1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Học kì hôn nhân 8đ điều kiện kết hôn và sự cần thiết phải quy định các điều kiện kết hôn

17 223 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 44,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn qui định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình...7 a, Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn với người khác...7 b, Cấm n

Trang 1

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 1

I Các khái niệm cơ bản 1

1 Khái niệm kết hôn 1

2 Điều kiện kết hôn 1

II Sự cần thiết phải quy định các điều kiện kết hôn 2

III Nội dung các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình 5

1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn 5

2 Điều kiện về sự tự nguyện giữa hai bên nam nữ 6

3 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn qui định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình 7

a, Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn với người khác 7

b, Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn 8

c, Cấm những người có quan hệ huyết thống kết hôn với nhau 9

d, Cấm kết hôn giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, giữa những người đã từng là bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, giữa người đã từng là bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng 10

e, Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính 11

IV Thực trạng việc chấp hành các điều kiện kết hôn 11

V Hạn chế của pháp luật về điều kiện kết hôn và dự thảo luật về vấn đề này 12

C KẾT LUẬN 15

Trang 2

A LỜI MỞ ĐẦU

Gia đình có vị trí và vai trò quan trọng trong xã hội Ở mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm lớn đối với vấn đề gia đình và có chủ trương

để thể chế hóa bằng pháp luật Điều kiện kết hôn là một trong những nội dung quan trọng của luật hôn nhân và gia đình Đó cũng là chuẩn mực pháp lí để xác lập quan hệ hôn nhân

và xây dựng gia đình theo khuôn mẫu nhất định phù hợp với lợi ích chung của Nhà nước

và xã hội trong từng giai đoạn lịch sử Để hiểu rõ thêm về điều kiện kết hôn cũng như lý

do mà các nhà làm luật đưa ra những quy định đó, em xin chọn đề tài: “Điều kiện kết hôn

và sự cần thiết phải quy định các điều kiện kết hôn” để nghiên cứu Trong giới hạn một

bài tập và trong khoảng thời gian nhất định, em tập trung vào một số vấn đề như sau:

B NỘI DUNG

I Các khái niệm cơ bản

1 Khái niệm kết hôn

Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội Vì vậy, Nhà nước

ta luôn quan tâm củng cố chế độ hôn nhân và đề ra những biện pháp nhằm làm ổn định quan hệ này Gia đình ra đời, tồn tại và phát triển trước hết nhờ Nhà nước thừa nhận hôn nhân của một đôi nam nữ đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ Hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, sự liên kết đó phải được nhà nước thừa nhận bằng sự phê chuẩn dưới hình thức pháp lý là đăng ký kết hôn Vì vậy,

khoản 2 Điều 8 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.

2 Điều kiện kết hôn

Luật hôn nhân và gia đình nước ta quy định việc kết hôn phải được đăng ký của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Muốn được kết hôn với nhau, nam nữ phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9 luật HN&GĐ năm 2000:

“Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

1 Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;

Trang 3

2 Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;

3 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này.”

Theo Điều 10, “Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:

1 Người đang có vợ hoặc có chồng;

2 Người mất năng lực hành vi dân sự;

3 Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

4 Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

5 Giữa những người cùng giới tính”.

Khi việc kết hôn đã được đăng ký tại cơ quan đăng ký kết hôn và ghi vào sổ kết hôn thì giữa các bên nam nữ phát sinh quan hệ hôn nhân Như vậy đăng ký kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân Thông qua việc đăng ký kết hôn, Nhà nước đã công nhận hôn nhân của đôi nam nữ Sự kiện kết hôn là cơ sở pháp lý ghi nhận rằng, hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng

II Sự cần thiết phải quy định các điều kiện kết hôn

Xét về mặt lý luận, nếu xem gia đình là nền tảng của xã hội thì điều kiện kết hôn chính là yếu tố pháp lý cơ sở để xây dựng nền tảng này Điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật, có là điều cần thiết đối với xã hội, gia đình và cá nhân Cụ thể như sau:

Thứ nhất, nam nữ kết hôn là xác lập quan hệ hôn nhân và hình thành gia đình Gia

đình phải thực hiện các chức năng xã hội của nó mà một trong những chức năng đó là sinh

đẻ duy trì nòi giống Để đảm bảo cho con sinh ra được khỏe mạnh, nòi giống phát triển lành mạnh, bảo đảm sức khỏe cho người phụ nữ khi mang thai, sinh đẻ pháp luật quy định nam phải từ 20 tuổi trở lên, nữ phải từ mười tám tuổi trở lên Đồng thời khi nam nữ đạt độ tuổi đó có thể tự mình lựa chọn và quyết định việc kết hôn Mặt khác, khi đó nam nữ đã

có thể tham gia vào quá trình lao động và có thu nhập nên có thể đảm bảo cho họ có cuộc

Trang 4

sống ổn định về kinh tế sau khi kết hôn Đó là những yếu tố cần thiết bảo đảm cho nam nữ sau khi kết hôn có thể cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Như vậy quy định về độ tuổi kết hôn là điều thực sự cần thiết, nếu không có quy định về độ tuổi kết hôn thì tình trạng tảo hôn sẽ ngày càng diễn ra càng nhiều, xã hội

sẽ trở nên “loạn”, không thể kiểm soát nổi, những đứa trẻ 14 15 tuổi cũng có thể lấy nhau

và chúng sẽ ra sao khi còn chưa tự lo cho bản thân mình được mà bây giờ có gia đình riêng của mình Các nhà làm luật cũng đã nhận thức được điều đó, lường trước được hậu quả sẽ xảy ra nếu không quy định về độ tuổi kết hôn, quy định này đảm bảo lợi ích của những người ết hôn nói riêng cũng như xã hội nói chung

Thứ hai, điều kiện về sự tự nguyện của các bên nam nữ cũng là một điều kiện cần

thiết Trong chúng ta ai cũng muốn có một gia đình hạnh phúc, và điều kiện đầu tiên để gia đình hạnh phúc là sự tự nguyện của vợ chồng trong việc kết hôn Sự tự nguyện của các bên trong việc kết hôn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể tổn tại lâu dài và bền vững Do đó, sự tự nguyện của các bên nam nữ trong việc kết hôn phải xuất phát từ tình yêu chân chính giữa họ nhằm xây dựng gia đình và cùng nhau chung sống lâu dài Kết hôn là quyền chứ không phải là nghĩa vụ Vì vậy, không thể có hôn nhân ngoài ý muốn của người kết hôn Nếu hai người kết hôn mà trong đó có một bên bị cưỡng ép, không tự nguyện thì thử hỏi cuộc sống gia đình có hạnh phúc được không khi mà họ không yêu nhau, không bằng lòng ở bên cạnh nhau, chẳng bao lâu mà xuất hiện cảnh

“cơm chẳng lành cơm chẳng ngọt”, từ đó dẫn tới việc gia đình đổ vỡ, ảnh hưởng đến tình cảm giữa hai bên bố mẹ họ hàng, bạn bè, hàng xóm Do đó, việc quy định về sự tự nguyện của hai bên nam nữ trong kết hôn là hoàn toàn cần thiết để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc

Thứ ba, quy định việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn

quy định tại Điều 10 Điều này đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật hôn nhân

và gia đình, các điều luật phải phù hợp với nhau mà không mâu thuẫn với nhau

 Trường hợp cấm thứ nhất: Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn với người khác

Quy định này là sự kế thừa và cụ thể hóa nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình – nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng Đó là qui định hết sức cần thiết đảm

Trang 5

bảo thực hiện nhiệm vụ của luật hôn nhân gia đình là xóa bỏ chế độ hôn nhân gia đình phong kiến, xóa bỏ sự đối xử bất bình đẳng đối với người phụ nữ, xây dựng hôn nhân tiến

bộ xã hội chủ nghĩa Xã hội ngày càng phát triển, cùng với sự nghiệp hiện đại hóa công nghiệp hóa, gia đình là tế bào của xã hội nên cũng phải phát triển một cách lành mạnh, không thể phá vỡ nguyên tắc một vợ một chồng, một người không thể lấy hai chồng hoặc hai vợ được

Trường hợp cấm thứ hai: Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn

Quy định cấm những người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết Bởi vì người không có khả năng nhận thức được hành vi thì không có khả năng thể hiện một cách đúng đắn ý chí của mình trong vấn đề kết hôn, cũng không thể nhận thức và thực hiện được trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ trong đời sống gia đình Nếu họ kết hôn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi, sức khỏe của vợ, chồng, con cái họ

Trường hợp cấm thứ 3: Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực

hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời

Xét về quan hệ thực tế, giữa những người này không có quan hệ huyết thống, tuy nhiên, trước đây giữa họ đã có mối quan hệ cha, mẹ, con và có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng Do vậy, việc pháp luât hôn nhân và gia đình quy định những người này cấm kết hôn với nhau là hoàn toàn đúng đắn Điều này góp phần giữ gìn thuần phong mĩ tục của dân tộc, bảo đảm thực hiện các nguyên tắc của cuộc sống, nhằm ổn định mới quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, phù hợp với đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam, ngăn chặn hiện tượng cưỡng ép kết hôn do mối quan hệ phụ thuộc giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

 Trường hợp cấm thứ 5: Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính

Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững, thể hiện trong việc sinh đẻ, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, đáp ững lẫn nhau những nhu cầu vật chất và tinh thần trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy, hôn nhân là sự liên kết giữa những người khác giới tính là một đặc điểm vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội Để bảo đảm mục đích của hôn nhân được thực hiện, để bảo

vệ yếu tố đạo đức truyền thống và tính tự nhiên trong hôn nhân, trong tục lệ truyền thống,

Trang 6

hôn nhân giữa những người cùng giới tính không được thừa nhận ở Việt Nam Tóm lại, pháp luật Việt Nam không cho phép những người đồng giới kết hôn với nhau là một điều kiện cần thiết vì điều đó không phù hợp với đạo đức, tập quán và qui luật sinh học

Thứ tư, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan đăng ký kết hôn thực hiện

theo nghi thức mà pháp luật quy định tại điều 14 Luật hôn nhân và gia đình Đăng kí kết hôn là thủ tục do Nhà nước qui định như một điều kiện về hình thức, điều này là hoàn toàn cần thiết, nhằm công nhận việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam nữ là hợp pháp Việc pháp luật qui định sự kiện kết hôn phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứng nhận là sự ràng buộc pháp lí, là cơ sở để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của

vợ chồng Đăng kí kết hôn là biện pháp để cơ quan Nhà nước có thể kiểm tra và kịp thời ngăn chặn các hiện tượng vi phạm điều kiện kết hôn của nam nữ và tuyên truyền, giải thích pháp luật cho họ hiểu

Như vậy, các quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là thực sự cần thiết Điều kiện kết hôn nhìn chung khá cụ thể và đầy đủ, phù hợp hơn với xã hội hiện tại nhằm đảm bảo mục tiêu cao nhất là sự yên bình ấm và hạnh phúc của mỗi gia đình, hướng tới một xã hội văn minh và tốt đẹp

III Nội dung các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về điều

kiện kết hôn thì: “Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: 1 Nam

từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;”

Căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người, căn cứ vào điều kiện kinh tế

-xã hội của nước ta Luật hôn nhân và gia định quy định tuổi kết hôn như vậy là hoàn toàn hợp lý Quy định này đã được ghi nhận ngay từ đạo luật đầu tiên về hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta đó là Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và được giữ nguyên cho đến nay Việc pháp luật qui định nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn

là nhằm bảo đảm sự phát triển về mặt thể chất, con cái sinh ra được khỏe mạnh, bảo đảm cho đôi nam nữ thực hiện các chức năng sinh đẻ, giáo dục con cái và nhận thức đầy đủ

Trang 7

trách nhiệm của mình đối với gia đình Đây là quy định thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với sức khỏe cộng đồng và đảm bảo thực hiện tốt chức năng của gia đình

Về cách tính tuổi kết hôn, theo quy định tại khoản 1 điều 9 và mục 1 điểm a Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 23/12/2000, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm

2000 thì “không bắt buộc nam phải từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ phải từ đủ mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn; do đó, nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn” Như vậy, chỉ cần

nam bước sang tuổi hai mươi, nữ bước sang tuổi mười tám là đã có thể kết hôn Quy định

về độ tuổi như vậy là tạo khoảng không gian rộng cho nam nữ lựa chọn thời điểm để kết

mà không phải đợi đến tròn 20 tuổi và tròn 18 tuổi

2 Điều kiện về sự tự nguyện giữa hai bên nam nữ

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật HN&GĐ và Điều 35 BLDS thì việc kết hôn

do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào và không

ai được cưỡng ép hoặc cản trở

Tự nguyện hoàn toàn trong việc kết hôn là hai bên nam nữ thực sự mong muốn trở thành vợ chồng xuất phát từ tình yêu thương giữa họ và nhằm mục đích là cùng nhau xây dựng gia đình Mỗi bên kết hôn tự mình quyết định việc kết hôn mà không bị tác động bởi bên kia hay của bất kì người nào, bất kỳ yếu tố nào khiến họ phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ

Vì vậy, trong những trường hợp nam nữ tự nguyện kết hôn nhưng không nhằm để xây dựng gia đình và chung sống lâu dài (hôn nhân giả tạo) thì Nhà nước không công nhận hôn nhân đó là hợp pháp (Điều 4 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)

Việc kết hôn thiếu sự tự nguyện của một hoặc hai bên sẽ bị coi là kết hôn trái pháp luật Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP thì thiếu sự tự nguyện của nam nữ khi kết hôn là có hành vi cưỡng ép kết hôn, lừa dối để kết hôn

Cưỡng ép kết hôn là hành vi buộc người khác phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ theo điểm b, khoản 1 nghị quyết số 02/2000/ NQ-HĐTP thì đó có thể là các hành

vi như:

Trang 8

“b.1 Một bên ép buộc (ví dụ: đe doạ dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần hoặc dùng vật chất ) nên buộc bên bị ép buộc đồng ý kết hôn;

b.2 Một bên lừa dối (ví dụ: lừa dối là nếu kết hôn sẽ xin việc làm phù hợp hoặc nếu kết hôn sẽ bảo lãnh ra nước ngoài; không có khả năng sinh lý nhưng cố tình giấu; biết mình bị nhiễm HIV nhưng cố tình giấu ) nên bên bị lừa dối đã đồng ý kết hôn;

b.3 Một bên hoặc cả hai bên nam và nữ bị người khác cưỡng ép (ví dụ: bố mẹ của người nữ do nợ của người nam một khoản tiền nên cưỡng ép người nữ phải kết hôn với người nam để trừ nợ; do bố mẹ của hai bên có hứa hẹn với nhau nên cưỡng ép con của họ phải kết hôn với nhau ) buộc người bị cưỡng ép kết hôn trái với nguyện vọng của họ.”

Những trường hợp kết hôn khi một bên bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000

3 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn qui định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình

Pháp luật quy định việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật hôn nhận và gia đình, cụ thể là các điều cấm sau:

a, Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn với người khác

Điều 64 Hiến pháp 1992 quy định: “…Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng…”.

Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”,

Ph.Ăngghen cũng đã chỉ rõ: “vì bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ…cho nên hôn nhân dựa trên tình yêu giữa nam và nữ do ngay bản chất của nó, là hôn nhân một vợ một chồng”.

Trên cơ sở đó, Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định hôn nhân một

vợ một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Tại

Khoản 2 Điều 4 quy định: “…Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ” Khoản 1 Điều 10 cũng

Trang 9

quy định: “Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây: 1 Người đang có vợ hoặc có chồng;”

Theo hướng dẫn của nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP tại mục c.1, điểm c, khoản 1

thì: “Người đang có vợ hoặc có chồng là:

- Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân

và gia đình nhưng chưa ly hôn;

- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn;

- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực cho đến trước ngày 01/01/2003).”

Như vậy, chỉ những người chưa kết hôn hoặc đã kết hôn nhưng vợ hoặc chồng họ

đã chết hoặc vợ chồng đã ly hôn thì mới có quyền kết hôn Từ đó ta cũng có thể hiểu rằng, những người đang có vợ có chồng bị cấm kết hôn với nhau và cũng bị cấm kết hôn với những người chưa có vợ, có chồng Người đang có vợ, chồng mà kết hôn với người khác thì việc kết hôn của họ đã vi phạm điều cấm kết hôn và việc kết hôn đó là trái pháp luật

Tuy nhiên, cần lưu ý trường hợp người bị Tòa án tuyên bố là đã chết Theo Điều 91

Bộ luật dân sự, một người nếu có sau ba năm kể từ ngày tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật, mất tích trong chiến tranh, bị tai nạn, thiên tai thảm họa….mà sau một thời gian luật định vẫn không có tin tức gì để biết người đó là còn sống thì những người

có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố người đó là đã chết Sau khi tuyên bố của Tóa án có hiệu lực thì vợ hoặc chồng của đó có quyền kết hôn với người khác Trong trường hợp đó việc kết hôn là hoàn toàn hợp pháp

b, Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn

Theo khoản 2 Điều 10 luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, những người mất hành vi dân sự bị cấm kết hôn Theo quy định tại khoản 1 điều 22 BLDS năm 2005 thì: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan,

Trang 10

Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định” Như vậy, người mất năng lực hành vi dân sự là người bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà mất khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự và bị tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dấn ự khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan và trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền

Để thực hiện chức năng, vai trò của gia đình thì nam nữ khi kết hôn phải thực hiện các quyền, nghĩa vụ mà pháp luật quy định giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con Nhưng những người mất năng lực hành vi dân sự không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình nên cũng không thể nhận thức được trách nhiệm của mình khi kết hôn và sẽ gây ảnh hưởng tới quyền lợi của vợ hoặc chồng và con cái họ Mặt khác, những người đang mất năng lực hành vi dân sự không thể thể hiện ý chí của mình một cách đúng đắn trong việc kết hôn, không thể đánh giá được sự tự nguyện của họ Hơn nữa, bệnh tâm thần là loại bệnh có tính di truyền nên dựa trên căn cứ khoa học, để đảm bảo cho con cái họ sinh ra được khỏe mạnh, bảo đảm cho nòi giống phát triển tốt và bảo đảm cho hạnh phúc gia đình thì việc cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là cần thiết

Ngoài ra theo quy định tại khoản 2 điều 22 BLDS 2005 thì “giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện xác lập, thực hiện” Nhưng quyền kết hôn và ly hôn là quyền gắn với nhân thân của mỗi người, không thể do người đại diện thực hiện Khi một người bị tòa án ra quyết định tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự thì người đó bị cấm kết hôn Vì vậy, người mất năng lực hành vi dân sự không thể kết hôn

c, Cấm những người có quan hệ huyết thống kết hôn với nhau

Khoản 3 Điều 10 luật hôn nhân và gia đình quy định: Những người cùng dòng máu

về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời bị cấm kết hôn với nhau

Việc xác định phạm vi những người có cùng dòng máu về trực hệ, những người trong phạm vi ba đời bị cấm kết hôn với nhau, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP đã có

hướng dẫn cụ thể lại mục c.3 khoản 1: “Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ là giữa cha, mẹ với con; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại Giữa những người có họ

Ngày đăng: 20/03/2019, 14:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w