1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế môi trường các nhân tố ảnh hướng đến sản lượng nông nghiệp việt nam 2006 2018

32 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 701,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao, dù tỷtrọng nông nghiệp không lớn nhưng khối lượng nông sản vẫn khá lớn, đảm bảo cung cấp đủcho đời sống con người những sản phẩ

Trang 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp Nó không chỉ làmột ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở đểphát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng, vật nuôi Chúng pháttriển theo quy luật sinh học nhất định, con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh,phát triển và diệt vong của chúng mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các quy luật để cónhững giải pháp tác động thích hợp với chúng Mặt khác quan trọng hơn là phải làm chongười sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đónhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng ( Vũ Đình Thắng và cộng sự, 2005 )

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, nhất là ở các nước đang pháttriển Ngành nông nghiệp sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng vàvật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một

số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt,ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộngcòn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản

Theo nhà khoa học Nguyễn Thế Nhã và Vũ Đình Thắng (2004): ruộng đất trong nôngnghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được; đối tượng của sản xuất nôngnghiệp là cơ thể sống – cây trồng và vật nuôi; sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao vàphụ thuộc vào điều kiện tự nhiên

Nông nghiệp có hai loại chính là nông nghiệp thuần túy (nông nghiệp sinh nhai) vànông nghiệp chuyên sâu Nông nghiệp thuần túy là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vàohạn chế, không có sự cơ giới hóa, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính người nôngdân Nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trongtất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chănnuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vàomục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu

Ngoài những đặc điểm chung, nông nghiệp nước ta còn có những đặc điểm riêng cần chú

ý Thứ nhất, nông nghiệp nước ta đang từ tình trạng lạc hậu tiến lên xây dựng nền nông nghiệpsản xuất hàng hóa theo định hướng XHCN không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa

Thứ hai, nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha trộng tính chất ôn đới,nhất là ở miền Bắc và được trải rộng trên 4 vùng rộng lớn, phức tạp: Trung du, miền núi, đồngbằng và ven biển

1.2 Vai trò và ảnh hưởng của nông nghiệp

Kể từ sau Đổi mới (1986), ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu tolớn và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nông nghiệp pháttriển đã đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, tạo việc làm và thu nhập cho 70%dân cư, là nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế đất nước

1.2.1 Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội Lương

thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của

con người cũng như phát triển kinh ế - xã hội của một đất nước Xã hội càng phát triển thì đờisống của con người ngày càng được nâng cao, cùng với đó là nhu cầu về lương thực thực phẩmcũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại Thực tiễn lịch sử các nước trên thếgiới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng khi quốc gia đó đã

Trang 2

có an ninh lương thực Ở những nước đang phát triển, nhất là những nước còn nghèo, đại bộphận sống bằng nghề nông Tuy nhiên, ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao, dù tỷtrọng nông nghiệp không lớn nhưng khối lượng nông sản vẫn khá lớn, đảm bảo cung cấp đủcho đời sống con người những sản phẩm tốt, cần thiết.

1.2.2 Ngành nông nghiệp ảnh hưởng đến các ngành khác và kinh tế cả nước

Nguyên liệu từ nông nghiệp là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của các ngành côngnghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Thông qua nông nghiệp chế biến, giá trị của sảnphẩm nông nghiệp tăng nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa, mởrộng thị trường

Với vai trò là hoạt động kinh tế, nông nghiệp đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tếquốc dân, cung cấp các cơ hội đầu tư cho khu vực tư nhân và tạo động lực phát triển cácngành công nghiệp liên quan tới nông nghiệp, bao gồm cả công nghiệp chế biến nông, lâm,thủy sản (phục vụ đầu ra cho nông nghiệp) và cả công nghiệp hóa chất, cơ khí (phục vụ đầuvào cho nông nghiệp) Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, trong các nước đang phát triển,nông nghiệp đóng góp 29% GDP và giải quyết việc làm cho 65% lực lượng lao động xã hội.Không những thế, các ngành công nghiệp và dịch vụ gắn kết với nông nghiệp trong các chuỗigiá thị trường chiếm hơn 30% GDP trong các quốc gia chuyển đổi và đô thị hóa

Kể từ năm 2007, Việt Nam chứng kiến tình trạng suy thoái của nền kinh tế do nhữngyếu kém trong quản lý chính sách vĩ mô trong nước và ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảngkinh tế thế giới, trong bối cảnh khó khăn, sản xuất nông nghiệp nổi lên như một mảng sángđáng khích lệ nhất của nền kinh tế Năm 2008 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới,

cả hai ngành công nghiệp và dịch vụ đều gặp khó khăn nên tốc độ tăng trưởng giảm mạnh,duy chỉ có nông nghiệp vẫn duy trì tốc độ tăng và tăng cao nhất trong giai đoạn từ 2007 -

2015, nhờ đó giúp hạn chế bớt khó khăn cho nền kinh tế Sản xuất nông nghiệp đã có sự tăngtrưởng khá toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, bước đầu đã hình thành một nền sản xuấthàng hóa, nhiều vùng chuyên canh đã được xác lập, một số hàng nông sản của Việt Nam đãđược thị trường thế giới biết đến và khẳng định vị thế trên thị trường thế giới (Trung tâmThông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia, 2017)

Đóng góp của nông nghiệp trong nền kinh tế giai đoạn 2007 – 2015 (Theo GSO)

Trang 3

1.2.3 Ngành nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu

Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn Các loại nông, lâmthủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp Vì thế, ởcác nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm,thủy sản

Thương mại nông sản Việt Nam 2000 – 2013 (UN, 2015)

Trước năm 1990, Việt Nam không đóng vai trò quan trọng tại các thị trường hàng hóanông nghiệp thế giới Nhưng giai đoạn 2011 - 2013, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩulớn nhất thế giới đối với hạt điều và hạt tiêu đen, là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai đối cà phê

và sắn, là nước xuất khẩu thứ ba thế giới về gạo, thủy sản, và là nước xuất khẩu lớn thứ 5 thếgiới về cao su

Việc sản xuất nuôi trồng thủy sản bùng nổ biến thủy sản trở thành một trong những mặthàng xuất khẩu chính của đất nước, chiếm khoảng 6% tổng kim ngạch xuất khẩu trong giaiđoạn 2010 - 2012 Từ năm 2009, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu thủy sản lớn thứ tưtrên toàn thế giới, trong đó Liên minh châu Âu, Mỹ và Nhật Bản là thị trường chính cho xuấtkhẩu (Comtrade UN, UN, 2014)

Trang 4

Thị phần xuất khẩu một số hàng hóa Việt Nam 2000 – 2013 (UN, 2015)

1.2.4 Ngành nông nghiệp ảnh hưởng đến môi trường

Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, kết hợp với gia tăng dân số và mở rộng sản xuất nôngnghiệp đang gây sức ép lớn đối với môi trường Việc phá rừng để mở rộng nhanh chóng đấtnông nghiệp trong những năm 1990 chỉ được khắc phục phần nào qua nỗ lực trồng rừng trong

15 năm qua Trong khi diện tích có rừng nói chung tăng lên, rừng nguyên sinh tiếp tục biếnmất

Nông nghiệp tạo ra áp lực đáng kể và ngày càng tăng tới nguồn tài nguyên nước dongành này sử dụng 95% lượng nước ngọt Hơn nữa, do việc sử dụng quá nhiều phân bón,thuốc trừ sâu và hóa chất khác, ngành nông nghiệp đã góp phần làm suy thoái chất lượngnguồn nước và đất Quá trình canh tác, sản xuất nông nghiệp dễ gây ra xói mòn ở các triềndốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành nông nghiệp

Có hai loại nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nông nghiệp là nhân tố tự nhiên vànhân tố kinh tế xã hội

Nhân tố tự nhiên bao gồm: Đất, khí hậu, nước, sinh vật

Nhân tố kinh tế xã hội bao gồm: Dân cư lao động, cơ sở vật chất- kĩ thuật, chính sáchphát triển nông nghiệp, thị trường trong và ngoài nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Trang 5

CHƯƠNG 2 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1 Nhiệt độ và lượng mưa

Năm 2011, ba nhà khoa học thuộc Đại học Công nghệ Tshwane, Nam Phi đưa ra môhình kinh tế lượng, chứng minh mức độ ảnh hưởng của biến đổi khi hậu lên sản lượng nôngnghiệp của Nigeria Họ tập trung nghiên cứu hai nhân tố: nhiệt độ và lượng mưa là các biếnđộc lập, các nhân tố còn lại được đưa vào hệ số tự do U và sản lượng là biến phụ thuộc duynhất của mô hình

Mô hình:

Trong đó Yt: sản lượng năm t

X1t: nhiệt độ trung bình năm t (*C)X2t: lượng mưa trung bình năm (mm)

Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh, nhiệt độ và lượng mưa là 2 nhân tố có tính chất quyết địnhđến sản lượng nông nghiệp Trong điều kiện phạm vi nghiên cứu là đất nước Nigeria, nơi nhiệt độcao quanh năm, lượng mưa tương đối ít, một sự thay đổi trong điều kiện môi trường cũng có thểlàm ảnh hưởng đến năng suất sản xuất của nền nông nghiệp nước này Các nhà khoa học đã đưa rakết luận rằng: nếu nhiệt độ tăng lên, sản lượng nông nghiệp sẽ giảm Trong khi đó, bất kì một sựgia tăng lượng mưa nào, cũng làm sản lượng nông nghiệp tăng lên

Sau khi nghiên cứu, mức độ phù hợp của mô hình là R2 = 0,971, điều đó chứng tỏnghiên cứu trên có mức độ chính xác và phù hợp cao với thực tiễn Tuy nhiên, nhược điểmcủa mô hình chính là việc chưa đánh giá đầy đủ mức độ ảnh hưởng đến sản lượng nôngnghiệp của các nhân tố khác (con người, máy móc phụ trợ, thiên tai ) Hơn nữa, trong quátrình xử lý số liệu để đưa vào nghiên cứu, các nhà khoa học đã xử lý trước và gây nên độ lệchtương đối của số liệu (Impacts of climate change on rice agricuture in Nigeria, 2011)

2.2 Thiên tai

Tại Việt Nam, chưa có nhiều mô hình kinh tế lượng, nghiên cứu mức độ ảnh hưởng củathiên tai đến sản lượng nông nghiệp, cho dù thiên tai là một trong những đặc trưng của thờitiết nước ta Tuy nhiên tại Philipines – đất nước có điều kiện thời tiết và khí hậu khá tươngđồng với nước ta đã có những nghiên cứu cụ thể để xác định mức độ ảnh hưởng của các hiệntượng thời tiết cực đoan lên nền sản xuất nông nghiệp của nước này

Năm 2013, Viện nghiên cứu phát triển Philipiné đưa ra đề tài “Impacts of NaturalDisasters on Agriculture, Food Security, and Natural Resources and Environment in thePhilippines” (Ảnh hưởng của thảm họa thiên nhiên lên nông nghiệp, an ninh lương thực vànguồn lực tự nhiên và môi trường) do hai nhà nghiên cứu Damilo C Israel và Roehlano M.Briones tiến hành

Về lý thuyết, họ cho rằng: “thảm họa thiên nhiên là hiện tượng tự nhiên, gây ra nhữnghậu quả lớn cho sinh vật sống trên trái đất“

Trang 6

Về phương pháp kinh tế lượng, sử dụng mô hình AMPLE:

QSi,t = β0 + β 1QSi,t-1 + β2QSi, t-1 + β3typhoon i,t + β4tt

Trong đó: QS: tổng sản lượng gạo

Typhoon: số cơn bãoi: số vùng được nghiên cứut: số năm nghiên cứuKết quả nghiên cứu chỉ ra: các hiện tượng thời tiết bất thường, mà nổi bật là bão có ảnhhưởng rất tiêu cực đến sản lượng nông nghiệp của Philipines Trong giai đoạn 2007-2010,Philipin mất hơn 9 triệu Peso Philipin từ hệ quả của bão lên nền nông nghiệp nước này Từ đókết luận, sự suy giảm lượng tiền tệ như vậy là do sự sụt giảm trong sản lượng nông nghiệp(khi các nhà khoa học đã điều chỉnh giá để tính về các mức sản lượng để so sánh)

Mô hình đã đưa ra những kết luận quan trọng về vai trò tiêu cực của các hiện tượngthiên nhiên, điển hình là bão với nền sản xuất nông nghiệp tại Philippines một cách địnhlượng Tuy nhiên, thiếu sót của mô hình là mau chóng kết luận, ảnh hưởng của bão là hoàntoàn tiêu cực, trong khi thực tế, các nhà nghiên cứu ở Bangladesh (2013) cũng chỉ ra, sự xuấthiện của một số cơn bão cũng đem lại hiệu ứng tích cực, khi bổ sung lượng ẩm cho đất trồng

2.3 Các nhân tố: lao động, máy móc, phân bón

Năm 2009, nhà nghiên cứu Kavi Kumar cho ra đời nghiên cứu: “Climate Sensitivity ofIndian Agriculture Do Spatial Effects Matter?” (Mức độ nhạy cảm của nông nghiệp Ấn Độ đốivới môi trường) Trong đó, nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp kinh tế lượng với môhình hồi quy OLS, từ đó thấy được những thay đổi trong sản lượng bằng cách tính toán sự thayđổi trong giá trị đầu ra của nền nông nghiệp (dữ liệu nghiên cứu từ năm 1956 -1999)

Mô hình nghiên cứu:

NR = f (Tj, T2j, Rj, R2j, Tj, TjRj, MT, đất đai, bò kéo, máy kéo, lao động, trình độ lao động, máy cày, nước tưới, giống cây)

Các nhân tố: độ ẩm không khí, đất đai, máy kéo, lao động, trình độ lao động, máy cày,nước tưới và giống cây tỷ lệ thuận với sản lượng nông nghiệp, tức là khi mỗi nhân tố tăngthêm 1 đơn vị, sản lượng nông nghiệp sẽ tăng lên một lượng nhất định

Điểm nổi bật của mô hình là đã đưa ra những kết luận tương đối đầy đủ về các nhân tốảnh hưởng đến sản lượng và giá trị của nông nghiệp Ông đã đưa vào mô hình những nhân tốngoài tự nhiên, chỉ ra một cách định lượng mức độ ảnh hưởng của những nhân tốt này lên nềnsản xuất nông nghiệp của hầu khắp đất nước Ấn Độ

Trang 7

Tuy nhiên, bài nghiên cứu cũng thừa nhận, vì dữ liệu được đem vào nghiên cứu là từnhững năm 1956 nên nhiều năm dữ liệu còn thiếu và có năm, tác giả đã dùng các phươngpháp ước lượng để dự đoán dữ liệu Thêm vào đó, tác giả cũng dùng phương pháp nghiên cứugián tiếp, nghiên cứu giá trị rồi mới kết luận sản lượng Mức độ phù hợp của mô hình cũngcần được cải thiện R2 = 0.7.

2.4t So sánh và kết luận

Các nghiên cứu trên là các nghiên cứu theo phương pháp kinh tế lượng, được thực hiện trênnhững vùng lãnh thổ ngoài Việt Nam (Nigeria, Philippin và Ấn Độ) Đây là những nước đang tậptrung nhiều nguồn lực và ngân sách cho việc thay đổi và cải cách nông nghiệp Chính vì thế,những nghiên cứu về tác động của các nhân tố tự nhiên và nhân tạo đóng một vai trò quan trọng

để đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng suất sản xuất nông nghiệp tại các nước này

Mỗi mô hình nghiên cứu đều chỉ ra, theo phương pháp định lượng, tác động của các nhân tốlên sản lượng nông nghiệp thông qua sự biến đổi của một biến độc lập sẽ ảnh hưởng như thế nàođối với biến phụ thuộc sản lượng Mỗi mô hình đều có những ưu – nhược điểm riêng và vì phạm

vi nghiên cứu là các nước trên thế giới, nên giữa Việt Nam và các nước trên vẫn tồn tại nhữngđiểm khác biệt về điều kiện tự nhiên, và cả trình độ công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp

Do đó, bài viết xin được phép chọn lọc các nhân tố sau để đưa vào nghiên cứu:

Trang 8

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

3.1 Mô hình lý thuyết

Dựa vào các nghiên cứu trước đây, nhóm nghiên cứu chọn ra các biến sau để đánh giátác động đến sản lượng nông nghiệp của mỗi biến:

3.1.1 Diện tích:

Đất nông nghiệp là khu vực đất thích hợp cho sản xuất, canh tác nông nghiệp Đất đai là

tư liệu sản xuất quan trọng nhất trong nông nghiệp; cây trồng - vật nuôi là đối tượng lao độngtrong sản xuất nông nghiệp Chính vì thế, nhân tố quan trọng hàng đầu đối với sản xuất nôngnghiệp là đất đai rồi mới đến khí hậu và nguồn nước Đất đai ảnh hưởng quyết định đến qui

mô, cơ cấu và phân bố nông nghiệp (đặc biệt là với ngành trồng trọt)

Ngoài ra, diện tích đất nông nghiệp còn phụ thuộc vào chính sách kinh tế của từng quốcgia Những quốc gia có diện tích đất nông nghiệp lớn thì có cơ hội và khả năng tăng sản lượngnông nghiệp tốt hơn Biến này được lấy từ mô hình của Kavi Kumar trong đề tài nghiên cứu

“mức độ nhạy cảm của nông nghiệp Ấn Độ đối với môi trường” năm 2009

Nước ta có 2 nhóm đất chính (feralit và đất phù sa) Tuỳ theo các nhân tố, điều kiệnhình thành và sự tác động của con người mà các loại đất trên có sự phân hoá khác nhau.Đất miền núi, chủ yếu là đất feralit Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới-ẩm-gió mùa, phầnlớn vùng đồi núi của nước ta là đất feralit, lượng khoáng nguyên thấp, hàm lượng mùn khôngcao, đất chua và có màu đỏ, hoặc đỏ-vàng của oxit sắt thích hợp với cây công nghiệp Ngoài

ra, còn có một số loại đất khác: Đất xám phù sa cổ (rìa Đồng bằng sông Hồng và nhiều nhất ởĐông Nam Bộ) Đất này thích hợp với cây công nghiệp và cây ăn quả Đất đen (macgalit)phát triển trên đá ba zơ (đá ba dan, đá vôi), thường gặp ở thung lũng đá vôi (nhiều nhất ởmiền Bắc), diện tích tuy không lớn nhưng rất thích hợp với các cây công nghiệp có giá trị(quế, chè, thuốc lá, ) Tốt nhất trong các loại đất đồi núi nước ta là đất ba dan ( 2,0 triệu ha),tập trung ở Tây Nguyên, một phần Đông Nam Bộ và có một vệt từ Phủ Quì (Nghệ An) kéodài đến Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ (Quảng Trị), loại đất này rất thuận lợi cho cây côngnghiệp (cao su, cà phê ) qui mô lớn

Đất ở đồng bằng, quan trọng nhất là đất phù sa 3,40 triệu ha (9,5% diện tích cả nước),đây là loại đất tốt, hàm lượng dinh dưỡng cao, có độ pH trung tính, rất thích hợp cho trồnglúa Ngoài ra, ở các vùng đồng bằng còn có các loại đất khác như đất chua mặn, đất mặn, venbiển, đất cát, đất glây hoá trong các vùng trũng, đất lầy thụt than bùn, loại đất này ít có giá trịđối với sản xuất nông nghiệp và việc cải tạo cần nhiều vốn đầu tư

Thực trạng của việc sử dụng đất hiện nay: Quá trình khai thác lãnh thổ cho đến năm

2008, chúng ta mới đưa vào sử dụng 80,0% diện tích đất tự nhiên (trong đó 28,45% là đấtnông nghiệp) Vốn đất thuận lợi cho trồng lúa hầu như đã khai thác hết, để tận dụng tiếm năngcủa tự nhiên ở Đồng bằng sông Hồng nhân dân đã tìm mọi biện pháp để tăng vụ, nâng cao hệ

số sử dụng đất bằng cách thâm canh và đầu tư lao động sống để nâng cao năng suất Phần lớnđất nông nghiệp được trồng cây hàng năm, có thể luân canh - tăng vụ với lúa (như lúa - đay,lúa - thuốc lá); phần còn lại chủ yếu trồng cây lâu năm, nhiều nhất là Tây Nguyên, Đông Nam

Bộ trên vùng đất bazan

Vốn đất và khả năng mở rộng lại có sự khác nhau giữa các vùng lãnh thổ Năm 2008, cảnước có trên 33,0 triệu ha đất tự nhiên; sử dụng vào sản xuất nông nghiệp 9,42 triệu ha(28,45%), đất lâm nghiệp 14,8 triệu ha (44,74 %), đất chuyên dùng và thổ cư 407,0 nghìn ha(6,56%), đất chưa sử dụng 6,7 triệu ha (20,24%) Như vậy đất chưa sử dụng còn lớn, nhưng

Trang 9

việc mở rộng diện tích lại rất khó khăn, chủ yếu là đất dốc, thiếu nước, xói mòn và thoái hoá;đất đồng bằng chưa sử dụng còn rất ít, chủ yếu là đất phèn, đất mặn, đất ngập úng đòi hỏi phảiđầu tư lớn Hiện nay, đất nông nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa) sử dụng vào mục đích khácnhư công nghiệp, giao thông, đô thị ngày càng nhiều Theo dự báo trong vòng 10 năm tới,đất nông nghiệp có thể mất đi mỗi năm ~ 2,8 vạn ha (trong đó đất trồng lúa ~ 1,0 vạn ha).Điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp.

3.1.2 Lao động nông nghiệp

Lao động nông nghiệp và sản lượng nông nghiệp có mối quan hệ hai chiều với nhau.Lượng lao động tăng vừa là động lực và cơ sở cho nông nghiệp phát triển Sự tương tác giữalao động nông nghiệp và sản lượng nông nghiệp Việt Nam sẽ được chỉ rõ trong mô hình Biếnnày được lấy từ mô hình của Kavi Kumar trong đề tài nghiên cứu “mức độ nhạy cảm củanông nghiệp Ấn Độ đối với môi trường” năm 2009

Trong điều kiện nền kinh tế còn chậm phát triển, lực lượng lao động nước ta vẫn tập trungnhiều trong khu vực nông nghiệp và mức độ tập trung sẽ còn cao hơn nữa khi các ngành kinh tếkhác chỉ thu hút lao động trong các đô thị và lao động có trình độ chuyên môn – kĩ thuật Trongnông nghiệp, tình trạng phân công lao động diễn ra chậm chạp, mặc dù trong những năm gần đâylao động trong nông nghiệp có chiều hướng giảm về tỉ trọng, nhưng vẫn còn cao Số dân nước tađông, gia tăng còn lớn Vì vậy, nguồn lao động rất dồi dào và thường xuyên được bổ sung(3%/năm), chất lượng cũng đã được nâng hơn Tuy chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới, song

nó vẫn được coi là nhân tố quan trọng để phát triển nông nghiệp cả theo chiều rộng (khai hoang

mở rộng diện tích) và theo chiều sâu (thâm canh) Nguồn lao động đông cũng là một khó khăncho nông nghiệp, số lao động hàng năm tăng với nhịp độ nhanh, phần lớn lại là lao động phổthông, kĩ thuật thấp đã làm nóng thêm tình hình việc làm ở khu vực này Mặt khác, nguồn laođộng sử dụng chưa hợp lý; phân bố cũng không đều giữa các ngành và các vùng (tập trung quáđông ở 2 đồng bằng) và chủ yếu lại ở trong ngành trồng trọt

Từ sau đổi mới (đặc biệt từ đầu thập kỷ 90), trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn cónhiều thay đổi, bắt nguồn từ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Cụ thể là sự ra đờicủa các hoạt động kinh doanh mới như nuôi gia cầm gia súc theo hướng chuyên môn hóa;nuôi trồng đặc sản gắn với nhu cầu thị trường; trồng cây ăn quả, cây thực phẩm, cây cảnh; sựhình thành các dịch vụ nông nghiệp và nông thôn như cung ứng phân bón, giống cây - con,bảo vệ cây trồng, vật nuôi, vận tải nông sản và nhiều dịch vụ khác Sự khôi phục các ngànhnghề thủ công truyền thống sau một thời bị mai một.v.v Các hoạt động trên đã góp phần làmthay đổi cơ cấu sử dụng lao động nông nghiệp, đã xuất hiện nhiều lao động phi nông nghiệp,

tỉ trọng lao động phi nông nghiệp tăng dần từ vùng ven đô thị đến vùng thuần nông

Về trình độ tiếp thu kĩ thuật, thì lực lượng lao động (nhất là lao động trẻ) trong nôngnghiệp có đủ sức đón nhận các chương trình khuyến nông, có kinh nghiệm thâm canh trongsản xuất nông nghiệp Như vậy, nguồn lao động với tính chất 2 mặt của nó đã tạo ra cả nhữngthuận lợi và khó khăn đối với sản xuất nông nghiệp

3.1.3 Phân bón

Phân bón là “thức ăn” mà con người bổ sung cho cây trồng “Thức ăn” có thích hợp vàgiàu dinh dưỡng thì cây trồng mới sinh trưởng tốt Phân bón cung cấp các chất dinh dưỡngcần thiết cho sự sinh trưởng của cây trồng Sử dụng phân bón cân đối hợp lý sẽ thúc đẩy cácquá trình sinh trưởng của cây, đẻ nhánh, cành lá phát triển, thúc đẩy cây ra hoa nhiều và đồngloạt, tỷ lệ đậu quả cao Tạo điều kiện rễ phát triển, rễ ăn sâu, rộng giúp hạn chế đổ ngã Tăngsức đề kháng và khả năng chống chịu của cây trồng

Trang 10

Ngoài việc cung cấp các dưỡng chất cần thiết, phân bón còn tác động đến toàn bộ hệ sinhthái nông nghiệp, thúc đẩy các quá trình như phân hủy, chuyển hóa các chất….tăng khả năng

hấp thu các chất dinh dưỡng, phân giải các chất khó hấp thu thành các chất dễ hấp thu, tạođiều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển khỏe mạnh

Nếu thiếu hụt phân bón cây trồng sẽ không phát triển hay phát triển kém, cây còi cọc,khả năng đẻ nhánh thấp, cành lá ra ít, lá nhỏ, lá vàng, không ra hoa hoặc ra hoa ít, tỷ lệ đậuquả thấp, bộ rễ kém phát triển, dễ bị sâu bệnh tấn công, khả năng chống chịu kém đối với cácyếu tố bất lợi

Trong tất cả các điều kiện canh tác, khi tăng lượng phân bón sẽ làm nâng cao năng suấtcây trồng những năng suất cây trồng tăng lên không tỉ lệ thuận với lương phân bón sử dụngtăng lên mà sẽ có xu hướng giảm sút Lượng phân bón tăng lên thì năng suất sẽ tăng đến mộtgiới hạn nhất định rồi sẽ không tăng nữa mà còn bị giảm xuống do dư thừa dinh dưỡng.Phân bón ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trồng, quan trọng nhất là giai đoạn trước

ra hoa và nuôi quả/trái Sử dụng phân bón vào giai đoạn trước ra hoa là thời kỳ quyết định đến

số lượng và chất lượng ra hoa, việc bón phân để cung cấp đủ các dưỡng chất vào giai đoạnnày sẽ giúp cây ra hoa to, hoa nhiều, đồng loạt, khả năng đậu quả cao Giai đoạn cây nuôi trái/quả việc bón phân cung cấp đủ các dưỡng chất cần thiết sẽ thúc đẩy quá trình tích lũy các chấthữu cơ (tinh bột, protein, đường,…) giúp trái/quả to, nặng ký, trái đồng đều, kể cả với nhữngloại giống tốt cũng chỉ đạt năng suất cao khi sử dụng phân bón cân đối, hợp lý Biến này đượclấy từ mô hình của Kavi Kumar trong đề tài nghiên cứu “mức độ nhạy cảm của nông nghiệp

Ấn Độ đối với môi trường” năm 2009

3.1.4 Nhiệt độ

Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của thựcvật Nhìn chung tất cả các tiến trinh sinh lí, hóa học và sinh học trong thực vật đều chịu ảnhhưởng của nhiệt độ Biến này lấy từ mô hình của ba nhà khoa học thuộc đại học công nghệTshwane, Nam Phi năm 2011

Nhiệt độ tăng, hạn hán sẽ ảnh hưởng đến sự phân bố của cây trồng, đặc biệt làm giảmnăng suất Cụ thể là năng suất lúa của vụ Xuân có xu hướng giảm mạnh hơn so với năng suấtlúa của vụ mùa; năng suất ngô vụ Đông có xu hướng tăng ở Đồng bằng Bắc Bộ và giảm ởTrung Bộ và Nam Bộ

Theo dự báo, nếu không có các biện pháp ứng phó kịp thời, thì hiệu quả năng suất lúaxuân ở vùng Đồng bằng sông Hồng có thể giảm 3,7% vào năm 2020 và giảm tới 16,5% vàonăm 2070; năng suất lúa mùa sẽ giảm 1% vào năm 2020 và giảm 5% vào năm 2070 Mất đấtcanh tác trong nông nghiệp và năng suất cây trồng suy giảm sẽ đặt ra những thách thức và đedọa đời sống của nông dân, vấn đề xuất khẩu gạo và an ninh lương thực quốc gia đối với mộtquốc gia mà nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân như Việt Nam(nông nghiệp chiếm 52,6% lực lượng lao động và 20% GDP của cả nước…)

3.1.5 Độ ẩm

Độ ẩm không khí ảnh hưởng lớn tới độ ẩm của đất Để thỏa mãn sự sinh trưởng của cây,trong đất cần một độ ẩm sẵn có để cây trồng có thể hút được dễ dàng Mỗi loài cây có kíchthước rễ khác nhau và khả năng hút nước khác nhau, vì thế nhu cầu về độ ẩm cũng khác nhau.Biến này được lấy từ mô hình của Kavi Kumar trong đề tài nghiên cứu “mức độ nhạy cảm củanông nghiệp Ấn Độ đối với môi trường” năm 2009

Trang 11

Nước là yếu tố vô cùng quan trọng cho sự phát triển của cây trồng Cây trồng sống vàphát triển được nhờ chất dinh dưỡng trong đất và được nước hòa tan, đưa lên cây qua hệthống rễ Nước giúp cây trồng thực hiện các quá trình vận chuyển các chất khoáng trong đấtgiúp điều kiện quang hợp, hình thành sinh khối tạo nên sự sinh trưởng của cây trồng.

Vì vậy trong đất cần có một độ ẩm thích hợp để cây trồng hút được dễ dàng Đất ngậpúng hay thiếu nước đều ảnh hưởng không tốt cho sự sinh trưởng của cây trồng Cây trồng bịngập nước dẫn đến các tế bào rễ không hô hấp được Nên không cung cấp đủ oxy cho hoạtđộng của các tế bào rễ cùng với việc tích lũy các chất độc hại Do đó, sẽ làm chết đi các lônghút ở rễ, không thể hình thành được lông hút mới Cây không thể hút nước nên lâu ngày sẽdẫn đến héo và chết cây

Cây yêu cầu đất phải có độ ẩm thích hợp Đảm bảo sức giữ nước của đất luôn luôn béhơn sức hút nước của cây và đất có tính thấm nước tốt để độ ẩm đó nhanh chóng chuyển đếncung cấp cho cây trồng Độ ẩm đất thích hợp trong tầng đất bộ rễ hoạt động thay đổi theo yêucầu sinh lý của từng loại cây trồng Qua các thời kỳ sinh trưởng khác nhau đối với cây trồngcạn

Giới hạn trên của độ ẩm thích hợp thường trùng với độ chứa ẩm tối đa của đất Phụthuộc vào thành phần cơ giới và kết cấu đất, nằm trong phạm vi từ 70 – 85%

Giới hạn dưới thích hợp dao động xung quanh độ ẩm 60 – 70% độ chứa ẩm tối đa củađất

Lượng nước tưới cần tăng theo quá trính sinh trưởng Đat đến mức tối đa khi cây cókhối lượng thân lá lớn nhất nhưng khác nhau tùy theo loại cây trồng:

Những cây lấy hạt nhu cầu nước nhiều nhất ở thời kỳ hình thành các cơ quan sinh sản.Những loại cây lấy củ nhu cầu nước nhiều nhất ở thời kỳ phát triển củ Ở thời kỳ này,cây tiêu thụ nước với hiệu suất tích lũy chất khô cao nhất Và nước đóng vai trò quyết địnhđến năng suất cuối cùng

Cây rau yêu cầu nước nước trong suốt quá trình sinh trưởng

Tưới nước còn ảnh hưởng đến hoạt động sinh học trong đất Độ ẩm đất thích hợp cho các

vi sinh vật hoạt động gần với giới hạn nhiệt độ cần thiết cho cây trồng

Ở độ ẩm cây héo thì hoạt động của vi sinh vật bị trì trệ Độ ẩm 80 – 95% của sức chứa ẩmtối đa đồng ruộng là giới hạn thích hợp cho nấm và xạ khuẩn hoạt động Vi khuẩn phân giải

Cellulose cũng hoạt động mạnh ở giới hạn độ ẩm 85 – 90% độ chứa ẩm tối đa Độ ẩm còn ảnhhưởng hoạt động của vi khuẩn nốt sần, Trong vùng khô hạn, nốt sần của rễ cây họ đậu gầnnhư không hoạt động được Nhưng tưới đủ ẩm thì quá trình này tiến hành bình thường Dinhdưỡng đạm của cây trồng được tăng cường hơn

Nước quan trọng cho cây trồng là như thế nên cần có kế hoạch xác định thời điểm tưới câycho phù hợp bằng cách định kỳ theo dõi độ ẩm đất ở khu trồng trọt (thường từ 3 – 5 ngày) Nếu độ

ẩm xuống gần tới độ ẩm giới hạn dưới là lúc đó cần phải tưới nước Việc kiểm tra độ ẩm này đượcxác định rất dễ dàng qua việc hỗ trợ các thiết bị chuyên đo pH và độ ẩm đất

3.1.6 Lượng mưa

Lượng mưa là nguồn nước tự nhiên của cây trồng Nếu lượng mưa khan hiếm thì câytrồng khô héo Nếu lượng mưa quá nhiều thì cây trồng bị ngập úng, không phát triển được.Biến này lấy từ mô hình của ba nhà khoa học thuộc đại học công nghệ Tshwane, Nam Phi

Trang 12

Lũ lụt và nước biển dâng sẽ làm mất đất canh tác trong nông nghiệp Nếu mực nướcbiển dâng cao thêm 1m mà không có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu, thì khoảng 40% diệntích Đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích Đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của cáctỉnh khác thuộc vùng ven biển sẽ bị ngập Lũ lụt sẽ khiến gần 50% diện tích đất nông nghiệpvùng Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập chìm không còn khả năng canh tác Theo phân tíchcủa Viện Tài nguyên thế giới về ảnh hưởng của lũ lụt đến GDP, Việt Nam đứng thứ 4 trong số

164 quốc gia được khảo sát về tác hại nghiêm trọng của lũ lụt đến toàn nền kinh tế; làm thiệthại 2,3% GDP của Việt Nam mỗi năm…

Tính riêng năm 2018, thiên tai xảy ra liên tiếp trên các vùng miền cả nước (với 13 cơnbão và áp thấp nhiệt đới, 212 trận dông, lốc sét; 14 trận lũ quét, sạt lở đất; 9 đợt gió mạnh trênbiển; 4 đợt rét đậm, rét hại; 11 đợt nắng nóng, 23 đợt không khí lạnh; 30 đợt mưa lớn trêndiện rộng; lũ lớn tại thượng nguồn sông Cửu Long sau 7 năm kể từ 2011, triều cường vượtmốc lịch sử tại các tỉnh Nam Bộ, sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển nghiêm trọng tại miền Trung

và Đồng bằng sông Cửu Long …) đã gây thiệt hại về kinh tế ước tính là 20.000 tỷ đồng, làm

218 người chết và mất tích

3.1.7 Tổng cơn bão

Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu,trong đó nông nghiệp là lĩnh vực chịu tác động lớn Cụ thể, tổng sản lượng sản xuất từ trồngtrọt có thể giảm 1-5%, năng suất cây trồng chính có thể giảm đến 10%, trường hợp thời tiếtcực đoan có thể mất mùa hoàn toàn Biến đổi khí hậu, mà cụ thể là số lượng bão ngày càngảnh hưởng nghiêm trọng tới sản lượng nông nghiệp Biến này lấy từ mô hình trong đề tài “ảnhhưởng của thảm họa thiên nhiên lên nông nghiệp, an ninh lương thực, nguồn lực tự nhiên vàmôi trường” do hai nhà nghiên cứu Damilo C.Israel và Roehlano M.Briones tiến hành năm

2013 Tuy nhiên, vì các cơn bão ở Việt Nam có cường độ thay đổi thất thường nên nếu dùng

số cơn bão thì không thể hiện được hết được độ lớn của nó Vì thế, mô hình chọn biến độc lậplà: tổng các cơn bão của các năm

Chỉ tính riêng trong năm 2010, nước ta đã chịu ảnh hưởng của 11 cơn bão và nhiều đợt

lũ lụt lớn, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản Các hiện tượng bão, lũ quét, lốc đã gâythiệt hại nặng nề đến ngành trồng trọt

Bão, lũ lụt và áp thấp nhiệt đới hình thành trên Biển Đông đã gây thiệt hại nặng nề cho hoạtđộng đánh bắt thuỷ sản Có thể nói, trong số những lợi ích mà biển mang lại, kinh tế thuỷ sảnchiếm vị trí đặc biệt quan trọng, đan xen giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài Thuỷ sản đóngvai trò quan trọng trong việc bảo đảm và cải thiện sinh kế cho các cộng đồng dân cư sống

ở các vùng nông thôn ven biển và hải đảo (58% dân cư vùng ven biển chủ yếu dựa vào nôngnghiệp và đánh bắt thuỷ sản, khoảng 480.000 người trực tiếp đánh bắt hải sản, khoảng 10.000người làm nghề chế biến hải sản và 2.140.000 người cung cấp các dịch vụ liên quan đến nghềcá)(3) Biến đổi khí hậu đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản ở vùngven biển Việt Nam Việt Nam nằm trong vùng khí hậu phức tạp Tất cả các cơn bão, áp thấpnhiệt đới hoạt động ở Biển Đông đều có ảnh hưởng trực tiếp đến thời tiết Việt Nam (Hộp 1).Đặc biệt, là các cơn bão, áp thấp nhiệt đới khi đổ bộ vào vùng biển gần bờ thường có tốc độ

và hướng di chuyển không ổn định, phạm vi ảnh hưởng rộng, gây nên những đợt mưa lớn, gâyúng ngập nhiều vùng dân cư và đồng ruộng

Trang 13

3.1.8 Sau đây là bảng kí hiệu và ý nghĩa các biến:

Nhóm nghiên cứu nhận thấy sự tác động theo cấp số nhân của diện tích đất, lao động vàphân bón đối với sản lượng, vì vậy nhóm để xuất mô hình biểu diễn mối quan hệ giữa biếnphụ thuộc SL và các biến độc lập DT, DS, PB, ND, DA, CB, LM như sau:

lnSL = β1 + β2lnDT + β3lnDS + β4tlnPB + β5 ND+ β6 DA+ β7CB+ β8LM+ uiCB+ β8LM+ uiLM+ ui

Trong đó β1: hệ số chặn

β2, β3, β4, β5, β6, β7, β8 : hệ số góc

3.2 Mô hình thực tiễn

3.2.1 Thống kê số liệu

1, Đóng góp của nông nghiệp vào GDP Việt Nam

Năm Tỉ lệ (%) GDP tổng (triệu USD) GDP nông nghiệp (triệu USD)

Trang 14

2016 16.32 164105 26781.936

(Trading Economics) (Data Worldbank)

GDP được tính theo tỉ giá năm 2010

2, Diện tích đất nông nghiệp

3, Lực lượng lao động trong nông nghiệp

A, Lực lượng lao động có việc làm

Năm Tỷ lệ lao động có việc làm (%) Dân số (người) Số người có việc làm

Trang 15

B Số lượng lao động trong ngành nông nghiệp

Năm Tỷ lệ Số người có việc làm Số lượng lao động nông nghiệp

Năm Lượng phân bón tính theo đất sử Đất sử dụng được Tổng lượng phân

Trang 16

5 Nhiệt độ trung bình/năm

Tính nhiệt độ trung bình cả năm toàn quốc dựa trên 15 trạm quan trắc Lai Châu, Sơn La,Tuyên Quang, Hà Nội, Bãi Cháy, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Pleiku, ĐàLạt, Nha Trang, Vũng Tàu, Cà Mau

Ngày đăng: 07/08/2020, 19:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia, 2017, Vai trò của nông nghiệp trong phát triển kinh tế. <http://ncif.gov.vn/Pages/NewsDetail.aspx?newid=19337&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của nông nghiệp trong phát triển kinh tế
Tác giả: Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia
Năm: 2017
4. WB (Ngân hàng thế giới), 2015, Chỉ số phát triển thế giới của Ngân hàng thế giới,<http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-khuyen-nong/nong-nghiep-cong-cu-phat-trien-ben-vung-va-giam-ngheo-94948.html&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số phát triển thế giới của Ngân hàng thế giới
Tác giả: WB (Ngân hàng thế giới)
Năm: 2015
5. Chính sách nông nghiệp Việt Nam, 2015, Báo cáo rà soát Nông nghiệp và Lương thực của OECD <https://www.oecd.org/countries/vietnam/OECD-Review-Agricultural-Policies-Vietnam-Vietnamese-Preliminaryversion.pdf&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách nông nghiệp Việt Nam
Nhà XB: Báo cáo rà soát Nông nghiệp và Lương thực của OECD
Năm: 2015
6. ISPONRE (Viện nghiên cứu chính sách và chiến lược môi trường và tài nguyên), 2009, Báo cáo đánh giá Việt Nam về biến đổi khí hậu, với sự hỗ trợ của Chương trình môi trường Liên hợpquốc (UNEP) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ISPONRE (Viện nghiên cứu chính sách và chiến lược môi trường và tài nguyên), 2009, "Báo cáo"đánh giá Việt Nam về biến đổi khí hậu, với sự hỗ trợ của Chương trình môi trường Liên hợp
8. O. E. Ayindea, M. Muchiea and G. B. Olatunji, 2011, Impacts of climate change on rice agricuture in Nigeria, Tropical and Subtropical Agroecosystems<https://www.researchgate.net/publication/263227672_Effect_of_Climate_Change_on_Agricultural _Productivity_in_Nigeria_A_Co-integration_Model_Approach&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impacts of climate change on rice agricuture in Nigeria
Tác giả: O. E. Ayindea, M. Muchiea, G. B. Olatunji
Nhà XB: Tropical and Subtropical Agroecosystems
Năm: 2011
9. Damilo C. Israel and Roehlano M. Briones 2013, Impacts of Natural Disasters on Agriculture, Food Security, and Natural Resources and Environment in the Philippines<https://www.eria.org/ERIA-DP-2013-15.pdf&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impacts of Natural Disasters on Agriculture, Food Security, and Natural Resources and Environment in the Philippines
Tác giả: Damilo C. Israel, Roehlano M. Briones
Năm: 2013
10. K.S. KAVI KUMAR, 2009, Climate Sensitivity of Indian Agriculture Do Spatial Effects Matter?<http://www.indiaenvironmentportal.org.in/files/Climate%20Sensitivity%20of%20Indian%20Agricult ure.pdf&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate Sensitivity of Indian Agriculture Do Spatial Effects Matter
Tác giả: K.S. KAVI KUMAR
Năm: 2009
11. Hoàng Hồng Hạnh, Trần Quý Trung, Nguyễn Thu Hà, 2017, Kinh nghiệm quốc tế về phân vùng môi trường trong quy hoạch bảo vệ môi trường <http://tapchimoitruong.vn/pages/article.aspx?item=Kinh-nghi%E1%BB%87m-qu%E1%BB%91c- t%E1%BA%BF-v%E1%BB%81-ph%C3%A2n-v%C3%B9ng-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-trong- quy-ho%E1%BA%A1ch-b%E1%BA%A3o-v%E1%BB%87-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-46851&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế về phân vùng môi trường trong quy hoạch bảo vệ môi trường
Tác giả: Hoàng Hồng Hạnh, Trần Quý Trung, Nguyễn Thu Hà
Nhà XB: Tạp chí Môi Trường
Năm: 2017
12. NGUYỄN XUÂN CƯỜNG, 2018, Phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững, gắn với xây dựng nông thôn mới <https://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/38484102-phat-trien-nen-nong-nghiep-hien-dai-ben-vung-gan-voi-xay-dung-nong-thon-moi.html&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững, gắn với xây dựng nông thôn mới
Tác giả: NGUYỄN XUÂN CƯỜNG
Năm: 2018

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mô hình: - tiểu luận kinh tế môi trường các nhân tố ảnh hướng đến sản lượng nông nghiệp việt nam 2006   2018
h ình: (Trang 5)
Về phương pháp kinh tế lượng, sử dụng mô hình AMPLE: - tiểu luận kinh tế môi trường các nhân tố ảnh hướng đến sản lượng nông nghiệp việt nam 2006   2018
ph ương pháp kinh tế lượng, sử dụng mô hình AMPLE: (Trang 6)
3.2 Mô hình thực tiễn - tiểu luận kinh tế môi trường các nhân tố ảnh hướng đến sản lượng nông nghiệp việt nam 2006   2018
3.2 Mô hình thực tiễn (Trang 13)
3.1.8 Sau đây là bảng kí hiệu và ý nghĩa các biến: - tiểu luận kinh tế môi trường các nhân tố ảnh hướng đến sản lượng nông nghiệp việt nam 2006   2018
3.1.8 Sau đây là bảng kí hiệu và ý nghĩa các biến: (Trang 13)
Mô hình hồi quy mẫu - tiểu luận kinh tế môi trường các nhân tố ảnh hướng đến sản lượng nông nghiệp việt nam 2006   2018
h ình hồi quy mẫu (Trang 20)
3.2.3 Kết quả ước lượng mô hình - tiểu luận kinh tế môi trường các nhân tố ảnh hướng đến sản lượng nông nghiệp việt nam 2006   2018
3.2.3 Kết quả ước lượng mô hình (Trang 20)
Mô hình không có hiện tượng phương sai thay đổi. - tiểu luận kinh tế môi trường các nhân tố ảnh hướng đến sản lượng nông nghiệp việt nam 2006   2018
h ình không có hiện tượng phương sai thay đổi (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w