Vì vậy, trong bối cảnh các nhà lập pháp đang tiến hành sửa đổi Luật HN&GĐ năm 2000, tác giả tập trung vào một khía cạnh của vấn đề kết hôn, cụ thể là các điều kiện kết hôn, để đánh giá t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Cừ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và
trung thực
Tác giả
Trần Thị Phương Thảo
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN 5
1.1 Khái niệm kết hôn và điều kiện kết hôn 5
1.1.1 Khái niệm hôn nhân 5
1.1.2 Khái niệm kết hôn 6
1.1.3 Khái niệm điều kiện kết hôn 8
1.2 Một số yêu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh về điều kiện kết hôn.10 1.2.1 Sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam 10
1.2.2 Ảnh hưởng của tập quán 11
1.2.3 Ảnh hưởng của đạo đức truyền thống 12
1.3 Khái quát về sự phát triển của các điều kiện kết hôn trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 13
1.3.1 Quy định điều kiện kết hôn trong cổ luật Việt Nam 13
1.3.2 Quy định điều kiện kết hôn thời kỳ Pháp thuộc 16
1.3.3 Ở miền Nam Việt Nam trước ngày thống nhất đất nước (30/4/1975) 19
1.3.4 Hệ thống pháp luật Hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay 21
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CÁC ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000 28
2.1 Tuổi kết hôn 29
2.2 Tự nguyện kết hôn 32
2.3 Việc kết hôn không vi phạm các trường hợp cấm kết hôn 36
2.3.1 Cấm kết hôn đối với những người đang có vợ, có chồng 36
2.3.2 Cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự 38
2.3.3 Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời 40
Trang 4cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố
dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng 42
2.3.5 Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính 44
2.4 Đăng ký kết hôn 49
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN HIỆN NAY 52
3.1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về điều kiện kết hôn 52
3.2 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện kết hôn ở nước ta hiện nay 62
3.2.1 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về điều kiện kết hôn 63
3.2.2 Một số giải pháp khác 69
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Gia đình đã hình thành và phát triển trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam từ thuở dựng nước Vai trò của gia đình Việt Nam cùng sức sống mãnh liệt của nó được thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử 4.000 năm dựng nước và giữ nước của
dân tộc ta Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện tại Đại hội liên hoan “Năm
tốt” của phụ nữ ngày 30/4/1964 đã dạy: “Nhiều gia đình cộng lại thành xã hội Hạt nhân của xã hội là gia đình” Gia đình là tế bào của xã hội, vì vậy, gia đình vững
mạnh, tiến bộ là điều kiện tiên quyết để xã hội phát triển
Hôn nhân giữa nam và nữ là cơ sở hình thành gia đình Vì vậy, các nhà lập pháp Việt Nam cũng như trên thế giới đã xây dựng hệ thống các quy định về vấn đề kết hôn nói chung và các điều kiện kết hôn nói riêng thành một chế định quan trọng hàng đầu trong pháp luật hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) năm 2000 được Quốc hội thông qua ngày 09/6/2000, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2001, bao gồm nhiều chế định, mỗi chế định có vị trí và vai trò điều chỉnh các mối quan hệ HN&GĐ khác nhau Trong đó, chế định kết hôn
và các quy định về điều kiện kết hôn là cơ sở pháp lý của vấn đề kết hôn ở Việt Nam hiện nay Mục đích của pháp luật quy định các điều kiện kết hôn nhằm bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của việc kết hôn, giữ gìn thuần phong mỹ tục, trật tự trong gia đình và xã hội, không để các giá trị truyền thống bị xâm phạm, bảo đảm sức khỏe, nòi giống người Việt Nam
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng Luật HN&GĐ trong hơn 13 năm qua cho thấy, các vấn đề liên quan đến điều kiện kết hôn chưa được chú trọng Hiện tượng tảo hôn vẫn còn tồn tại, vấn đề nam nữ chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn ngày càng trở nên phổ biến Đặc biệt trong những năm gần đây, tình trạng người đồng tính chung sống với nhau diễn ra công khai Trước những thực trạng này, Luật HN&GĐ năm 2000 chưa phát huy được vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh
Chính vì vậy, tại Nghị quyết số 23/2012/QH13 ngày 12/ 6/ 2012, Quốc hội đã giao cho Chính phủ chỉ đạo xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật HN&GĐ năm 2000 nay là Dự thảo Luật HN&GĐ (sửa đổi) (sau đây gọi tắt là Dự thảo Luật) nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn Đặc biệt trong Dự thảo
Trang 6Luật trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, vấn đề điều kiện kết hôn cũng được sửa đổi căn bản tại khoản 1 Điều 8 Dự thảo Luật
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài luận văn thạc sỹ luật học: “Các điều
kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành” nhằm phân tích
làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về các điều kiện kết hôn; trên cơ sở so sánh với Dự thảo Luật, qua đó đưa ra những ý kiến góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Với ý nghĩa là một chế định pháp luật quan trọng, đề tài kết hôn được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về chế định kết hôn cũng như các vấn đề liên quan đến điều kiện kết hôn
* Khóa luận, luận văn:
- Bùi Minh Hồng (2001), Trường Đại học Luật Hà Nội, Luận văn thạc sỹ
“Các nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ”;
- Khuất Thị Thu Hạnh (2009), Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn
thạc sỹ “Chế định kết hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000”;
- Trần Thị Quỳnh Trang (2012), Đại học Luật Hà Nội, Khóa luận tốt nghiệp
“Các trường hợp cấm kết hôn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”;
- Vi Thị Tuyết (2012), Đại học Luật Hà Nội, Khóa luận tốt nghiệp “Đăng ký
kết hôn theo pháp luật Việt Nam hiện hành”;
- Vũ Hồng Điệp (2012), Đại học Luật Hà Nội, Khóa luận tốt nghiệp “Tuổi kết
hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”;
* Báo, tạp chí chuyên ngành:
- Nguyễn Phương Lan (1998), “Về một số điều kiện kết hôn trong Luật
HN&GĐ Việt Nam”, Tạp chí luật học (5);
- Ngô Thị Hường (1999), “Những vấn đề về sự tự nguyện khi kết hôn”, Tạp
chí luật học (1);
- Ngô Thị Hường (2001), “Mấy vấn đề về quy định cấm kết hôn giữa những
người cùng giới tính”, Tạp chí luật học (6);
- Bùi Thị Mừng (2012), “Chế định kết hôn trong pháp luật HN&GĐ Việt
Nam qua các thời kì dưới góc nhìn lập pháp”, Tạp chí luật học (11)
Trang 7Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu đã nhìn nhận và giải quyết vấn đề ở các góc độ khác nhau Cho đến nay, vẫn chưa có công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu và riêng biệt về các điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam Vì vậy, trong bối cảnh các nhà lập pháp đang tiến hành sửa đổi Luật HN&GĐ năm 2000, tác giả tập trung vào một khía cạnh của vấn đề kết hôn, cụ thể là các điều kiện kết hôn, để đánh giá tình hình áp dụng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định này tại Việt Nam, qua đó góp một số ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật
về điều kiện kết hôn
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích:
- Làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về chế định kết hôn và các điều kiện kết hôn
- Phân tích nội dung các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000; đồng thời nêu lên những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng các điều kiện kết hôn
- Tìm hiểu thực trạng kết hôn và các hiện tượng vi phạm các điều kiện kết hôn
ở Việt Nam trong những năm gần đây
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm khắc phục những tồn tại trong quá trình áp dụng các điều kiện kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000 và hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu các điều kiện kết hôn trong khuôn khổ Luật HN&GĐ năm 2000, trong đó chủ yếu phân tích các quy định cụ thể tại Điều 9, Điều
10 và Điều 11 của Luật này Đồng thời, luận văn nghiên cứu trong phạm vi quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với nhau, không có yếu tố nước ngoài
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và vấn
đề cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Đồng thời, luận văn còn tham khảo các công trình nghiên cứu của tập thể và các cá nhân liên quan đến đề tài
Để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng nhiều phương pháp khoa học chuyên ngành Trong đó chú trọng phương pháp phân tích, so sánh, thống kê nhằm đánh giá các luận điểm đặt ra trong luận văn
Trang 86 Những điểm mới của luận văn
- Điểm mới của luận văn so với các công trình nghiên cứu của các tác giả khác là phân tích có tính chuyên sâu về các điều kiện kết hôn trong phạm vi Luật
HN&GĐ năm 2000
- Đánh giá điều kiện kết hôn về tình hình áp dụng Luật HN&GĐ năm 2000
- Bình luận, so sánh các điều kiện kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000 với
Dự thảo Luật
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về điều kiện kết hôn Chương 2: Nội dung các điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số giải pháp hoàn thiện quy định về điều kiện kết hôn hiện nay
Trang 9CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN
1.1 Khái niệm kết hôn và điều kiện kết hôn
1.1.1 Khái niệm hôn nhân
Hôn nhân là cơ sở của gia đình - tế bào của xã hội Quan hệ vợ chồng được xác lập thông qua sự kiện kết hôn là sự tiến bộ của xã hội loài người
Với ý nghĩa xã hội như trên, việc đưa ra một khái niệm hôn nhân mang tính
khái quát cao có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ hiện nay Trong thực tiễn khoa học Luật HN&GĐ ở Việt Nam và nước ngoài, có nhiều
khái niệm hôn nhân được các nhà nghiên cứu luật học đưa ra:
Theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Common law) khái niệm truyền thống về hôn nhân của Cơ đốc giáo, do Lord Penzance đưa ra trong phán quyết về vụ án
Hyde v Hyde (1886) ghi nhận: “Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa
một người đàn ông và một người đàn bà mà không vì mục đích nào khác” Ngoài
ra, một số luật gia ở Châu Âu và Mỹ đưa ra quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết
pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng” hoặc “Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ
với tư cách là vợ chồng” [16] Tuy nhiên, xu hướng hiện nay tại một số quốc gia
trên thế giới đã hợp pháp hóa hôn nhân giữa những người đồng giới, vì thế khái niệm hôn nhân của các nước này cũng có những sự thay đổi nhất định cho phù hợp
Trong phiên bản mới cuốn từ điển giải thích nổi tiếng của Pháp - Le Petit Robert,
khái niệm “hôn nhân” được giải thích là “sự kết hợp hợp pháp giữa nam và nữ và
trong một vài hệ thống pháp luật là sự kết hợp giữa hai người cùng giới”[48] Hay
trong phần diễn giải từ điển Oxford nêu: “Hôn nhân có thể là một mối quan hệ
chính thống có đối tác là đồng giới” [49] Như vậy, ở mỗi quốc gia khác nhau,
trong từng thời kì đã có những khái niệm khác nhau về hôn nhân để bảo đảm phù hợp với những hoàn cảnh xã hội khác nhau
Ở Việt Nam, các luật gia dưới chế độ Sài Gòn cũ không đưa ra khái niệm cụ
thể về hôn nhân mà chủ yếu đưa ra khái niệm “giá thú”: “Giá thú (hay hôn thú) là
sự phối hợp của một người đàn ông và một người đàn bà theo thể thức luật định”
hoặc “Giá thú được hiểu là sự trai gái lấy nhau trước mặt viên hộ lại và phát sinh
Trang 10ra những nghĩa vụ tương hỗ cho hai bên về phương diện đồng cư, trung thành và tương trợ”[16] Theo đó, khái niệm “giá thú” gồm hai nghĩa: thứ nhất giá thú là
hành vi phối hợp vợ chồng (kết hôn) Thứ hai là tình trạng của hai người đã chính thức lấy nhau làm vợ chồng và thời gian hai người ăn ở với nhau Điều 3 Sắc luật số 15-64 ngày 23/7/1964 về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng (Sắc luật số 15-64), Điều 99 Bộ Luật dân sự Sài Gòn năm 1972 (BLDSSG) của Chính quyền Sài Gòn cũ
qui định: “Không ai được phép tái hôn nếu giá thú trước chưa đoạn tiêu” Như vậy, các khái niệm “giá thú” được nêu trên đã bao hàm cả khái niệm về hôn nhân Trong
Luật HN&GĐ năm 1959 và năm 1986 của Nhà nước ta, các nhà làm luật cũng chưa
đưa ra một khái niệm cụ thể về hôn nhân Trong Luật HN&GĐ năm 2000, khái
niệm hôn nhân đã được các nhà làm luật và các nhà nghiên cứu luật học quan tâm
hơn với quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”
(khoản 6 Điều 8) Còn theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại
học Luật Hà Nội, hôn nhân được hiểu là: “Sự liên kết giữa người nam và người nữ
dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận”
Như vậy, với mỗi chế độ chính trị - kinh tế - xã hội khác nhau, pháp luật của mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ lại đưa ra một khái niệm khác nhau về hôn nhân Căn cứ
các quy định về hôn nhân trong Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000, có thể hiểu hôn
nhân theo pháp luật HN&GĐ Việt Nam như sau: “Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện, bình đẳng theo quy định pháp luật giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nhằm chung sống suốt đời với tư cách là vợ chồng, vì mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững” [16]
1.1.2 Khái niệm kết hôn
Quan hệ vợ chồng được hình thành từ khi việc kết hôn của hai bên nam nữ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận Mối quan hệ này tồn tại và phát triển theo quy luật của tự nhiên với mục đích đảm bảo sự sinh tồn, phát triển của xã hội loài người Từ khi xã hội loài người xuất hiện, chưa có bất kỳ một quy tắc, quy định pháp luật nào nhưng con người vẫn chung sống với nhau, sinh con đẻ cái và tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác Vì vậy, quyền kết hôn là quyền tự nhiên của con người Tuy nhiên, trải qua các giai đoạn lịch sử, với sự xuất hiện của các hình thái kinh tế xã hội và sự hình thành của Nhà nước, pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh
Trang 11các quan hệ xã hội đó Kết hôn không còn là một quyền tự do, mang tính bản năng của con người mà trở thành quan hệ xã hội mang lợi ích của giai cấp thống trị
Trong thời kỳ phong kiến, hôn nhân không đơn thuần là sự kết hợp giữa đôi bên mà hôn nhân còn là sự giao lưu giữa các dòng họ, kèm theo đó là những mục đích về kinh tế, chính trị nhất định Chính vì vậy sự quyết định của cha mẹ là yếu tố bắt buộc trong quan hệ hôn nhân Do đó, nam nữ thời kỳ này kết hôn với nhau chủ yếu không xuất phát từ tình yêu và sự tự nguyện mà phụ thuộc vào lợi ích chính trị, lợi ích kinh tế của gia đình, dòng họ mong muốn
Trong hệ thống pháp luật trước năm 1945 chưa có văn bản nào đề cập đến
khái niệm kết hôn, ngay cả Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986
cũng chưa xây dựng khái niệm này, mà được giải thích trong phần giải nghĩa một số
danh từ của Luật HN&GĐ năm 1986 như sau: Kết hôn là việc nam nữ lấy nhau
thành vợ chồng theo quy định của pháp luật Việc kết hôn phải tuân theo các điều 5,
6, 7 và 8 của Luật HN&GĐ Đến Luật HN&GĐ năm 2000 khái niệm này chính
thức được định nghĩa tại khoản 2 Điều 8: "Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ
vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”
Ví dụ: Trong khi hầu hết các quốc gia trên thế giới quy định vấn đề “một vợ
một chồng” thành một nguyên tắc cơ bản khi kết hôn; thì dưới ảnh hưởng của đạo
Hồi, một số quốc gia thừa nhận chế độ đa thê như các nước ở khu vực Trung Đông, Trung Á và một số nước ở khu vực Đông Nam Á Cụ thể, Iran là nước cho phép được lấy tối đa bốn vợ Những quy định khác nhau về kết hôn ở các quốc gia xuất phát từ đặc điểm phát triển ở mỗi xã hội khác nhau, ảnh hưởng của phong tục, tập quán, truyền thống lịch sử khác khau, nên vấn đề kết hôn cũng có những quy định mang nét đặc thù riêng biệt của từng nhà nước ở mỗi quốc gia đó
Qua các phân tích nêu trên, theo tác giả có thể nêu ra khái niệm kết hôn như sau: Kết hôn là một sự kiện pháp lý nhằm xác lập quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ
theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn
Có thể thấy rằng, thông qua Nhà nước và bằng pháp luật, giai cấp thống trị tác động vào quan hệ HN&GĐ làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp lý phù hợp với ý chí, nguyện vọng của giai cấp đó Tính chất của vấn đề kết hôn có thể thay đổi phụ thuộc vào cơ sở kinh tế đang thống trị Vì thế, hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp, ở xã hội nào thì tương ứng là chế độ hôn
Trang 12nhân phù hợp Tại quốc gia định hướng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, Việt Nam lựa chọn chế độ hôn nhân tự nguyện, bình đẳng và tiến bộ để điều chỉnh vấn
đề HN&GĐ hiện nay
1.1.3 Khái niệm điều kiện kết hôn
Đảm bảo đầy đủ các điều kiện khi kết hôn là một trong những yếu tố không thế thiếu để hôn nhân của nam và nữ hợp pháp Trong khoa học pháp lý nói chung
và khoa học Luật HN&GĐ nói riêng, việc đưa ra khái niệm đầy đủ và khái quát cho
thuật ngữ điều kiện kết hôn có ý nghĩa quan trọng Nó vừa phản ánh được bản chất
pháp lý của hôn nhân, vừa tạo ra cơ sở lý luận việc áp dụng pháp luật đúng đắn
Tính hợp pháp của việc kết hôn được xem xét ở hai khía cạnh: điều kiện về nội dung và điều kiện về hình thức
Các điều kiện về nội dung của kết hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm
- Điều kiện về ý chí tự nguyện của hai bên nam nữ khi kết hôn Khoản 2 Điều
9 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết
định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở” Kết hôn trước hết là một quyền chứ không phải là nghĩa vụ Do đó về
nguyên tắc không thể có hôn nhân ngoài ý muốn của người kết hôn, cuộc sống gia đình chỉ thực sự hạnh phúc khi được xây dựng trên cơ sở sự hòa hợp và tự nguyện của hai bên nam nữ Hôn nhân tự nguyện cũng là nguyên tắc cơ bản đã được ghi nhận trong Luật HN&GĐ năm 1959 (Điều 4) và Luật HN&GĐ 1986 (Điều 6)
Không chỉ pháp luật Việt Nam mà pháp luật hầu hết các nước phát triển, văn minh trên thế giới đều ghi nhận điều kiện này Điều 146 BLDS Cộng hòa Pháp ghi nhận:
“Không có hôn nhân khi không có sự tự nguyện”
- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn Trên cơ sở
kế thừa Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm
2000 đã quy định cụ thể các trường hợp cấm kết hôn tại Điều 10: Người đang có vợ hoặc có chồng; Người mất năng lực hành vi dân sự; Giữa những người cùng dòng
Trang 13máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời; Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi, những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu,
mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
Giữa những người cùng giới tính
Việc quy định các trường hợp cấm kết hôn là cần thiết, đảm bảo trật tự trong gia đình, xã hội; giữ gìn thuần phong mỹ tục, đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam; đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân
Ngoài ba điều kiện về mặt nội dung, việc kết hôn còn phải đáp ứng điều kiện
về mặt hình thức, đó là việc đăng ký kết hôn, nhằm công nhận việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam nữ là hợp pháp Đây là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng để từ đó Nhà nước có biện pháp bảo hộ quyền lợi cho vợ và chồng Về mặt quản lý nhà nước thì đăng ký kết hôn là biện pháp để Nhà nước kiểm soát việc tuân theo pháp luật trong việc kết hôn và ngăn chặn các hiện tượng vi phạm các điều kiện kết hôn
Quy định điều kiện kết hôn cần phải được kết hợp với tri thức của nhiều ngành khoa học như y học, tâm lý học, xã hội học, Đồng thời phải căn cứ vào phong tục tập quán truyền thống của mỗi dân tộc Chính vì vậy, ở mỗi quốc gia, tùy vào từng thời điểm khác nhau, dựa vào các yếu tố nói trên mà có những quy định khác nhau về điều kiện kết hôn Như vậy, điều kiện kết hôn đòi hỏi về mặt pháp lý
và chỉ khi thỏa mãn những đòi hỏi đó thì nam, nữ mới có quyền kết hôn
Hiện nay, khái niệm “Điều kiện kết hôn” vẫn chưa được nhiều tác giả, nhà
nghiên cứu quan tâm và định nghĩa Tuy nhiên, trong Từ điển Luật học đã đưa ra
khái niệm như sau: “Điều kiện kết hôn là điều kiện do pháp luật quy định mà các
bên nam, nữ cần phải có hoặc không có điều kiện đó mới có quyền được kết hôn”[ 6
tr.252] Với khái niệm Từ điển Luật học đưa ra đã đáp ứng được các yếu tố mà pháp
luật đặt ra đồng thời thể hiện đúng bản chất của điều kiện kết hôn Những điều kiện buộc phải có được hiểu là: điều kiện độ tuổi, điều kiện về sự tự nguyện, điều kiện
về sức khỏe (không mất năng lực hành vi dân sự); những điều kiện mà các bên nam,
quan hệ trực hệ, không có họ trong phạm vi ba đời, chưa từng có quan hệ cha, mẹ nuôi, con nuôi…với người kết hôn
Trang 14Từ những phân tích nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm Điều kiện kết hôn như sau: Điều kiện kết hôn là quy định của pháp luật mà khi kết hôn các bên nam, nữ
phải tuân thủ (điều kiện về nội dung và điều kiện về hình thức) thì việc kết hôn mới
có giá trị pháp lý
1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh về điều kiện kết hôn
1.2.1 Sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam
Một trong các quan điểm xây dựng Luật HN&GĐ (sửa đổi) là nhằm thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 được thông qua tại Đại
hội lần thứ XI của Đảng, trong đó nhấn mạnh: “xây dựng gia đình Việt Nam no ấm,
tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”
Đặc điểm nền kinh tế của Việt Nam là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa Trong những năm qua, kinh tế Việt Nam có những bước phát triển mạnh mẽ, kéo theo sự biến đổi của bức tranh xã hội Việt Nam
Những biến đổi này đặt ra nhu cầu pháp luật phải thay đổi phù hợp mới tình hình mới Yếu tố này ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn ở một số khía cạnh như sau:
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế - văn hóa thế giới Quy định
độ tuổi kết hôn hiện nay ở Việt Nam chênh lệch nhiều so với thế giới Hiện nay, có nhiều quan điểm yêu cầu thay đổi độ tuổi kết hôn thấp hơn để phù hợp với phong tục, tập quán và tình hình thực tiễn tâm sinh lý hiện nay của giới trẻ Theo ý kiến các đại biểu Quốc hội thảo luận tại Tổ thảo luận và hội trường về độ tuổi kết hôn, có
65 ý kiến đồng ý tuổi kết hôn của nam và nữ là đủ 18 tuổi, 21 ý kiến giữ nguyên như Luật hiện hành Quy định này dựa trên xu hướng hạ độ tuổi kết hôn của nam giới từ 20 tuổi xuống còn đủ 18 tuổi [10]
Sự hội nhập và phát triển văn hóa - xã hội cũng khiến xu hướng công khai đồng tính ngày càng rộng rãi Nếu như trước đây, Luật HN&GĐ năm 2000 cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, thì hiện nay, trong Dự thảo Luật HN&GĐ
(sửa đổi), vấn đề này được ghi nhận tại khoản 2 Điều 8 theo hướng “Nhà nước
không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” [4]
Trang 15Bên cạnh đó, sự phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến tư tưởng đến một bộ phận giới trẻ: lối sống muốn hưởng thụ, sống thử, công khai giới tính thật và đấu tranh vì tình yêu đồng giới, du nhập lối sống phương Tây các cặp đôi chung sống với nhau như vợ chồng Vì vậy, vấn đề kết hôn vì vật chất, vi phạm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, một vợ một chồng, kết hôn giữa những người cùng giới xảy
ra phổ biến Do đó, pháp Luật HN&GĐ cần có những thay đổi theo hướng phù hợp hơn đối với các vấn đề mới nảy sinh trong xã hội
1.2.2 Ảnh hưởng của tập quán
Qua nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc văn hóa và truyền thống của các dân tộc có những biến đổi (theo chiều hướng tích cực và hạn chế) Theo đó, những phong tục, tập quán tiến bộ, tích cực dù được Luật hóa hay không cũng khẳng định được ví trí, vai trò của mình trong xã hội, tạo
ra những chuẩn mực đạo đức, lối ứng xử theo văn hóa cộng đồng và pháp lý cho xã hội và từng cá nhân Sau nhiều năm tuyên truyền, phổ biến, vận động đồng bào thiểu số ở các địa phương thực hiện các phong tục, tập quán tốt đẹp, xóa bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu cho thấy, có nhiều chuyển biến tích cực về nhận thức, gặp nhiều thuận lợi, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ các giá trị chuẩn mực đạo đức con người Tuy nhiên, việc vận động xóa bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu tại một số địa phương vùng sâu vùng xa còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc
Yếu tố phong tục, tập quán ảnh hưởng nhiều đến quan hệ nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng; vấn đề tảo hôn; ảnh hưởng đến sự tự nguyện kết hôn; việc kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ
Đối với quan hệ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn: pháp luật
đã quy định rõ nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ
chồng thì không được pháp luật công nhận (Khoản 1 Điều 11 Luật HN&GĐ năm
2000) Quy định này là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện đầy đủ, có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ vợ, chồng, khuyến khích các bên chưa đăng ký kết hôn thực hiện việc đăng ký Đồng thời để Nhà nước quản lý các quan hệ HN&GĐ, ngăn chặn kịp thời tình trạng kết hôn trái pháp luật Tuy nhiên, đối với các đồng bào dân tộc thiểu
số, việc kết hôn chủ yếu được thực hiện theo phong tục, tập quán (tổ chức hôn lễ có
sự chứng kiến của gia đình, cộng đồng dân cư và được những người này thừa nhận, việc đăng ký kết hôn chưa được coi trọng) Mặc dù công tác tuyên truyền, vận động
Trang 16ngày càng được tăng cường nhưng do nhận thức của người dân chưa chú trọng đến vấn đề đăng ký kết hôn, chưa hiểu được bản chất của kết hôn và ý nghĩa của việc đăng ký Do đó, tỷ lệ không đăng ký kết hôn ở các đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa tăng cao qua các năm Theo số liệu thống kê của tỉnh Sơn La: số lượng các đôi không đăng ký kết hôn ngày càng tăng: năm 2000: 28; năm 2003: 76; năm 2005: 159, năm 2007: 182 [47]
Đối với nạn tảo hôn: Nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sử dụng sức người là chủ yếu khiến nhu cầu cần lao động ở các đồng bào dân tộc ít người tăng Những đứa trẻ mới chỉ 12 – 13 tuổi đã phải tảo hôn, lập gia đình sớm để gánh vác công việc đồng áng, chăn nuôi
Đối với vấn đề hôn nhân cận huyết: Theo thống kê của Trung tâm nghiên cứu
và phát triển dân số (Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế), tại một số dân tộc như Lô Lô, Hà Nhì, Phù Lá, Chứt, Ê đê, Chu Ru, Chứt… và đặc biệt là các dân tộc Si La (Điện Biên, Lai Châu), Lô Lô, Pu Péo (Hà Giang), Mông Xanh (Lào Cai), Rơ Mân, Brâu (Kon Tum) thì cứ 100 trường hợp kết hôn thì có 10 trường hợp
là hôn nhân cận huyết thống Những dân tộc có hôn nhân cận huyết thống lý giải rằng: Chỉ họ hàng, cùng dòng máu lấy nhau thì mới thương yêu nhau, mới giữ được của cải vật chất trong nhà Đây là một vấn nạn cần có giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn sự suy giảm giống nòi, chất lượng dân số
Về vấn đề hôn nhân tự nguyện: những hủ tục “cướp vợ” từ xưa là nét đẹp trong văn hóa các đồng bào dân tộc (người Mông), thì hiện nay nó bị biến tướng để bắt ép những bé gái đang độ tuổi đi học về làm vợ Ngoài ra, tại các vùng đô thị, thành phố, xã hội hiện đại xảy ra xu hướng kết hôn thực dụng, coi trọng vật chất hơn tình cảm dẫn đến vấn đề ly hôn, ly thân ngày càng phổ biến cũng cần đến sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật
Quan điểm xây dựng Luật HN&GĐ nói chung có sự áp dụng của các tập quán, phong tục về HN&GĐ Vì phong tục, tập quán là một phần của văn hóa dân tộc, là sự phản ánh đời sống con người Việt Nam được lưu giữ ngàn đời Tuy nhiên, cần loại bỏ những hủ tục lạc hậu ra khỏi đời sống nhân dân, tiếp tục gìn giữ và phát huy những nét đẹp truyền thống, áp dụng các phong tục, tập quán tốt đẹp vào Luật
1.2.3 Ảnh hưởng của đạo đức truyền thống
Đạo đức là phạm trù xã hội, phản ánh bản chất con người của xã hội đó Việt Nam là quốc gia theo truyền thống Á Đông coi trọng giá trị đạo đức, truyền thống
Trang 17dân tộc Hệ thống các quy phạm pháp luật nói chung và Luật HN&GĐ nói riêng đều
ẩn chứa sự ảnh hưởng của đạo đức xã hội Điều này thể hiện ở chỗ: công dân Việt Nam được phép xử sự những điều mà pháp luật không cấm và không trái với đạo đức xã hội Yếu tố này ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng của các nhà làm luật, đặc biệt trong vấn đề quy định các điều kiện kết hôn của hai bên nam nữ Việc quy định nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời, giữa những người có quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng, từng có quan hệ cha - mẹ - con xuất phát từ mục đích nhằm bảo vệ giá trị đạo đức tốt đẹp của người Việt Nam Đó là: tôn trọng quan hệ vợ chồng, duy trì giá trị đạo đức gia đình; trật tự xã hội
Ngoài ra, đạo đức xã hội còn ảnh hưởng nhiều đến nhận thức và hành vi ứng
xử của mỗi cá nhân Truyền thống của người Việt Nam luôn mang nặng đạo lý: tôn trọng tôn ti trật tự, kính trên nhường dưới, vợ chồng, con cái yêu thương, chăm sóc lẫn nhau Vì vậy, mỗi ứng xử của con người với nhau vẫn tồn tại những chuẩn mực đạo lý nhất định Những truyền thống, đạo đức này tác động đến tư duy của các nhà làm luật khi xây dựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật, trong đó có điều kiện kết hôn
Luật HN&GĐ và đạo đức truyền thống có chung mục đích là đảm bảo cho quan hệ HN&GĐ tồn tại, phát triển, làm cho hành vi ứng xử giữa các thành viên trong gia đình ngày càng tốt đẹp, thuận hòa, mối quan hệ vợ - chồng - con cái ngày càng bền vững Vì vậy, khi xây dựng Luật HN&GĐ phải dựa trên nền tảng đạo đức, không thể trái với đạo đức xã hội Cho nên, hệ thống các điều luật trong Luật này có những quy định giống như quy định đạo đức xã hội: quyền và nghĩa vụ của vợ chồng là yêu thương chăm sóc lẫn nhau, thể hiện đạo lý của người Việt Nam
1.3 Khái quát về sự phát triển của các điều kiện kết hôn trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
1.3.1 Quy định điều kiện kết hôn trong cổ luật Việt Nam
Khi nghiên cứu về các chế định pháp luật nói chung cũng như các điều kiện kết hôn nói riêng không thể không tìm hiểu về các quy định mang tính lịch sử từ thời cổ luật Bởi nghiên cứu theo chiều dài lịch sử giúp chúng ta có cái nhìn khái quát hơn, sâu sắc hơn khi đưa ra các nhận định về vấn đề Dưới thời phong kiến, nhắc đến cổ luật Việt Nam là nhắc đến hai bộ luật tiêu biểu: Quốc triều hình luật của Triều Lê và Hoàng Việt luật lệ của Triều Nguyễn
Trang 18Quốc triều hình luật, hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức Theo Viện Sử học Việt Nam, Quốc triều hình luật được khởi thảo từ thời Lê Thái Tổ, sau đó được bổ sung dưới các thời Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông Đến thời Lê Thánh Tông thì bộ luật hoàn chỉnh Bộ luật này là tập hợp nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực: Luật hình sự, Luật dân sự, Luật tố tụng, Luật HN&GĐ Quốc triều hình luật (trong thư tịch cổ mang ký hiệu A.341 lưu trữ tại Viên nghiên cứu Hán nôm là bản
in ván khắc hoàn chỉnh và có giá trị nhất) có 13 chương gồm 722 Điều (200 Điều phỏng theo Luật nhà Đường, 17 Điều phỏng theo luật nhà Minh) Trong đó Chương
hộ hôn gồm 58 Điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân gia đình và các tội phạm trong lĩnh vực này [30] Theo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá, Quốc triều hình luật là thành tựu có giá trị đặc biệt quan trọng trong lịch sử pháp luật Việt Nam Được ban hành trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của chế độ phong kiến trung ương tập quyền, Quốc triều hình luật không chỉ là bộ luật chính thức của Việt Nam dưới thời Lê sơ mà còn được các triều đại khác sử dụng cho đến thế kỷ XVIII
Hoàng Việt luật lệ, hay còn gọi là Bộ luật Gia Long Đây là bộ luật chính thức của nước ta dưới thời nhà Nguyễn, do Tổng trấn Nguyễn Văn Thành soạn thảo và Vua Gia Long ban hành năm 1815 Hoàng Việt luật lệ được sử dụng suốt thời nhà Nguyễn, và áp dụng ở Trung Kỳ trong thời kỳ thực dân Pháp chiếm đóng Việt Nam
Theo bản dịch khắc in từ chữ Hán, Hoàng Việt luật lệ gồm 398 Điều chia thành 22 cuốn Các Điều luật được phân loại và sắp xếp theo 06 lĩnh vực: quy định về tổ chức nhà nước và hệ thống quan lại (lại luật); quy định về tội danh và hình phạt (hình luật); quy định về quản lý dân cư và đất đai (hộ luật); quy định về ngoại giao
và nghi lễ cung đình (lễ luật); quy định về tổ chức quân đội và quốc phòng (binh luật); quy định về xây dựng và bảo vệ đê điều (công luật) Trong đó, cuốn 6, 7 và 8 quy định về hộ hôn gồm 66 Điều luật [20]
Cả hai bộ cổ luật đều dành những chương lớn quy định về vấn đề HN&GĐ cũng như các tội phạm trong lĩnh vực này Điều này thể hiện sự quan tâm đến việc củng cố chế độ gia đình gia trưởng, ổn định trật tự xã hội nhằm duy trì sự thống trị triều đình thời bấy giờ
Về vấn đề HN&GĐ, liên quan đến các điều kiện kết hôn, Quốc triều hình luật
và Hoàng Việt Luật lệ quy định như sau:
Trang 19* Về độ tuổi cho phép kết hôn: Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ
không có quy định cụ thể độ tuổi kết hôn Tuy nhiên, trong Quốc triều hình luật,
phần lệ Hồng Đức hôn giá có viết: “Con trai 18 tuổi, con gái 16 tuổi mới có thể
thành hôn”[30] Như vậy, pháp luật thời kỳ này cũng có sự phân biệt độ tuổi kết
hôn giữa nam nữ và đưa ra độ tuổi tối thiểu khi kết hôn của con trai và con gái
* Về sự ưng thuận của cha mẹ: Cả hai bộ luật đều quy định kết hôn chỉ
được thực hiện khi có cha mẹ hoặc một người đứng đầu dòng họ làm chủ hôn (Điều
413 Quốc triều hình luật và Điều 94 Hoàng Việt luật lệ) Tuy nhiên, quy định này
có ngoại lệ: kết hôn có thể do hai bên nam nữ quyết định khi họ chỉ còn ba con xa hoặc họ ở xa nhà Pháp luật thời kỳ này chưa ghi nhận sự tự nguyện kết hôn của hai bên nam, nữ
* Về các trường hợp cấm kết hôn: Việc kết hôn không vi phạm những điều
mà pháp luật cấm Những điều cấm mà hai bộ luật đưa ra khác với những điều cấm của pháp luật Việt Nam hiện hành: Cấm kết hôn khi có tang, cha, mẹ bị giam cầm,
tù tội (Điều 317, Điều 318 Quốc triều hình luật, Điều 99 Hoàng Việt luật lệ); Cấm kết hôn giữa những người thân thích (Điều 319 Quốc triều hình luật, Điều 100, 101,
102 Hoàng Việt luật lệ) Ngoài ra tại mỗi bộ luật lại đưa ra một điều cấm riêng Ví dụ: Điều 324 Quốc triều hình luật cấm anh em lấy vợ góa của nhau, trò lấy vợ góa của thầy Các điều cấm của luật này thể hiện tư tưởng phong kiến, nhằm bảo vệ tôn
ti trật tự trong xã hội của các triều đình lúc bấy giờ
* Về thủ tục kết hôn: Cả hai bộ luật đều quy định thủ tục kết hôn bao gồm
hình thức đính hôn và nghi lễ kết hôn
- Hình thức đính hôn: Quốc triều hình luật chỉ coi hôn nhân có giá trị pháp lý khi nhà trai đã nộp đủ sinh lễ cho nhà gái, tức là phải có sự hứa hôn của hai họ (gồm vàng, bạc, tiền, lụa, heo, rượu) Việc nạp sính lễ mang tính chất long trọng và phải cáo tổ trước từ đường của hai họ Khác với Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ quy định hình thức của đính hôn là các “hôn thư” hoặc “tư ước” Đó là cam kết của hai người chủ hôn (Điều 94 Hoàng Việt luật lệ)
Như vậy, ở hai bộ cổ luật cũng đặt ra vấn đề xem hình thức của việc kết hôn
là một điều kiện quan trọng để cuộc hôn nhân của hai bên nam nữ có giá trị pháp lý
Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ quy định hình thức đính hôn mang ảnh hưởng của lễ nghi Nho giáo
Trang 20- Nghi lễ kết hôn: Hoàng Việt luật lệ không quy định cụ thể các nghi lễ kết hôn như Quốc triều hình luật Theo Quốc triều hình luật, kết hôn gồm bốn lễ: lễ nghị hôn (nhờ mối lái đi lại bàn bạc), lễ định thân (mang lễ vật vấn danh nhà gái), lễ nạp trưng (mang sính lễ dẫn cưới đến nhà gái), lễ thân nghinh (rước dâu) Những nghi lễ này phản ánh rõ nét phong tục tập quán của Việt Nam thời kỳ bấy giờ
Có thể thấy, cả hai bộ cổ luật đều mang nhiều giá trị đối với pháp luật đương đại Quốc triều hình luật so với Hoàng Việt luật lệ (ra đời sau hàng thế kỷ) chưa có tính khái quát và phân ngành rõ ràng Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ người phụ nữ trong pháp luật nhà Lê được coi trọng hơn so với luật nhà Nguyễn Giáo sư Vũ Văn Mẫu
đã nhận xét về Hoàng Việt luật lệ: “Bao nhiêu sự tân kỳ mới lạ trong bộ luật triều
Lê đã không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong luật nhà Nguyễn Không còn những điều kiện liên quan đến hương hỏa, đến chúc thư, đến các điều kiện về giá thú, đến các điều kiện về chế độ tài sản vợ chồng” [24]
Các quy định về vấn đề HN&GĐ trong hai bộ luật này tuy còn hạn chế nhưng
đủ để minh chứng rằng nhà nước phong kiến Việt Nam ở thời kì này rất coi trọng vấn đề hôn nhân Nền tảng của việc quy định điều kiện kết hôn chính là phong tục, tập quán, đạo đức của người Việt Nam
1.3.2 Quy định điều kiện kết hôn thời kỳ Pháp thuộc
Ngày 25/8/1883, triều đình Huế ký kết với thực dân Pháp “Hiệp ước hòa bình” (hay còn gọi là Hiệp ước Hacmăng), với nội dung khái quát: Triều đình Huế thừa nhận và chấp nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, thừa nhận và chấp nhận nền bảo hộ của Pháp ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ; đồng thời tước bỏ hoàn toàn quyền ngoại giao của triều đình Huế Với chính sách “chia để trị”, thực dân Pháp áp dụng tại mỗi miền một bộ luật khác nhau: Bắc kỳ áp dụng Bộ luật dân sự năm 1931 (BLDSBK);
Trung kỳ áp dụng Bộ luật dân sự năm 1936 (BLDSTK); Nam kỳ áp dụng Tập Dân luật giản yếu năm 1883 (TDLGY)
Về kĩ thuật lập pháp, có thể thấy cả ba bộ luật này đều ảnh hưởng của pháp luật Pháp Các quy định điều chỉnh quan hệ hôn nhân đều là chế định của luật dân
sự Về mặt nội dung, xét một cách tổng quát, BLDSBK và BLDSTK đều phản ánh phong tục, tập quán truyền thống của Việt Nam về HN&GĐ Riêng TDLGY chịu nhiều ảnh hưởng của BLDS Pháp năm 1804 nên có nhiều điểm cách tân theo quan niệm của các nhà làm luật phương Tây
Trang 21* Về độ tuổi cho phép kết hôn:
Trong TDLGY quy định “con trai 16 tuổi, con gái 14 tuổi” được phép kết
hôn [17, tr.13]; BLDSBK và BLDSTK quy định độ tuổi để hai bên nam nữ được
phép kết hôn cao hơn tại Nam kỳ đó là “nam tròn 18 tuổi, nữ tròn 15 tuổi” (Điều
73) Tuy nhiên có trường hợp ngoại lệ: khi có lý do chính đáng thì quan tỉnh có thể đặc cách cho phép nam tròn 15 tuổi, nữ tròn 12 tuổi kết hôn (Điều 75 BLDSBK và BLDSTK) Điều này đã phản ánh xu thế phát triển các quy định về điều kiện kết hôn trong pháp luật theo ảnh hưởng của các nước phương Tây, cụ thể lúc bấy giờ là Pháp Vì cho đến thời điểm đó, các nước phương Tây đều coi độ tuổi là một điều kiện bắt buộc để hôn nhân có hiệu lực Trong khi đó, trước khi có các bộ luật nêu trên, cổ luật Việt Nam chưa quy định cụ thể về điều kiện độ tuổi được phép kết hôn
Như vậy, sự khác biệt về quy định độ tuổi được phép kết hôn gây ra tình trạng không thống nhất trong cả nước dẫn đến việc áp dụng gặp nhiều khó khăn Ngoài
ra, việc quy định độ tuổi kết hôn trong các bộ luật trên cho thấy thời kỳ này chưa quan tâm đến vấn đề người chưa thành niên kết hôn và những hậu quả pháp lý của vấn đề này
* Về sự tự nguyện khi kết hôn: Điều 76 BLDSBK quy định: “Kết hôn tất
phải cả hai bên nam nữ bằng lòng nhau mới được” Tuy nhiên, bên cạnh sự bằng lòng của hai bên thì sự ưng thuận của cha, mẹ, người thân thích hay người đỡ đầu
vẫn là yếu tố cần thiết đảm bảo cho cuộc hôn nhân có tính pháp lý Điều 77
BLDSBK ghi nhận: “Phàm con cái đã thành niên hay chưa thành niên, không khi
nào không có cha mẹ bằng lòng mà kết hôn được” Như vậy pháp luật thời kỳ này
vẫn duy trì chế độ hôn nhân cưỡng ép phụ thuộc vào cha mẹ hoặc các bậc thân trưởng trong gia đình
Tuy nhiên, việc ghi nhận một phần ý chí tự nguyện của các bên nam nữ trong việc xác lập hôn nhân thể hiện sự tiến bộ so với pháp luật thời Lê và thời Nguyễn, là
sự khác biệt về tư duy của các nhà làm luật so với trước
* Về các trường hợp cấm kết hôn: Về cơ bản, các trường hợp cấm kết hôn
trong cả ba bộ luật dân sự thời Pháp thuộc đều có những điểm tương đồng, thể hiện việc chuyển tiếp những giá trị truyền thống từ pháp luật thời kì phong kiến như:
Cấm kết hôn trong thời kỳ cư tang – khi có tang cha mẹ hoặc tang chồng là 27 tháng, tang vợ là 12 tháng (Điều 84 BLDSBK)
Trang 22Không được lấy người khác làm vợ nếu việc kết hôn hiện hữu với người vợ chính chưa được giải tiêu; Nếu người vợ chính chết thì người chồng chỉ được lấy vợ khác khi đã hết tang vợ chính (1 năm) Đàn bà góa phải để tang chồng 27 tháng mới được tái giá, sau khi ly dị 10 tháng, người vợ mới được kết hôn với người khác
Cho phép người chồng có quyền được lấy nhiều vợ Điều 79 BLDSBK quy
định: “Có hai cách giá thú hợp phép: Giá thú về chính thất và giá thú về thứ nhất”
và Điều 80 quy định: “chưa lấy vợ chính thì không được lấy vợ thứ”
Về cấm kết hôn trong bàng hệ (Theo Đại từ điển tiếng việt, bàng hệ là quan hệ theo dòng bên, trong mối quan hệ đó, người này không trực tiếp sinh ra người kia) , BLDSBK và BLDSTK chỉ cấm kết hôn giữa chị dâu với em chồng, giữa em dâu với
anh chồng còn cho phép người đàn ông được lấy em vợ hay chị vợ “Cấm lấy người
thân thuộc trực hệ và một số người thuộc bàng hệ (anh, chị, em cùng cha mẹ; cùng cha khác mẹ; cùng mẹ khác cha, chị dâu, em dâu, anh chồng, em chồng…” (Điều
74 BLDSBK) Điều này thể hiện rõ quan niệm “nội thân, ngoại thích” của người
Việt Nam Người đàn bà lấy chồng thuộc về nhà chồng nhưng người đàn ông lấy vợ thì không thuộc về nhà vợ, khi vợ chết thì không còn mối liên hệ nào với chị em nhà vợ
TDLGY quy định cởi mở hơn trong việc cấm kết hôn đối với những người thuộc bàng hệ TDLGY cấm kết hôn giữa anh, chị, em cùng cha khác mẹ hay cùng
mẹ khác cha; giữa anh, chị, em họ đến bậc thứ sáu; giữa cháu gái với chú, bác hay cậu hoặc giữa cháu trai với cô hay dì Như vậy, theo TDLGY thì giữa chị dâu và em chồng, em dâu với anh chồng cũng không bị cấm kết hôn
Có thể nói, so với các quy định cấm kết hôn trong pháp luật thời kì phong kiến, phạm vi cấm kết hôn ở cả 3 bộ luật dân sự thời Pháp thuộc đều được thu hẹp hơn Các quy định cấm kết hôn nhằm bảo vệ trật tự đẳng cấp của thời kì phong kiến không còn được ghi nhận trong pháp luật về kết hôn thời Pháp thuộc
* Về nghi lễ kết hôn: pháp luật thời kỳ này ở cả ba miền đều đặt ra điều kiện
về mặt hình thức để hôn nhân có giá trị như pháp luật thời nhà Lê và nhà Nguyễn
Tuy nhiên điểm mới đáng chú ý về nghi lễ kết hôn tại thời kỳ này đó là:
- BLDSBK quy định: “Việc kết hôn phải được khai với chính quyền (hộ lại) mới có giá trị” (Điều 69)
Trang 23- BLDSTK quy định: nghi lễ kết hôn gồm ước hôn (lễ hỏi) và kết hôn (hôn lễ) Trước hôn lễ phải thi hành thủ tục công bố trong thời hạn tám ngày tại nơi cư
tục, tập quán tại Việt Nam, một lễ cưới đầy đủ theo truyền thống cũng cần đủ hai nghi lễ này
Nhìn chung, cả ba bộ luật này đã có những quy định về điều kiện kết hôn và nghi lễ kết hôn theo hướng tiến bộ hơn so với thời kỳ trước như thu hẹp phạm vi cấm kết hôn, thừa nhận sự bằng lòng của hai bên nam, nữ khi kết hôn Tuy nhiên, chế độ HN&GĐ thời kỳ này là công cụ pháp lý của nhà nước thực dân phong kiến nhằm củng cố và bảo vệ lợi ích của giai cấp địa chủ phong kiến Đồng thời ba bộ luật này đều được xây dựng dựa trên BLDS Napoleon năm 1804 của Pháp, chính vì vậy khi áp dụng vào Việt Nam có nhiều điểm chưa phù hợp Ngoài ra các quy định
về kết hôn nói chung và các điều kiện kết hôn nói riêng chưa được xây dựng thành một chế định riêng biệt và hoàn chỉnh
1.3.3 Ở miền Nam Việt Nam trước ngày thống nhất đất nước (30/4/1975)
Sau năm 1954, đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp, thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta và tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới Đất nước
ta vẫn tạm thời bị chia cắt làm hai miền, với hai chế độ chính trị khác biệt
Trong thời kỳ này, đế quốc Mỹ và chế độ ngụy quyền Sài Gòn đã ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ HN&GĐ sau:
- Luật Gia đình ngày 02/01/1959 (Luật số 1 - 59) dưới chế độ Ngô Đình Diệm
- Sắc luật số 15- 64 ngày 23/7/1964 về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng (Sắc luật số 15- 64)
- Bộ Dân luật ngày 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu
Vấn đề kết hôn được quy định tại các văn bản pháp luật trên có nhiều điểm mới, tiến bộ hơn so như: đều quy định bãi bỏ chế độ đa thê, song vẫn thực hiện nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ và chồng,
* Về độ tuổi kết hôn: các văn bản này đều quy định rõ độ tuổi kết hôn của
nam, nữ “con gái 16 tuổi, con trai 18 tuổi” [27, Điều 10; 2, Điều 104] Tuy nhiên, Điều 104 BLDSSG năm 1972 cũng quy định ngoại lệ “Nếu có lý do trọng đại,
Nguyên thủ quốc gia có thể đặc cách cho miễn tuổi” Ngoài ra, việc kết hôn ngoài
yếu tố đủ độ tuổi còn phải đáp ứng được yếu tố về sức khỏe
Trang 24* Về sự tự nguyện: Tự nguyện kết hôn được các văn bản trên quy định là
một trong các điều kiện cần thiết để thiết lập hôn thú Điều 103 BLDSSG năm 1972
quy định “Sự ưng thuận của hai bên nam nữ là một điều kiện thiết yếu cho sự kết
lập hôn thú” Ngoài ra, Điều 105 Bộ luật này cũng quy định “Vị thành niên không thể kết hôn nếu không có sự ưng thuận của cha, mẹ” Ngoài cha, mẹ ra, trong
trường hợp “cha mẹ đều mệnh một hoặc ở trong tình trạng không thể phát biểu ý
kiến, sự ưng thuận sẽ do ông bà nội hay ông bà ngoại”
Có thể thấy, các văn bản pháp luật nêu trên đã ghi nhận sự ưng thuận kết hôn
của đôi bên nam nữ và xem đây là một điều kiện thiết yếu khi lập hôn thú Tuy
nhiên, trong trường hợp con “vị thành niên” kết hôn cần phải có sự đồng ý của cha
mẹ hoặc ông bà nội hoặc ông bà ngoại
* Về các trường hợp cấm kết hôn: Điều 5 Luật số 1 - 59 quy định: “Cấm
người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác” Điều 9 Luật này cũng quy
định các trường hợp cấm khác như: “Cấm kết hôn giữa anh chị em ruột, anh chị em
cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha Đối với những người khác có họ trong phạm vi năm đời hoặc có quan hệ thích thuộc về trực hệ thì việc kết hôn sẽ giải quyết theo phong tục tập quán”
BLDS Sài Gòn năm 1972 quy định về vấn đề cấm kết hôn từ Điều 108 đến
Điều 111 Ngay ở Thiên thứ V Nói về hôn thú, Điều 99 khẳng định: “Luật pháp
không chấp nhận chế độ đa thê Không ai được phép kết hôn nếu hôn thú trước chưa đoạn tiêu” Ngoài ra, các trường hợp cấm kết hôn khác cũng được ghi nhận cụ thể:
- Đối với người thân thuộc trong trực hệ, không cứ chính thức hay ngoại hôn và không cứ thứ bậc nào, không thể kết hôn với nhau (Điều 108) Quy định tại Điều 108 thể hiện tinh thần không phân biệt con trong giá thú hay ngoài giá thú, không phân biệt thứ bậc trong trực hệ, những người này đều không được phép kết hôn với nhau
- Đối với người trong bàng hệ, Điều 109 quy định hôn thú bị cấm giữa những
người sau: Anh chị em (đồng phụ mẫu, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha);
Chú, bác, cậu, ông chú, ông bác, ông cậu - cháu gái; cô, gì, bà cô, bà gì với cháu trai; Anh chị em con chú, con bác, con cậu, con cô, con dì, anh chị em cháu chú, cháu bác
Ngoài ra, Luật này còn cấm kết hôn giữa: những người phối ngẫu với một
người tôn thuộc, hay ti thuộc, trực hệ của người phối ngẫu kia; giữa chị dâu, em dâu với em chồng, anh chồng; giữa bác gái, thím, mợ, bà bác, bà thím, mợ, bà bác,
Trang 25bà thím, bà mợ - cháu chồng; giữa bác, chú, cậu ông chú, ông bác, ông cậu - vợ cháu trai; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi cũng như với ti thuộc trực hệ của người này, với người phối ngẫu của con nuôi; giữa những người con nuôi của cùng một người hoặc người còn nuôi của người đứng nuôi (Điều 110, 111 BDL năm 1972)
Quy định về các trường hợp cấm trong các văn bản dưới thời Ngụy quyền Sài Gòn được ghi nhận khá cụ thể, chi tiết trong từng mối quan hệ, đặc biệt là BLDS Sài Gòn năm 1972
* Về hình thức kết hôn: điều kiện về hình thức được chính quyền Ngụy
quyền Sài Gòn quy định rất chặt chẽ Tại Chương thứ III BLDS Sài Gòn năm 1972,
từ Điều 113 đến Điều 126 quy định hình thức kết hôn rất rõ ràng: Việc kết hôn phải được niêm yết tại công sở nơi trú ngụ thường xuyên và phải niêm yết trong vòng
10 liên tục (Điều 114) Phải xuất trình bản toàn sao giấy khai sinh được cấp lâu nhất
là ba tháng nếu cấp ở Việt Nam và sáu tháng nếu cấp ở ngoại quốc Có thể thấy việc kết hôn không còn giới hạn trong phạm vi gia đình nữa mà đòi hỏi phải có sự công nhận của chính quyền Điều này thể hiện sự quản lý ngày càng chặt chẽ của pháp luật
Tuy nhiên, pháp luật thời kỳ này ở miền Nam Việt Nam vẫn duy trì một số quy định mang nặng tư tưởng phong kiến Ví dụ như: cấm người vợ kết hôn khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật đều phải chờ đợi 300 ngày mới được quyền kết hôn với người khác, trừ trường hợp chứng minh rằng mình không có thai khi chồng chết hoặc khi ly hôn với chồng; phạm vi cấm kết hôn giữa những người thân thuộc vẫn còn rộng (phạm vi 5 đời) Như vậy, dù đã có những điểm tiến bộ như ghi nhận sự
tự nguyện kết hôn, thừa nhận chế độ một vợ một chồng song nhìn chung hệ thống các văn bản thời kỳ này vẫn thể hiện những nguyện tắc bất bình đẳng giữa nam và
nữ, bảo vệ quyền gia trưởng trong gia đình
1.3.4 Hệ thống pháp luật Hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta từ năm
1945 đến nay
Thắng lợi rực rỡ của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam mang ý nghĩa lịch sử to lớn không chỉ đối với dân tộc mà mang tầm thế giới Ý
nghĩa này được Hồ Chủ tịch nêu rõ trong Tuyên ngôn độc lập: “Pháp chạy, Nhật
hàng, vua Bảo Đại thoái vị Dân ta đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm
nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập ” Sau Cách mạng tháng Tám, Nhà
Trang 26nước ta chưa ban hành ngay một đạo luật cụ thể để điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ
mà tiến hành phong trào “vận động đời sống mới” nhằm vận động nhân dân tự
nguyện xóa bỏ những hủ tục phong kiến lạc hậu trong đời sống [46, tr.65]
Trong những năm đầu sau độc lập (1945 – 1950), ngày 10/10/1945 Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 90-SL cho phép vận dụng có chọn lọc những quy định trong pháp luật cũ theo nguyên tắc: không đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của đất nước
Năm 1946 bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta ra đời, trở thành văn bản
có giá trị pháp lý cao nhất ghi nhận những nguyên tắc tự do, bình đẳng nam nữ, nguyên tắc hôn nhân tiến bộ, làm cơ sở xóa bỏ chế độ hôn nhân phong kiến lạc hậu
Đồng thời, sự phát triển của xã hội về mọi mặt kinh tế, chính trị, quận sự trong quá trình đấu tranh cách mạng chống đế quốc, phong kiến cùng với sự phát triển của phong trào giải phóng phụ nữ đòi hỏi phải xóa bỏ một số chế định trong các bộ luật
cũ về các quan hệ HN&GĐ Do đó, Nhà nước ta cần phải quy định những nguyên tắc mới về HN&GĐ cho phù hợp với tình hình mới Vì vậy, năm 1950, hai Sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ ra đời: Sắc lệnh số 97 - SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159 -
SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn
Theo đó, về vấn đề kết hôn, Sắc lệnh số 97 – SL gồm 15 Điều, trong đó có 8 Điều quy định về HN&GĐ, các điều khác quy định một số nguyên tắc của pháp luật dân sự Sắc lệnh xóa bỏ nhiều quy định của Nhà nước phong kiến thực dân, sửa đổi theo hướng tiến bộ hơn:
- Người con đã thành niên không bắt buộc phải có cha mẹ bằng lòng mới kết hôn được (Điều 2);
- Trong thời kỳ tang chế vẫn có thể lấy vợ, lấy chồng (Điều 3);
- Người đàn bà ly dị chồng có thể lấy chồng khác ngay sau khi có án tuyên ly
dị, nếu dẫn chứng rằng mình không có thai hoặc đang có thai (Điều 4)…
Như vậy, Sắc lệnh số 97 – SL và Sắc lệnh số 159 – SL đã góp phần đáng kể vào việc xóa bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu, góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ thoát khỏi chế độ đó, thúc đẩy sự phát triển xã hội Việt Nam trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Trang 27Ngày 07/5/1954 lịch sử dân tộc chứng kiến chiến thắng oanh liệt “lừng lẫy
năm châu, chấn động địa cầu” Điện Biên Phủ hào hùng Năm 1957, ở miền bắc
cuộc cải cách ruộng đất căn bản hoàn thành, quan hệ sản xuất phong kiến - cơ sở của chế độ HN&GĐ phong kiến bị xóa bỏ Tuy vậy, chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống nhân dân Lúc này hai Sắc lệnh trên đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình và không còn phù hợp với thực tế nảy sinh tại thời điểm lúc bấy giờ Việc ban hành một đạo luật mới về HN&GĐ là một tất yếu khách quan của lịch sử
Sự ra đời của Luật HN&GĐ năm 1959 - đạo luật đầu tiên về HN&GĐ trong lịch sử pháp luật của Việt Nam như một bước tiến mới làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của quan hệ pháp luật này Luật HN&GĐ năm 1959 trên tinh thần kế thừa hai Sắc lệnh trên, có nhiệm vụ: xóa bỏ những tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến
và xây dựng chế độ HN&GĐ mới xã hội chủ nghĩa Luật gồm 6 chương và 35 điều
Các quy định về vấn đề kết hôn được quy định tại Chương II, gồm 8 điều từ Điều 4 đến Điều 11 [33] Một số điểm tiến bộ của Luật HN&GĐ năm 1959 so với thời kỳ trước thể hiện tại các điều sau:
* Về tự nguyện kết hôn: điều kiện này được quy định tại điều đầu tiên của
Chương II, “Con trai và con gái đến tuổi được hoàn toàn tự nguyện quyết định việc
kết hôn của mình; không một ai được ép buộc bên nào, không một ai được cưỡng ép hoặc cản trở”(Điều 4) [33] Quy định này là điểm tiến bộ nổi bật của Luật so với
trước Nếu như trước đây, các văn bản luật cũng đề cập đến sự tự nguyện của hai bên nhưng vẫn còn bị ràng buộc bởi sự đồng ý của cha mẹ, thì tại Điều 4 này, lần đầu tiên sự tự nguyện trong kết hôn được nâng lên thành nguyên tắc cơ bản trong vấn đề kết hôn của hai bên nam nữ, tức là thừa nhận tuyệt đối sự tự nguyện khi kết hôn của các bên mà không bị ảnh hưởng bởi ý kiến của cha mẹ
* Về độ tuổi kết hôn: Điều 6 Luật HN&GĐ năm 1959 quy định “Con gái từ
18 tuổi trở lên, con trai từ 20 tuổi trở lên mới được kết hôn” So với các quy định
trước đây, độ tuổi được phép kết hôn trong Luật này được nâng lên 18 tuổi (đối với nữ), 20 tuổi (đối với nam), phản ánh nhận thức mới về sự phát triển tâm sinh lý của con người trong nhận thức của các nhà làm luật
* Về các điều cấm kết hôn: Nếu như pháp luật thời kỳ trước đó quy định
cấm kết hôn khi để tang, cấm đàn bà góa tái giá trong thời hạn 300 ngày kể từ khi
Trang 28hôn nhân chấm dứt trước pháp luật thì Luật HN&GĐ năm 1959 đã xóa bỏ các
điều luật không còn phù hợp đó và quy định: “Việc để tang không cản trở việc kết
hôn” (Điều 7) và “Đàn bà góa có quyền tái giá” (Điều 8) Những quy định này đã
giải phóng người phụ nữ khỏi tư tưởng phong kiến lạc hậu
Luật HN&GĐ năm 1959 chỉ quy định cấm kết hôn trong các trường hợp:
“Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác” (Điều 5); “Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu trực hệ, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi Cấm kết hôn giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha
Đối với những người khác có họ trong phạm vi năm đời hoặc có quan hệ thích thuộc về trực hệ, thì việc kết hôn sẽ giải quyết theo phong tục tập quán.” (Điều 9)
Đồng thời quy định “Những người sau đây không được kết hôn: bất lực hoàn toàn
về sinh lý, mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc mà chưa chữa khỏi”
* Về hình thức kết hôn: Luật HN&GĐ năm 1959 quy định rõ “Việc kết hôn
phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của bên người con trai hoặc bên người con gái công nhận và ghi vào sổ kết hôn Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị về mặt pháp luật” (Điều 11) Đây là điểm mới của Luật so với thời
kỳ trước, thể hiện quan điểm về việc hôn nhân có giá trị pháp lý là hôn nhân được phải được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước công nhận
Tuy nhiên, với gần 30 năm thi hành ở miền Bắc và hơn 10 năm thi hành ở miền Nam, bên cạnh những thành tựu đáng kể thì Luật HN&GĐ năm 1959 cũng không thể tránh khỏi một số hạn chế nhất định Do những biến chuyển của tình hình chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước, Luật HN&GĐ không thể giải quyết được triệt để nhu cầu xã hội phát sinh Vì thế Luật HN&GĐ năm 1986 ra đời tiếp tục kế thừa và phát triển Luật HN&GĐ năm 1959, thực hiện giải phóng phụ nữ, xây dựng gia đình mới thực sự dân chủ, tiến bộ
Luật HN&GĐ năm 1986 được Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 29/12/1986, có hiệu lực thi hành từ ngày 03/01/1987 Lần đầu tiên trong lịch sử,
cả nước áp dụng chung một hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ về HN&GĐ, đó là Luật HN&GĐ năm 1986 Vấn đề kết hôn được quy định tại Chương II, từ Điều 5 đến Điều 9 Luật HN&GĐ năm 1986 trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1959 về các quy định vấn đề kết hôn, sắp xếp lại theo hướng chặt chẽ, hoàn thiện hơn
Trang 29* Về độ tuổi kết hôn: Luật HN&GĐ năm 1986 quy định độ tuổi tối thiểu để
hai bên nam nữ đủ điều kiện kết hôn là “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở
lên” (Điều 5) Quy định này là sự kế thừa của Luật HN&GĐ năm 1959
* Về sự tự nguyện kết hôn: Luật HN&GĐ năm 1986 kế thừa quy định của
Luật năm 1959 ghi nhận nguyên tắc kết hôn tự nguyện, không bên nào được ép buộc, cản trở, hay lừa dối bên nào Đây cũng được xem là cơ sở để quy định nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng (Điều 6)
* Về các trường hợp cấm kết hôn: Điều 7 quy định rõ các trường hợp sau
thì bị cấm kết hôn: “a) Đang có vợ hoặc có chồng; b) Đang mắc bệnh tâm thần
không có khả năng nhận thức hành vi của mình, đang mắc bệnh hoa liễu; c)Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời; d)Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi”
Như vậy so với Luật HN&GĐ năm 1959, các điều cấm kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 1986 đã được quy định tập hợp trong một điều luật Phạm vi cấm kết hôn cũng được thu hẹp hơn Theo đó, về điều kiện kết hôn liên quan đến thể chất của người kết hôn, Luật HN&GĐ năm 1986 chỉ cấm kết hôn đối với người đang mắc bệnh tâm thần, không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình và người mắc bệnh hoa liễu Người bị bất lực hoàn toàn về sinh lí hay mắc bệnh hủi không bị cấm kết hôn Thêm vào đó, việc cấm kết hôn giữa người có quan hệ họ hàng cũng được thu hẹp hơn, chỉ đặt ra đối với người có họ trong phạm vi 3 đời Bên cạnh đó, Điều 4 Luật HN&GĐ năm 1986 còn quy định: Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi… Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác
* Về hình thức kết hôn: Điều 8 Luật HN&GĐ năm 1986 quy định rõ: “Việc
kết hôn do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài do cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý”
Căn cứ vào các điều kiện kết hôn (Điều 5, 6, 7) và hình thức kết hôn (Điều 8) trong Luật HN&GĐ năm 1986 có thể nhận xét: Đối với những người chung sống
Trang 30với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn nhưng đáp ứng được các điều kiện tại Điều 5 (đủ tuổi kết hôn), Điều 6 (tự nguyện kết hôn), Điều 7 (không vi phạm các trường hợp cấm kết hôn), Luật HN&GĐ năm 1986 không xem là hôn nhân trái pháp luật, chỉ xem đây là vi phạm về mặt thủ tục Như vậy, Luật HN&GĐ năm
1986 đã “gián tiếp thừa nhận” mối quan hệ hôn nhân đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không đăng ký kết hôn
Luật HN&GĐ năm 1986 ra đời đã đáp ứng được vai trò lịch sử trong thời kỳ đất nước bước vào công cuộc đổi mới Luật đã có những kế thừa những nguyên tắc dân chủ của Luật HN&GĐ năm 1959, những truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam Đồng thời Luật có những bước phát triển hơn điều chỉnh quan hệ xã hội về HN&GĐ, trong đó có quy định về điều kiện kết hôn của hai bên nam nữ Đánh giá
về công tác thi hành pháp luật, Chỉ thị số 482/TTg ngày 08/9/1994 Về việc tổng kết 8
năm thi hành Luật HN&GĐ năm 1986 nêu rõ: “Qua 08 năm thực hiện Luật đã góp
phần tích cực trong việc xây dựng và củng cố các gia đình Việt Nam, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xóa bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, chống ảnh hưởng xấu của chế độ HN&GĐ tư sản” Mặt khác, Chỉ thị cũng đánh giá
tính hạn chế của Luật: “Tuy vậy, ở nhiều nơi vẫn còn xảy ra các hành vi vi phạm các
quy định của Luật HN&GĐ, kể cả những trường hợp vi phạm nghiêm trọng, vẫn còn những trường hợp tảo hôn, kết hôn không đăng ký, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một
vợ một chồng, tình trạng đánh vợ, hành hạ con cái, không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con và bố mẹ già yếu vẫn chưa bị lên án và xử lý đúng mức”
Như vậy, sau hơn 10 năm thi hành, Luật HN&GĐ năm 1986 đã bộc lộ nhiều điểm yếu trước những biến đổi của xã hội Tình hình này đòi hỏi Nhà nước cần phải sửa đổi một cách toàn diện Luật HN&GĐ Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 1992 được ban hành, thay thế các Điều 30, 35, 40, 58, 63 và 64 so với Hiến pháp năm 1980, là
cơ sở pháp lý quan trọng cho Luật HN&GĐ năm 2000 ra đời
Nghiên cứu lịch sử chế định pháp luật về HN&GĐ nói chung, và quá trình tìm hiểu các vấn đề về điều kiện kết hôn của hai bên nam nữ nói riêng, nhận thấy: hệ thống pháp luật Việt Nam trải qua các giai đoạn ngày càng hoàn thiện, phù hợp hơn, đáp ứng được nhu cầu khách quan của đời sống kinh tế - xã hội của giai đoạn đó
Nếu như trong pháp luật phong kiến, các quy phạm pháp luật về vấn đề kết hôn chưa tập hợp khái quát thành chế định pháp luật thì lần lượt trong hệ thống Luật
Trang 31HN&GĐ năm 1959, 1986 và hiện nay là Luật HN&GĐ năm 2000, các quy phạm pháp luật về vấn đề kết hôn và điều kiện kết hôn đã được xây dựng hoàn thiện hơn, vừa phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đất nước, vừa phù hợp với thuần phong
mỹ tục của người Việt Nam, đồng thời có những bước tiến bộ để hội nhập đời sống kinh tế - xã hội toàn cầu
Trang 32CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CÁC ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000
Kết hôn là sự kết hợp về mặt pháp luật và tự nhiên của hai bên nam nữ Sự kết hợp về mặt tự nhiên được hiểu là: tình yêu đôi lứa, sự đồng cảm về cuộc sống…của hai bên đến độ chín muồi Sự kết hợp về mặt pháp luật có nghĩa là: Pháp luật đặt ra các điều kiện nhất định để sự kết hợp hôn nhân này có giá trị, và làm cơ sở để giải quyết các phát sinh trong mối quan hệ đó Do đó, trong HN&GĐ không thể thiếu một trong hai yếu tố trên để đảm bảo sự bền vững
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định các điều kiện kết hôn tại Điều 9, Điều 10
và Điều 11 như sau :
“Điều 9 Điều kiện kết hôn: Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: 1 Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên; 2 Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở; 3 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này”
Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây: 1 Người đang có vợ hoặc có chồng; 2 Người mất năng lực hành vi dân sự; 3 Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; 4 Giữa cha,
mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; 5 Giữa những người cùng giới tính
Ngoài ra, nam, nữ kết hôn buộc phải đáp ứng điều kiện về hình thức tại Điều
11: “1 Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyển (sau
đây gọi là cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý”
Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện nay đã ghi nhận rõ ràng các điều kiện cần
để hôn nhân của hai bên nam nữ có giá trị pháp lý Nghiên cứu cụ thể về các quy định đó như sau:
Trang 332.1 Tuổi kết hôn
Tại khoản 1 Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Nam từ hai mươi tuổi
trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên” mới được phép kết hôn Vấn đề độ tuổi được
các nhà làm luật quy định ngay tại khoản 1 Điều 9 của Luật thể hiện sự quan tâm và tầm quan trọng của độ tuổi trong quan hệ hôn nhân Hầu hết tại các quốc gia trên thế giới đều có quy định độ tuổi tối thiểu để kết hôn Độ tuổi này tại các nước khác nhìn chung đều quy định thấp hơn pháp luật Việt Nam BLDS Cộng hòa Pháp thời
kỳ đầu quy định: “Nam chưa đủ mười tám tuổi tròn, nữ chưa đủ mười lăm tuổi tròn
không thể kết hôn” (Điều 144) Tuy nhiên từ năm 2006 Cộng hòa Pháp đã quy định
tuổi kết hôn của cả nam và nữ là đủ 18 tuổi ; Điều 10 Bộ luật Gia đình Hunggari quy định nam 18, nữ 16 tuổi tròn mới được kết hôn… Quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu không quy định độ tuổi tối đa trong vấn đề kết hôn đảm bảo được quyền tự do kết hôn của công dân, không ai bị giới hạn độ tuổi khi quyết định việc hôn nhân
Theo Nghị quyết số 02/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000
(Nghị quyết số 02/2000/NQ - HĐTP) như sau: “Khi giải quyết yêu cầu huỷ việc kết
hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn cần chú ý một số điểm sau đây: a Điều kiện kết hôn quy định tại điểm 1 Điều 9 là: "Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên" Theo quy định này thì không bắt buộc nam phải từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ phải từ đủ mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn; do đó, nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn”
Quy định độ tuổi như hiện nay theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, đặt ra vấn đề: Cơ sở nào để quy định như trên? Theo nghiên cứu qua thực tiễn
và phong tục, tập quán của người Việt Nam, nhà làm luật dựa trên cơ sở sau:
Trang 34nam phải từ 18 tuổi trở lên và nữ từ 17 tuổi trở lên Những đứa con của những cặp nam, nữ sinh con trước tuổi kết hôn hay mắc các bệnh về nhiễm sắc thể, sức đề kháng yếu…bản thân sức khỏe của người mẹ cũng không được đảm bảo, dễ mắc các bệnh viêm nhiễm, phụ khoa… Theo quy luật sức khỏe sinh sản làm mẹ an toàn, phụ nữ sinh con trước 18 tuổi và sau 34 tuổi thường gặp nguy cơ cao trong quá trình thai nghén, sinh nở như: sảy thai, đẻ non, băng huyết, dị tật thai nhi, nhiễm độc thai nghén Phụ nữ từ 24 đến 29 tuổi có sức khỏe sinh sản tốt nhất vì cơ thể đã phát triển toàn diện, chất lượng trứng ở thời kỳ tốt nhất
Xét trên phương diện phát triển tâm lý, khi nam nữ đạt đến độ tuổi trưởng thành, cơ bản sẽ đạt được sự chín chắn trong suy nghĩ, nghiêm túc trong hành động, đảm bảo đưa ra quyết định đúng đắn trong việc kết hôn Sử dụng cụm từ “cơ bản sẽ đạt được” bởi vì không phải ai cũng có sự phát triển đồng đều về tâm, sinh lý, trí tuệ Tuy nhiên, độ tuổi trưởng thành (đủ18 tuổi) là độ tuổi đã được nghiên cứu, tối thiểu đảm bảo sự phát triển tương đối đầy đủ về trí tuệ và thể chất Khi đạt được độ tuổi tối thiểu này, hai bên nam nữ có thể tự mình lựa chọn và quyết định việc kết hôn Đồng thời, ở độ tuổi này, hai bên nam nữ đã phần nhiều tự tạo lập được cuộc sống bản thân, không bị phụ thuộc vào gia đình Yếu tố này là cần thiết để đảm bảo cho hai bên nam nữ sau khi kết hôn xây dựng được một cuộc sống ổn định, no ấm, bền vững
b Về cơ sở thực tiễn:
Các cuộc khảo sát và nghiên cứu thống kê về tuổi kết hôn trong cả nước cho thấy, ở nông thôn và miền núi còn nhiều trường hợp kết hôn dưới tuổi luật định Nữ
từ 16 tuổi đến 19 tuổi và nam từ 18 tuổi đến 21 tuổi kết hôn còn chiếm trên 50% [
15, tr.10 ] Điều này đặt ra vấn đề: độ tuổi tối thiểu để kết hôn cần xem xét về nhiều mặt, đặc biệt cần tính đến tập quán của các dân tộc, vùng miền
Khi xây dựng Luật HN&GĐ năm 2000, có nhiều quan điểm khác nhau về quy định độ tuổi: có quan điểm cho rằng nên hạ thấp tuổi cho phép kết hôn để phù hợp với thực tế trong nước và hòa nhập với pháp luật quốc tế; có quan điểm khác cho rằng nên quy định độ tuổi kết hôn đối với nam và nữ là như nhau (đều từ 18 tuổi trở lên được phép kết hôn) Tuy nhiên, các quan điểm nêu trên đều không được chấp nhận Bởi vì Luật HN&GĐ năm 1959 và 1986 đều quy định nam từ 20 tuổi, nữ từ
18 tuổi trở lên mới được kết hôn Kể từ khi Luật HN&GĐ năm 1959 có hiệu lực
Trang 35(13/01/1960) cho đến Luật HN&GĐ năm 2000 được ban hành, quy định về độ tuổi kết hôn đã được thi hành hơn 40 năm và được thực hiện như một tập quán [46].Mặt khác, quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu cần xem xét các điều kiện địa lý, đặc điểm
và trình độ dân cư Đồng thời cần quan tâm đến phong tục, tập quán tốt đẹp của các địa phương Do đó, Luật HN&GĐ năm 2000 kế thừa Luật HN&GĐ năm 1959 và
1986 quy định độ tuổi kết hôn của nam và nữ
Về cách tính độ tuổi kết hôn: Khoản 1 Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định độ tuổi kết hôn: Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên Tuy nhiên, cách quy định độ tuổi kết hôn như hiện nay đã dẫn tới những cách tính tuổi không thống
nhất Trên thực tế có hai cách tính tuổi Một là, tính theo tuổi tròn (tức là phải đủ
12 tháng mới tính là một tuổi và phải căn cứ vào ngày tháng năm sinh được ghi trong giấy tờ hộ tịch để tính)
Ví dụ, chị Trần Thị A sinh ngày 10/10/1980, đến ngày 10/10/1998 chị tròn 18 tuổi Lúc này, chị B có quyền kết hôn theo quy định
Hai là, tính theo ngày đầy năm dương lịch Theo cách tính này chỉ căn cứ
vào năm sinh, cứ bước qua ngày 01/01 đầu năm dương lịch là tính thêm một tuổi
Ví dụ: Anh Nguyễn Văn B sinh ngày 20/02/1990, đến ngày 20/02/2009 anh B tròn 19 tuổi Như vậy, từ sau ngày này anh B được xem là đã bước sang tuổi 20 (19 tuổi cộng 1 ngày), kể từ đây anh B được quyền kết hôn theo quy định của pháp luật
Trong khi đó, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP thì
“không bắt buộc nam phải đủ từ 20 mươi tuổi, nữ phải đủ 18 tuổi mới trở lên mới được kết hôn; do đó nam đã bước sang tuổi 20, nữ đã bước sang tuổi 18 mà kết hôn
là không vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn” Ngoài ra, tại Điều 3 Nghị định số
70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ có quy
định: “Nam đang ở tuổi 20, nữ đang ở tuổi 18 thì đủ điều kiện về tuổi kết hôn theo
quy định tại Khoản 1 Điều 9 của Luật HN&GĐ” Căn cứ văn bản hướng dẫn, hiện
nay, các cơ quan Nhà nước đang áp dụng theo cách hiểu thứ hai, tức là nam bước sang tuổi 19 (19 tuổi cộng 1 ngày) và nữ bước sang tuổi 18 (17 tuổi cộng 1 ngày) thì được phép kết hôn
Tuy nhiên, nếu áp dụng theo cách tính tuổi như trên sẽ có sự mâu thuẫn với các Luật khác Điều 20 BLDS năm 2005 quy định nữ chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên Người phụ nữ lấy chồng khi bước sang tuổi 18 (17 tuổi cộng 1 ngày)
Trang 36được xem là một chủ thể của quan hệ HN&GĐ tuy nhiên theo BLDS thì người này vẫn là người chưa thành niên, cho nên khi họ xác lâp, thực hiện các giao dịch dân sự (trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sịnh hoạt hàng ngày) phải được sự đồng ý của cha mẹ (là người đại diện theo pháp luật theo Điều 22 BLDS) Ngoài ra, quy định này còn mâu thuẫn với BLTTDS năm 2004 Khi người vợ chưa đủ tuổi thành niên
họ không có năng lực hành vi TTDS khi tham gia quan hệ TTDS (theo Điều 57 BLTTDS)
Có thể thấy, việc xác định chính xác độ tuổi kết hôn có ý nghĩa trong việc xác định hôn nhân trái pháp luật; đồng thời là cơ sở để xử hủy việc kết hôn trái pháp luật Như vậy, độ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành căn cứ dựa trên cơ sở sự phát triển tâm sinh lý và thực tiễn của kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của người Việt Nam Quy định độ tuổi kết hôn hiện nay thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với sức khỏe của nam và nữ, bảo đảm cho nam, nữ có thể đảm đương trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ, đảm bảo cho con cái sinh ra được khỏe mạnh về cả thể chất và trí tuệ
2.2 Tự nguyện kết hôn
Vấn đề về sự tự nguyện kết hôn được Luật HN&GĐ năm 2000 quy định tại
khoản 2 Điều 9: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào
được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”
Điều 39 BLDS năm 2005 cũng quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn
theo quy định của pháp luật về HN&GĐ có quyền tự do kết hôn”
“Tự nguyện” theo từ điển Tiếng Việt, có nghĩa: “Tự mình muốn làm, tự mình muốn như thế, không ai bắt buộc” Như vậy, tự nguyện kết hôn là quyền của nam,
nữ Tự nguyện kết hôn là không có hành vi cưỡng ép hoặc lừa dối để kết hôn đồng thời phải có sự thống nhất ý chí giữa các bên Quyết định này không bị ảnh hưởng bởi ý chí của một người thứ ba, vì một lợi ích về kinh tế, vật chất, tinh thần của ai khác Sự tự nguyện này xuất phát từ tình yêu thương từ cả hai phía, mong muốn trở thành vợ chồng, cùng nhau xây dựng gia đình Đây là yếu tố quan trọng đảm bảo cho cuộc hôn nhân bền vững Việc đánh giá yếu tố tự nguyện của nam, nữ khi kết hôn có
ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các vụ về hủy hôn nhân trái pháp luật
Để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, những người muốn kết hôn
phải cùng có mặt tại cơ quan đăng ký kết hôn nộp tờ khai kết hôn “Khi tổ chức
Trang 37đăng ký kết hôn phải có mặt của hai bên nam nữ kết hôn” (Điều 14) Theo đó, hai
bên nam nữ sẽ trả lời trực tiếp trước cán bộ phụ trách việc đăng ký kết hôn và đại diện của cơ quan đăng ký kết hôn rằng họ tự nguyện kết hôn với nhau Đây cũng là một hình thức thể hiện sự quản lý của cơ quan có thẩm quyền trong vấn đề kết hôn
Chính vì quy định này mà pháp luật không cho phép cử người đại diện trong việc đăng ký kết hôn, không cho phép một trong hai người được vắng mặt tại lễ đăng ký kết hôn Pháp luật đã quy định chặt chẽ các thủ tục liên quan đến đăng ký kết hôn, đảm bảo việc kết hôn tự nguyện
Đối với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, điều kiện đi lại quá khó khăn thì lễ đăng ký kết hôn có thể được tổ chức tại thôn, bản, phum, sóc nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ (Điều 8 Nghị định số 32/2002/NĐ-CP) Theo tinh thần
đó, những trường hợp cần thiết, để đảm bảo quyền lợi cho các bên nam, nữ và con cái của họ, lễ đăng ký kết hôn có thể được tổ chức tại nhà ở, cơ quan, đơn vị bộ đội, bệnh viện nhưng dù ở đâu cũng phải có mặt của cả hai bên kết hôn [46, tr.96]
Tuy nhiên, hình thức này cũng có ngoại lệ Tại điểm c2 Mục 1 Nghị quyết
02/2000/NQ-HĐTP quy định "Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên
nam, nữ kết hôn" Thực tiễn cho thấy rằng trong một số trường hợp vì những lý do
khách quan hay chủ quan khi tổ chức đăng ký kết hôn chỉ có một bên nam hoặc nữ, nếu trước khi tổ chức đăng ký kết hôn đã thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều
13 và sau khi tổ chức đăng ký kết hôn họ thực sự về chung sống với nhau thì không coi là việc đăng ký kết hôn đó là không theo nghi thức quy định tại Điều 14 Như vậy, pháp luật có tính linh hoạt trong vấn đề thủ tục để vừa đảm bảo tính tự nguyện của hai bên nam nữ kết hôn, vừa đảm bảo được quyền lợi chính đáng của họ
Về vấn đề tự nguyện kết hôn, tại điểm b Mục 1 Nghị quyết số HĐTP cũng hướng dẫn rõ như thế nào là vi phạm sự tự nguyện kết hôn:
02/2000/NQ-“b Nếu nam và nữ kết hôn tuy có đủ các điều kiện quy định tại các điểm 1 và
3 Điều 9, nhưng họ không tự nguyện quyết định mà thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại khoản 2 Điều 9:
b.1 Một bên ép buộc (ví dụ: đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần hoặc dùng vật chất ) nên buộc bên bị ép buộc đồng ý kết hôn;
b.2 Một bên lừa dối (ví dụ: lừa dối là nếu kết hôn sẽ xin việc làm phù hợp hoặc nếu kết hôn sẽ bảo lãnh ra nước ngoài; không có khả năng sinh lý nhưng cố
Trang 38tình giấu; biết mình bị nhiễm HIV nhưng cố tình giấu ) nên bên bị lừa dối đã đồng
ý kết hôn;
b.3 Một bên hoặc cả hai bên nam và nữ bị người khác cưỡng ép (ví dụ: bố mẹ của người nữ do nợ của người nam một khoản tiền nên cưỡng ép người nữ phải kết hôn với người nam để trừ nợ; do bố mẹ của hai bên có hứa hẹn với nhau nên cưỡng
ép con của họ phải kết hôn với nhau ) buộc người bị cưỡng ép kết hôn trái với nguyện vọng của họ”.
Sự tự nguyện trong kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành phải đầy đủ 3 yếu tố: 1 Không bị ép buộc; 2 Không bị bên kia lừa dối; 3 Không bị cưỡng ép Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP cũng liệt kê rõ một số trường hợp cụ thể giải thích:
- Ép buộc: có thể là bị ép buộc bằng vũ lực, bị ép buộc về tinh thần, về vật chất… đối với bên kia Ép buộc kết hôn là hành vi sử dụng vũ lực hoặc không sử dụng vũ lực uy hiếp về vật chất và tinh thần của một người buộc người đó phải kết hôn Đối tượng ép buộc có thể là người thứ ba, có thể là một bên nam, nữ kết hôn
Trường hợp này đặt ra tình huống: vì sự tôn kính, hiếu thảo với cha, mẹ mà kết hôn với người mình không có ý định kết hôn có bị xem là bị ép buộc và thiếu sự tự nguyện không? Theo quan điểm cá nhân, trường hợp này không bị xem là “bị ép buộc” và “thiếu tự nguyện” Vì dù nghe theo lời khuyên của cha, mẹ thì con vẫn có quyền tự quyết định Tuy nhiên, nếu cha, mẹ dùng tính mạng của mình mà uy hiếp,
ép buộc con phải kết hôn thì đây chính là sự “ép buộc” do pháp luật quy định
- Lừa dối: Lừa dối là trường hợp một bên hoặc người thứ ba đã có hành vi cố
ý nói sai sự thật về một người nhằm làm cho bên kia hiểu sai mà kết hôn Nếu sự lừa dối mang tính chất nghiêm trọng thì mới mang tính chất thiếu tự nguyện Ngược lại, những lừa dối (nói sai tuổi tác, nghề nghiệp…) dẫn đến người kia nhầm tưởng
mà kết hôn thì chỉ bị xem là nhầm lẫn Đối với trường hợp này, nếu vì lý do nhầm lẫn đó mà nảy sinh mẫu thuẫn yêu cầu Tòa án giải quyết, thì Tòa án chỉ xử ly hôn theo thủ tục ly hôn chứ không xử hủy kết hôn trái pháp luật [19]
- Cưỡng ép: đây là yếu tố thể hiện rõ nhất việc vi phạm nguyên tắc tự nguyện kết hôn Cưỡng ép kết hôn là hành vi của người khác đã dùng bạo lực về thể chất hoặc đe dọa uy hiếp về mặt tinh thần làm cho bên nam, nữ phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ Sự cưỡng ép có thể vì yếu tố vật chất (trả nợ cho gia đình, trả
nợ cho bản thân, trả nợ tình nghĩa…), cưỡng ép về tinh thần, …
Trang 39Ngoài ra, sự tự nguyện kết hôn của các bên phải nhằm đạt tới mục đích chung sống lâu dài, và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận Khi đó, sự tự nguyện kết hôn mới đạt được ý nghĩa của nó
Ví dụ: A (quốc tịch nước ngoài) và B (quốc tịch Việt Nam) kết hôn với nhau
B không yêu A nhưng vì muốn có quốc tịch nước ngoài nên đã đồng ý kết hôn , rồi sau đó sẽ xin ly hôn khi đã đạt được mục đích của mình Trường hợp này, mặc dù
cả hai bên là tự nguyện không bị ai ép buộc, cưỡng ép, nhưng nó không nhằm mục đích xác lập quan hệ vợ chồng, thì vẫn bị xem là “kết hôn giả tạo”
Những trường hợp được cho là vi phạm sự tự nguyện kết hôn nêu trên, hai bên nam nữ vẫn thực hiện đầy đủ quy định tại Điều 13 và 14 của Luật HN&GĐ năm 2000 thì vấn đề phát hiện và xử lý là khó khăn Do đó, hầu hết các vụ việc vi phạm khoản 2 Điều 9 này đều bị phát hiện và xử lý sau khi có đơn yêu cầu hủy kết hôn của người trong cuộc Vấn đề giải quyết hậu quả của việc vi phạm này cũng được quy định rõ tại Điều 15 Luật này và có hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP
Pháp luật quy định việc kết hôn phải có sự tự nguyện của hai bên nam, nữ nhằm đảm bảo cho họ được tự do thể hiện ý chí và tình cảm khi kết hôn Do đó, đối với những người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không có khả năng nhận thứ, làm chủ được hành vi của mình và bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành
vi dân sự thì pháp luật cấm họ kết hôn Đối với những trường hợp nam, nữ bị chấn động về thần kinh hoặc đang trong tình trạng say rượu, bia thì tạm thời họ không được đăng ký kết hôn cho đến khi họ khôi phục khả năng nhận biết và hoàn toàn tỉnh táo [46, tr 97]
Sự tự nguyện kết hôn của các bên nam, nữ xuất phát từ tình yêu chân chính giữa họ Đồng thời, sự tự nguyện đó nhằm xây dựng gia đình và cùng nhau chung sống lâu dài Vì vậy nếu nam, nữ kết hôn nhưng không nhằm xây dựng gia đình và mong muốn chung sống lâu dài thì dù họ có tự nguyện Nhà nước cũng không công nhận quan hệ hôn nhân đó là hợp pháp Phải có sự tự nguyện thực sự của các bên nam, nữ khi kết hôn nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế độ hôn nhân phụ thuộc vào cha mẹ trong gia đình phong kiến và xây dựng chế độ HN&GĐ xã hội chủ nghĩa dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng bình đẳng