Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sức khỏe, sử dụng năng lượng,nguồn tài nguyên, du lịch và di sản văn hóa, hệ sinh thái,…Để đánh giá toàn diện tác động của biến đổi khí hậu đến sản x
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở lí luận, các khái niệm cơ bản
1.1 Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm: Khí quyển,thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai, bởi các nguyênnhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định
Biến đổi khí hậu gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khảnăng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đếnhoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội, đến sức khỏe và phúc lợi của conngười
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đối thủ cạnh tranh
Nhân tố Thị trường
Tập quán dân cư và mức độ thu nhập bình quân dân cư
Mối quan hệ và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
Nhân tố môi trường tự nhiên
Nhân tố thời tiết, khí hậu, mùa vụ
Nhân tố tài nguyên thiên nhiên
Nhân tố vị trí địa lý
Môi trường chính trị - pháp luật
Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng
2 Các nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến kinh tế, xã hội
2.1 Tổng quan các nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu ở nước ngoài
Cho đến nay, hàng loạt tác động tiềm tàng của BĐKH đã được xác định Một sốnghiên cứu gần đây đã mô tả vấn đề này, gồm:
Ảnh hưởng của nước biển dâng do bão đến các thành phố ven biển
Ảnh hưởng của hiện tượng cực đoan (bão và nước dâng do bão, lũ lụt domưa lớn; cực nóng và hạn hán) đến cơ sở hạ tầng xây dựng;
Trang 2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sức khỏe, sử dụng năng lượng,nguồn tài nguyên, du lịch và di sản văn hóa, hệ sinh thái,…
Để đánh giá toàn diện tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp đỏi hỏi phải đánh giá toàn diện các thành phần KT-XH và tựnhiên Tổng hợp các công trình nghiên cứu, đánh giá tác động của biến đổi khíhậu đến từng lĩnh vực cụ thể như sau:
Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp:
Biến đổi khí hậu đã gây nhiều tác động tiêu cực đến nông nghiệp, ảnh hưởngtiêu cực đến năng suất cây trồng phụ thuộc vào vị trí địa lý của khu vực chủ yếu
do sự nóng lên và sự suy giảm tổng lượng mưa, xuất hiện nhiều sâu bệnh chocây trồng Theo đó, các chỉ số quan trọng nhất thường được lựa chọn để đánhgiá tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp bao gồm: Mùa vụ cho câytrồng; thời vụ cây trồng; năng suất cây trồng; yêu cầu nước tưới
Tác động của biến đổi khí hậu đến lâm nghiệp và rừng:
Thể hiện trong các vấn đề: quỹ đất rừng và diện tích rừng, cơ cấu tổ chức rừng,sinh khối rừng và chất lượng rừng, nguy cơ cháy rừng Nhiệt độ tăng, thay đổi
về lượng mưa và thay đổi phân bố các yếu tố khí hậu, hạn hán, bão lũ sẽ có tácđộng đến rừng Bão, hạn hán và sóng nhiệt có thể dẫn đến tỷ lệ tử vong cao củacây, làm cho khu rừng dễ bị thiệt hại phụ, như nhiễm ký sinh trùng và nấm Côntrùng và mầm dịch bệnh thường được tạo điều kiện phát triển do khí hậu ấm lên.Khi hệ sinh thái thay đổi, rừng và các loại khác sinh sống trong rừng thay đổitheo điều kiện khí hậu thay đổi, thậm chí dễ bị rối loạn
Tác động của BĐKH đến thủy sản và nuôi trồng thủy sản:
Các ngành hoạt động liên quan đến đánh bắt hải sản rất nhạy cảm đối vớiBĐKH Nhiệt độ ấm lên ở các vùng biển ấm kéo theo sự thay đổi về các dònghải lưu ven bờ và làm thay đổi phân bố nguồn thức ăn, do đó dẫn đến sự di cưcủa các loài thủy sản Quá trình axit hóa đại dương do nhiệt độ nóng lên cũnglàm thay đổi các động vật bậc thấp (nguồn thức ăn của cá) làm thay đổi năngsuất của cá Sự xuất hiện, lây lan và mức độ nghiêm trọng của bệnh, ký sinh
Trang 3trùng, các mầm bệnh, sự lây lan các loài mới do nước biển ấm lên cũng có thể cókhả năng gây thiệt hại cho ngành nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản
Tác động của biến đổi khí hậu đến sức khỏe con người
Tất cả các tác động môi trường và xã hội của BĐKH cuối cùng đều có thể ảnhhưởng đến sức khỏe con người thông qua thay đổi thời tiết, thay đổi chất lượngnước, chất lượng không khí, lương thực phẩm, dịch vụ vệ sinh, sinh kế, cơ sở hạtầng và di cư BĐKH có thể ảnh hưởng đến sức khỏe hiện có cả tích cực và tiêucực và có thể xuất hiện những rủi ro sức khỏe mới với khu vực trước đây không
bị ảnh hưởng BĐKH có thể làm trầm trọng thêm các vấn đề môi trường đặt ranhững thách thức bổ sung để cung cấp dịch vụ nước và vệ sinh môi trường bềnvững, tăng nguy cơ xuất hiện các bệnh truyền qua thực phẩm, cũng như ảnhhưởng đến sự phân bố của các bệnh truyền nhiễm
Những tác động này bao gồm cả những tác động tiềm năng do BĐKH gây ravới sản xuất, các dịch vụ kinh tế, chi phí nguyên liệu và đầu vào cho sản xuất,chi phí cho các doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh và hoạt động kinh tế ở quy
mô lớn hơn
2.2 Tổng quan các nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH ở Việt Nam
Peter Chaudhry và Greet Ruysschaert (2007) đã tập hợp các vấn đề vềBĐKH trong báo cáo điển hình “BĐKH và phát triển con người ở Việt Nam”,
đã đưa ra các nội dung: nghèo, thiên tai & BĐKH; các xu thế & dự báo về tính
dễ tổn thương về vật lý trước BĐKH như đất đai và khí hậu; Những biến đổi vềnhiệt độ và lượng mưa; Những biến đổi về lũ lụt và hạn hán; Thay đổi các hìnhthái bão; Mực nước biển dâng; Các tác động đến nông nghiệp; Nghề cá và nuôitrồng thuỷ sản; BĐKH và sức khỏe con người; tính dễ tổn thương do BĐKHtrong bối cảnh kinh tế - xã hội đang thay đổi; chính sách ứng phó với BĐKH
Dự án “Nghiên cứu BĐKH ở Đông Nam Á và đánh giá tác động, tổn hại vàbiện pháp thích ứng đối với sản xuất lúa và tài nguyên nước” (2007), nhằm xâydựng các kịch bản BĐKH cho khu vực Đông Nam Á và Việt Nam, đánh giánhững tác động của BĐKH đến các yếu tố như nhiệt độ, mưa;
Trang 4Dự án “Lợi ích của thích nghi với BĐKH từ các nhà máy thủy điện vừa vànhỏ, đồng bộ với phát triển nông thôn” (2005-2007) do Viện KH KTTV&MTthực hiện đã xác định những lợi ích rõ rệt và nhiều mặt từ các nhà máy thuỷ điệnvừa và nhỏ là phát triển nông thôn, thích nghi với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH.Mục tiêu cụ thể của dự án là: (1) Xác định được lợi ích của các nhà máy thuỷđiện vừa và nhỏ trong việc thích nghi với BĐKH; (2) Phân tích và xác định đượclợi ích của thuỷ điện vừa và nhỏ đối với phát triển nông thôn trong vùng nghiêncứu thí điểm; (3) Kiến nghị được các biện pháp giảm thiểu tác động đến môitrường và đời sống của người dân do các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ gây ra,đặc biệt đối với những cộng đồng dân nghèo;
Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến các điều kiện tự nhiên, tàinguyên thiên nhiên và đề xuất các giải pháp chiến lược phòng tránh, giảm nhẹ
và thích nghi, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội ở Việt Nam” 2010) Mục tiêu của đề tài là: (1) Làm rõ được những tác động của BĐKH đếncác điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội Việt Nam; và (2)
(2008-Đề xuất được các giải pháp chiến 15 lược nhằm thích ứng với BĐKH và giảmnhẹ tác động xấu do BĐKH gây ra
Như vậy, các nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH tại Việt Nam đã đượcnhiều cơ quan nhà nước, các viện nghiên cứu, các tổ chức trong nước và quốc tếtiến hành từ những thập niên 90 Những nghiên cứu khởi đầu tập trung vào nhậnthức về BĐKH và phân tích xu thế BĐKH dựa theo các tài liệu quan trắc tronglịch sử Những nghiên cứu về sau đã đi sâu vào đánh giá tác động của BĐKHđến các lĩnh vực kinh tế - xã hội cũng như các lĩnh vực tự nhiên và địa phươngkhác nhau Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng đã đề xuất các biện pháp thích ứngvới BĐKH cho từng khu vực, lĩnh vực cụ thể
3 Khoảng trống nghiên cứu
Khí hậu có quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên và các hoạt động kinh tế
- xã hội (KT-XH) Khí hậu thay đổi làm thay đổi phương thức sản xuất, hoạtđộng của con người Thực tiễn cho thấy, các hiện tượng thời tiết cực đoan như
Trang 5càng nghiêm trọng Tài nguyên nước ở trên thế giới cũng có sự biến động Hạnhán xuất hiện ở một số khu vực, trong khi một số khu vực khác bị ngập lụt.Ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản bị ảnh hưởng về giống loài, trữ lượng vànăng suất nuôi trồng thủy sản do thay đổi môi trường sống Các di tích, danhlam thắng cảnh, các khu công nghiệp, các công trình dân dụng, đường sá và khudân cư ven biển bị hủy hoại do nước biển dâng.
Việc đánh giá tác động của BĐKH đến kinh tế - xã hội đã được công bốtrong nhiều công trình nghiên cứu, nhưng hầu hết trên quy mô nhỏ và cho địaphương cụ thể và từng địa phương cụ thể, chưa có các nghiên cứu, đánh giá tổngthể và chi tiết, trong khi tác động của BĐKH đến toàn bộ quá trình sản xuất củacác doanh nghiệp tư nhân là rất rõ ràng, ảnh hưởng trực tiếp lợi ích của mỗidoanh nghiệp Các nghiên cứu về tác động của BĐKH ở Việt Nam nói chungcòn riêng lẻ, chưa thống nhất, chưa có những nghiên cứu chuyên sâu đánh giátổng hợp các nhân tố tác động tới quá trình sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp tư nhân Cùng với đó, vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng đượcnhận thức rõ hơn và đánh giá đúng hơn Kinh tế tư nhân ngày càng đóng góp lớnhơn trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinhdoanh, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước,tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết cácvấn đề xã hội
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TÁC ĐỘNG ĐẾN
CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
1 Thực trạng của biến đổi khí hậu và kịch bản trong tương lai và các tác động chung đến tự nhiên, kinh tế - xã hội Việt Nam.
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nềnhất của biến đổi khí hậu Trong những năm qua, dưới tác động của biến đổi khíhậu, tần suất và cường độ các thiên tai ngày càng gia tăng, gây nhiều tổn thất to lớn
về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, về kinh tế, văn hoá, xã hội, tác động xấu đến môitrường
1.1 Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Theo số liệu quan trắc, biến đổi khí hậu ở Việt Nam đang ở tình trạng sau:Nhiệt độ: Nhiệt độ có xu thế tăng ở hầu hết các trạm quan trắc, tăng nhanhtrong những thập kỷ gần đây Trung bình cả nước, nhiệt độ trung bình năm thời kỳ1958-2014 tăng khoảng 0,62oC Nhiệt độ tại các trạm ven biển và hải đảo có xu thếtăng ít hơn so với các trạm ở sâu trong đất liền Có sự khác nhau về mức tăng nhiệt
độ giữa các vùng và các mùa trong năm Nhiệt độ tăng cao nhất vào mùa đông, thấpnhất vào mùa xuân Trong 7 vùng khí hậu, khu vực Tây Nguyên có mức tăng nhiệt
độ lớn nhất, khu vực Nam Trung Bộ có mức tăng thấp nhất
Lượng mưa: Trong thời kỳ 1958-2014, lượng mưa năm tính trung bình cảnước tăng nhẹ Trong đó, tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông và mùa xuân;giảm vào các tháng mùa thu Nhìn chung, lượng mưa năm ở các khu vực phía Bắcgiảm (từ 5,8% ÷ 12,5%/57năm); các khu vực phía Nam có xu thế tăng (từ 6,9% ÷19,8%/57 năm) Khu vực Nam Trung Bộ có mức tăng lớn nhất (19,8%/57 năm);khu vực đồng bằng Bắc Bộ có mức giảm lớn nhất(12,5%/57 năm)
Gió mùa và một số hiện tượng cực đoan:
Hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn trong mùa khô
Mưa cực đoan giảm đáng kể ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ, tăng mạnh ở NamTrung Bộ và Tây Nguyên
Số lượng bão mạnh có xu hướng tăng
Trang 7 Số ngày rét đậm, rét hại có xu thế giảm nhưng xuất hiện những đợt rét dịthường.
Ảnh hưởng của El Nino và La Nina có xu thế tăng
Mực nước biển:
Theo số liệu mực nước quan trắc tại các trạm hải văn: Mực nước tại hầu hếtcác trạm đều có xu thế tăng, Giai đoạn 1993-2014, trung bình mực nước tạicác trạm có xu thế tăng khoảng 3,34mm/năm
Theo số liệu vệ tinh giai đoạn 1993-2014: Mực nước trung bình toàn BiểnĐông có xu thế tăng (4,05±0,6mm/năm) Mực nước trung bình khu vực venbiển Việt Nam có xu thế tăng (3,50±0,7mm/năm)
1.2 Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Nhiệt độ: Theo kịch bản RCP4.5, nhiệt độ trung bình năm tăng 1,9÷2,4 oC ởphía Bắc và 1,7÷1,9 oC ở phía Nam Theo kịch bản RCP8.5, mức tăng 3,3÷4,0 oC ởphía Bắc và 3,0÷3,5 oC ở phía Nam Nhiệt độ cực trị có xu thế tăng rõ rệt
Lượng mưa năm : Theo kịch bản RCP4.5, lượng mưa năm tăng phổ biến từ5÷15% Theo kịch bản RCP8.5, mức tăng nhiều nhất có thể trên 20% ở hầu hết Bắc
Bộ, Trung Trung Bộ, một phần Nam Bộ và Tây Nguyên Giá trị trung bình củalượng mưa 1 ngày lớn nhất có xu thế tăng trên toàn lãnh thổ Việt Nam (10÷70%) sovới trung bình thời kỳ cơ sở
Gió mùa và một số hiện tượng cực đoan:
Số lượng bão mạnh đến rất mạnh có xu thế tăng; gió mùa mùa hè có xu thế bắtđầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn Mưa trong thời kỳ hoạt động của gió mùa có xuhướng tăng Số ngày rét đậm, rét hại ở các tỉnh miền núi phía Bắc, đồng bằng Bắc
Bộ, Bắc Trung Bộ đều giảm Số ngày nắng nóng (Tx ≥ 35 oC) có xu thế tăng trênphần lớn cả nước, lớn nhất là ở Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ Hạn hán
có thể trở nên khắc nghiệt hơn ở một số vùng do nhiệt độ tăng và khả năng giảmlượng mưa trong mùa khô
Mực nước biển dâng:
Theo kịch bản RCP4.5, mực nước biển dâng trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam đến năm 2050 là 22 cm (14 cm ÷ 32 cm); đến năm 2100 là 53 cm (32 cm
÷ 76 cm), trong đó, khu vực ven biển từ Móng Cái - Hòn Dáu và Hòn Dáu - Đèo
Trang 8Ngang có mực nước biển dâng thấp nhất là 55 cm (33 cm ÷ 78 cm), khu vực từ Mũi
Cà Mau – Kiên Giang là 53 cm (32 cm ÷ 75 cm), khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lần lượt là 58 cm (36 cm ÷ 80 cm) và 57 cm (33 cm ÷ 83 cm)
Theo kịch bản RCP8.5, mực nước biển dâng trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam đến năm 2050 là 25 cm (17 cm ÷ 35 cm); đến năm 2100 là 73 cm (49 cm
÷ 103 cm), trong đó, khu vực ven biển từ Móng Cái – Hòn Dáu và Hòn Dáu – ĐèoNgang có mực nước biển dâng thấp nhất là 72 cm (49 cm ÷ 101 cm), khu vực từMũi Cà Mau – Kiên Giang là 75 cm (52 cm ÷ 106 cm), khu vực quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa lần lượt là 78 cm (52 cm ÷ 107 cm), 77 cm (50 cm ÷ 107 cm)
1.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến tự nhiên, kinh tế - xã hội Việt Nam
1.3.1 Tác động của nước biển dâng
Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, hơn một triệu km2 lãnh hải và trên 3.000hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển, trong đó cótrên 80% diện tích đồng bằng sông Cửu Long và trên 30% diện tích đồng bằng sôngHồng – Thái Bình có độ cao dưới 2,5m so với mặt biển Những vùng này hàng nămphải chịu ngập lụt nặng nề trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn trong mùakhô BĐKH và nước biển dâng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng nói trên, làmtăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển và nhiễmmặn nguồn nước ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, gây rủi rolớn đến các công trình xây dựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến cảng,các nhà máy, các đô thị và khu vực dân cư ven biển
Mực nước biển dâng và nhiệt độ nước biển tăng làm ảnh hưởng đến các hệsinh thái biển và ven biển, gây nguy cơ đối với các rạn san hô và rừng ngập mặn,ảnh hưởng xấu đến nền tảng sinh học cho các hoạt động khai thác và nuôi trồngthuỷ sản ven biển Tất cả những điều trên đây đòi hỏi phải có đầu tư rất lớn để xâydựng và củng cố hệ thống đê biển, nhằm ứng phó với mực nước biển dâng, pháttriển hạ tầng kỹ thuật, di dời và xây dựng các khu dân cư và đô thị có khả năngthích ứng cao với nước biển dâng
Trang 9Theo khuyến cáo của Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC), khi mực nướcbiển dâng lên 100 cm, diện tích đất bị mất đi của Việt Nam sẽ lên tới 40.000 km2,chiếm 12,1 % tổng diện tích đất hiện có, kéo theo hệ quả 17,1 triệu người sẽ mất đinơi sinh sống, chiếm 23,1 % dân số tại thời điểm báo cáo.
Nước biển dâng cũng sẽ khiến cho Đồng bằng sông Cửu Long – một trongnhững vựa lúa lớn nhất của khu vực và cả nước – bị thiệt hạinặng nề Điều này đedọa an ninh lương thực không chỉ với Việt Nam mà cả với cộng đồng quốc tế, vìViệt Nam là một trong năm quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới
Theo bản Đóng góp dự kiến do Quốc gia tự quyết định của Việt Nam (năm2015) nếu mực nước biển dâng 100 cm, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sôngHồng và tỉnh Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung
và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập Với khu vựcđồng bằng sông Cửu Long, sẽ có khoảng 39% diện tích bị ngập, ảnh hưởng tiêu cựctới gần 35% dân số, nguy cơ mất đi 40,5% tổng sản lượng lúa của cả vùng
1.3.2 Tác động của sự tăng nhiệt độ
Nhiệt độ tăng lên ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyểncác ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái nước ngọt, làm thayđổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng, một số loài có nguồn gốc ônđới và á nhiệt đới có thể bị mất đi dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học
Đối với sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng vật nuôi và mùa vụ có thể thayđổi ở một số vùng, trong đó vụ đông ở miền Bắc có thể bị rút ngắn lại, thậm chíkhông có vụ đông, vụ mùa thì kéo dài hơn Điều đó đòi hỏi phải thay đổi kỹ thuậtcanh tác Nhiệt độ tăng và tính biến động của nhiệt độ lớn hơn, kể cả các nhiệt độcực đại và cực tiểu, cùng với biến đổi của các yếu tố thời tiết khác và thiên tai làmtăng khả năng phát triển sâu bệnh, dịch bệnh, dẫn đến giảm năng suất và sản lượng,tăng nguy cơ rủi ro đối với nông nghiệp và an ninh lương thực
Nhiệt độ và độ ẩm tăng cao làm gia tăng làm gia tăng sức ép về nhiệt độ với
cơ thể con người, nhất là người già và trẻ em, làm tăng bệnh tật, đặc biệt là các bệnh
Trang 10nhiệt đới, bệnh truyền nhiễm thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côntrùng và vật mang bệnh, chế độ dinh dưỡng và vệ sinh môi trường suy giảm.
Sự gia tăng nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác như năng lượng,giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch, thương mại, liên quan đến chiphí gia tăng cho việc làm mát, thông gió, bảo quản thiết bị, phương tiện, sức bền vậtliệu
1.3.3 Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan
Sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai, cả về tần số vàcường độ do BĐKH là mối đe doạ thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cảcác lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng Bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng,
tố, lốc là thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng trong cả nước, gây thiệt hại chosản xuất và đời sống BĐKH sẽ làm cho các thiên tai nói trên trở nên khốc liệt hơn
và có thể trở thành thảm hoạ, gây rủi ro lớn cho phát triển kinh tế - xã hội hoặc xoá
đi những thành quả nhiều năm của sự phát triển Những khu vực được dự tính chịutác động lớn nhất của các hiện tượng khí hậu cực đoan nói trên là dải ven biểnTrung Bộ, vùng núi Bắc và Bắc Trung Bộ, vùng đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằngsông Cửu Long
Theo Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2018, tỷ lệ tử vong do các hiện tượngthời tiết cực đoan ở Việt Nam năm 2016 là 161, đứng thứ 11 trên thế giới Giá trịthiệt hại lên tới 4.037.704 triệu USD (tính theo sức mua tương đương -PPP) đứngthứ 5; thiệt hại bình quân GDP theo % là 0,6782, đứng thứ 10 trên thế giới
Ở Việt Nam, thiên tai đang ngày càng gia tăng cả về quy mô cũng như chu kỳlặp lại, từ đó làm mất đi nhiều thành quả của quá trình phát triển kinh tế-xã hội của
cả nước Trong giai đoạn 2002-2010, thiệt hại do thiên tai gây ra trên phạm vi cảnước thấp nhất là 0,14% GDP (năm 2004) và cao nhất là 2% GDP (năm 2006) Tínhbình quân trong 15 năm qua, thiên tai đã gây tổn hại khoảng 1,5% GDP hàng năm
Trang 11Theo các kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên và Môi trường , đến cuối thế kỷ
21, sự gia tăng 1 m của mực nước biển có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống
và sinh kế của khoảng 20% dân số và tổn thất có thể lên tới 10% GDP mỗi năm
Báo cáo kết quả nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương do BĐKH của tổ chứcDARA International (năm 2012) chỉ ra rằng, BĐKH có thể làm Việt Nam thiệt hạikhoảng 15 tỉ USD mỗi năm, tương đương khoảng 5% GDP Nếu Việt Nam không
có giải pháp ứng phó kịp thời, thiệt hại do BĐKH ước tính có thể lên đến 11% GDPvào năm 2030
Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương phối hợp với ViệnNghiên cứu phát triển Thế giới và Đại học Copenhaghen (năm 2012) cho biết, nếukinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng với tốc độ 5,4%/năm trong giai đoạn 2007-
2050 thì tốc độ tăng trưởng bị tác động bởi BĐKH có thể ở mức 5,32% đến 5,39%– tức là tốc độ tăng trưởng có giảm nhưng không đáng kể Nếu GDP vào năm 2050của Việt Nam đạt trên 500 tỷ USD thì thiệt hại do BĐKH có thể lên đến khoảng 40
tỷ USD vào năm 2050 – một thiệt hại tương đối lớn về giá trị tuyệt đối và có thểgiảm xuống nếu Việt Nam có chính sách ứng phó với BĐKH phù hợp và hiệu quả
2 Tác động của biến đổi khí hậu đến các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam
2.1 Tác động đến các doanh nghiệp sản xuất nông, lâm, thủy sản
Nhiệt độ tăng, hạn hán và lụt lội ngày càng trầm trọng, mực nước biển dâng vàtăng tần suất xuất hiện bão đe dọa tới nguồn cung ứng cho hoạt động sản xuất, điềukiện thuận lợi trong sản xuất để các doanh nghiệp sản xuất nông, lâm, thủy sản pháttriển ổn định hơn
2.1.1 Tác động đến doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp
Hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên như:đất đai, nguồn nước, khí hậu, chế độ thủy văn, nhiệt độ, độ ẩm… nên sẽ là cácdoanh nghiệp sản xuất nông nghiệp sẽ bị ảnh hưởng rất nặng nề bởi biến đổi khí hậu
ở Việt Nam
Trang 12Thứ nhất, tình trạng ngập lụt do nước biển dâng sẽ làm mất đất canh tác trong
nông nghiệp Nếu mực nước biển dâng thêm 1m, ước tính khoảng 40% diện tíchđồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích đồng bằng sông Hồng và 3% diện tíchcủa các tỉnh khác thuộc vùng ven biển sẽ bị ngập Ngập lụt sẽ làm mất đất canh tác
ở hai khu vực nông nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam là đồng bằng sông CửuLong và đồng bằng sông Hồng vì khoảng 80% diện tích đồng bằng sông Cửu Long
và 30% diện tích đồng bằng sông Hồng có độ cao dưới 2,5 m so với mực nước biển.Năm 2011, diện tích đất gieo trồng của Việt Nam là khoảng 9,4 triệu ha (trong đó
có 4 triệu ha đất trồng lúa) Tính trên phạm vi cả nước, Việt Nam sẽ bị mất đikhoảng hơn 2 triệu ha đất trồng lúa (khoảng 50%) nếu mực nước biển dâng thêm1m
Thứ hai, tình trạng xâm nhập mặn ở khu vực ven biển cũng sẽ làm thu hẹp diện
tích đất nông nghiệp Một phần diện tích đáng kể đất trồng trọt ở vùng đồng bằngsông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị nhiễm mặn vì 2 đồng bằng này đều
là những vùng đất thấp so với mực nước biển Xâm nhập mặn làm cho diện tích đấtcanh tác giảm, từ đó hệ số sử dụng đất có thể giảm từ 3-4 lần/năm xuống còn 1-1,5lần/năm Ngập mặn sẽ đặc biệt nghiêm trọng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.Nếu nước biển dâng cao thêm 1m thì khoảng 1,77 triệu ha đất sẽ bị nhiễm mặn,chiếm 45% diện tích đất ở đồng bằng sông Cửu Long và ước tính rằng, có khoảng85% người dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cần được hỗ trợ về nông nghiệp
Thứ ba, nhiệt độ tăng, hạn hán (và thiếu nước tưới) sẽ ảnh hưởng đến sự phân bố
của cây trồng, đặc biệt làm giảm năng suất, cụ thể là năng suất lúa của vụ xuân có
xu hướng giảm mạnh hơn so với năng suất lúa của vụ mùa; năng suất ngô vụ đông
có xu hướng tăng ở đồng bằng Bắc Bộ và giảm ở Trung Bộ và Nam Bộ Ước tínhrằng, năng suất lúa xuân ở vùng đồng bằng sông Hồng có thể giảm 3,7% vào năm
2020 và giảm tới 16,5% vào năm 2070; năng suất lúa mùa sẽ giảm 1% vào năm
2020 và giảm 5% vào năm 2070 nếu không có các biện pháp ứng phó kịp thời vàhiệu quả
Thứ tư, biến đổi khí hậu có tác động đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời
vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng Biến đổi khí hâu ảnh
Trang 13truyền dịch của gia súc, gia cầm Vì sự nóng lên trên phạm vi toàn lãnh thổ, thờigian thích nghi của cây trồng nhiệt đới mở rộng và của cây trồng á nhiệt đới bị thuhẹp lại Ranh giới của cây trồng nhiệt đới dịch chuyển về phía núi cao hơn và các vĩ
độ phía Bắc Phạm vi thích nghi của cây trồng nhiệt đới dịch chuyển về phía núi cao
và các vĩ độ phía Bắc Phạm vi thích nghi của các cây trồng á nhiệt đới bị thu hẹplại Vào những năm 2070, cây á nhiệt đới ở vùng núi chỉ có thể sinh trưởng ở những
độ cao trên 100 – 500m và lùi xa hơn về phía Bắc 100 – 200km so với hiện nay
Như vậy, các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp sẽ chịu tổn thất nghiêm trọng.Biến đổi khí hậu làm giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng tới năngsuất, sản lượng làm cho doanh thu của các doanh nghiệp này sụt giảm Không chỉvậy, các doanh nghiệp còn phải chịu các chi phí để khắc phục những thiệt hại dobiến đổi khí hậu gây ra Các doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra các chi phí để giảm tìnhtrạng ngập mặn, nghiên cứu phương pháp canh tác mới để nâng cao năng suất cũngnhư khắc phục vấn đề về bệnh dịch và các vấn đề phát sinh khác Việc bảo quản cácsản phẩm nông nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn do khí hậu ngày càng nóng lên
2.1.2 Tác động đến doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp
Thứ nhất, biến đổi khí hậu làm suy giảm quý đất rừng và diện tích rừng Diện
tích rừng ngập mặt ven biển chịu tổn thất to lớn do nước biển dâng Nguy cơchuyển dịch diện tích đất lâm nghiệp sang đất dành cho các lĩnh vực kinh tế - xã hộikhác là tác động gián tiếp song có thể coi là tác động lớn nhất đối với sản xuất lâmnghiệp
Thứ hai, biến đổi khí hậu làm thay đổi cơ cấu tổ chức rừng Nhiệt độ ngày càng
tăng cao, lượng mưa, lượng bốc hơi, bão ngày cày nhiều, gia tăng các cực trị nhiệt
độ, cường độ mưa và suy giảm chỉ số ẩm ướt,… làm ranh giới giữa khí hậu nhiệtđới và ranh giới nhiệt đới với nền nhiệt độ á nhiệt đới, ôn đới đều dịch chuyển lêncao, về phía đỉnh núi Rừng cây họ dầu mở rộng lên phía Bắc và các dải cao hơn,rừng rụng lá với nhiều cây chịu hạn phát triển mạnh
Thứ ba, biến đổi khí hậu làm suy giảm chất lượng rừng Biến đổi khí hậu gây ra
sự phát triển đáng kể nhiều sâu bệnh mới nguy hại hơn hoặc các sâu bệnh ngoại lai