Để điều chỉnh và giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, một trong các cách phổ biến là quốc gia xây dựng các quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật của mình và trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Việc áp dụng các quy phạm xung đột cũng đồng nghĩa với việc quốc gia đó thừa nhận và cho phép áp dụng luật nước ngoài và tất nhiên đây là một đòi hỏi thực tế khách quan đáp ứng việc củng cố, tăng cường và mở rộng quan hệ đa phương, đa diện của quốc gia với nước ngoài.Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau, vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài vẫn là một thách thức đối với Toà án Việt Nam và những quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn chưa phát huy hiệu quả trong thực tiễn xét xử. Trong tiến trình hội nhập nền kinh tế quốc tế ở mức độ cao hơn và sâu sắc hơn, nếu những bất cập trong vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài khi Toà án xét xử những vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài vẫn còn tồn tại thì sẽ gây những trở ngại không nhỏ cho các chủ thể có liên quan. Vô hình trung sẽ ảnh hưởng đến môi trường pháp lý thuận lợi mà Việt Nam đang xây dựng nhằm thu hút nhiều hơn nữa những chủ thể nước ngoài tham gia.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
1
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Để điều chỉnh và giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, một trong các cách phổ biến là quốc gia xây dựng các quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật của mình
và trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên Việc áp dụng các quy phạm xung đột cũng đồng nghĩa với việc quốc gia đó thừa nhận và cho phép áp dụng luật nước ngoài và tất nhiên đây là một đòi hỏi thực tế khách quan đáp ứng việc củng
cố, tăng cường và mở rộng quan hệ đa phương, đa diện của quốc gia với nước ngoài.Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau, vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài vẫn là một thách thức đối với Toà án Việt Nam và những quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn chưa phát huy hiệu quả trong thực tiễn xét xử Trong tiến trình hội nhập nền kinh tế quốc tế ở mức độ cao hơn và sâu sắc hơn, nếu những bất cập trong vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài khi Toà án xét xử những vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài vẫn còn tồn tại thì sẽ gây những trở ngại không nhỏ cho các chủ thể có liên quan Vô hình trung sẽ ảnh hưởng đến môi trường pháp lý thuận lợi mà Việt Nam đang xây dựng nhằm thu hút nhiều hơn nữa những chủ thể nước ngoài tham gia.Để tìm hiểu
vấn đề đó, em xin lựa chọn đề bài số 21: “Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật nước ngoài của Tòa án Việt nam Nguyên nhân của thực trạng đó”, làm nội dung
bài tập học kỳ
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI
1 Khái niệm ADPL nước ngoài
Theo nguyên lý chung, ADPL dân sự là hoạt động của những cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật dân sự vào những trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể hoặc nhằm xác định rõ quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên hoặc của người thứ ba
có liên quan khi giải quyết các tranh chấp dân sự[4] Như vậy, thông qua hoạt động
ADPL của các chủ thể có thẩm quyền, các quy phạm pháp luật dân sự mới điều chỉnh các quan hệ xã hội, thực hiện sự tác động lên hành vi của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự và thông qua đó, tác động lên các quan hệ xã hội ADPL dân sự là một giai đoạn quan trọng trong quá trình biến các quy phạm pháp luật dân sự thành thực tế1
Như vậy: Áp dụng pháp luật nước ngoài trong Tư pháp quốc tế là việc cơ quan
nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam tiến hành áp dụng luật nước ngoài để giải quyết các tranh chấp, yêu cầu hay những xung đột giữa các chủ thể có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
1 https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2017/10/16/ap-dung-phap-luat-trong-bo-luat-dan-su-nam-2015/, ngày truy cập 20/10/2019
Trang 32 Sự cần thiết áp dụng pháp luật nước ngoài
Trong xu thế toàn cầu hóa và tăng cường hợp tác, các quốc gia cùng nhau thỏa thuận để ban hành nên các quy phạm xung đột giúp giải quyết xung đột pháp luật, do
đó, các quốc gia phải thực hiện các cam kết của mình một cách tận tâm, thiện chí Nếu quốc gia nào thiếu thân thiện trong việc thực hiện các cam kết thì chính quốc gia đó sẽ
bị giảm sút uy tín cũng như ảnh hưởng xấu tới việc thiết lập quan hệ hợp tác với các quốc gia khác trên trường quốc tế2
Với mục đích tối đa hoá một cách hợp lý những lợi ích vật chất hoặc giá trị tinh thần, cá nhân, tổ chức kinh tế cần phải xác lập các giao dịch vượt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia; các quan hệ dân sự (nói chung) vượt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia nếu phát sinh tranh chấp thì có thể chịu sự tài phán của nhiều quốc gia Trong phạm vi quốc gia, sau khi được xác lập hoặc hình thành, các quan hệ dân sự thường có
sự phát triển dẫn đến sự thay đổi và chấm dứt Việc thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ do các bên tham gia thoả thuận và định đoạt bởi một hoặc cả hai bên, tuỳ thuộc vào quan
hệ hoặc nội dung thoả thuận mà có thể yêu cầu Trọng tài hoặc Toà án quốc gia giải quyết Khi các quan hệ không còn chỉ tồn tại trong phạm vi quốc gia nữa, xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia, nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các quốc gia, bằng việc ban hành luật quốc nội và ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế để xác định thẩm quyền cho Toà án của quốc gia mình
Trước hết, việc áp dụng pháp luật nước ngoài xuất phát từ đòi hỏi của thực tế
khách quan Yếu tố nước ngoài ở đây là một trong ba yếu tố: chủ thể (hai bên không cùng quốc tịch hoặc ít nhất một bên là người Việt Nam định cư ở nước ngoài); khách thể của quan hệ ở nước ngoài; căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra ở
nước ngoài
Khi xuất hiện quan hệ tư pháp quốc tế thì hiện tượng xung đột pháp luật sẽ xảy ra
vì khi đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh Việc thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài hay không, áp dụng pháp luật nước ngoài nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể nào hoàn toàn thuộc về chủ quyền của các quốc gia Tuy nhiên, trong xu hướng hiện nay, với mục đích tăng cường, củng cố và thúc đẩy sự phát triển bền vững các mối quan hệ quốc tế, hầu hết các quốc gia đều thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài Hơn nữa, quan hệ Tư pháp quốc tế với bản chất là quan hệ dân sự nên một trong những nguyên tắc điển hình đó là tôn trọng sự thỏa thuận
2https://luatduonggia.vn/ve-van-de-ap-dung-phap-luat-nuoc-ngoai/ , ngày truy cập 20/10/2019
3
Trang 4Do vậy nếu áp đặt việc áp đặt phải áp dụng pháp luật của quốc gia thì sẽ không dung hòa được lợi ích của các quốc gia có liên quan Điều này giúp điều chỉnh quan hệ
tư pháp quốc tế được khách quan và công bằng hơn, đảm bảo tốt nhất lợi ích của công dân tham gia quan hệ dân sự quốc tế Đồng thời, việc áp dụng pháp luật nước ngoài đảm bảo sự ổn định, củng cố và phát triển hợp tác về mọi mặt trong giao lưu dân sự giữa các quốc gia vì sự thịnh vượng chung của cả thế giới; đáp ứng việc củng cố, tăng cường và mở rộng quan hệ đa phương, đa diện của quốc gia với nước ngoài
3 Các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài
Khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật một nước, dù đó là pháp luật Việt Nam hay pháp luật nước ngoài thì về cơ bản cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sẽ áp dụng pháp luật của nước được dẫn chiếu đến Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu tới áp dụng pháp luật Việt Nam thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đương nhiên áp dụng pháp luật Việt Nam và việc áp dụng này không gây khó khăn cho cơ quan áp dụng Nhưng nếu luật nước ngoài được dẫn chiếu đến thì có nhiều vấn đề cần xem xét hơn, bởi pháp luật nước ngoài là một hệ thống pháp luật khác biệt so với Việt Nam Một trong những câu hỏi cần giải đáp là liệu luật nước ngoài sẽ được áp dụng trong những trường hợp nào, có phải chỉ khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hay còn các trường hợp khác?
Luật nước ngoài sẽ được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
- Các bên được pháp luật cho phép lựa chọn pháp luật áp dụng và đã lựa chọn pháp luật nước ngoài, khi đó pháp luật nước ngoài được áp dụng Chú ý sự cho phép các bên lựa chọn pháp luật áp dụng có thể được quy định tại quy phạm xung đột thống nhất cũng có thể được quy định tại quy phạm xung đột thông thường
- Quy phạm xung đột thống nhất trong điều ước quốc tế dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài
- Quy phạm xung đột thông thường dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài
- Khi quy phạm xung đột xác định áp dụng pháp luật nước có mối liên hệ gắn
bó nhất, và trong trường hợp cụ thể cơ quan có thẩm quyền xác định pháp luật nước ngoài chính là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất
Trang 5Ngoài các trường hợp trên pháp luật nước ngoài không được áp dụng trong trường hợp nào nữa
4 Các yêu cầu về điều kiện khi áp dụng pháp luật nước ngoài
Điều kiện để pháp luật nước ngoài được áp dụng tại Việt Nam được ghi nhận tại Điều 664, 668, 670 BLDS 2015 Với các quy định này, nhìn chung pháp luật nước ngoài sẽ được áp dụng tại Việt Nam nếu thoã mãn hai điều kiện sau đây:
Thứ nhất, pháp luật nước ngoài chỉ được áp dụng trong những trường hợp
được pháp luật quy định Cụ thể là pháp luật nước ngoài sẽ được áp dụng khi Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định; hoặc pháp luật nước ngoài được áp dụng nếu Điều ước quốc tế mà Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Đây được xem là điều kiện tiên quyết để Toà án xem xét việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong một vụ việc cụ thể Mặc dù việc chấp nhận áp dụng pháp luật nước ngoài hay không, chấp nhận áp dụng đối với những quan hệ nào, hoàn toàn thuộc chủ quyền của quốc gia Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền của quốc gia, cụ thể ở đây là Toà án, không thể áp dụng một cách tuỳ tiện cũng như từ chối áp dụng một cách tuỳ tiện
Như vậy, với quy định trên có thể khẳng định rằng pháp luật nước ngoài chỉ có
thể được áp dụng tại Việt Nam nếu thuộc 1 trong 3 trường hợp: (i) quy phạm xung đột trong Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quy định áp dụng pháp luật nước ngoài (ii) quy phạm xung đột trong pháp luật Việt Nam quy định áp dụng pháp luật nước ngoài (iii) các bên thoả thuận lựa chọn pháp luật nước ngoài
Thứ hai, pháp luật nước ngoài chỉ được áp dụng nếu thỏa mãn điều kiện nếu
hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Đây là điều kiện quan trọng nhằm bảo vệ nguyên tắc cơ bản của quốc gia có Toà án không bị ảnh hưởng bởi pháp luật nước ngoài
Bên cạnh điểm tiến bộ của BLDS 2015 trong cách quy định về điều kiện này, vẫn tồn tại những điểm chưa đồng nhất trong cách quy định của các văn bản pháp luật Việt Nam
Cụ thể, khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại 2005 quy định: “Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, 5
Trang 6tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế
đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.”; hay khoản 3 Điều 5
Bộ luật Hàng hải 2015 quy định: “luật nước ngoài có thể được áp dụng tại Việt Nam đối với quan hệ hợp đồng liên quan đến hoạt động hàng hải, nếu luật đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”
Thông qua những điều luật trên có thể thấy điều kiện áp dụng pháp luật nước ngoài thứ hai này được thể hiện dưới nhiều hình thức và cách quy định khác nhau ở mỗi văn bản pháp luật Ở BLDS 2015, điều kiện được ghi nhận là hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, thế nhưng một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác lại khẳng định luật nước ngoài chỉ được áp dụng nếu bản thân nội dung pháp luật nước ngoài đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
5 Xác định luật nước ngoài
Bản chất của việc áp dụng pháp luật nước ngoài là quá trình Toà án của quốc gia vận dụng, áp dụng các quy phạm pháp luật cụ thể trong hệ thống pháp luật của một quốc gia khác hoặc các tiểu bang, vùng lãnh thổ của quốc gia khác để giải quyết một quan hệ hay một vấn đề pháp lý cụ thể trong Tư pháp quốc tế Như vậy, quá trình này phải được tiến hành theo những nguyên tắc nhất định nhằm thể hiện sự tôn trọng hệ thống pháp luật của quốc gia nước ngoài Toà án không thể áp dụng pháp luật nước ngoài một cách tuỳ tiện theo cách hiểu hay theo cách giải thích của bản thân mình, điều này sẽ làm sai lệch bản chất và phần nào làm ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của pháp luật nước ngoài
Những văn bản pháp luật của Việt Nam trước đây đều chưa ghi nhận những nguyên tắc cũng như những quy định cụ thể đối với việc áp dụng pháp luật nước ngoài của Toà
án Đây là một trong những trở ngại lớn khi Toà án giải quyết những vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, khuyết điểm này đã được khắc phục bằng những quy định cụ thể của BLDS 2015 và BLTTDS 2015
Về trách nhiệm xác định và cung cấp pháp luật nước ngoài: Quy định tại Điều
481 BLTTDS 2015 là một quy định hoàn toàn mới trong Tư pháp quốc tế Việt Nam
Quy định này đã xác định rõ trách nhiệm của đương sự cũng như các cơ quan Nhà nước trong việc cung cấp và xác định pháp luật nước ngoài Theo đó, trong trường hợp các đương sự lựa chọn pháp luật nước ngoài để áp dụng thì nghĩa vụ cung
Trang 7cấp pháp luật nước ngoài cho Toà án giải quyết vụ việc dân sự thuộc về các bên Các đương sự phải chịu trách nhiệm về tính chính xác và hợp pháp của pháp luật nước ngoài đã cung cấp Trong trường hợp này, các cơ quan Nhà nước như Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài chỉ có trách nhiệm cung cấp pháp luật nước ngoài khi được Tòa án Việt Nam yêu cầu
Ngược lại, trong trường hợp pháp luật nước ngoài cần được áp dụng theo sự chỉ dẫn của quy phạm xung đột trong pháp luật Việt Nam hoặc trong Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì việc cung cấp pháp luật nước ngoài là quyền chứ không phải nghĩa vụ của các đương sự Trong trường hợp này, Toà án có quyền yêu cầu các
cơ quan chức năng của Việt Nam cung cấp pháp luật nước ngoài Toà án cũng có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn về pháp luật nước ngoài cung cấp thông tin về pháp luật nước ngoài Tuy nhiên, thông qua điều luật này có thể thấy pháp luật Việt Nam không trực tiếp quy định về trách nhiệm của Toà án Việt Nam trong việc tìm kiếm và xác định nội dung pháp luật nước ngoài Điều này có thể sẽ là một kẽ hở dẫn đến việc Toà án bỏ qua việc áp dụng pháp luật nước ngoài khi giải quyết các tranh chấp về hợp đồng thương mại quốc tế
Về cách thức xác định nội dung pháp luật nước ngoài:
(i) Trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng nhưng có cách hiểu khác nhau
Liên quan đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài nhưng có nhiều cách hiểu khác nhau,
Điều 667 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng
nhưng có cách hiểu khác nhau thì việc áp dụng phải theo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền tại nước đó” Đây là quy định hoàn toàn mới so với BLDS 2005 và là một
quy định hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài Việc Toà án
áp dụng pháp luật nước ngoài cần phải tuân thủ theo đúng cách thức, tinh thần giải thích, áp dụng những quy định pháp luật đó tại chính quốc gia nơi nó được ban hành Toà án Việt Nam khi áp dụng pháp luật nước ngoài không được tuỳ tiện giải thích những quy định của pháp luật nước ngoài theo nguyên tắc pháp luật Việt Nam
Điều đó có nghĩa là cơ quan có thẩm quyền không thể dùng tư duy pháp lý, cách thức giải thích, cách thức áp dụng của luật quốc gia mình để giải thích và áp dụng pháp luật nước ngoài Đây là nguyên tắc chung được thừa nhận rộng rãi ở các nước Khi Toà án của mỗi nước áp dụng pháp luật nước ngoài mà áp dụng theo cách hiểu riêng của mình thì sẽ dẫn đến hệ quả là pháp luật nước ngoài không được áp dụng một 7
Trang 8cách thống nhất, không bảo đảm giá trị của pháp luật Vì vậy nguyên tắc này ràng buộc Toà án của các nước dù trong hoàn cảnh, điều kiện nào, ở quốc gia nào thì việc áp dụng một hệ thống pháp luật nào đó phải luôn cho ra một kết quả giống như pháp luật
đó được áp dụng tại quốc gia đã ban hành Nhằm khẳng định nguyên tắc này, W Goldschmidt, học giả người Đức đã nhận xét “Nếu đối với pháp luật quốc gia, thẩm phán tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật với tư cách là một kiến trúc sư, thì đối với pháp luật nước ngoài, thẩm phán chỉ là một nhiếp ảnh gia Thẩm phán áp dụng pháp luật quốc gia và dập khuôn pháp luật nước ngoài.”
(ii)Trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài có nhiều hệ thống pháp luật
Trong quá trình áp dụng pháp luật nước ngoài, Toà án có thể gặp tình trạng quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài nhưng tại quốc gia có hệ thống pháp luật nước ngoài đó tồn tại các hệ thống pháp luật khác nhau Việc xác định hệ thống pháp luật nào được áp dụng cần tuân theo nguyên tắc xác định pháp luật do chính quốc gia nước ngoài đó quy định Vấn đề này được ghi nhận tại Điều 669 BLDS
2015 “Trường hợp pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật được dẫn chiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác định theo nguyên tắc do pháp luật nước đó quy định.” Đây là một quy định mới được đưa vào BLDS 2015 và là quy định phù hợp với Tư pháp quốc tế của nhiều nước
6 Thứ tự áp dụng luật
Điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế có thể bằng nhiều phương pháp và có thể
có nhiều hệ thống pháp luật tham gia, vì vậy cần phải nắm rõ thứ tự áp dụng pháp luật theo các bước sau:
Bước 1: Áp dụng quy phạm thực chất thống nhất
Bước 2: Áp dụng quy phạm xung đột thống nhất
Nếu quy phạm cho chọn luật áp dụng và đương sự chọn luật áp dụng là pháp luật nước nào thì luật nước đó sẽ được áp dụng
Nếu quy phạm cho chọn mà đương sự không chọn hoặc quy phạm không cho chọn thì sẽ áp dụng pháp luật nước được xác định bởi quy phạm
Trang 9Bước 3: Áp dụng quy phạm thực chất thông thường
Bước 4: Áp dụng quy phạm xung đột thông thường,
Nếu quy phạm cho chọn luật áp dụng và đương sự lựa chọn luật áp dụng là pháp luật nước nào thì luật nước đó sẽ được áp dụng
Nếu quy phạm cho chọn mà đương sự không chọn hoặc quy phạm không cho chọn thì sẽ áp dụng pháp luật nước được xác định bởi quy phạm
Bước 5: Áp dụng pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất (có thể cả tập quán hoặc tương tự pháp luật, án lệ hoặc lẽ công bằng)
Cần lưu ý các bước sau chỉ được áp dụng khi các bước trước không thể thực hiện được3
II THỰC TIỄN VẤN ĐỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM
1 Phân tích thực tiễn
Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang là vấn đề nổi bật của kinh tế thế giới hiện nay Chính đặc điểm này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau càng cao giữa các quốc gia và khu vực Điều đó cũng đồng nghĩa rằng việc áp dụng pháp luật nước ngoài là một nhu cầu khách quan không thể tránh khỏi ở tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nhằm bảo
vệ các quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự và thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển Thời gian qua, cùng với sự phát triển của các giao lưu dân sự, thương mại, đầu
tư, lao động, giữa nước ta với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước trong khu vực,
số lượng các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài được các tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết cũng gia tăng
Trong thời gian qua,Việt Nam đã tham gia kí kết 23 Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và các lĩnh vực có liên quan trong đó có một số quy định nhằm quy định cụ thể hơn việc áp dụng pháp luật nước ngoài
Việt Nam cũng đã ban hành các văn bản pháp luật trong đó có những quy định
rõ ràng các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài như Bộ luật dân sự 2015 (Điều 667), Luật thương mại 2005 (Điều 5), Luật hôn nhân và gia đình năm 2014,
3 Hứog dẫn môn học Tư pháp quốc tế, TS Vũ Thị Phương Lan, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2017, Trang 34
9
Trang 10Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam của các Tòa án và trọng tài Việt Nam là rất hãn hữu và do vậy nên kinh nghiệm của Tòa án, trọng tài ViệtNam trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài là gần như chưa có Mặc dù việc áp dụng pháp luật nước ngoài trên cơ sở dẫn chiếu của quy phạm xung đột có thể bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của các bên nhưng thực tế, khi có vụ việc dân sự liên quan đến các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài xảy ra, nếu các bên không có thỏa thuận gì về pháp luật điều chỉnh thì tòa án Việt Nam có xu hướng chung
là áp dụng pháp luật luôn pháp luật Việt Nam để giải quyết Thậm chí, có trường hợp tòa án Việt Nam thụ lý nhưng liên quan đến một vấn đề được điều chỉnh bởi pháp luật nước ngoài thì lại từ chối thẩm quyền giải quyết
Ví dụ: Vụ việc tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh từ chối thẩm quyền
giải quyết vụ tranh chấp xảy ra giữa Công ty Kolon (Hàn Quốc) và công ty Vinafood (Việt Nam) về vấn đề bồi thường liên quan đến hợp đồng mua bán một số lượng phân bón, xuất xứ Hoa Kỳ giữa hai công ty xảy ra cách đây khá lâu Đúng như trước đó tác giả Nguyễn Công Khanh trong một bài đăng của mình trên tạp chí Dân chủ và pháp
luật đã nói: “Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam khi giải quyết những vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, thường chỉ áp dụng pháp luật Việt Nam, hầu như rất hãn hữu, nếu không muốn nói là chưa bao giờ áp dụng pháp luật nước ngoài, mặc dù đã được quy phạm xung đột dẫn chiếu” Hay tại hội
thảo “Một số vấn đề thực tiễn về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản trong Tư pháp
quốc tế”, thẩm phán Ngô Thị Minh Ngọc đã thừa nhận “Chúng tôi chưa bao giờ áp dụng pháp luật nước ngoài khi giải quyết tranh chấp dân sự hay ly hôn”.
Mặc dù việc áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết các vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài là một trong những hoạt động diễn ra từ rất lâu và rất phổ biến trên thế giới, và mặc dù pháp luật Việt Nam đã có rất nhiều quy định cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết những vụ việc dân sự theo nghĩa rộng
có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp nhất định với những nguyên tắc nhất định nhưng đây vẫn là một hoạt động hoàn toàn mới mẻ đối với các tòa án Mới mẻ ở đây không phải vì thực tế ở Việt Nam không có vụ án nào đòi hỏi phải áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết, và chúng ta cũng không thể nói rằng trong lĩnh vực này, các quy định của pháp luật đã đi trước thực tiễn, mà thực tế là việc các tòa án, trọng tài Việt Nam áp dụng pháp luật nước ngoài trong quá trình giải quyết một vụ án là rất hãn