Theo thống kê của Sở Tài nguyênMôi trường và Nhà đất Hà Nội, mỗi năm thành phố Hà Nội phải tiếp nhận khoảng 80.000tấn bụi, khói; 9.000 tấn khí SO2; 46.000 tấn khí CO2 từ các cơ sở công n
Trang 1Theo thông cáo của WHO, chỉ riêng năm 2016, ô nhiễm không khí đã gây ra cái chết sớmcho 4,2 triệu người, mà trong đó 91% thuộc về các nước nghèo và đông dân ở Đông Nam
Á và Tây Thái Bình Dương Còn theo đánh giá của Tổ chức Nghiên cứu các tác động đếnsức khỏe toàn cầu HEI (Health Effects Istitute) trên cơ sở dữ liệu thu thập từ vệ tinh năm
2018 thì 95% dân số Trái đất đang hàng ngày phải hít thở bầu không khí ô nhiễm Và ônhiễm môi trường không khí là nguyên nhân gây tử vong cao thứ tư thế giới, chỉ đứng saucao huyết áp, suy dinh dưỡng và… hút thuốc lá! Nhận ra tính cấp thiết của vấn đề, nhómbọn em đã lựa chọn đề tài: “Chất lượng không khí Hà Nội” để có thể đưa đến cho mọingười một cái nhìn tổng quan nhất về vấn đề ô nhiễm không khí tại Hà Nội
Trang 2CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
I Tổng quan nghiên cứu
1 Về khái niệm chất lượng không khí
Ô nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí hoặc có sự xuấthiện các khí lạ làm cho không khí không sạch, có sự tỏa mùi, làm giảm tầm nhìn xa,gây biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và sinh vật
2 Các tác nhân gây ra ô nhiễm không khí và các tiêu chuẩn đo lường
Về vấn đề ô nhiễm không khí tại thủ đô, nguyên nhân chính vẫn là phát thải từ giaothông, trước hết là xe cộ Hà Nội nay có trên 7,5 triệu phương tiện giao thông ( xemáy, xe tải, xe bus, xe hơi ) Mỗi loại xe như thế phát thải những bụi khí rất độc, phầnlớn là bụi mịn, tức là dưới 2,5 micron Nhưng trong khí phát thải của xe cộ thì có hailoại mà ít người để ý đến, trong khoa học người ta mới nghiên cứu sâu Thứ nhất là hạt
do xe cộ trực tiếp phát ra, dưới 2,5 micron, thậm chí dưới 1 micron, chủ yếu là nhữnghạt từ động cơ, cháy không hết nên phát ra, trong đó có những hạt rất độc, như làcarbon đen, mà người Việt hay gọi là bồ hóng, đặc biệt là từ những xe chạy bằng dầudiesel
Ngoài ra, khi xe chạy thì lốp xe bào mòn và từ đó phát ra những hạt khác, rồi bụi đất ởtrên đường, có những loại bụi mịn vẫn theo xe tung lên Nhưng cái mà ít người để ý,
đó là nó phát ra những khí rất độc, trong đó có NO2, hay là NOx, SO2, CO và các khíhữu cơ, dễ bốc, trong đó có benzene Benzene là chất phụ gia người ta đưa vào trongxăng, thay cho chất chì ( nay đã bị cấm ), và cũng là một chất gây mầm mống ung thư.Một hàm lượng lớn benzene trong không khí có thể là nguy hiểm
Trang 3Nhưng theo giáo sư Phạm Duy Hiển, ngoài xe cộ, tình trạng ô nhiễm không khí ở HàNội còn, xuất phát từ nhiều yếu tố khác, chẳng hạn như than tổ ong mà người dân còn
Mỗi nguồn như thế thì có những thành phần nguyên tố, phải làm thế nào xác địnhđược thành phần nguyên tố của bụi ở tại một điểm, xong rồi từ đó mới truy ngược lại
là có những nguồn gì Phải phân định mỗi một nguồn đóng góp bao nhiêu vào khốilượng bụi quan trắc được tại một điểm
Như vậy, vấn đề tương đối phức tạp, không phải nhìn vào là nói ngay được, mà phảilàm nghiên cứu khoa học Chúng tôi đã có nhiều công trình nghiên cứu như thế, ví dụnhư là có một nghiên cứu gần đây cho thấy là ở một khu đô thị ở Nghĩa Đô, nồng độbụi mịn là khoảng hơn 40 microgram/m3, tính trung bình cả năm, nhưng có nhữngngày tăng vọt trên 100 Trong 40 microgram đó, có một nửa là thành phần bụi do xe
cộ, mà trong một nửa đó thì có 15% là trực tiếp phát ra từ ống xả, 15% là bụi lơ lửng
do xe cộ tung ra từ mặt đất và 20% là bụi thứ cấp, tức là từ các khí phát ra Ngoài ra,bụi từ các bếp than tổ ong cũng chiếm đến 15%, còn lại là các thứ khác
Ở những nước khác, giao thông vẫn là nguyên nhân chính gây ô nhiễm, nhưng riêng
Hà Nội lại có những đặc điểm khiến thành phố này không giống những nơi khác Thứnhất, thành phần xe cộ ở Hà Nội, đa số 85% là xe máy, mà xe máy thì chất lượng phátthải không tốt, xe công cộng thì rất là ít Đặc điểm thứ hai: diện tích mặt đường ở HàNội quá bé so với tổng diện tích, có nghĩa là diện tích dành cho xe cộ chạy thì rất ít.Trước những năm 2005, diện tích này chỉ chiếm 1,9% trong vùng nội thành, rất thấp
so với thế giới, do đó xe cộ cứ phải chen chúc nhau.Đặc điểm thứ ba là, trong cấu trúc
đô thị của Hà Nội, có rất ít khoảng trống dành cho cây xanh, hồ nước, còn tất cả đều là
bê tông nói chung là rất chật chội Các nghiên cứu của thế giới, cũng như của chúng
Trang 4tôi, đều cho thấy là nồng độ ô nhiễm phụ thuộc rất nhiều vào mật độ dân cư Khu nàocàng đông dân cư thì ô nhiễm càng cao Dân cư đông thì xe cộ nhiều, nhất là mỗingười dân lại có 1 hoặc 2 xe máy Mật độ dân số cao thì nhà cửa chật chội, đường xáchật chội, không có khoảng trống để các chất ô nhiễm phát tán.
Cũng vì tất cả đều là bê tông, nên có một hiện tượng là ban ngày ánh nắng mặt trời đốtnóng mặt đất, tối đến thì xảy ra hiện tượng nghịch nhiệt: nhiệt độ của lớp không khísát mặt đất tăng lên theo độ cao, trong khi bình thường thì nó phải giảm theo độ cao.Cho nên, ô nhiễm không phát tán ra được, mà nó cứ ở lại trong khoảng vài trăm méttrên mặt đất Đó là một yếu tố rất quan trọng làm cho Hà Nội có rất nhiều bụi vào đầumùa khô
Một hiện tượng nghịch nhiệt nữa, tức là nhiệt độ không giảm mà lại tăng theo độ cao,khoảng 500 mét trên mặt đất, thường xảy ra vào mùa hơi ẩm một chút, sau thángGiêng, tháng Hai, liên quan đến khái niệm gọi là mù Có hai loại mù Đầu tiên là loạibụi mù mà tôi nói ở trên và thứ hai là loại mù khí tượng Loại mù thứ hai này thườngdày đặc đến mức máy bay không lên xuống được Những yếu tố thời tiết và địa hình
có ảnh hưởng rất lớn, làm cho nồng độ tăng lên Như vừa rồi, đầu tháng 12, từ 7 chođến 14, gần như là 7 ngày liên tục, hàm lượng bụi ở Hà Nội đã tăng lên sau giờ chậptối, trên 200 microgram/m3, thậm chí có nơi trên 300 Mãi đến khuya, hàm lượng nàyvẫn còn cao, rồi đến sáng mới bớt dần
II Tổng quan khu vực nghiên cứu
1 Điều kiện tự nhiên
Hà Nội - Thủ đô ngàn năm tuổi của đất nước, nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, cácmạch núi Tây Bắc và Đông Bắc đã hội tụ về đây (Hoàng Liên Sơn, Con Voi, Tam Đảo,các cánh cung Đông Bắc), và do đó các dòng sông cũng tụ Thủy về Hà Nội để rồi phântỏa về phía Biển Đông (sông Đà, Thao, Lô, Chảy, Cầu) Hà Nội Nội có diện tích tự nhiên920,97 km2, kéo dài theo chiều Bắc - Nam 53 km và thay đổi theo chiều Đông Tây từ gần10km (phía Bắc huyện Sóc Sơn) đến trên 30km (từ xã Tây Tựu, Từ Liêm đến xã Lệ Chi,Gia Lâm) Nhìn chung, địa hình Hà Nội khá đa dạng với núi thấp, đồi và đồng bằng.Trong đó phần lớn diện tích của Thành phố là vùng đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc
Trang 5xuống Đông Nam theo hướng dòng chảy của sông Hồng Điều này cũng ảnh hưởng nhiềuđến quy hoạch xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.
Tài nguyên khí hậu ở Hà Nội được hình Thành và tồn tại nhờ cơ chế nhiệt đới gió mùa,mùa đông lạnh ít mưa, mùa hè nóng nhiều mưa Lượng bức xạ tổng cộng năm dưới 160kcal/cm2 và cân bằng bức xạ năm dưới 75 kcal/cm2 Hàng năm chịu ảnh hưởng củakhoảng 25 - 30 đợt front lạnh Nhiệt độ trung bình năm tuy không dưới 23oC, song nhiệt
độ trung bình tháng 1 dưới 18oC và biên độ năm của nhiệt độ trên 120oC) Mùa mưa kéodài từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm khoảng 80% lượng mưa toàn năm Mùa ít mưa chủyếu là mưa nhỏ và mưa phùn kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong đó tháng 12hoặc tháng 01 có lượng mưa ít nhất Hà Nội có mùa đông lạnh rõ rệt so với các địaphương khác ở phía Nam: Tần số front lạnh cao hơn, số ngày nhiệt độ thấp đáng kể, nhất
là số ngày rét đậm, rét hại nhiều hơn, mùa lạnh kéo dài hơn và mưa phùn cũng nhiều hơn.Điều kiện khí hậu có phần khắc nghiệt như trên là một nhân tố tác động không nhỏ đếnchất lượng không khí của Hà Nội
2 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội
Kinh tế thành phố Hà Nội phát triển khá ổn định với tốc độ cao trong những năm qua vàcao hơn nhiều so với mức chung của cả nước Đầu tư ngân sách và các ngành kinh tế tiếptục tăng, đồng thời tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đã tạo nhiều cơ hộiviệc làm, tăng thu nhập cho dân cư Hà Nội trong những năm vừa qua và những năm tới
Sự gia tăng thu nhập của Hà Nội là tương đối lớn so với tốc độ phát triển kinh tế chungcủa cả nước Trong những năm qua, tốc độ xây dựng và phát triển của Hà Nội cũng diễn
ra hết sức nhanh chóng Trước năm 1998, Hà Nội chỉ có 4 quận nội thành nay mở rôngthành 7 quận Do sức ép về dân số mà nhu cầu về nhà ở cũng tăng lên Nếu như năm
2002, diện tích nhà ở bình quân đầu người là 7,68m2 thì đến năm 2007 con số này đã lêntới 11,75m2, tăng 1,53 lần Tính đến năm 2018, dân số Hà Nội là 8.215.000 người, 55%dân số (tức 4,5 triệu người) sống ở thành thị, 3,7 triệu sống ở nông thôn (45%) Mật độdân số trung bình của Hà Nội là 2505 người/km² Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống
Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba
Vì, Mỹ Đức, Ứng Hòa mật độ dưới 1.000 người/km²
Trang 6Cùng với việc phát triển đô thị, các tuyến đường giao thông, đường bộ và đường cao tốcđược mở mang và xây dựng lại, tạo thành những mạch giao thông chính vào cửa ngõ thủđô.
Sự phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ của Hà Nội đã tạo điều kiện giải quyết việc làmcho những người mới tham gia vào lực lượng lao động cũng như những người đang tìmkiếm việc làm Nhiều ngành nghề, đặc biệt các nghề dịch vụ được mở mang và đa dạnghoá nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân Ngày càng có nhiều lao động từ các tỉnh trong
cả nước đổ về đây để tìm kiếm việc làm, xây dựng cuộc sống
Các hoạt động văn hoá, giáo dục của thành phố được đẩy mạnh Có tới 95% số xã,phường, thị trấn đã phổ cập trung học cơ sở, 99% trẻ em 6 tuổi được vào học lớp 1 Toànthành phố có 288 nhà trẻ, 303 trường và 2.109 lớp mẫu giáo, thu hút 60% trẻ con ở độtuổi mẫu giáo Như vậy, còn 40% các em ở độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc ở nhà hoặcvào các nhóm mẫu giáo tư nhân
3 Thực trạng ô nhiễm không khí tại Hà Nội
Tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh, mạnh đã gây ra hàng loạt các vấn đề liên quan đến môitrường nói chung và môi trường không khí nói riêng Theo thống kê của Sở Tài nguyênMôi trường và Nhà đất Hà Nội, mỗi năm thành phố Hà Nội phải tiếp nhận khoảng 80.000tấn bụi, khói; 9.000 tấn khí SO2; 46.000 tấn khí CO2 từ các cơ sở công nghiệp thải ra.Ngoài ra, các phương tiện giao thông ô tô, xe máy cũng được xác định như là một nguồnphát thải lớn Những kết quả nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, chất lượng không khí ở khuvực ngoại thành Hà Nội chưa bị ô nhiễm bởi CO, SO2, NO2 và bụi lơ lửng (TSP), ngoạitrừ tại các khu công nghiệp và các khu vực gần các tuyến đường giao thông liên tỉnh,đường cao tốc Còn khu vực nội thành thì hầu hết tại các khu công nghiệp, tuyến giaothông chính đều bị ô nhiễm nhưng ở các mức độ khác nhau Tại các tuyến giao thông, ônhiễm bụi lơ lửng (TSP) là chủ yếu với nồng độ đo được cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ
3 - 4 lần Những khu vực đang thi công các công trình xây dựng, giao thông, đô thị mới,
… nồng độ TSP đo được thường cao hơn 7 - 10 lần so với tiêu chuẩn cho phép Nồng độcác khí SO2, NO2 trung bình hàng năm tăng khoảng từ 10 - 60%, nồng độ CO tại các trụcgiao thông chính cao hơn từ 2,5 đến 4,4 lần so với tiêu chuẩn cho phép
Trang 7Ô nhiễm bụi: Tại khu vực nội thành, chất lượng môi trường không khí có biểu hiện suy
thoái Nồng độ bụi tăng rõ rệt và đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép Khảo sát tại một sốtuyến đường lớn như Giải Phóng, Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật và Phạm Văn Đồngcho thấy, người đi xe máy chịu tác động ô nhiễm không khí nhiều nhất Nồng độ bụi đốivới người đi phương tiện này là: 580 (µg/m3), người đi bộ: 495 (µg/m3), ôtô con 408 (µg/m3), xe buýt: 262 (µg/m3) Nồng độ CO đối với người đi xe máy là: 18,6 (ppm), đi bộ:8,5 (ppm); ôtô con 18,5 (ppm), xe buýt 11,5(ppm) Đặc biệt, tại các nút giao thông, nồng
độ bụi cao hơn tiêu chuẩn cho phép 2-2,5 lần, điển hình là Ngã tư Kim Liên đường GiảiPhóng, nồng độ bụi cao hơn 2-3 lần so với tiêu chuẩn cho phép 0,2 mg/m3 Môi trườngkhông khí tại các khu, cụm công nghiệp thì nồng độ bụi lơ lửng đều có xu hướng gia tăngliên tục, vượt quá chỉ tiêu cho phép 2,5-4,5 lần Trong đó, gia tăng đặc biệt mạnh là cáckhu vực: Từ Liêm, Văn Điển, Pháp Vân và Mai Động ô nhiễm không khí ở Hà Nội chủyếu là do bụi từ đường bộ, bụi thứ cấp của các phương tiện vận tải tham gia giao thông vàcủa hoạt động xây dựng
Ô nhiễm khí độc hại SO2, CO, NO2: Theo số liệu của Sở Tài nguyên, Môi trường và Nhà
đất Hà Nội, nồng độ khí SO2, NO2, CO trong các khu dân cư đô thị ở nội và ngoại thànhđều nhỏ hơn tiêu chuẩn, tức là chưa có hiện tượng ô nhiễm khí độc hại Tuy nhiên, ở một
số nút giao thông lớn trong thành phố như Ngã Tư Sở, Ngã Tư Vọng, Ngã tư Kim Liên…nồng độ CO đang có xu hướng tăng và ở mức xấp xỉ giới hạn cho phép Nguyên nhân củatình trạng này là do lưu lượng xe tham gia giao thông quá lớn, chất lượng xe lưu hànhkhông đảm bảo 59% số xe máy lưu hành tại Hà Nội không đạt tiêu chuẩn về khí thải vàhiện tượng tắc nghẽn xảy ra thường xuyên tại các nút giao thông Khi xảy ra ách tắc, vậntốc của các phương tiện giao thông dừng ở mức 5 km/h, thậm chí bằng 0 Trong tình trạngnày, xe máy và ô tô con sẽ thải ra một lượng khí CO nhiều gấp 5 lần; xe buýt, xe tải nhiềugấp 3,6 lần so với khi chạy ở tốc độ 30 km/h
Chất lượng không khí Hà Nội hiện đang suy giảm một cách nhanh chóng Nguyên nhâncủa sự suy giảm này chủ yếu do 3 nguồn chính: Công nghiệp, giao thông và xây dựng,sinh hoạt
Hoạt động sản xuất công nghiệp: Theo thống kê hiện nay ở Hà Nội có tới 400 cơ
sở công nghiệp đang hoạt động Trong đó, có khoảng 147 cơ sở công nghiệp có tiềm năng
Trang 8thải các chất thải gây ô nhiễm môi trường không khí Hà Nội Các khí thải độc hại sinh ra
từ các nhà máy, xí nghiệp chủ yếu do quá trình chuyển hoá năng lượng (tiêu thụ than vàxăng dầu các loại) Trong khi chất lượng nhiên liệu “chưa tốt” chứa nhiều tạp chất khôngtốt đối với môi trường, cụ thể là hàm lượng Benzen trong xăng quá cao (5% so với 1%),hàm lượng lưu huỳnh trong Diezen cao 0,5-1% so với 0,05% Lượng than tiêu thụ hàngnăm trung bình là 250.000 tấn, xăng dầu 230.000 tấn đã thải ra một lượng lớn bụi, khíSO2, CO và NO2 gây tác động xấu đến chất lượng không khí
Hoạt động giao thông đô thị và xây dựng: Với mức độ tăng trưởng trung bình hàng
năm về xe máy là 15% và ôtô là 10% năm 1996 thì thành phố có 600.000 xe máy và34.000 ô tô nhưng sau 10 năm thì lượng ô tô tăng lên gấp 4,4 lần (150.000), xe máy tănglên 2,6 lần (1,55 triệu) đây chính là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trườngkhông khí chủ yếu trên các tuyến đường giao thông của Hà Nội Trong khi đó, cơ sở hạtầng giao thông còn thấp (tiêu chuẩn luồng đường, tốc độ lưu thông, chất lượng conđường,…), cường độ dòng xe lớn, đạt trên 1.800 - 3.600 xe/h, đường hẹp, nhiều giaođiểm (ngã ba, ngã tư), ý thức người tham gia giao thông kém, Tất cả những yếu tố trêndẫn đến lượng khí độc hại như CO, SO2, NO2 và các hợp chất chứa bụi, chì, khói đượcthải ra tăng, gây ô nhiễmmôi trường không khí tại các trục giao thông chính và các nútgiao thông đặc biệt vào các giờ cao điểm Bên cạnh đó, chất lượng các phương tiện giaothông cũng như ý thức người dân khi tham gia giao thông là nguyên nhân làm tăng nồng
độ chất ô nhiễm Hàng loạt các yếu tố như: quá cũ, hay quá thời gian sử dụng, hệ thốngthải không đạt yêu cầu, lượng khí thải không đảm bảo tiêu chuẩn thải…Theo con số thống
kê tại bốn địa điểm là khu vực Đuôi Cá, đê sông Hồng, đường Láng - Hòa Lạc và châncầu Thăng Long có đến 95% số xe tải chở vật liệu xây dựng không bảo đảm yêu cầu vệsinh như thùng xe không kín, không có nắp đậy, chở vật liệu quá thùng
Tốc độ đô thị hóa ở Hà Nội diễn ra khá nhanh và mạnh, thành phố như một “công trường”lớn Hiện nay trên địa bàn thành phố luôn có hơn 1.000 công trình xây dựng lớn nhỏ đượcthi công Trong đó có đến hàng chục dự án cải tạo, xây dựng các nút giao thông, các khu
đô thị mới, quy mô lớn, thời gian thi công kéo dài hàng năm, gây ô nhiễm bụi cả khu vựcrộng lớn Ngoài ra, mỗi tháng còn có khoảng 10.000 m2 đường bị đào bới để thi công cáccông trình hạ tầng kỹ thuật Thành phố hiện nay có khoảng hơn 300 điểm tập trung buôn
Trang 9bán vật liệu xây dựng Mà phần lớn những điểm buôn bán không có đủ điều kiện kinhdoanh bảo đảm vệ sinh môi trường, diện tích nhỏ hẹp, không có hàng rào che chắn,thường sử dụng vỉa hè làm nơi tập kết vật liệu, vì vậy luôn phát tán bụi vào môi trường.Tất cả những nguyên nhân trên khiến cho tình trạng ô nhiễm bụi ở Hà Nội vẫn ở mức cao.
Hoạt động sinh hoạt và dịch vụ của cộng đồng: Môi trường không khí không chỉ bị
ảnh hưởng bởi các yếu tố trên mà còn bị ảnh hưởng bởi hoạt động sinh hoạt của ngườidân như: khí thải từ gia đình dùng bếp than tổ ong để đun nấu (bình quân một gia đìnhtiêu thụ 2kg than/ngày, tức là 50 - 60kg/tháng) cũng đóng góp một phần đáng kể trongviệc làm suy giảm chất lượng môi trường không khí của Hà Nội Hoạt động của làng nghề(gốm Bát Tràng, Triều Khúc…), các cơ sở tiểu thủ công nghiệp nằm rải rác khắp các ngõxóm, khu dân cư (đặc biệt là khu vực ngoại thành) cũng gây ra những ảnh hưởng khôngnhỏ Hoạt động sinh hoạt, dịch vụ của người dân cũng thải ra một lượng rác rất lớn, lượngrác tồn đọng lâu ngày không được thu rọn cũng gây ra ảnh hưởng đối với môi trườngkhông khí Tất cả các hoạt động này gây ra những khó khăn cho việc kiểm soát và gẩimthiểu ô nhiễm môi trường không khí của thành phố
III Tổng quan phương pháp nghiên cứu
1 Công cụ nghiên cứu
1.1 Chỉ số chất lượng không khí (AQI)
Trang 101.1.2 Phương pháp tính toán chỉ số chất lượng không khí AQI Việt Nam
Ngày 12/11/2019, Tổng cục Môi trường đã ban hành Quyết định số 1459/QĐ-TCMT vềviệc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật tính toán và công bố chỉ số chất lượng không khí ViệtNam (VN_AQI) Theo Quyết định số 1459/QĐ-TCMT, Chỉ số chất lượng không khí ViệtNam (viết tắt là VN_AQI) là chỉ số được tính toán từ các thông số quan trắc các chất ônhiễm trong không khí ở Việt Nam, nhằm cho biết tình trạng chất lượng không khí vàmức độ ảnh hưởng đến sức khỏe con người, được biểu diễn qua một thang điểm
Trong hướng dẫn này, AQI được áp dụng tính cho 02 loại: AQI ngày là giá trị đại diệncho chất lượng không khí trong 1 ngày; AQI giờ là giá trị AQI đại diện cho chất lượngkhông khí trong 1 giờ Chỉ số chất lượng không khí được tính theo thang điểm (6 khoảnggiá trị AQI) tương ứng với biểu tượng và các màu sắc để cảnh báo chất lượng không khí
và mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe con người
0–50 Tốt Chất lượng không khí tốt, không ảnh hưởng tới Xanh
sức khỏe
Chất lượng không khí ở mức chấp nhận được Tuy
51 – 100 Trung nhiên, một số ít người nhạy cảm với ô nhiễm Vàng
bình không khí có thể chịu những tác động nhất định
tới sức khỏe
Những người nhạy cảm có thể gặp phải các vấn đề
101 – 150 Kém về sức khỏe Những người bình thường ít có khả Cam
năng bị ảnh hưởng
Những người bình thường bắt đầu có các ảnh
151 – 200 Xấu hưởng tới sức khỏe Những người nhạy cảm có thể Đỏ
gặp những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hơn
201 – 300 Rất xấu Cảnh báo hưởng tới sức khỏe: mọi người có thể bị Tím
Trang 11ảnh hưởng tới sức khỏe nhiều hơn.
301 Nguy Cảnh báo khẩn cấp về sức khỏe: Mọi người có thể Nâu
hại bị ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe
( Nhóm nhạy cảm bao gồm: trẻ em, người già và những người mắc bệnh hô hấp
(Tổng cục môi trường, 2019)
Bảng 1 Bảng quy đổi giá trị AQI
Các thông số được sử dụng để tính VN_AQI bao gồm: SO2, CO, NO2, O3, PM10, vàPM2.5 Phương pháp tính toán VN_AQI yêu cầu bắt buộc phải có tối thiểu 01 trong 02thông số PM10, PM2.5 trong công thức tính
1.2 Chỉ số chất lượng không khí toàn cầu (BAQI)
Chỉ số chất lượng không khí BreezoMeter, BAQI, được phát triển dựa trên nghiên cứu nội
bộ nhằm giải quyết sự không thống nhất trong khái niệm chất lượng không khí Mục đích
là cung cấp một cách rõ ràng và trực quan để đọc và tìm hiểu thông tin chất lượng khôngkhí theo thời gian thực do sự không nhất quán về quy mô, chất gây ô nhiễm, phương thứctính toán chuẩn và nguồn số liệu
Thang đo CLKK BAQI
Để khắc phục tất cả những mâu thuẫn này, các kỹ sư môi trường và nhà khoa học dữ liệucủa BreezoMeter đã phát triển BAQI Chỉ số đo theo thang 100 với giá trị 0 (chất lượng
Trang 12không khí kém) đến giá trị 100 (chất lượng không khí tuyệt vời) với 5 mức, mỗi mứctương ứng một màu và chia theo khoảng bằng nhau Chỉ số này dựa trên 6 chất gây ônhiễm chính trên toàn thế giới và các chất gây ô nhiễm bổ sung sẽ được thêm vào theothời gian.
1.3 Mô hình GAINS VIETNAM
Mô hình GAINS (The Greenhouse Gas and Air Pollution Interactions and Synergies) là
mô hình đa ngành giải quyết bài toán chi phí và tiềm năng trong quản lý chất lượng khôngkhí và giảm thiểu khí nhà kính và đánh giá tương tác giữa các chính sách được áp dụng
Mô hình GAINS - Vietnam hiện tại áp dụng cho năm vùng nghiên cứu tại miền Bắc; tíchhợp nhiều lĩnh vực bao gồm: nông nghiệp, năng lượng, giao thông, dân sinh, rác thải, vàlàng nghề; đưa ra chi phí và tiềm năng trong quản lý chất lượng không khí và giảm thiểukhí nhà kính; đồng thời đưa ra sự so sánh giữa các chính sách được áp dụng Bên cạnh đó,
mô hình GAINS-Vietnam còn bước đầu tính toán tác động đến sức khỏe con người do ônhiễm bụi Mô hình GAINS với giao diện trực tuyến, chỉ người được xác nhận quyền truycập USER được quyền sử dụng, bao gồm hai chế độ: chế độ cơ bản và chế độ nâng cao
Các tiểu vùng được bao gồm trong GAINS-Việt Nam
Trang 132 Cách thức nghiên cứu
Để đánh giá được chất lượng không khí của các địa phương nói chung, và Thành phố HàNội nói riêng Chúng ta cần có một công cụ hữu hiệu để đánh giá chất lượng không khí
Mà xây dựng công thức để tính toán là một công cụ hữu hiệu Ở đây là chúng ta dùng chỉ
số đánh giá chất lượng không khí (AQI).
Để bảo vệ sức khỏe của con người trước tác động xấu của ô nhiễm không khí (ÔNKK),một số quốc gia trên thế giới đãđưa ra quy định trị số nồng độ các chất ô nhiễm cơ bảntrong không khí thực tế không được vượt quá các trị số tiêu chuẩn/quy chuẩn cho phép
Cụ thể, tại Mỹ, Trung Quốc và Việt Nam đối với bụi PM10tiêu chuẩn/quy chuẩnnồng độtrung bình năm tối đa cho phép là 50 µg/m3, nồng độ trung bình ngày tối đa cho phép là
150 µg/m3.Để đánh giá mức độ ô nhiễm của không khí các quốc gia thường dùng chỉ số chất lượng không khí (AQI) Chỉ số AQI được phân thành 2 loại:
Chỉ số AQI đơn lẻ, tính riêng cho từng chất ô nhiễm trong không khí, ký hiệu là AQIi,
người ta thường xác định AQIi đối với 5 chất ô nhiễm cơ bản của không khí (bụi PM10,
SO2, NO2, CO và O3) Công thức tính chỉ số chất lượng không khí đơn lẻ AQIi ở tất cảcác nước là như nhau và có dạng như sau:
Trong đó:
- Ci: Nồng độ thực tế của chất ô nhiễm i;
- Co.i: Trị số nồng độ tối đa theo quy chuẩn môi trường cho phép đối với chất ô nhiễm i;Chỉ số chất lượng không khí tổng hợp (AQI0), dùng để đánh giá chung về chất lượngkhông khí của địa phương hay của đô thị nào đó, có xét đến tác dụng tổng hợp của nhiềuchất ô nhiễm khác nhau trong môi trường không khí, là trị số trung bình cộng của cácAQIi đơn lẻ, có dạng công thức tính toán như sau:
∑
Trong đó: “m” là số lượng thông số ô nhiễm, thông thường thì m = 5 (5 chất ô nhiễm cơ
bản: bụi PM10, SO2, NO2, CO và O3)
Trang 14Mức độ ô nhiễm hay chất lượng không khí thường được chia thành 5 mức (tốt, không ônhiễm, ô nhiễm, ô nhiễm nặng, ô nhiễm rất nặng), như biểu thị ở bảng 1.
51- 100 không ô nhiễm Nhóm nhạy cảm nên hạn chế thời gian ở Vàng
bên ngoài nhà101-200 ô nhiễm Nhóm nhạy cảm cần hạn chế thời gian ở Da cam
bên ngoài nhà
201 - 300 ô nhiễm nặng Nhóm nhạy cảm tránh ra ngoài Nhóm Đỏ
người khác hạn chế ở bên ngoàiTrên 300 ô nhiễm rất nặng Mọi người nên ở trong nhà Nâu
Hiện nay, trên thế giới có 2 cách đánh giá tổng quát, phân mức ô nhiễm chung đối vớiÔNKK: Trước năm 2000, tất cả các nước trên thế giới đều đánh giá ÔNKK theo 2 chỉ số:AQIi đơn lẻ (đánh giá mức độ ô nhiễm đối với từng chất ô nhiễm “i”) và chỉ số AQI0 tổngquát = trung bình cộng của các chỉ số AQIi đơn lẻ (để đánh giá mức độ ô nhiễm chung đốivới môi trường không khí), các nước hiện nay vẫn sử dụng cách đánh giá này là: Mêhicô,một số nước châu Âu, Hồng Kông, Singapo, Malaixia, Ấn Độ…
Sau năm 2000, Cục BVMT Mỹ (US EPA) đã đưa ra cách đánh giá mới: “Coi trị số AQIi
đơn lẻ của bất cứ thông số ô nhiễm có giá trị cực đại nhất sẽ là chỉ số AQI0 để đánh giáchung, đại diện mức độ ô nhiễm của môi trường không khí đó, các nước hiện nay đang sửdụng cách đánh giá này là Mỹ, Canada, Trung Quốc, Anh, Thái Lan và Việt Nam…
3 Các vùng trong phạm vi nghiên cứu
Hà Nội là thủ đô, đồng thời là thành phố đứng đầu Việt Nam về diện tích tự nhiên vàđứng thứ hai về diện tích đô thị sau thành phố Hồ Chí Minh, nó cũng đứng thứ hai về dân
số với 8.054.000 người (2020) Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 2505 người/km².Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở
Trang 15những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Ứng Hòa mật độ dưới 1.000người/km².
Các KCN được hình thành và phát triển mở rộng tạo ra nhiều giá trị xuất khẩu thúc đẩyphát triển kinh tế Tuy nhiên vấn đề môi trường tại các khu công nghiệp cần được quantâm như: vấn đề nước thải, khí thải tại từng khu công nghiệp và công tác quản lý, xử lý
Hạ tầng giao thông phát triển hoàn thiện góp phần mang lại nhiều lợi ích kinh tế Tuynhiên bên cạnh sự phát triển, một số công trình giao thông thiếu chất lượng sẽ là nguyênnhân gây tiêu hao năng lượng, giảm tốc độ, gây bụi… ảnh hưởng tới chất lượng môitrường Ô nhiễm môi trường không khí tại các đô thị rất đa dạng hình thành từ nhiềunguồn, và giao thông vận tải là nguồn gây ô nhiễm lớn đối với môi trường không khí tại
đô thị Lượng phát thải các chất ô nhiễm tăng hàng năm cùng với sự phát triển về số 23lượng các phương tiện giao thông đường bộ chính là một trong những nguồn gây ô nhiễmmôi trường không khí chủ yếu trên các tuyến đường giao thông
Theo thống kê gần đây, Hà Nội liên tục được cảnh báo mức độ ô nhiễm không khí với chỉ
số AQI ở mức cao, lên tới 170 Tình trạng này được coi là rất xấu, và người dân nên hạnchế, không nên ra đường nhiều
CHƯƠNG II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I Các thống kê và phân tích số liệu
Dạo nhưng năm gần đây Thành phố Hà Nội luôn bị oo nhiễm ở mức vô cùng nặng nề.Đặc biệ có hôm ô nhiễm nhất thế giới Và sau đây là ví dụ về chỉ số ô nhiễm không khícủa Hà Nội
Bảng số liệu chất lượng không khí AQI tại Thành phố Hà Nội (cập nhật ngày 23 tháng 3năm 2020 tại trạm Đại sứ quán Mỹ, Hà Nội):