1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tiểu luận KINH tế môi TRƯỜNG

19 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 478 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc lựa chọn vùng nuôi thường được thực hiện với sự cân nhắc đến thủy văn, thủy hóa, kỹ thuật cũng như các yếu tố xã hội nhằm quản lý hiệu quả hoạt động nuôi và thu được lợi nhuận cao n

Trang 1

ĐẠI HỌC THỦY LỢI KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ

http://www.tlu.edu.vn

MÔN: KINH TẾ MÔI TRƯỜNG BẢN BÁO CÁO ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC NUÔI TÔM

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH TỪ NĂM 2010-2017

Nguyễn Thị Huyền Trang Trịnh Thị Quỳnh Trang Nguyễn Thị Huyền Trinh

HÀ NỘI – NĂM 2019

1

Trang 2

phụ lục:

cơ sở lý thuyết

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN

CỨU.

1 Cơ sở lý luận về nuôi trồng thủy sản ven biển và nuôi tôm nước lợ.

Hiện nay, nghề nuôi thả tăng sản hay công nghiệp, giống như công nghiệp hóa, nuôi trông thủy sản hay còn gọi là nuôi thâm canh, hoặc nuôi công nghiệp, được tính toán xem xét từ khi lựa chọn vùng nuôi Việc lựa chọn vùng nuôi thường được thực hiện với sự cân nhắc đến thủy văn, thủy hóa, kỹ thuật cũng như các yếu tố xã hội nhằm quản lý hiệu quả hoạt động nuôi và thu được lợi nhuận cao nhưng vẫn giữ được sự cân bằng sinh thái trong vùng, giảm tác động tiêu cực của môi trường đến các vùng xung quanh Trong nuôi thả tăng sản hiện nay, phải áp dụng các công nghệ mới, như các kỹ thuật di truyền tạo giống, bổ sung thêm thứ ăn giauf dinh dưỡng cho vật nuôi, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại để phong dịch, để tăng năng suất vật nuôi và rủi ro sinh thái

Công nghệ nuôi quảng canh cải tiến và nuôi bán thâm canh là mức độ công nghệ nằm trong khoảng giữa của nuôi quảng canh truyền thống và nuôi tăng sản công nghiệp Theo tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc(FAO) định nghĩa của FAO [2008], nuôi quảng canh cải tiến là hình thức nuôi dựa trên nền tảng của mô hình nuôi quảng canh nhưng có bổ sung giống ở mật độ thấp (với nuôi tôm nước lợ là 0,5-2 con/m2) hoặc bổ sung thức ăn, hoặc bổ sung cả giống và thức ăn Hình dạng

và kích cỡ ao đầm vẫn theo dạng quảng canh nên quản lý gặp khó khăn, năng suất

và lợi nhuận vẫn còn thấp

Theo cách giải thích này, nuôi bán thâm canh là hình thức nuôi dùng phân bón (chất gây màu nước) để gia tăng thức ăn tự nhiên trong ao và bổ sung thức ăn từ bên ngoài nhờ thức ăn tươi sống, cám gạo, thức ăn viên công nghiệp, Giống được thả nuôi ở mật độ tương đối cao (với tôm nước lợ là 10 - 15 con/m2) trong diện tích

ao nuôi nhỏ (2.000 – 5.000 m) [FAO, 2008] Trong hình thức này, ao được xây dựng hoàn chỉnh, kích thước nhỏ nên thuận lợi cho việc quản lý, kích cỡ sản phẩm thu được khá lớn, giá bán cao, chi phí vận hành thấp vì thả ít giống, thức ăn hỗn hợp

Trang 3

dùng chưa nhiều và thức ăn tự nhiên vẫn còn quan trọng Tuy nhiên, năng suất nuôi vẫn còn thấp so với nuôi thâm canh

Nuôi thâm canh là hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào con giống và thức ăn bên ngoài (thức ăn viên đơn thuần hay kết hợp với thức ăn tươi sống), vai trò của thức

ăn tự nhiên trở nên ít quan trọng Toàn bộ con giống thả được sản xuất nhân tạo với mật độ thả cao (ví dụ với tôm sú là 25 - 30 con/m2và tôm thẻ chân trắng có thể lên tới 90 – 120 con/m2) Diện tích ao nuôi từ 1.000 – 10.000 m2, tối ưu là 5.000 m2 [FAO, 2008] Trong hình thức nuôi này, ao nuôi được xây dựng rất hoàn chỉnh, cấp

và tiêu nước hoàn toàn chủ động, có trang bịđầy đủ các phương tiện máy móc như thiết bị sục khí tạo ôxy, thiết bịcho ăn chủ động nên thuận tiện cho quản lý và vận hành ao nuôi Tuy nhiên, chi phí đầu tư và vận hành cao, đòi hỏi đầu tư vốn lớn

2 Tổng quan về ngành nuôi tôm ở trong nước.

Việt Nam là một trong những nước có nghề nuôi tôm nước lợ thâm canh phát triển mạnh Hiệu quả từ việc nuôi tôm đã và đang mang lại lợi nhuận kinh tế cao, cung cấp nguồn nguyên liệu tôm cho xuất khẩu, giải quyết việc làm cho hàng triệu người lao động trong cả nước Tuy vậy, những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của nghề này đang gây nhiều vấn đề về môi trường, chẳng hạn làm giảm diện tích rừng ngập mặn, hay ô nhiễm cục bộ vùng nuôi tôm tập trung, hoặc lây nhiễm nguồn bệnh từ tôm nuôi sang các thủy sản tự nhiên trong vùng, và như vậy nó ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của nhiều nhóm người đang dựa vào lợi ích của rừng mang lại Cùng với sự phát triển tự phát, nhiều ao nuôi tôm quảng canh đã dần được chuyển đổi thành ao nuôi thâm canh, mà không kèm theo hệ thống cấp và thoát nước đạt yêu cầu, trại nuôi không được bố trí ao xử lý chất thải, kết quả là chất lượng nước vùng xung quanh bị ô nhiễm nghiêm trọng, là điều kiện để dịch bệnh bùng phát, gây thiệt hại cho chính người nuôi tôm Ngoài ra tình trạng ô nhiễm môi trường còn gây thiệt hại cho nhiều nhóm người khác như người khai thác thủy sản

hay người nuôi các đối tượng thủy sản khác Bên cạnh đó Việt Nam còn là một

nước có mạng lưới sông ngòi dày đặc với hệ thống sông ngòi phân bổ đều khắp với lưu lượng lớn Ngoài ra bờ biển dài hơn 3.260km trải dài từ Bắc vào Nam Đây là điều kiện tốt nhất để phát triển ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và ngành nuôi tôm nói riêng

Trang 4

Hơn thập kỷ qua, ngành tôm Việt Nam đã tiến bộ vượt bậc đưa Việt Nam tiến vào các nước xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới, đem về nguồn ngoại tệ ngày càng lớn cho đất nước Cùng với sự phát triển của nghề nuôi tôm công nghiệp, hàng loạt nhà máy chế biến tôm xuất khẩu ra đời Công nghệ chế biến tôm Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thông qua sự gia tăng tỉ trọng của các sản phẩm chế biến Hiện nay, tôm sú và tôm thẻ chân trắng hiện là mặt hàng xuất khẩu thủy sản chủ lực của Việt Nam

Năm 2010, Kim Ngạch xuất khẩu tôm đã vượt qua con số 2,1 tỷ USD và con tôm

đã thật sự đã trở thành chủ lực của Việt Nam Đến năm 2013, lần đầu tiên sản lượng

và giá trị xuất khẩu tôm thẻ chân trắng đã vượt tôm sú, năm 2014 đạt tổng sản lượng 657.000 tấn và giá trị xuất khẩu kỷ lục 3,97 tỷ USD Năm 2016 là năm đặc biệt khó khăn đối với ngành nông nghiệp và nuôi tôm do tình hình hạn, mặn diễn ra khốc liệt ở ĐBSCL tuy nhiên với sự chỉ đạo của Bộ Nông Nghiệp và PTNT và các địa phương, sự vào cuộc quyết liệt của các doanh nghiệp, người nuôi với các giải pháp phù hợp, ngành tôm đã đạt được những kết quả rất ngoạn mục Tổng diện tích thả nuôi tôm là 694.645 ha, xấp xỉ năm 2015 Tổng sản lượng thu hoạch đạt

657.282 tấn, tăng 9,5 tấn so với năm 2015 Mặt hàng tôm đã xuất khẩu đến 90 thị trường với kim ngạch đạt 3,15 tỷ USD tăng 6,7% so với năm 2015 Năm 2016, ngành xuất khẩu tôm của nước ta lại gặp nhiều khó khăn, Tính đến tháng 10 năm

2016 xuất khẩu nước ta đạt 2,58 tỷ USD tăng hơn 5,2% so với cùng kỳ của năm trước Năm 2017,xuất khẩu tôm đạt 3,8 tỷ USD Năm 2018 ngành tôm chưa phát huy hết tiềm lực dẫn đến xuất khẩu tôm chỉ đạt gần 3,6 tỷ USD, giảm 3,8% so với năm 2017.Mục tiêu của năm 2018 của VIệt Nam là ước tính xuất khẩu tôm đạt 4,2

tỷ USD tăng gần 10% so với năm ngoái Để đạt được mục tiêu này ngành tôm cần tập trung vào các giải pháp, đầu tiên và quan trọng nhất là hình thành chuỗi sản xuất khép kín, mà trước hết là tuyên truyền vận động nông dân vào hợp tác xã, thực hiện liên kết với các doanh nghiệp tuân thủ quy trình kỹ thuật nuôi từ giống, thức ăn cho tới xử lý môi trường

Hiện nay, ngành tôm Việt Nam chưa hoàn toàn chủ động nguồn giống đảm bảo chất lượng (vẫn phải lệ thuộc nhập khẩu/khai thác tự nhiên); tình trạng lạm dụng thuốc/hóa chất còn diễn ra dẫn đến sự quan ngại của người tiêu dùng; người nuôi

Trang 5

còn thiếu sự liên kết/hợp tác, thiếu thông tin thị trường nên vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi, hiệu quả sản xuất chưa cao; nguyên liệu sản xuất thuốc, thức ăn phụ thuộc nhập khẩu, khó kiểm soát giá cả và chất lượng; hạ tầng thủy lợi nhiều nơi chưa hoàn thiện, hệ thống kênh cấp, thoát nước chưa đảm bảo gây khó khăn cho hoạt động sản xuất và kiểm soát dịch bệnh; khả năng áp dụng khoa học công nghệ trong nuôi tôm, đặc biệt là đối với vùng nuôi quảng canh còn yếu dẫn đến năng suất rất thấp

Ngoài ra, biến đổi khí hậu cũng đang có những tác động lớn đối với nghề nuôi tôm nước ta

Hà Tĩnh là một trong sáu tỉnh ven biển thuộc vùng duyên hải Bắc Trung bộ có hoạt động nuôi tôm nước lợ đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội (KTXH) của người dân Trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) và ngoại ứng đi kèm đang và sẽ tiếp tục diễn ra hết sức phức tạp thì hoạt động nuôi tôm ven biển của tỉnh cũng là một trong những lĩnh vực chịu tác động lớn Tuy nhiên, cho đến nay, các nghiên cứu về tác động của BĐKH và ngoại ứng đến lĩnh vực nuôi tôm nước lợ của tỉnh Hà Tĩnh vẫn còn hạn chế Chính vì vậy, để phát triển nuôi tôm bền vững, cần phải đánh giá được tác động của BĐKH và ngoại ứng và xây dựng được các giải pháp thích ứng nhằm phát huy và tận dụng hiệu quả các tác động có lợi, hạn chế các tác động bất lợi từ chính BĐKH ngoại ứng gây ra

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CHUNG, THỜI GIAN, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

1 Địa điểm nghiên cứu.

1.1 Địa điểm nghiên cứu tác động cấp tỉnh.

1.2 Địa điểm điều tra khảo sát đánh gía ở cấp cộng đồng.

2 Thời gian nghiên cứu.

3 Nội dung nghiên cứu.

4 Phương pháp luận.

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 thu thập thông tin.

5.2 xây dựng mô hình

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ THẢO LUẬN.

1 Hiện trạng nuôi tôm nước lợ ở ven biển hà tĩnh.

Trang 6

1.1 Đặc điểm chung.

Hà Tĩnh là một trong sáu tỉnh ven biển thuộc vùng duyên hải Bắc Trung bộ có hoạt động nuôi tôm nước lợ đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội (KTXH) của người dân Trong bối cảnh (BĐKH) đang và sẽ tiếp tục diễn ra hết sức phức tạp thì hoạt động nuôi tôm ven biển của tỉnh cũng là một trong những lĩnh vực chịu tác động lớn Tuy nhiên, cho đến nay, các nghiên cứu về tác động của BĐKH đến lĩnh vực nuôi tôm nước lợ của tỉnh Thanh Hóa vẫn còn hạn chế, chủ yếu là các nghiên cứu mang tính định tính, riêng lẻ, chưa lượng hóa được cụ thể các ảnh hưởng của BĐKH Chính vì vậy, để phát triển nuôi tôm bền vững, cần phải đánh giá được tác động của BĐKH và xây dựng được các giải pháp thích ứng nhằm phát huy và tận dụng hiệu quả các tác động có lợi, hạn chế các tác động bất lợi từ chính BĐKH Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn như vậy, dựa trên tiếp cận tổng hợp giữa nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng người dân địa phương và nghiên cứu thống kê và kinh tế học, tác giả đã thực hiện đề tài nghiên cứu luận án tiến sỹ về

“Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến nuôi tôm nước lợ ven biển tỉnh Thanh Hóa”

Theo số liệu thống kê, Hà Tĩnh hiện có khoảng 7.653ha diện tích nuôi trồng thủy sản, với tổng số 17.975 cơ sở, gồm: 17.523 cơ sở nuôi nước mặt, 427 cơ sở nuôi lồng bè và 22 cơ sở sản xuất giống

Diện tích nuôi thủy sản qua các năm:

Trang 7

từ biểu đồ trên ta thấy rõ

Hoạt động nuôi trồng thủy sản đã góp phẩn giúp người dân, doanh nghiệp có hoạt động trong lĩnh vực này tăng thu nhập, kinh tế phát triển nhưng cũng từ đó đã phát sinh nhiều vấn đề về môi trường đáng lo ngại, đặt ra nhiều thách thức trong công tác quản lý Trong 5 năm (2011-2015), toàn tỉnh đã chuyển đổi thành công trên 100 ha từ đất cát hoang hóa hoặc trồng cây hiệu quả thấp sang nuôi tôm trên cát cho năng suất, hiệu quả vượt trội, đồng thời, phát triển mới hàng chục trang trại nuôi tôm trên cát cho doanh thu trên 2 tỷ đồng/ha/năm, diện tích nuôi tôm trên cát năm 2015 ước đạt 160 ha, tăng 4 lần so với năm 2011

Thực trạng ô nhiễm từ việc nuôi tôm tại tỉnh hà tĩnh:

Tình trạng nước thải từ các trang trại nuôi tôm gây ô nhiễm diễn ra ở Hà Tĩnh đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, bởi rất nhiều cơ sở được phát hiện xả thải không qua xử lý ra môi trường, nguồn chất thải vượt quá quy chuẩn cho phép:

Nuôi tôm nước lợ được xem là một lợi thế để phát triển kinh tế tại Hà Tĩnh, diện tích tập trung ở các huyện ven biển như Nghi Xuân, Thạch Hà, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh… Qua khảo sát của cơ quan chức năng cho thấy đa phần ở các khu vực chăn nuôi gây ô nhiễm có sự xuất hiện các thành phần độc hại cần phải được xử

lý triệt để trước lúc thải ra môi trường Chất thải trong nuôi tôm chủ yếu là bùn thải chữa phân, thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư của các loại vật tư

sử dụng như: hóa chất, vôi và các loại khoáng chất Diatomit, Dolomit…Hoạt động

xả nước thải chưa qua xử lí ra môi trường của các cơ sở nuôi tôm khiến người dân

Trang 8

xung quanh sống dở chết dở vì mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, môi trường bị ô nhiễm đến mức báo động.Nhiều cơ sở còn tự ý lắp đặt đường ống dẫn nước thải trực tiếp nối từ trạm tôm ra bên ngoài

Nước thải từ cơ sở nuôi tôm chưa qua xử lí thải ra môi trường

Hiện nay, các hình thức nuôi như nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh, quảng canh, quảng canh cải tiến kết hợp, nuôi tôm trên cát…đang được đẩy mạnh Lợi nhuận “khủng” từ nuôi tôm đã thu hút nhiều doanh nghiệp nhảy vào đầu tư nuôi trồng Chỉ tính riêng hình thức nuôi tôm trên cát đã có 91 tổ chức, cá nhân hoạt động (24 công ty, HTX, 2 trại thực nghiệm và 65 hộ gia đình) Vùng nuôi lớn nhất tập trung ở các huyện Cẩm Xuyên (133,26 ha) và Thạch Hà (133 ha).Một chủ doanh nghiệp nuôi tôm kỳ cựu ở Hà Tĩnh chia sẻ: Những năm trước, khi môi trường còn trong lành, nguồn nước sạch chưa bị nhiễm khuẩn, rất thuận lợi cho việc nuôi tôm Thế nhưng, những năm trở lại đây, từ thành công của một số mô hình điểm, nhiều doanh nghiệp, hộ gia đình lao vào nuôi tôm bất chấp tất cả Cộng với cơ quan chức năng cấp phép hàng loạt, quy hoạch không chi tiết, cụ thể, quản lý không chặt

đã dẫn đến nhiều chủ nuôi tôm “bể” nợ Thực tế, việc phát triển nhiều mô hình, mở rộng diện tích nuôi nhưng xem nhẹ những tác động xấu đến môi trường, thiếu giải pháp bảo vệ đã tạo nên áp lực nặng nề đối với môi trường Từ việc ô nhiễm môi trường đã quay trở lại làm hại chính người nuôi

Qua rà soát của cơ quan chức năng, tình trạng lạm dụng các loại hóa chất cấm, độc hại; không chú trọng công tác bảo vệ môi trường, không xây dựng, vận hành, sử

Trang 9

dụng các công trình xử lý chất thải và thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường…

ở các cơ sở NTTS trên địa bàn Hà Tĩnh đang diễn ra phức tạp Phân tích của Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Tĩnh chỉ ra rằng, quá trình chăn nuôi nhiều cơ sở sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, chất kháng sinh để xử lý bệnh cho tôm, không chỉ gây tác động xấu đến môi trường sản xuất mà còn làm ảnh hưởng đến môi trường Ngoài ra, vẫn còn tồn tại những cơ sở để xảy ra tình trạng bơm bùn thải trực tiếp ra các kênh nội đồng, thải nước trực tiếp ra các kênh thủy lợi hoặc xả trực tiếp ra biển khiến nguy cơ lây lan dịch bệnh, vừa gây ô nhiễm trực tiếp cho nguồn nước ngầm, nước mặt và gián tiếp ảnh hưởng đến môi trường sống cho người dân

Không những vậy, các nguồn thải từ cơ sở NTTS không đảm bảo ra sông rạch đã tác động làm cho môi trường nước bị biến đổi Chất thải trong NTTS chủ yếu là bùn thải chứa phân của các loài thủy sản, nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư của vật tư sử dụng như hóa chất, vôi, khoáng chất, lưu huỳnh lắng đọng…gây nguy cơ ô nhiễm hữu cơ cho nguồn nước xung quanh

Theo Sở TN&MT Hà Tĩnh, hiện trạng xử lý chất thải tại các dự án nuôi tôm trên cát hiện nay, một số vùng đã có hệ thống thu gom nước thải tập trung bằng đường ống

bê tông trước khi thoát ra biển như vùng nuôi tôm 53 ha tại xã Cẩm Hòa (huyện Cẩm Xuyên) Nhưng, có nhiều cơ sở chỉ bố trí 1 đến 2 ao lắng để lắng lọc nước thải trước khi thải ra môi trường Có rất nhiều cơ sở không bố trí ao lắng hoặc ao lắng không đảm bảo khả năng chứa và lắng lọc nước thải

Tình trạng dịch bệnh chưa có biện pháp xử lí khiên các hộ nuôi tôm lao đao Năm

2017, dịch bệnh hoại tử gan tụy và bệnh đốm trắng xẩy ra tại vùng nuôi trên cát các

xã Thạch Trị, Thạch Lạc (Thạch Hà); Cẩm Hòa (Cẩm Xuyên); Xuân Yên, Xuân Phổ (Nghi Xuân); Kỳ Phương (TX Kỳ Anh)… với tổng diện tích 27,8 ha Năm

2018, diện tích bị dịch bệnh hoại tử 12,4 ha, tại các xã Thạch Trị, Cẩm Dương (Cẩm Xuyên) Qua kiểm tra các ao nuôi nhỏ lẻ ở Cẩm Dương cho thấy, phần lớn các hộ nuôi trên địa bàn không sử dụng ao lắng, xử lý nước, bùn thải mà xả lộ thiên, trực tiếp ra môi trường Với việc quản lý môi trường như vậy, ngoài ô nhiễm môi trường chung thì nguy cơ dịch bệnh luôn hiện hữu Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi

- ngoài nguyên nhân khách quan do thời tiết bất lợi thì nguyên nhân chủ quan từ việc các hộ nuôi không tuân thủ xử lý môi trường khiến dịch bệnh lây lan, khó kiểm

Trang 10

soát Cụ thể, việc xây dựng hạ tầng của từng cơ sở nuôi không đồng bộ, nhất là ống cấp nước của cơ sở nuôi này đặt sát vị trí ống xả của cơ sở khác, không có ao lắng nước cấp Tháng 5/2018, qua kiểm tra mẫu nước ao nuôi và ao chứa tại một số địa phương, cơ quan chuyên môn đã phát hiện có vi khuẩn vibrio vượt ngưỡng cho phép.Ngoài ra, còn có thể kể đến một số nguyên nhân khác như: Các hộ nuôi chưa thực hiện quản lý tốt các yếu tố môi trường ao nuôi, kiểm soát mầm bệnh trong quá trình nuôi, khai báo dịch chậm hoặc không khai báo, tháo xả nước và tôm bị chết, bị bệnh ra ngoài môi trường chưa qua xử lý

1.1 Đặc điểm đối tượng nuôi.

Nuôi trồng thủy sản là hoạt động của con người đem con giống (tự nhiên hoặc

nhân tạo) thả vào môi trường nuôi (ao nuôi hoặc thiết bị nuôi như lồng, bè ) và đối tượng nuôi được sở hữu trong suốt quá trình nuôi

Nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ (Aquaculture, backyard) là loại hình nuôi trồng theo sở thích, sản phẩm tự tiêu thụ hay để bán, sử dụng nguồn lực tự có, là “sân sau” với nguồn nước và năng lượng tự có

Nuôi trồng thủy sản nước lợ (Aquaculture, brackishwater) là hình thức nuôi các đối tượng thủy sản trên vùng nước lợ

Nuôi trồng thủy sản bằng nguồn giống khác thác tự nhiên (Aquaculture, capture-based) là hình thức thu gom “giống” ở ngoài tự nhiên từ các giai đoạn con non đến con trưởng thành, sau đó nuôi tiếp đến cỡ thương phẩm với việc sử dụng các kỹ thuật nuôi

Nuôi trồng thủy sản thương mại (Aquaculture, commercial) là những cơ sở nuôi trồng thủy sản với mục đích thu được lợi nhuận tối đa Nuôi thương mại được người sản xuất thực hiện ở cả quy mô lớn và nhỏ, tham gia tích cực vào thị trường tiêu thụ sản phẩm, đầu tư kinh doanh (bao gồm cả tài chính và lao động) và tham gia vào bán các sản phẩm của họ ngoài trang trại

Nuôi trồng thủy sản quảng canh (Aquaculture, extensive) Hệ thống sản xuất này được đặc trưng bởi: mức độ kiểm soát thấp (về môi trường, dinh dưỡng, địch hại, cạnh tranh, tác nhân gây bệnh); chi phí sản xuất thấp, công nghệ thấp, và hiệu quả sản xuất thấp (năng suất không quá 500 kg/ha/năm); phụ thuộc nhiều vào khí hậu và

Ngày đăng: 19/12/2019, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w