khác được thiết lập nhằm đơn giản hoá thương mại theo phương châm "kích thích thương mại"

Tất cả những nguyên tắc này làm cho thương mại đơn giản hơn, giảm bớt phí tổn cho các công ty, tăng niềm tin vào tương lai Đổi lại, điều đó cũng có nghĩa là

có nhiều việc làm hơn, người tiêu dùng có hàng hoá và dịch vụ tốt hơn

™ Lợi ích thứ chín: Hệ thống này bảo vệ các chính phủ khỏi những quyền lợi hẹp hòi

Hệ thống GATT/WTO phát triển trong nửa cuối của thế kỷ XX giúp cho các chính phủ có một nhãn quan cân bằng hơn về chính sách thương mại Các chính phủ vững vàng hơn trong việc tự bảo vệ mình tránh khỏi những vận động ngoài hành lang của những nhóm có quyền lợi hẹp hòi bằng việc tập trung vào những cân đối vì lợi ích của tất cả mọi người trong nền kinh tế

™ Lợi ích thứ mười: Hệ thống khuyến khích chính phủ hoạt động tốt

Theo các nguyên tắc của WTO, khi đã có cam kết tự do hoá một khu vực thương mại nào đó, thì khó có thể đảo ngược được Các nguyên tắc cũng không khuyến khích những chính sách thiếu thận trọng Đối với giới kinh doanh, điều này

có nghĩa là độ chắc chắn cao hơn và rõ ràng hơn về các điều kiện thương mại Đối với các chính phủ, điều này thường đồng nghĩa với kỷ luật tốt

Nhiều lĩnh vực khác của các hiệp định WTO cũng có thể giúp giảm bớt tệ tham nhũng và chính phủ xấu xa Sự minh bạch, các tiêu chí rõ ràng hơn về các quy định đối với sự an toàn và chuẩn mực của sản phẩm, và sự không phân biệt đối xử cũng giúp giảm bớt tình trạng gian dối và việc ra quyết định mang tính độc đoán

Thực sự các chính phủ đã dùng WTO như là một sức ép bên ngoài đáng được hoan nghênh đối với các chính sách của họ

(Nguồn: Tổ chức Thương mại Thế giới)

Trang 39

2.2.4 Một số cam kết chủ yếu của Việt Nam mở cửa khu vực ngân

hàng khi gia nhập WTO

Hiệp định được ký vào ngày 13/07/2000 và chính thức có hiệu lực vào 10/12/2001 có các cam kết của Việt Nam về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia đối với các ngân hàng của Hoa Kỳ sẽ được nới lỏng dần trong thời gian chín năm Các cam kết chủ yếu về ngân hàng gồm có:

_ Sau 3 năm thực hiện đối xử quốc gia đầy đủ về việc tiếp cận với các công cụ chiết khấu, hoán đổi và kỳ hạn của ngân hàng trung ương

_ Các ngân hàng Hoa Kỳ có thể hình thành các liên doanh với các đối tác Việt Nam với lượng cổ phần từ 30 đến 49% Sau năm 2010 sẽ cho phép các công

ty con 100% vốn nước ngoài

_ Trong thời gian từ 8 đến 10 năm đều thực hiện từng bước đối xử quốc gia một cách đầy đủ liên quan đến quyền của các chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ trong việc nhận tiền gửi bằng VND từ các khách hàng VN Hạn chế về tiền gửi bằng VND đã được tăng lên 100% số vốn đăng ký của ngân hàng (khi ký kết) và vào tháng 12 năm 2003 hạn mức này đã được tăng lên đến 500% _ Các định chế tài chính do Hoa Kỳ đầu tư sẽ được phép phát hành thẻ tín dụng với điều kiện tương tự như các ngân hàng của Việt Nam sau 8 năm _ Không yêu cầu các bên tham gia liên doanh phải là ngân hàng như quy định hiện hành chỉ cho phép thành lập ngân hàng liên doanh trên cơ sở các bên tham gia phải là ngân hàng

_ Sau 9 năm được thành lập ngân hàng con

_ Việt Nam cho phép ngân hàng Hoa Kì được mua cổ phần tại ngân hàng quốc doanh như ngân hàng Việt Nam

_ Các ATM được xem như những điểm giao dịch, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép đặt ATM ngoài trụ sở chính ở Việt Nam

Trang 40

Các cuộc đàm phán WTO đang thúc đẩy Việt Nam thực hiện các cam kết tối thiểu là USVNBTA, hoặc USVNBTA+ do nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) của tổ chức này Vì vậy có thể xem như một số cam kết mở cửa khu vực ngân hàng cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ cũng sẽ được áp dụng với tất cả các thành viên còn lại của WTO Tuy nhiên do Việt Nam là nước kém phát triển nên Việt Nam có quyền hưởng một số “ưu ái” nhất định, không nhất thiết phải “mở toang cửa” ngay

từ những ngày đầu là thành viên của WTO, được đưa ra những hạn chế về tiếp cận thị trường và hạn chế về đối xử quốc gia (NT) với lộ trình thời gian không quá 10 năm kể từ khi là thành viên chính thức của WTO

Trong thỏa thuận về ngành dịch vụ khi gia nhập WTO, Việt Nam phải đưa ra các cam kết cụ thể về hạn chế tiếp cận thị trường và hạn chế về đối xử quốc gia cho

cả 4 phương thức cung cấp dịch vụ theo GATS và các phụ lục về dịch vụ tài chính Các định chế tài chính nước ngoài chỉ còn chịu một số hạn chế tối đa khi Việt Nam

là thành viên của WTO với thời gian không quá 5 năm như sau:

_ Đối với phương thức hiện diện thương mại:

o Về phạm vi hoạt động: hạn chế về tiền gửi VND đối với cá nhân, pháp nhân Việt Nam mà định chế tài chính nước ngoài không có quan hệ tín dụng sẽ được dỡ bỏ theo lộ trình tăng dần

và chậm nhất sau 5 năm (2010) thì được NT

o Về mạng lưới tổ chức: các định chế tài chính nước ngoài không được lập các điểm giao dịch phụ thuộc

_ Đối với phương thức tiêu dùng ở nước ngoài thì Việt Nam không hạn chế nên thực hiện theo luật nước sở tại

_ Đối với phương thức thương mại qua biên giới thì Việt Nam chưa cam kết trừ các dịch vụ thông tin tài chính tại I và J (tại phụ lục tài chính của GATS) _ Đối với phương thức cung cấp hiện diện thể nhân: Việt Nam chưa cam kết ngoài các cam kết chung

Ngày đăng: 11/02/2021, 15:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arthur A. Thompson, A. J. Stricklan III, Crafting and Implementing Strategy – 10th Edition, McGraw-Hill, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Crafting and Implementing Strategy
2. Bùi Lê Hà và cộng sự, Quản Trị Kinh Doanh Quốc tế, NXB Thống Kê, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản Trị Kinh Doanh Quốc tế
Nhà XB: NXB Thống Kê
3. Charles W. L. Hill, Global Business Today, McGraw-Hill, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Business Today
4. Donald A. Ball và cộng sự, Những Bài Học Về Doanh Thương Quốc Tế, NXB Thống Kê, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những Bài Học Về Doanh Thương Quốc Tế
Nhà XB: NXB Thống Kê
5. Fred R. David – Trương Công Minh dịch, Khái luận và Quản trị chiến lược – NXB Thống Kê – 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái luận và Quản trị chiến lược
Nhà XB: NXB Thống Kê – 1995
6. Garry D. Smith và cộng sự, Bùi Văn Đông dịch, Chiến lược và sách lược kinh doanh – NXB Thống Kê, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược và sách lược kinh doanh
Nhà XB: NXB Thống Kê
7. Lê Hùng (chủ nhiệm) (2004), Đề tài NCKH “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP trên địa bàn TP.HCM” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP trên địa bàn TP.HCM
Tác giả: Lê Hùng (chủ nhiệm)
Năm: 2004
8. Lê Xuân Nghĩa, Ngân hàng Thương mại Việt Nam: cơ hội và thách thức trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Ngân hàng, số 1/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Thương mại Việt Nam: cơ hội và thách thức trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế
9. M. R. Czinkota, 3th Ed., International Business, The Dryden Press, 1992 10. Michael E. Porter, The Competitive Advantage of Nations – The Free Press,1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Business", The Dryden Press, 1992 10. Michael E. Porter, "The Competitive Advantage of Nations
11. PGS.TS Nguyễn Thị Cành – Phương pháp và phương pháp luận Nghiên cứu khoa học kinh tế – NXB Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp và phương pháp luận Nghiên cứu khoa học kinh tế
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh
13. Rudolf Gruenig – Phạm Ngọc Thuý, Lê Thành Long và Võ Văn Huy dịch, Hoạch Định Chiến Lược theo Quá Trình – NXB KHKT, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạch Định Chiến Lược theo Quá Trình
Nhà XB: NXB KHKT
14. TS Phạm Quang Thao (2005), Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới – Cơ hội và thách thức, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới – Cơ hội và thách thức
Tác giả: TS Phạm Quang Thao
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2005
15. Bộ Thương Mại, Tài liệu bồi dưỡng “Kiến thức cơ bản về Hội nhập kinh tế quốc tế”, Trường Cán bộ thương mại Trung ương, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức cơ bản về Hội nhập kinh tế quốc tế”
16. US Viet Nam và Bộ Thương mại Việt Nam (2000), Tóm tắt Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (tài liệu tham khảo nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
Tác giả: US Viet Nam và Bộ Thương mại Việt Nam
Năm: 2000
29. Website Đảng Cộng Sản Việt Nam http://www.cpv.org.vn 30. Website Ngân hàng nhà nước Việt Nam http://www.sbv.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng Sản Việt Nam
26. Trung tâm thông tin Sài Gòn http://www.saigonnews.vn 27. Website các Ngân hàng thương mại Việt Nam Link
31. Website Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC) http://www.itpc.hochiminhcity.gov.vn Link
32. Website báo điện tử VNECONOMY http://www.vneconomy.com.vn 33. Website các báo điện tử Link
12. PGS.TS. Phạm Văn Năng, PGS.TS. Trần Hoàng Ngân, TS. Trương Quang Thông, Ngân hàng thương mại cổ phần Thành Phố Hồ Chí Minh – Nhìn lại Khác
17. Báo cáo thường niên của các ngân hàng – Annual report Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w