Chỉ khi nào hai bên nam nữ đạt đủ điều kiện kết hôn về độ tuổi kết hôn, sự tự nguyện trong việc kết hôn và không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn được quy định tại Điều 10 thì
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
CƠ CHẾ KIỂM TRA VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
CÁC ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: Huỳnh Thị Trúc Giang Phí Thị Phương Nhung MSSV: 5075290
Lớp: Tư pháp 3 - K33
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 1.1 Điều kiện về nội dung 4
1.1.1 Điều kiện về độ tuổi 4
1.1.2 Điều kiện về sự tự nguyện 8
1.1.3 Những trường hợp cấm kết hôn 12
1.1.3.1 Cấm người đang có vợ có chồng kết hôn với người khác 13
1.1.3.2 Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn 18
1.1.3.3 Cấm kết hôn đối với người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời 20
1.1.3.4 Cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng 21
1.1.3.5 Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính 22
1.2 Điều kiện về hình thức 24
1.2.1 Nộp hồ sơ đăng ký kết hôn 25
1.2.2 Xem xét hồ sơ đăng ký kết hôn 26
1.2.3 Tổ chức đăng ký kết hôn 28
1.3 Các chế tài đối với các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn 30
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ VIỆC KIỂM TRA CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 2.1 Thực trạng về kiểm tra độ tuổi khi kết hôn 37
2.2 Thực trạng về kiểm tra sự tự nguyện khi kết hôn 40
2.3 Thực trạng về việc kết hôn rơi vào những trường hợp cấm 45
2.3.1 Người đang có vợ có chồng 45
Trang 52.3.2 Người mất năng lực hành vi dân sự 48
2.3.3 Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ và giữa những người có họ trong phạm vi ba đời 52
2.3.4 Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng 54
2.3.5 Giữa những người cùng giới tính 55
2.4 Thủ tục khi đăng ký kết hôn 58
2.4.1 Cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn 58
2.4.2 Hồ sơ đăng ký kết hôn 61
2.4.3 Thủ tục giải quyết đăng ký kết hôn 63
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT ĐỂ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM TRA VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CÁC ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN 3.1 Độ tuổi khi kết hôn 66
3.2 Sự tự nguyện khi kết hôn 69
3.3 Kết hôn rơi vào những trường hợp cấm 70
3.3.1 Người đang có vợ có chồng 70
3.3.2 Người mất năng lực hành vi dân sự 71
3.3.3 Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời 71
3.3.4 Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng 72
3.3.5 Giữa những người cùng giới tính 73
KẾT LUẬN 76
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng trong việc hình thành và giáo dục nhân cách con người, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Vì lí do đó, gia đình có một vị trí đặc biệt quan trọng trong xã hội ngày nay Nhà nước luôn quan tâm, giáo dục, đề ra các chủ trương chính sách thích hợp, ban hành các quy định pháp luật sao cho phù hợp đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đảm bảo cho tính khả thi khi áp dụng vào thực tế của các quy định pháp luật để mỗi gia đình sẽ là nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, tiến tới một xã hội văn minh, bình đẳng
Gia đình, hệ quả tất yếu của các cuộc hôn nhân và sau đó còn phát sinh nhiều hệ quả khác như: quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng, quyền tài sản của vợ chồng, trách nhiệm nuôi dưỡng con cái thành công dân tốt, có ích cho xã hội Để gia đình có thể phát triển tốt đẹp thì việc kết hôn nhằm xác lập quan hệ vợ chồng của hai bên nam nữ phải theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện hành, đó là điều kiện cần thiết tạo cơ sở cho việc củng cố và phát triển quan hệ hôn nhân sau này của vợ
và chồng
Ngày nay, khi xã hội ngày càng tiến bộ tri thức của con người ngày càng được nâng cao, kiến thức pháp luật được phổ biến sâu rộng trong nhân dân và vì tầm quan trọng, ý nghĩa thiêng liêng của việc kết hôn thì kết hôn là sự kiện quan trọng có thể chỉ diễn ra một lần trong cả cuộc đời của mỗi con người Chính vì những lý do đó nên việc kết hôn của các bên phải tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật về đăng ký kết hôn Nhà nước ta chỉ thừa nhận việc kết hôn theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân
và gia đình, mọi hình thức kết hôn khác như theo phong tục tập quán, theo tôn giáo…
mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì đều không có giá trị pháp lý
và không được pháp luật công nhận
Bên cạnh những quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, hiện tượng vi phạm các điều kiện về kết hôn vẫn xảy ra trên thực tế Vi phạm xảy ra có thể là do ý
Trang 7thức pháp luật của người dân chưa được nâng cao hoặc do họ biết nhưng vẫn cố tình vi phạm, mặt khác có thể do sự quản lý yếu kém, lỏng lẻo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc đăng ký kết hôn Nhiều trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn nhưng quan hệ hôn nhân của họ vẫn được duy trì như nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng chưa đủ tuổi để đăng ký kết hôn hoặc đã đủ điều kiện để đăng ký kết hôn nhưng vẫn không đăng ký kết hôn…đây là vấn đề xảy ra rất phổ biến trên thực tế đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Ngoài ra trường hợp kết hôn giả tạo để được bảo lãnh ra nước ngoài, kết hôn để có được một khoản tiền, tình trạng tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, đặt ra yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, người đang có vợ có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác…diễn ra ngày càng phức tạp, rất khó để xác định các trường hợp vi phạm này Cán bộ tư pháp hộ tịch nếu chỉ căn cứ vào các quy định của pháp luật thì rất khó để kiểm tra và quản lý tình trạng kết hôn như hiện nay, do đó khi các bên tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì ngoài các giấy tờ cần cung cấp theo quy định của pháp luật, các bên còn phải cung cấp thêm các loại giấy tờ khác theo yêu cầu của cán bộ tư pháp như: sổ hộ khẩu, giấy khai sinh…Đây là những bất cập, tồn tại trên thực tế hiện nay một phần do người dân chưa hiểu biết pháp luật, một phần do quy định của pháp luật chưa chặt chẽ, do sự quản
lý tùy tiện, chưa hiểu đúng nên đã áp dụng sai quy định pháp luật của cán bộ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc đăng ký kết hôn Chính vì những bất cập trên đã
hướng người viết lựa chọn đề tài “Cơ chế kiểm tra và bảo đảm thực hiện các điều
kiện kết hôn” làm đề tài nghiên cứu phục vụ cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này người viết tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, thực tiễn của những điều kiện về đăng ký kết hôn, cơ chế kiểm tra, giám sát các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn trên thực tế mà cụ thể là sự kiểm tra của cán bộ tư pháp Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có thẩm quyền đăng ký kết hôn Từ đó rút ra những điểm còn hạn chế, những điểm chưa hợp lý, những bất cập còn tồn tại trên thực tế, đưa ra đề xuất của bản thân, bên cạnh đó rút ra những kinh nghiệm nhằm phục vụ tốt hơn cho việc công tác sau này
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 8Qua những kiến thức được tích lũy từ ghế nhà trường và qua thực tế áp dụng như hiện nay, để tạo điều kiện nhằm tìm hiểu sâu hơn về điều kiện đăng ký kết hôn và quá trình kiểm tra các điều kiện đó trên thực tế như thế nào người viết đã chọn đề tài
“Cơ chế kiểm tra và bảo đảm thực hiện các điều kiện kết hôn” để nghiên cứu và từ
đó có thể áp dụng chính xác theo đúng tinh thần của pháp luật hiện hành về hôn nhân
và gia đình Bên cạnh đó có thể giúp tìm ra những giải pháp cấp thiết và lâu dài nhằm hoàn thiện luật pháp tốt hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài luận văn của mình, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch, phương pháp thu thập tài liệu, quá trình tìm hiểu thực tế, từ khái quát chi tiết, phân tích tổng hợp nhằm so sánh xử lý thông tin, số liệu đã thu thập được
5 Cơ cấu của đề tài
Cơ cấu của đề tài gồm: Mục lục, lời nói đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Nội dung của đề tài được chia làm ba nội dung:
Chương 1: Các quy định về điều kiện kết hôn trong Luật hôn nhân và gia đình
Trang 9CHƯƠNG 1 CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN TRONG LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM1.1 Điều kiện về nội dung
1.1.1 Điều kiện về độ tuổi
Luật hôn nhân và gia đình quy định độ tuổi kết hôn là căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người và căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở nước ta, Nhà nước đưa ra độ tuổi thích hợp cho phép các bên xác lập quan hệ vợ chồng
Gia đình phải thực hiện chức năng xã hội của nó Một trong những chức năng đó
là chức năng sinh đẻ nhằm duy trì và phát triển nòi giống, người phụ nữ mà ở đây là người vợ thực hiện chức năng thiêng liêng của mình đó là chức năng làm mẹ, bên cạnh
đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc và giúp đỡ nhau cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững1
Do đó, để thực hiện tốt chức năng này thì người phụ nữ phải có được sự hoàn thiện nhất định về thể chất cũng như tinh thần Theo kết quả nghiên cứu của nền y học hiện đại thì nam từ ngoài mười sáu tuổi trở lên, nữ từ khoảng mười ba tuổi trở lên đã có khả năng sinh sản2 Tuy nhiên, nếu sinh con ở độ tuổi này sẽ không đảm bảo được sự phát triển khỏe mạnh về mặt thể chất và trí tuệ của đứa trẻ được sinh ra, người chồng người vợ không đảm bảo được khả năng kinh tế để chăm lo, giáo dục đứa trẻ trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà đôi khi nó còn trở thành gánh nặng cho xã hội Cũng theo nghiên cứu này thì người phụ nữ sinh con đầu lòng ở độ tuổi hai mươi bảy sẽ đạt được những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của đứa trẻ được sinh ra Do đó, để đảm bảo cho con sinh ra được khỏe mạnh, nòi giống phát triển ổn định, bảo đảm sức khỏe cho người mẹ khi mang thai, khi sinh đẻ và khả năng chăm sóc giáo dục của cha
mẹ đối với con thì Luật hôn nhân và gia đình quy định tuổi kết hôn đối với nam, nữ là nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên3 Quy định này thể hiện sự
1 Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
2 Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2006.
3 Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Trang 10quan tâm của Nhà nước đối với sức khỏe của nam, nữ đảm bảo cho họ có thể đảm đương được trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ, đảm bảo cho con cái sinh ra được khỏe mạnh về cả thể lực lẫn trí tuệ, có thể phát triển tốt trở thành công dân
có ích cho xã hội, vì trẻ em hôm nay là thế giới của ngày mai
Căn cứ vào sự phát triển tâm lý của con người, khi nam nữ đạt độ tuổi trưởng thành họ sẽ có những suy nghĩ đúng đắn và nghiêm túc trong việc kết hôn của mình Đây là một trong những yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của quan
hệ hôn nhân Đồng thời, khi đạt tuổi trưởng thành, nam nữ có thể tự mình lựa chọn và quyết định việc kết hôn Do đó, sẽ đảm bảo được sự tự nguyện của nam nữ khi kết hôn Mặt khác, khi đạt độ tuổi trưởng thành, nam nữ có thể tham gia vào quá trình lao động, tạo ra thu nhập Điều này sẽ đảm bảo cho sự ổn định về kinh tế cho cuộc sống của họ sau khi kết hôn Đây là một trong những yếu tố quan trọng bảo đảm cho quan hệ hôn nhân có thể tồn tại Như vậy, quy định độ tuổi cho phép nam nữ kết hôn là tạo điều kiện cho vệc xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững
Tuổi kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình là độ tuổi tối thiểu cho phép nam nữ kết hôn Luật không quy định khi đến độ tuổi nào đó thì hai bên nam nữ không được phép kết hôn với nhau nữa Do đó, khi đến tuổi luật định nam nữ kết hôn vào độ tuổi nào là tùy thuộc vào hoàn cảnh gia đình, điều kiện công tác, sinh hoạt và sở thích của mỗi người Điều này cho thấy khi ban hành luật, ngoài chức năng chủ yếu của gia đình là sinh đẻ để duy trì và phát triển nòi giống thì nhà làm luật còn quan tâm đến sự thương yêu, quý trọng, chăm sóc và giúp đỡ nhau sau khi kết hôn của hai bên nam nữ vì người quá tuổi sinh sản tự nhiên vẫn có quyền kết hôn Suy cho cùng quyền kết hôn là quyền nhân thân của mỗi con người nên Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy
định rõ hơn về cách tính tuổi khi kết hôn như sau: “Theo quy định này thì không bắt
buộc nam phải từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ phải từ đủ mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn; do đó nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám
mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn” Và tại Điều 3 Nghị định số
70/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/10/2001 quy định chi tiết Luật hôn nhân và gia
Trang 11đình có quy định: “Nam đang ở tuổi hai mươi, nữ đang ở tuổi mười tám thì đủ điều
kiện về tuổi kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000” Đồng thời, Công văn số 268/TP-HT ngày 19/4/2001 của Bộ Tư pháp cũng quy
định độ tuổi kết hôn được hiểu: “Nam bước sang ngày hôm sau của ngày sinh nhật lần
thứ mười chín, nữ bước sang ngày hôm sau của ngày sinh nhật lần thứ mười bảy là đủ tuổi kết hôn” Như vậy, chỉ cần nam bước sang tuổi hai mươi, nữ bước sang tuổi mười
tám là đã có thể kết hôn với nhau Ví dụ: Anh Trịnh Thiên Tú sinh ngày 03/6/1990 thì đến ngày 03/6/2009 là anh Tú tròn mười chín tuổi Từ sau ngày 03/6/2009 trở đi thì anh
Tú có quyền kết hôn mà không bị coi là vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn Đối với trường hợp một người trong giấy Chứng minh nhân dân chỉ ghi nhận năm sinh mà không xác định cụ thể ngày và tháng sinh thì thực tế áp dụng cán bộ tư pháp sẽ căn cứ theo quy định tại Công văn số 2488/BTP-HCTP ngày 06/6/2006 về thực hiện Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thì trong trường hợp không xác định được ngày, tháng sinh thì ngày, tháng sinh là ngày 01 tháng 01 của năm đó Ví dụ như anh Tú trong giấy Chứng minh nhân dân chỉ ghi nhận năm sinh là năm 1990 thì đến ngày 01/01/2009 là anh Tú tròn mười chín tuổi, từ ngày 02/01/2009 trở đi thì anh
Tú đã đủ tuổi kết hôn và được quyền kết hôn theo quy định của pháp luật
Khi xây dựng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có nhiều ý kiến khác nhau về
độ tuổi kết hôn Có quan điểm cho rằng cần hạ thấp độ tuổi kết hôn vì theo họ kinh tế ngày càng phát triển, các điều kiện văn hóa xã hội cũng phát triển theo, đời sống xã hội được nâng cao, lối sống phương Tây xâm nhập mạnh vào tư duy của giới trẻ hiện nay, con người sẽ phát triển sớm hơn rất nhiều so với lứa tuổi luật định nên cần hạ thấp độ tuổi kết hôn để phù hợp với thực tế và hòa nhập với thế giới Quan điểm khác cho rằng nên quy định tuổi kết hôn đối với nam nữ là như nhau, cụ thể là từ mười tám tuổi trở lên các bên được phép kết hôn Quy định như vậy một phần phù hợp với tuổi thành niên trong Bộ luật dân sự, một phần nhằm tạo ra sự bình đẳng giới giữa nam và nữ Có quan điểm lại cho rằng theo quy định của Bộ luật dân sự người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên, người từ dưới mười tám tuổi là người chưa thành niên Tuy nhiên theo các quy định của Bộ luật hình sự thì người chưa thành niên từ mười bốn tuổi trở lên đã có thể phải chịu trách nhiệm hình sự Bộ luật hình sự cũng không quy định như thế nào là thành niên hay chưa thành niên nhưng Bộ luật này cho phép xác định
Trang 12người thành niên là người đủ mười tám tuổi trở lên Nhìn từ góc độ tổng quát nhất, Hiến pháp 1992 đã dành một chương để nói về “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Theo đó, một người chỉ có trọn vẹn quyền công dân khi họ đủ hai mươi mốt tuổi trở lên Khi đó họ mới có quyền lập gia đình Tuy nhiên, những quan điểm trên đã không được chấp nhận, bởi vì Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đều quy định nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên mới được phép kết hôn Các quy định trên đã được áp dụng hơn năm mươi năm kể
từ ngày 13/01/1960 ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực, do đó nó được duy trì như một tập quán Mặt khác khi quy định độ tuổi kết hôn để xác lập quan
hệ vợ chồng cần xem xét đến nhiều yếu tố khác nhau như: điều kiện địa lý, đặc điểm và trình độ dân cư, phong tục tập quán, điều kiện phát triển kinh tế xã hội, văn hóa của đất nước Do đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 vẫn tiếp tục quy định độ tuổi kết hôn của nam nữ là nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên được phép kết hôn với nhau
Về độ tuổi kết hôn, pháp luật mỗi nước quy định có khác nhau Ở những nước dân số ít, điều kiện dân sinh tốt, đời sống dân cư ổn định thì mười sáu tuổi đã có thể lập gia đình Đó là cách để đẩy nhanh sự tăng trưởng dân số Còn ở những nước có tỷ lệ tăng dân số cao, điều kiện kinh tế xã hội chưa phát triển thì độ tuổi kết hôn được đưa ra
có thể cao hơn như là: mười bảy, mười tám, mười chín, hai mươi…tùy theo quy định của nước đó Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) lứa tuổi từ mười đến mười chín là độ tuổi vị thành niên Như vậy người trên mười chín tuổi sẽ được coi là người thành niên Tuy nhiên các nước lại có quy định tuổi thành niên khác nhau, cụ thể quy định chung tuổi thành niên của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan là hai mươi tuổi, của Úc, Canada,
Ấn Độ, Philippines, Anh, Brazil, Mỹ là mười tám tuổi Bên cạnh đó một số nước lại xác định tuổi trưởng thành để kết hôn lại thấp hơn như Angola(mười hai tuổi), Senegal (mười ba tuổi), Nga và Malaysia (mười sáu tuổi)…Mặc dù các nước có quy định độ tuổi để được phép kết hôn là khác nhau nhưng suy cho cùng pháp luật của các quốc gia đều có điểm chung là nam nữ phải đạt độ tuổi nhất định như luật quy định mới được phép kết hôn4
4 Nên hạ tuổi kết hôn của nam, TS Nguyễn Thị Hoài Phương, phó chủ nhiệm khoa luật dân sự, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 13Về nguyên tắc, cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn khi nam nữ đạt đến độ tuổi luật định là Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên nam nữ có nguyện vọng đăng ký kết hôn Cơ sở để cán bộ tư pháp kiểm tra độ tuổi của các bên là Giấy chứng minh nhân dân do các bên xuất trình Quy định như vậy cho thấy Luật hiện hành không dự liệu bất kỳ một trường hợp nào mà nam nữ được kết hôn với nhau khi chưa đủ tuổi do luật quy định Tuy nhiên trên thực tế vẫn xảy ra hiện tượng nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc chưa đủ tuổi để đăng ký kết hôn Như vậy là trái với quy định của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành, vi phạm về độ tuổi được phép kết hôn.
1.1.2 Điều kiện về sự tự nguyện
Ngoài độ tuổi kết hôn được luật quy định thì tại khoản 2 Điều 9 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 còn quy định: “Việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết định,
không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”.
Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng quy định: “Nam nữ có đủ điều kiện kết
hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn.
Việc tự do kết hôn giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”.
Sự tự nguyện trong việc kết hôn là hai bên nam nữ tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí là mong muốn trở thành vợ chồng của nhau Mỗi bên nam nữ không bị tác động của bên kia hay bất kỳ người nào khác khiến họ phải kết hôn trái với nguyện vọng của mình Đó là sự thể hiện thống nhất ý chí của họ Hai bên nam nữ mong muốn trở thành vợ chồng phải xuất phát từ tình yêu thương chân chính giữa họ
và nhằm mục đích cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc Ph.Ăngghen đã khẳng
định: “Sự luyến ái qua lại giữa đôi nam nữ phải là lý do cao hơn hết thảy trong việc
kết hôn”5 Sự tự nguyện của hai bên nam nữ trong việc kết hôn phải thể hiện rõ là họ mong muốn được gắn bó với nhau, cùng nhau chung sống suốt đời nhằm thỏa mãn nhu
Http://sgtt.vn/Ban-doc/Dien-dan/111853/Nen-ha-tuoi-ket-hon-cua-nam.html
5 Ph.Ăngghen, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, C.Mác và Ph.Ăngghen tuyển tập, tập VI, tr 115.
Trang 14cầu tình cảm giữa hai người Sự tự nguyện trong việc kết hôn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể tồn tại lâu dài và bền vững Song thực tế hiện nay, vì những lý
do gì đó mà họ kết hôn với nhau không nhằm mục đích xây dựng gia đình, chẳng hạn: Kết hôn để được xuất cảnh ra nước ngoài một cách hợp pháp, để một người mang tiếng
là đã có vợ hoặc có chồng… Việc kết hôn trong những trường hợp này đều theo đúng với quy định của pháp luật nhưng họ không có ý định chung sống với nhau, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc Trên thực tế những trường hợp này diễn ra khá phổ biến mà luật hiện hành vẫn chưa điều chỉnh được6
Khoản 2 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối, cưỡng
ép hoặc cản trở Luật chỉ quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” nhưng bên cạnh đó Luật cũng như các văn bản hướng dẫn không có một văn bản nào quy định như thế nào là “tự nguyện” mà chỉ liệt kê các hành vi được xem là vi phạm sự
tự nguyện Như chúng ta đã biết phép liệt kê mà Luật sử dụng không thể nào đầy đủ, tuyệt đối và đúng trong mọi trường hợp Như vậy, nếu việc kết hôn của hai bên nam,
nữ không rơi vào một trong các dấu hiệu “vi phạm sự tự nguyện” như Luật đã liệt kê thì đều được xem là họ đã thể hiện sự “tự nguyện” trong việc kết hôn của mình Đây là một vấn đề nhạy cảm và khó xác định trên thực tế Do không có văn bản hướng dẫn nên trên thực tế sự “tự nguyện” của hai bên nam, nữ có mong muốn kết hôn với nhau mặc nhiên được hiểu là việc họ cùng nhau có mặt tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để ký vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn mà không cần cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn của mình trước đại diện cơ quan đăng ký kết hôn
Do đó, chỉ khi nào việc kết hôn của họ có một trong các dấu hiệu vi phạm sự tự nguyện, ví dụ: Bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép thì Luật mới xem việc kết hôn của họ là vi phạm sự tự nguyện, những trường hợp còn lại đều được xem là họ đã tự nguyện trong việc kết hôn của mình Vấn đề đặt ra hiện nay trên thực tế, ví dụ: anh A là con của một gia đình nghèo khó nhưng có ngoại hình đẹp, khéo ăn nói, anh A kết hôn với chị B là con gái của một gia đình giàu có, việc anh A kết hôn với chị B không xuất phát từ tình yêu thương chân chính và nhằm mục đích cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, mà chỉ nhằm vào số tài sản to lớn của gia đình chị B Như vậy, trong trường
6 TS Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Trang 15hợp này thật khó để xác định hôn nhân của anh A là hôn nhân tự nguyện, tiến bộ nhằm mục đích xây dựng gia đình Để hiểu rõ hơn về sự ép buộc, lừa dối, cưỡng ép hoặc cản trở trong việc kết hôn- một trong những căn cứ dẫn đến cuộc hôn nhân có thể bị hủy là như thế nào ta lần lượt xem xét từng dấu hiệu:
* Sự lừa dối: Luật hôn nhân và gia đình hiện hành không có định nghĩa riêng về
sự lừa dối trong hôn nhân Tuy nhiên, tại mục 1 điểm B.2 Nghị quyết số
02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 có quy định: “Một bên lừa dối (ví dụ: lừa dối là nếu kết hôn sẽ
xin việc làm phù hợp hoặc nếu kết hôn sẽ bảo lãnh ra nước ngoài; không có khả năng sinh lý nhưng cố tình giấu; biết mình bị nhiễm HIV nhưng cố tình giấu…)Nên bên bị lừa dối đã đồng ý kết hôn” Ngoài những trường hợp mà Nghị quyết số 02/2000/NQ-
HĐTP đã liệt kê thì trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều sự việc mang tính chất “lừa dối” trong việc kết hôn, ví dụ: Anh A và chị B yêu nhau thật lòng, ba mẹ hai bên cũng không phản đối và mong muốn họ sớm kết hôn với nhau để được ẵm cháu, chị B cũng
đã nhiều lần đề cập đến chuyện kết hôn nhưng luôn bị anh A từ chối với nhiều lý do như là công việc đang phát triển tốt đẹp, phải dành thời gian cho việc kiếm tiền để lo cho cuộc sống sau này nên chưa muốn kết hôn bây giờ, do không được anh A đồng ý nên chị B đã nói dối là mình đã có thai với anh, anh A không nghi ngờ gì đã đăng ký kết hôn, tổ chức đám cưới với chị B Nếu như sau này anh A biết rõ sự thật, liệu anh A
có yêu thương và chấp nhận chung sống bình thường với chị B được hay không quả thật là rất khó nói, nhưng trong ví dụ này đã tồn tại hành vi lừa dối kết hôn, vi phạm sự
tự nguyện trong việc kết hôn của hai bên nam, nữ Hôn nhân có thể bị hủy do đương sự lừa dối như những trường hợp đã nêu trên nhưng để chứng minh sự tồn tại của hành vi lừa dối trong lúc xác lập giao dịch kết hôn hoàn toàn không phải là điều dễ dàng, do đó trong thực tế khi đã phát hiện sự lừa dối trong việc kết hôn và làm cho đương sự muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân đó thì giải pháp được lựa chọn thường là xin ly hôn thay vì xin hủy hôn nhân trái pháp luật
* Sự ép buộc: Cũng giống như sự lừa dối trong việc kết hôn, Luật không đưa ra
định nghĩa riêng về sự ép buộc trong việc kết hôn Tuy nhiên, tại mục 1 điểm B.1 Nghị
quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 có quy định: “Một bên ép buộc (ví dụ:
đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần hoặc dùng vật chất…)Nên buộc bên bị ép
Trang 16buộc đồng ý kết hôn” Có thể hiểu ép buộc kết hôn là việc một bên trong quan hệ hôn
nhân buộc bên còn lại phải kết hôn với mình trái với mong muốn của người đó Sự ép buộc trong hôn nhân thường xảy ra ở các tỉnh có đồng bào ít người sinh sống, một trong những nguyên nhân làm cho sự vi phạm tăng cao là do ý thức pháp luật của người dân còn yếu kém, thủ tục kết hôn hoàn toàn theo phong tục, thói quen mà không
hề được đăng ký với Ủy ban nhân dân Tiêu biểu như trường hợp của chị Sùng A Mây, một cô gái thôn Sa Pả (xã Sa Pả, Sa Pa, Lào Cai) Trong một đêm trăng, cô theo bạn xuống chợ dạo chơi, và cũng vào lúc ấy cô bị một chàng trai lạ mặt kéo đi Chỉ chưa đầy hai tuần sau, họ đã làm lễ cúng trời, mời bà con đến uống rượu, chứng thực họ đã nên vợ nên chồng Lúc ấy, A Mây vừa tròn 15 tuổi Họ không quan tâm và cũng không
hề biết việc kết hôn phải được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cuộc hôn nhân của họ mới có giá trị pháp lý Không chỉ riêng trường hợp của Sùng A Mây
mà đa số những cô gái ở đây đều lấy chồng từ rất sớm, 15 -17 tuổi đã làm mẹ7 Trong tình huống này, ngoài vi phạm về sự tự nguyện khi kết hôn, họ còn vi phạm về độ tuổi khi kết hôn Đây là một trong những tình trạng rất phổ biến ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào ít người, dân tộc thiểu số, gây nhiều bức xúc trong dư luận và xã hội
* Sự cưỡng ép: Cưỡng ép kết hôn là hành vi buộc người khác phải kết hôn trái
với nguyện vọng của họ8 Và tại mục 1 điểm B.3 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP
ngày 23/12/2000 có hướng dẫn về hành vi cưỡng ép như sau: “Một bên hoặc cả hai
bên nam và nữ bị người khác cưỡng ép (ví dụ: bố mẹ của người nữ do nợ của người nam một khoản tiền nên cưỡng ép người nữ phải kết hôn với người nam để trừ nợ; do
bố mẹ của hai bên có hứa hẹn với nhau nên cưỡng ép con của họ phải kết hôn với nhau…)Buộc người bị cưỡng ép kết hôn trái với nguyện vọng của họ” Tóm lại, hành
vi cưỡng ép được hiểu là các hành vi của người khác (người thứ ba) cưỡng ép buộc một hoặc các bên trong quan hệ hôn nhân phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ Trên thực tế hành vi cưỡng ép trong việc kết hôn thường xuất phát với mục đích vật chất hay những nguyên nhân khác như: con cái bị mắc bệnh tâm thần nên cha mẹ ép buộc con mình kết hôn để có người chăm sóc, và cha mẹ của người nữ vì lợi ích vật chất đã ép
7 Khó áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với người dân tộc, theo Pháp Luật.
Http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Kho-ap-dung-Luat-Hon-nhan-va-gia-dinh-voi-nguoi-dan-toc/10744641/218/
8 Khoản 5, Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Trang 17con gái mình phải kết hôn với người bị mắc bệnh tâm thần, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, để lại những hậu quả đau thương cho cuộc sống của gia đình
họ sau này Cũng có trường hợp trên thực tế, do sức khỏe suy yếu nên ba mẹ đã cưỡng
ép con cái của mình kết hôn, lập gia đình để có gì ba mẹ cũng yên tâm, về phần con cái,
do không muốn ba mẹ phiền lòng mà bệnh thêm nặng nên cũng đã nghe lời “nhắm mắt” lấy đại một cô vợ Ta thấy trong cuộc hôn nhân này họ không hoàn toàn tự nguyện và cũng không nhằm mục đích xây dựng gia đình
Trong trường hợp việc kết hôn được chấp nhận do một bên hoặc cả hai bên tuân theo sự xếp đặt của cha mẹ mà bản thân mình không muốn điều đó, khi đó ta thấy rằng,
sự tự nguyện của họ trong việc kết hôn là không hoàn hảo, và trong trường hợp này cũng rất khó để chứng minh dấu hiệu cưỡng ép Thông thường, chỉ có thể xác định tình trạng cưỡng ép kết hôn nếu việc cưỡng ép được thực hiện với hành vi phi đạo đức Ví dụ: cưỡng ép cưới gả con nhằm thu tiền, đánh đập, hành hạ, ngược đãi dã man buộc con phải lấy chồng, lấy vợ hoặc đem lại lợi ích vật chất nào đó cho bản thân người cưỡng ép
* Sự khác nhau giữa ép buộc và cưỡng ép kết hôn:
Về mặt chủ thể thực hiện: Cưỡng ép là hành vi của người khác (người thứ ba)
buộc bên nam, bên nữ hoặc cả hai bên nam nữ phải kết hôn với nhau trái với nguyện vọng của họ Còn ép buộc kết hôn là hành vi của một trong hai bên trong quan hệ hôn nhân (có thể là bên nam hoặc bên nữ) buộc bên còn lại phải kết hôn với mình trái với nguyện vọng của người đó
Về mục đích thực hiện: Cưỡng ép kết hôn mang lại lợi ích cho người thực hiện
hành vi cưỡng ép (có thể là ba, mẹ, người thân thích của người bị cưỡng ép) Còn ép buộc kết hôn mang lại lợi ích cho chính bản thân người ép buộc, cụ thể là bên nam hoặc bên nữ thực hiện hành vi ép buộc trong quan hệ hôn nhân
Trong tình hình hiện nay, với những quy định của Luật hôn nhân và gia đình đối với điều kiện về sự tự nguyện trong việc kết hôn theo người viết là chưa thực thi và chưa đầy đủ, Luật chỉ quy định việc kết hôn phải do nam, nữ tự nguyện quyết định nhưng lại không có văn bản hướng dẫn “tự nguyện” là như thế nào, còn đối với các
Trang 18hành vi vi phạm sự tự nguyện thì Luật chỉ liệt kê một vài trường hợp để minh họa Như vậy là chưa đủ đối với cuộc sống công nghiệp như hiện nay, người ta có thể kết hôn với nhau chỉ để được xuất cảnh ra nước ngoài, nhập tịch vào những thành phố trọng điểm như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, thủ đô Hà Nội,…để rồi sau đó là nộp đơn xin ly hôn Theo người viết nên có sự hướng dẫn rõ ràng, những quy định chặt chẽ và đầy đủ hơn đối với sự tự nguyện trong việc kết hôn, bởi sự tự nguyện trong việc kết hôn là nền tảng để xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ Vì gia đình tốt thì xã hội mới tốt.
Tóm lại, để thỏa mãn điều kiện về sự tự nguyện của hai bên nam nữ khi đăng ký kết hôn thì sự tự nguyện đó phải hoàn hảo, họ phải hoàn toàn tự nguyện mong muốn được làm chồng làm vợ của nhau, không bên nào được lừa dối bên nào, không ai được
ép buộc, cưỡng ép họ Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định điều kiện về sự tự nguyện của hai bên nam nữ nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế độ hôn nhân phụ thuộc cha mẹ của gia đình phong kiến, xây dựng chế độ hôn nhân trên nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một chồng một vợ, vợ chồng bình đẳng
1.1.3 Những trường hợp cấm kết hôn
Những trường hợp cấm kết hôn là điều kiện thứ ba được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về điều kiện kết hôn Chỉ khi nào hai bên nam nữ đạt đủ điều kiện kết hôn về độ tuổi kết hôn, sự tự nguyện trong việc kết hôn và không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn được quy định tại Điều 10 thì hôn nhân của họ mới có giá trị pháp lý, được mọi người công nhận và được Nhà nước bảo hộ Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và năm 2000 đều có điều khoản quy định những trường hợp không được kết hôn bởi đây là vấn đề hết sức quan trọng Trên thực tế vẫn
có trường hợp xảy ra quan hệ chung sống khi một trong hai bên nam nữ đã có vợ hoặc
có chồng, hoặc có những người không có năng lực hành vi dân sự nhưng vẫn bị gia đình lừa dối ép buộc kết hôn Đặc biệt có những trường hợp tồn tại hôn nhân giữa hai bên nam nữ có mối quan hệ về nuôi dưỡng hoặc có cùng dòng máu về trực hệ, những người cùng giới tính chung sống với nhau như vợ chồng Dù thuộc một trong những trường hợp nào kể trên thì cũng là một trong những nguyên nhân đem lại sự đau khổ, bất hạnh cho gia đình và không phù hợp với đạo đức xã hội, truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam Vì thế, trên cơ sở kế thừa và phát huy, Luật hôn nhân và gia đình
Trang 19năm 2000 tiếp tục quy định các trường hợp cấm kết hôn và có bổ sung một số trường hợp mới.
1.1.3.1 Cấm người đang có vợ có chồng kết hôn với người khác
Điều 64 Hiến pháp 1992 quy định: “Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước
bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ Nhà nước và
xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con” Trên cơ sở quy định tại
Điều 64 của Hiến pháp 1992, Điều 1 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986 và Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quy định này là sự kế thừa và cụ thể hóa nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình – nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Đây là nguyên tắc quan trọng, cần thiết, đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của Luật hôn nhân và gia đình là xóa bỏ tận gốc chế độ hôn nhân gia đình phong kiến- đa thê, xóa bỏ sự đối xử bất bình đẳng đối với người phụ nữ, xây dựng chế độ hôn nhân tiến bộ xã hội chủ nghĩa
Xuất phát từ bản chất của hôn nhân xã hội chủ nghĩa là hôn nhân một vợ một chồng, chỉ có hôn nhân một vợ một chồng mới đảm bảo được sự bền vững, hạnh phúc gia đình, đảm bảo sự yêu thương, quý trọng nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ
Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Vì bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ… cho nên hôn
nhân dựa trên tình yêu giữa nam và nữ do ngay bản chất của nó, là hôn nhân một vợ một chồng”9 Như vậy, hệ thống pháp luật nước ta quy định khi kết hôn các bên phải
tuân theo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Theo nguyên tắc này thì chỉ những người chưa kết hôn hoặc những người tuy đã kết hôn nhưng vợ hoặc chồng của họ đã chết hoặc đã ly hôn có quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì khi
đó họ mới có quyền kết hôn với người khác Từ đó ta có thể hiểu, những người đang có
vợ, có chồng bị cấm kết hôn với nhau và cũng bị cấm kết hôn với những người chưa có
vợ có chồng
9 Ph.Ăngghen “ Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, C.Mác và Ăngghen tuyển tập, tập VI, trang 129-130.
Trang 20Luật hôn nhân và gia đình hiện hành cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhằm xóa bỏ chế độ đa thê dưới thời phong kiến Hôn nhân một vợ một chồng lấy tình yêu nam nữ làm cơ sở duy trì và phát triển quan hệ hôn nhân Chỉ có hôn nhân một vợ một chồng được xây dựng, duy trì trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng mới đảm bảo cho hôn nhân tồn tại bền vững, vợ chồng thực sự yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc Pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước ta khác về bản chất so với pháp luật của Nhà nước phong kiến và pháp luật của một số nước khác Pháp luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam quy định người đàn ông có quyền lấy nhiều vợ (Điều 79, 80 Bộ luật Bắc Kỳ năm 1931) Luật hiện hành, về nguyên tắc chỉ cho phép người đàn ông có quyền lấy một vợ.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì việc kết hôn bị cấm đối với người đang có vợ có chồng Nhưng trước khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực Nhà nước ta vẫn thừa nhận những trường hợp nam nữ lấy nhau tuy không đăng ký kết hôn nhưng vẫn chung sống trong quan hệ vợ chồng là hôn nhân thực tế Hôn nhân thực tế là một quan hệ thực tế, xác lập giữa hai người, một nam và một nữ, có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng lại không đăng ký kết hôn10 Theo đó, tại Mục 1 điểm C.1 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/200 hướng dẫn áp dụng một số quy
định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hướng dẫn trường hợp “người đang
có vợ có chồng” là:
- Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn Quy định ở đây được hiểu là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng phải theo đúng với quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn
và đăng ký kết hôn Cụ thể là để xác lập quan hệ hôn nhân họ phải đáp ứng điều kiện
về độ tuổi, về sự tự nguyện, không rơi vào những trường hợp bị cấm kết hôn và việc kết hôn của họ phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình hiện hành
10 Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập 1- Gia đình, Tủ sách Đại học Cần Thơ, 2006.
Trang 21- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn Theo quy định tại điểm d Mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc
hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình thì: “Được coi nam và nữ chung sống
với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau; Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận; Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay
tổ chức chứng kiến; Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình” Trong trường hợp này Nhà nước
khuyến khích họ đi đăng ký kết hôn, không hạn chế về thời gian đăng ký kết hôn Quan
hệ vợ chồng được pháp luật công nhận nên có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình thì trong trường hợp này nếu họ có yêu cầu xin
ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nếu họ muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân trước ngày 09/6/2000 (ngày Nghị quyết số 35/2000/QH10 có hiệu lực) thì họ không cần nộp đơn ra tòa xin ly hôn, vì trước thời điểm đó pháp luật không công nhận họ là vợ chồng
-Người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày Nghị quyết này
có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003) Trong trường hợp này theo quy định tại Mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc
thi hành Luật hôn nhân và gia đình: “Đối với trường hợp nam và nữ chung sống với
nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2003 mà có đủ
Trang 22điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ có nghĩa
vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003; do đó, cần phân biệt như sau:
a Kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003 nếu họ chưa đăng ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn, thì Tòa án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung Cần chú ý trong trường hợp họ thực hiện việc đăng ký theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, thì quan hệ của họ vẫn được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải kể từ ngày đăng ký kết hôn.
b Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ không được công nhận là vợ chồng; nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Tòa án thụ lý vụ án để giải quyết và áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng; nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung.
c Kể từ sau ngày 01/012003 họ mới đăng ký kết hôn và sau đó một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Tòa án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung Cần chú ý là trong trường hợp này, thì quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận là
đã xác lập kể từ ngày họ đăng ký kết hôn.”
Từ sự phân tích những quy định của pháp luật như đã nêu trên, có thể hiểu người đang có vợ có chồng là người đã kết hôn theo đúng quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, đã đăng ký kết hôn và quan hệ hôn nhân của họ chưa chấm dứt do ly hôn hoặc
do một trong hai bên chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết hoặc những quan hệ chung sống như vợ chồng được pháp luật thừa nhận là hôn nhân thực tế Nhà nước chỉ thừa nhận những người chưa kết hôn hoặc những người tuy đã kết hôn nhưng vợ, chồng của
họ đã chết hoặc hai người đã ly hôn hoặc những người chung sống với nhau như vợ
Trang 23chồng mà chưa đăng ký kết hôn thì được phép đăng ký kết hôn Quy định cấm người đang có vợ có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhằm xóa bỏ tận gốc chế độ đa thê thời phong kiến, đảm bảo hạnh phúc và sự bền vững của gia đình Cần lưu ý trường hợp người bị tòa án tuyên bố là đã chết Theo Điều 81 Bộ luật dân sự năm 2005, một người nếu sau ba năm kể từ ngày tuyên bố mất tích của Tòa
án có hiệu lực pháp luật, bị mất tích trong chiến tranh, bị tai nạn, thiên tai, thảm họa, v.v…mà sau một thời hạn luật định vẫn không có tin tức gì để biết là còn sống thì người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó là đã chết Sau khi tuyên bố của Tòa án có hiệu lực pháp luật, thì vợ chồng của người này được quyền kết hôn với người khác Trong trường hợp này, việc kết hôn của người đó hoàn toàn hợp pháp Nếu người bị tuyên bố là đã chết trở về và có yêu cầu thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết và khôi phục quan hệ nhân thân cho người đó, nhưng nếu vợ hoặc chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau vẫn có hiệu lực pháp luật, còn nếu người vợ hoặc người chồng chưa kết hôn với ai thì quan hệ hôn nhân của họ đương nhiên được khôi phục lại Cần lưu ý thêm đối với trường hợp cán bộ, bộ đội miền Nam đã có vợ hoặc có chồng ở miền Nam, tập kết ra Bắc (1954) lại lấy vợ hoặc chồng khác Sau khi thống nhất đất nước (30/04/1975) họ trở về đoàn tụ với gia đình ở trong Nam của mình
và thực tế tồn tại đây là trường hợp một người có hai vợ hoặc hai chồng Đây là những trường hợp đặc biệt, do hậu quả của chiến tranh và liên quan đến vấn đề về tình cảm, hạnh phúc gia đình Các trường hợp vi phạm này không phải do ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến mà là do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh Những trường hợp này cần nhận được sự quan tâm, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các đương sự, đặc biệt là đối với người vợ và người con Do đó khi giải quyết các trường hợp này, Tòa án cần phải xem xét thận trọng, giải quyết hợp tình hợp lý, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên đều được pháp luật bảo vệ cho dù việc kết hôn của họ đã vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhưng không bị coi là kết hôn trái pháp luật
Nhằm thể hiện sự quan tâm, thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với các vi phạm trong chế độ hôn nhân và gia đình, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã dành một chương để quy định các chế tài dành cho những kẻ cố tình vi
Trang 24phạm pháp luật Chương XV Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, cụ thể Điều 147 quy định tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng Theo đó mức phạt cao nhất đối với bên vi phạm có thể là phạt tù từ sáu tháng đến ba năm Tuy nhiên, trên thực tế tình trạng người đã có vợ, có chồng nhưng vẫn chung sống như vợ chồng với người khác (ngoại tình), vợ lớn, vợ nhỏ…tồn tại khá phổ biến mà pháp luật vẫn chưa can thiệp được hết dẫn đến hậu quả là những vụ xô xát, đánh ghen, tạt axit, con cái không được quan tâm dẫn đến hư hỏng… Đây là những vấn
đề nhức nhối, gây bức xúc trong dư luận và xã hội, đòi hỏi phải có sự quản lý và xử lý của cơ quan chức năng có thẩm quyền để phòng ngừa và tránh gây ra những hậu quả xấu ảnh hưởng đến sự tiến bộ của xã hội
1.1.3.2 Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn
Theo quy định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, việc kết hôn bị
cấm đối với “người mắc bệnh hủi hoặc hoa liễu” Đến Luật hôn nhân và gia đình năm
1986 thì người bị bệnh hủi không còn bị cấm kết hôn nữa, nhưng người mắc bệnh hoa liễu vẫn tiếp tục ở trong tình trạng không có năng lực pháp luật kết hôn Luật hôn nhân
và gia đình năm 1986 quy định: “Cấm kết hôn với người đang mắc bệnh tâm thần
không có khả năng nhận thức hành vi của mình” Đến Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 pháp luật cấm “người mất năng lực hành vi dân sự” kết hôn Sự khác nhau trong
quy định của luật năm 1986 với luật năm 2000 là người đang mắc bệnh tâm thần nhưng chưa có quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì vẫn được phép kết hôn Quy định như vậy thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, đảm bảo tính chất khái quát và phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự về năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Theo Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Khi một người do bị bệnh
tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.” Và theo Mục
1 điểm C.2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP thì “Người mất năng lực hành vi dân sự
là người mất khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.” Quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn tại khoản 2 Điều 10
Trang 25Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết Suy cho cùng, người không nhận thức được hành vi thì không có khả năng thể hiện một cách đúng đắn ý chí của mình trong việc kết hôn, đồng thời cũng không thể nhận thức và thực hiện được trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ trong đời sống gia đình Nếu cho họ kết hôn sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống, quyền lợi và sức khỏe của người vợ, người chồng, con cái họ không được đảm bảo Hơn nữa, một trong những điều kiện quan trọng để bảo đảm cho hôn nhân có giá trị về mặt pháp lý, đó là sự tự nguyện của các bên Những người đang mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể làm chủ hoặc nhận thức được hành vi của mình thì không thể thể hiện ý chí của họ một cách đúng đắn trong việc kết hôn của mình, không thể đánh giá được sự tự nguyện của
họ Vì vậy, Luật hôn nhân và gia đình cấm họ kết hôn Bên cạnh đó, dựa trên căn cứ khoa học cho rằng, bệnh tâm thần là loại bệnh có tính di truyền nên sẽ ảnh hưởng đến con cái mà họ sinh ra Do đó, các nhà làm luật nhận thấy cần phải có quy định để cấm những người mắc bệnh này kết hôn nhằm đảm bảo cho con cái sinh ra được khỏe mạnh, đảm bảo nòi giống được phát triển tốt, hạn chế gánh nặng cho xã hội Mặt khác,
theo Điều 22 Bộ luật dân sự Việt Nam quy định: “Giao dịch dân sự của người mất
năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”
Nhưng quyền kết hôn và quyền ly hôn là quyền nhân thân của mỗi người nên không thể
để cho người khác đại diện thực hiện Vì thế, về nguyên tắc người mất năng lực hành vi dân sự không thể kết hôn
Bên cạnh đó, với sự phát triển và những thành tựu đạt được của khoa học công nghệ, trong đó có ngành y học và dược học thì bệnh hoa liễu có thể chữa khỏi, di chứng
để lại không ảnh hưởng đến sức khỏe Vì thế, Luật hôn nhân và gia đình hiện hành đã
bỏ quy định cấm những người mắc bệnh hoa liễu kết hôn với nhau Việc pháp luật bỏ quy định này là hoàn toàn đúng đắn, tiến bộ, thể hiện sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân được thực hiện quyền của mình - quyền kết hôn
Như vậy, khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một người nào đó bị mất năng lực hành vi dân sự thì cũng đồng nghĩa với việc người đó bị cấm kết hôn Quyết định có hiệu lực của Tòa án là căn cứ, cơ sở để Cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn từ chối việc đăng ký kết hôn nếu người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự xin
Trang 26đăng ký kết hôn Luật hôn nhân và gia đình quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là xuất phát từ tính nhân đạo trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đương sự, cho gia đình và cho xã hội.
1.1.3.3 Cấm kết hôn đối với người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người
có họ trong phạm vi ba đời
Khoản 12, 13 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Những
người cùng dòng máu về trực hệ là cha, mẹ đối với con; ông, bà đối với cháu nội và cháu ngoại”, “những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba” Như vậy, những người có họ trong phạm vi ba đời bị cấm kết hôn với nhau, cụ thể
là: cấm bác ruột, chú ruột, cậu ruột kết hôn với cháu gái; cấm cô ruột, dì ruột kết hôn với cháu trai; cấm anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì kết hôn với nhau
Quy định cấm kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống với nhau là hoàn toàn phù hợp với khoa học và phong tục tập quán, truyền thống của nước ta Việc cấm những người này kết hôn với nhau là để đảm bảo cho con cái sinh ra được khỏe mạnh, nòi giống phát triển lành mạnh, đảm bảo lợi ích gia đình và lợi ích xã hội Theo nghiên cứu của các nhà khoa học và từ việc khảo sát điều tra trên thực tế, các nhà khoa học đã kết luận rằng, những người có quan hệ huyết thống không thể kết hôn với nhau, bởi vì nếu những người này kết hôn với nhau thì con cái của họ sinh ra thường bị bệnh tật và chịu những dị dạng, biến chứng như: quái thai, thoái hóa, bệnh câm điếc, mù màu, bạch tạng…thậm chí có những trường hợp con cái sẽ bị tử vong sau khi sinh Thực tế cho thấy, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh càng cao nếu quan hệ huyết thống của cha, mẹ chúng càng gần Về mặt xã hội và truyền thống dân tộc thì việc kết hôn giữa những người này sẽ phá vỡ tôn ti trật tự trong họ hàng, cách xưng hô; những chuẩn mực đạo đức bị xâm phạm và suy đồi…
Pháp luật về hôn nhân và gia đình cấm những người có quan hệ huyết thống kết hôn với nhau nhằm làm lành mạnh các mối quan hệ trong gia đình và phù hợp với đạo đức của dân tộc Từ cổ xưa, ông cha ta đã có những quy định về cấm kết hôn giữa
Trang 27những người có cùng huyết thống dù gần hay xa, thậm chí là cấm kết hôn đối với những người có cùng một họ Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định cấm kết hôn trong phạm vi năm đời phần nào do luật được xây dựng trong giai đoạn mà các quan hệ về hôn nhân phong kiến chuyển sang chế độ gia đình xã hội chủ nghĩa, nên vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc của những phong tục, tập quán cũ Đến Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và luật hiện hành hiện nay, do tiếp thu những kiến thức của nền khoa học và y học hiện đại thì luật chỉ cấm việc kết hôn trong phạm vi ba đời, vì theo nghiên cứu của nền y học hiện đại thì những người có quan hệ huyết thống từ đời thứ tư trở đi
mà kết hôn với nhau thì không ảnh hưởng đến sự phát triển của con cái sinh ra sau này Trên cơ sở quy định như vậy đã đảm bảo được hạnh phúc gia đình về mặt khoa học cũng như truyền thống đạo đức của dân tộc
1.1.3.4 Cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng
Theo Mục 1 điểm C.4 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định tại khoản 4 Điều
10 được hiểu là ngoài việc cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi thì điều luật còn cấm kết hôn: Giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là
bố chồng với con dâu; giữa người đã từng là mẹ vợ với con rể; giữa người đã từng là bố dượng với con riêng của vợ; giữa người đã từng là mẹ kế với con riêng của chồng”
Quy định này có sự mở rộng hơn so với Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, điểm d Điều 7 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi nhưng đến luật hiện hành quy định cấm cả những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi và mở rộng thêm một số đối tượng khác nữa Xét về mặt thực
tế, giữa những người này không có quan hệ về huyết thống; tuy nhiên, họ có mối quan
hệ cha mẹ - con, quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng Và theo quy định của luật để phát sinh quan hệ cha, mẹ nuôi - con nuôi thì một trong những điều kiện đối với người nhận nuôi
là phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên11 Vì thế, nếu giữa họ đã phát sinh mối quan hệ cha mẹ nuôi với con nuôi hoặc đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi thì luật cấm họ kết
11 Điểm b, khoản 1, Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010.
Trang 28hôn với nhau là hoàn toàn đúng đắn, đảm bảo thuần phong mỹ tục của dân tộc và đảm bảo thực hiện các nguyên tắc của cuộc sống, đảm bảo phẩm chất tốt đẹp, nhân cách của con người, nhằm ổn định mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, phù hợp với đạo đức xã hội và truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, ngăn chặn hiện tượng cưỡng
ép kết hôn do mối quan hệ phụ thuộc giữa cha mẹ nuôi và con nuôi Luật cổ Việt Nam cũng đã từng có những quy định hết sức nghiêm khắc nhằm chống lại quan hệ hôn
nhân trái đạo lý như Điều 319 và Điều 324 Quốc triều hình luật “Người vô lại lấy cô
dì, chị em gái, kế nữ (con gái riêng của vợ), người thân thích, đều phỏng theo luật gian dâm mà trị tội”, “là anh, là em, là học trò mà lấy vợ của em, của anh, của thầy học trò
đã chết, đều xử tội lưu; người đàn bà bị xử giảm một bậc; đều phải ly dị”.
1.1.3.5 Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính
Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ nhằm xây dựng gia đình Gia đình phải thực hiện chức năng xã hội của nó Một trong những chức năng
đó là chức năng sinh đẻ nhằm duy trì và phát triển nòi giống Như vậy, chỉ những người có sự khác biệt về giới tính kết hôn với nhau thì mới đảm bảo thực hiện được chức năng đó, chức năng sinh đẻ nhằm tái sản xuất ra con người để duy trì và phát triển nòi giống
Tuy nhiên ở một số nước trên thế giới lại cho rằng sự khác biệt giới tính không phải là điều kiện bắt buộc của quan hệ hôn nhân, những người cùng giới tính vẫn có thể chung sống với nhau và tạo thành một gia đình Các nước Bắc Âu là nơi phát triển mạnh nhất xu hường này Riêng Hà Lan là nước đầu tiên đã thông qua đạo luật cho phép kết hôn giữa những người cùng giới tính Còn đối với các nước xã hội phong kiến phương Đông, và trong đó có Việt Nam thì tình yêu giữa những người cùng giới tính luôn được coi là biểu hiện của tình trạng bệnh tật và hôn nhân giữa những người cùng giới tính là một giao dịch không chỉ nằm ngoài vòng pháp luật mà còn nằm ngoài khuôn khổ đạo đức pháp lý Dẫu sao, việc cấm hay không cấm những người cùng giới tính kết hôn với nhau là do quan điểm trong quá trình lập pháp của mỗi nước, không thể nói những nước cho phép những người cùng giới kết hôn với nhau là những nước không tiến bộ, không phát triển, vì thực chất Hà Lan là một nước có nền pháp luật rất
Trang 29phát triển, là nơi có những trường đào tạo ngành luật nổi tiếng trên thế giới, tiêu biểu là trường Đại học Groningen.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chính thức quy định việc cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, cụ thể được quy định tại khoản 5 Điều 10 Từ trước khi có quy định này trong luật thì hôn nhân giữa người cùng giới tính không bao giờ được thừa nhận tại Việt Nam, tục lệ thường xuyên can thiệp và thông qua dư luận, đạo đức
xã hội để ngăn chặn các quan hệ chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào sức mạnh của tục lệ và ảnh hưởng của dư luận thì vẫn chưa đủ, vì trên thực tế vẫn có những người cùng giới chung sống với nhau bất chấp dư luận và đạo đức xã hội Về phần mình, cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn luôn từ chối việc đăng ký kết hôn giữa những người cùng giới tính
Luật hôn nhân và gia đình hiện hành Việt Nam cấm việc kết hôn giữa những người cùng giới tính, nhưng lại chưa có quy định rõ ràng về cơ sở pháp lý trong việc xác định giới tính của người đăng ký kết hôn Theo quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch thì khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân12 Tờ khai đăng ký kết hôn chỉ xác nhận tình trạng hôn nhân, trong khi giấy khai sinh hoặc sổ hộ khẩu lại có ghi nhận giới tính của đương sự, và giấy chứng minh nhân chỉ có thể dùng để kiểm tra độ tuổi của các bên khi đăng ký kết hôn Vậy, luật có thể ghi nhận khi đi đăng ký kết hôn các bên nên mang theo giấy khai sinh hoặc
sổ hộ khẩu để cán bộ tư pháp hộ tịch có thể dễ dàng kiểm tra và nhận định chính xác, vì đây là những loại giấy tờ chứng minh giới tính Thông thường nếu việc ghi nhận giới tính theo cảm quan của viên chức hộ tịch (quan sát bằng mắt thường) trùng với việc ghi nhận giới tính trong tờ khai đăng ký kết hôn và phù hợp với cách xưng hô được cơ quan chức năng sử dụng khi xác nhận tờ khai đăng ký kết hôn (thường là cách xưng hô của cán bộ đăng ký kết hôn, ví dụ như là anh A, chị B), thì việc kiểm tra giới tính coi như hoàn tất
Tuy nhiên không thể loại trừ trường hợp với sự quan sát bằng mắt thường có sự sai sót, khi chúng ta thấy rõ ràng là một người nam hay người nữ nhưng thực tế không
12 Khoản 1, Điều 18 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch
Trang 30phải như vậy Một người nhìn bề ngoài có vẻ như là một nam giới nhưng thực chất lại
là nữ và ngược lại Như vậy không tránh khỏi trường hợp cơ quan chức năng đăng ký kết hôn cho hai người cùng giới tính Hơn nữa khi hai bên nam, nữ đăng ký kết hôn cán
bộ tư pháp hộ tịch có nghi ngờ về giới tính của một người nào đó thì cũng không có biện pháp nào chắc chắn để xác định giới tính đích thực của người đó
Tóm lại cho đến thời điểm hiện nay, việc kết hôn giữa những người cùng giới tính không bao giờ được thừa nhận ở Việt Nam, những quan hệ chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính cần được ngăn chặn bằng dư luận xã hội để nhằm làm chấm dứt mối quan hệ đó của họ Do hiện nay luật thực định chưa quy định biện pháp xử lý nếu các bên chỉ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn với nhau thì luật không thể áp dụng chế tài đối với họ Vì Nhà nước chỉ quy định việc
xử phạt hành chính đối với các trường hợp đăng ký kết hôn giữa những người cùng giới tính và buộc họ chấm dứt quan hệ hôn nhân, cũng như quan hệ chung sống
Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ nhằm xây dựng gia đình Gia đình phải thực hiện chức năng xã hội của nó, đó là chức năng sinh đẻ nhằm duy trì và phát triển nòi giống Và chỉ có quan hệ hôn nhân giữa những người khác giới với nhau thì mới có thể cùng nhau thực hiện chức năng cơ bản của gia đình – sinh đẻ, tái sản xuất ra con người để duy trì nòi giống Nếu hai người cùng giới tính kết hôn với nhau thì sẽ trái với quy luật của tự nhiên và của xã hội Do đó, Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 quy định cấm những người cùng giới tính kết hôn với nhau Hiện nay, ở nước ta có xuất hiện một số trường hợp hai người cùng giới tính chung sống với nhau như vợ chồng, đây là hiện tượng xã hội không lành mạnh, trái với thuần phong
mỹ tục, không phù hợp với đạo đức xã hội, cần được ngăn chặn và loại bỏ Nếu việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính mà có đăng ký kết hôn thì khoản 5 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là cơ sở pháp lý để Tòa án có thể tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa những người cùng giới tính khi có yêu cầu Nếu trường hợp hai người cùng giới tính không có đăng ký kết hôn với nhau nhưng đã
tổ chức lễ cưới theo phong tục và chung sống với nhau như vợ chồng thì cần phát huy vai trò của cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong việc giáo dục, tuyên truyền, vận động các bên chấm dứt việc chung sống đó
Trang 31Nhìn chung, phạm vi cấm kết hôn được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là rộng hơn, cụ thể, đầy đủ, phù hợp với thực tế xã hội và pháp luật của các nước trên thế giới, nhằm đảm bảo cho sự yên ấm, hạnh phúc của mỗi gia đình, đảm bảo cho sự duy trì và phát triển lành mạnh của nòi giống dân tộc.
1.2 Điều kiện về hình thức
Để xác lập quan hệ hôn nhân ngoài việc tuân theo các điều kiện về nội dung như điều kiện về độ tuổi, về sự tự nguyện, không thuộc những trường hợp cấm kết hôn do luật quy định thì các bên chủ thể muốn kết hôn với nhau phải tuân thủ thêm điều kiện
về hình thức do luật quy định Đó là hai bên nam nữ phải đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, chỉ như vậy thì pháp luật mới có căn cứ để xác định và bảo
vệ quyền, nghĩa vụ của vợ chồng và các thành viên trong gia đình Theo quy định tại
khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “Nam, nữ không đăng ký kết
hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng; vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn” Vì
thế, một cuộc hôn nhân được xem là hợp pháp thì việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký kết hôn theo một trình tự do luật quy định Mọi trường hợp đăng ký kết hôn không do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký đều không có giá trị pháp lý
và không được pháp luật chấp nhận, ví dụ: Kết hôn theo phong tục, theo tập quán dưới
sự chứng kiến và đồng ý của trưởng làng, già làng; tổ chức đám cưới dưới sự chứng kiến của nhiều người nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền…Vì vậy, để phát sinh quan hệ giữa vợ chồng thì các bên phải có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của pháp luật và khi tiến hành đăng ký kết hôn cũng phải theo đúng quy định của luật, còn được gọi là nghi thức kết hôn Nghi thức kết hôn bao gồm: Nộp hồ
sơ đăng ký kết hôn, xem xét hồ sơ đăng kí kết hôn và tổ chức đăng ký kết hôn
1.2.1 Nộp hồ sơ đăng ký kết hôn
Theo quy định tại Điều 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau là Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ có nguyện vọng kết hôn với nhau Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ đều là công dân Việt Nam đang
Trang 32trong thời hạn công tác, học tập lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, đã cắt
hộ khẩu thường trú ở trong nước, thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một trong hai bên nam, nữ 13 Và theo Điều 52 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về nơi cư trú thì nơi cư trú của cá nhân
là nơi người đó thường xuyên sinh sống Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống
Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân Việc xác nhận tình trạng hôn nhân chỉ có giá trị 06 tháng, kể từ ngày xác nhận14, nếu quá thời hạn này mà các bên không thực hiện việc đăng ký kết hôn thì sau này nếu muốn thực hiện đăng ký kết hôn của mình các bên sẽ phải xác nhận lại tình trạng hôn nhân của mình Ví dụ: anh Trần Văn A và chị Nguyễn Thị B cùng cư trú ở một xã thì khi đăng ký kết hôn chỉ cần nộp một tờ khai đăng ký kết hôn và giấy chứng minh nhân dân của anh A và chị B Trong trường hợp nếu anh A và chị B cư trú ở hai xã khác nhau và có nguyện vọng đăng ký kết hôn tại xã của anh A thì ngoài tờ khai của anh A còn phải nộp thêm tờ khai của chị B có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã nơi chị B đang cư trú (tất cả là hai tờ khai) và giấy chứng minh của hai người tại Ủy ban nhân dân xã nơi anh A cư trú để cơ quan có thẩm quyền tiến hành xem xét hồ sơ và đăng kết hôn cho anh A và chị B nếu thỏa điều kiện kết hôn do luật quy định Đối với trường hợp một bên hoặc cả hai bên đã từng có vợ hoặc có chồng nhưng đã chấm dứt quan hệ hôn nhân (do ly hôn hoặc một
13 Điều 17 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch.
14 Khoản 1, Điều 18 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch
Trang 33bên chết), thì ngoài tờ khai và giấy chứng minh nhân dân họ còn phải nộp thêm một bản sao bản án hoặc quyết định có hiệu lực về ly hôn hoặc bản sao giấy chứng tử.
Hai bên nam, nữ có nguyện vọng kết hôn phải có mặt và trực tiếp nộp hồ sơ cho cán bộ tư pháp của Ủy ban nhân dân Trong trường hợp một trong hai bên không thể trực tiếp đến nộp hồ sơ mà có lý do chính đáng, thì có thể gửi cho Ủy ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn xin nộp hồ sơ vắng mặt, trong đơn phải ghi rõ lý do vắng mặt, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú Về nguyên tắc các bên chỉ có thể nộp hồ sơ xin đăng ký kết hôn vắng mặt, không thể xin vắng mặt trong buổi tổ chức đăng ký kết hôn Như vậy, khi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn luật đòi hỏi ít nhất phải có mặt của một trong hai bên nam, nữ có nguyện vọng kết hôn để trực tiếp nộp hồ sơ, không được nộp qua đường bưu điện hoặc ủy quyền cho người khác đi nộp thay
1.2.2 Xem xét hồ sơ đăng ký kết hôn
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày15 Quy định này được hiểu là sau khi Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền nhận được tờ khai đăng ký kết hôn và Giấy chứng minh nhân dân thì cán bộ tư pháp sẽ kiểm tra các điều kiện về nội dung như là tình trạng hôn nhân, độ tuổi kết hôn, quan hệ thân thuộc, khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của người đi đăng ký kết hôn, giới tính của họ
Trong các điều kiện vừa nêu thì tình trạng hôn nhân sẽ căn cứ vào Tờ khai có sự xác nhận của cơ quan có thẩm quyền, độ tuổi của các bên sẽ được căn cứ theo Giấy chứng minh nhân dân, còn các điều kiện như quan hệ thân thuộc, năng lực hành vi, giới tính thì không thể xác định dựa vào loại giấy tờ do các bên cung cấp vì Giấy chứng minh nhân dân không ghi nhận giới tính, do đó cán bộ tư pháp hộ tịch phải tự mình xác minh, dựa vào khả năng quan sát, nếu thấy có gì không đúng cán bộ có thể hỏi thêm để làm rõ Sau khi xét thấy hai bên nam, nữ xin đăng ký kết hôn đã có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, không thuộc các trường hợp cấm kết hôn thì Ủy ban
15 Khoàn 2, Điều 18 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch.
Trang 34nhân dân niêm yết công khai việc xin đăng ký kết hôn tại trụ sở Ủy ban nhân dân đã nhận đơn xin đăng ký kết hôn Trong quá trình xác minh nếu có vấn đề mới nảy sinh, phức tạp cần có thêm thời gian để làm rõ thì có thể kéo dài thời hạn xác minh thêm nhưng không quá 05 ngày (ngày làm việc).
Hết thời hạn nêu trên, nếu xét thấy không có sự vi phạm của các bên xin đăng ký kết hôn về điều kiện kết hôn, không thuộc những trường hợp cấm kết hôn và không có
ai phản đối thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi nhận hồ sơ xin đăng ký kết hôn sẽ thông báo cho hai bên nam, nữ biết về ngày, giờ sẽ tổ chức đăng ký kết hôn cho họ
Trong trường hợp một bên hoặc cả hai bên nam, nữ không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật: Không đủ tuổi, không có sự tự nguyện trong hôn nhân do
bị cưỡng ép, lừa dối bởi người khác hoặc có sự vi phạm về những trường hợp cấm kết hôn như: Người đang có vợ, có chồng; người mất năng lực hành vi dân sự, xin kết hôn giữa những người có quan hệ thân thuộc…thì Ủy ban nhân dân nơi đã nhận đơn trong thời hạn năm ngày làm việc phải gửi thư mời hai bên xin đăng ký kết hôn đến trụ sở Ủy ban để thông cho họ biết về việc từ chối đơn xin đăng ký kết hôn của họ và phải giải thích rõ bằng văn bản lý do từ chối Luật không phân biệt từ chối do có đơn khiếu nại,
tố cáo hay từ chối dựa trên các kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân nơi đăng ký Nên trong mọi trường hợp, khi đã có văn bản từ chối thì Ủy ban nhân dân phải chịu trách nhiệm về việc từ chối của mình Do đó, khi có đơn khiếu nại, tố cáo thì Ủy ban nhân dân có trách nhiệm tiến hành xác minh trên cơ sở của việc khiếu nại, tố cáo đó Nếu xét thấy việc khiếu nại, tố cáo không có cơ sở, Ủy ban nhân dân có quyền bác đơn khiếu nại, tố cáo và tiến hành tổ chức đăng ký kết hôn cho các đương sự
1.2.3 Tổ chức đăng ký kết hôn
Khi xét thấy hai bên nam, nữ đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9 và Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì Ủy ban nhân dân sẽ tiến hành tổ chức đăng ký kết hôn cho các đương sự Ngày đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân ấn định và thông báo cho các bên biết Thông thường thì Ủy ban nhân dân không xác định ngày tháng cụ thể, mà chỉ yêu cầu các bên đến trụ sở của Ủy ban để tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn trong thời hạn năm ngày kể từ ngày thông báo Trên
Trang 35nguyên tắc, bất kỳ thời điểm nào mà các bên cảm thấy thuận lợi cho việc đăng ký kết hôn của mình, trong thời hạn đăng ký kết hôn thì các bên đều có thể đến và được đăng
ký kết hôn, việc đăng ký kết hôn phải được tiến hành Tuy nhiên, để tránh tình trạng bị động của Ủy ban nhân dân hay tình trạng người có thẩm quyền ký Giấy chứng nhận kết hôn đi công tác, đi họp… thì các bên nên báo trước cho Ủy ban về ngày dự định đăng
ký kết hôn của mình nhằm tránh sự đi lại nhiều lần của người dân và tránh việc gây phiền hà cho nhân dân của cán bộ tư pháp
Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên nam, nữ kết hôn Đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên16
Xét theo góc độ pháp lý, một quan hệ hôn nhân chỉ phát sinh hiệu lực kể từ khi việc đăng ký kết hôn được diễn ra trước đại diện cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn đó là Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên nam,
nữ có nguyện vọng đăng ký kết hôn với nhau
Về nguyên tắc, lễ đăng ký kết hôn được tổ chức tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi nộp đơn xin đăng ký kết hôn Tại đây phải có mặt của hai bên nam, nữ kết hôn Đại diện Ủy ban nhân dân – cán bộ tư pháp hộ tịch sẽ hỏi ý kiến lần cuối của hai bên nam, nữ trong việc kết hôn của mình, nhằm khẳng định lại sự tự nguyện của hai bên trước khi tiến hành đăng ký kết hôn, khẳng định cuộc hôn nhân không bị cưỡng ép hay lừa dối Nếu hai bên vẫn đồng ý kết hôn thì cán bộ tư pháp sẽ cho họ ký vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn Giấy chứng nhận kết hôn được cấp thành hai bản chính có chữ ký của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn Cán bộ tư pháp giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành Bản sao giấy chứng nhận kết hôn được cấp theo yêu cầu của các bên Giấy chứng nhận kết hôn là chứng cứ quan trọng để xác nhận hai bên nam, nữ đã phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng, quan hệ này được Nhà nước công nhận và bảo hộ
16 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Trang 36Đối với quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 01/01/2001, theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân
và gia đình thì: “Để tạo điều kiện thuận tiện cho các bên kết hôn, việc đăng ký kết hôn
có thể được thực hiện tại trụ sở Ủy ban nhân dân hoặc tại thôn, bản, tổ dân phố theo
kế hoạch của Ủy ban nhân dân cấp xã” Đối với việc kết hôn của đồng bào dân tộc
thiểu số, Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định việc áp dụng Luật hôn
nhân và gia đình đối với dân tộc thiểu số như sau: “Để tạo điều kiện thuận lợi cho các
bên kết hôn, việc đăng ký kết hôn cho người dân được thực hiện tại trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã hoặc tại tổ dân phố, thôn, bản, phum, sóc, nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn”(Điều 8).
Theo Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì không quy định cụ thể việc tổ chức đăng ký kết hôn sẽ được tiến hành ở đâu, do đó có thể hiểu địa điểm tổ chức đăng ký kết hôn có thể là ở một nơi khác không phải là trụ sở của cơ quan đăng
ký kết hôn (theo hướng dẫn tại điểm C.1, Mục C, khoản 2 Nghị quyết số HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)
02/2000/NQ-Trong luật Việt Nam, không cho phép trường hợp kết hôn từ xa, thông qua vai trò của người đại diện hoặc theo thủ tục kết hôn vắng mặt Theo quy định tại Điều 14
Luật hôn nhân và gia đình hiện hành: “Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai
bên nam, nữ kết hôn” Quy định này nhằm tạo điều kiện cho hai bên cùng công khai
thể hiện sự tự nguyện trong việc kết hôn của mình trước Nhà nước, giảm tình trạng cưỡng ép, ép buộc trong việc kết hôn Tuy nhiên, thực tế nếu vì những lý do khách quan hay chủ quan mà một trong hai bên nam, nữ kết hôn không thể trực tiếp đến trụ sở
Ủy ban nhân dân để đăng ký kết hôn, thì việc đăng ký kết hôn của họ không bị coi là không tuân theo quy định tại Điều 14, nếu trước khi tổ chức đăng ký kết hôn họ đã thực hiện đúng theo quy định tại khoản 1, Điều 13 và sau khi tổ chức đăng ký kết hôn họ có thực sự về chung sống với nhau (theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại điểm C.2, mục C, khoản 2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-NĐTP
Trang 37ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000).
Việc đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn - Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ có nguyện vọng kết hôn có ý nghĩa hết sức quan trọng Đây là một trong những biện pháp để Nhà nước kiểm soát việc tuân theo pháp luật trong việc kết hôn của nam, nữ, ngăn chặn những trường hợp kết hôn vi phạm về điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ngoài ra, việc đăng ký kết hôn còn là biện pháp hết sức cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp giữa vợ, chồng, con cái, là giấy tờ cần phải có để thực hiện việc đăng ký khai sinh cho con cái của họ sau này Giấy chứng nhận kết hôn là bằng chứng quan trọng chứng minh hai bên nam, nữ đã phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng, quan hệ này được pháp luật công nhận và bảo hộ Mọi nghi thức kết hôn khác như tổ chức lễ cưới tại gia đình hoặc kết hôn theo nghi thức tôn giáo được tiến hành ở nhà thờ, kết hôn theo phong tục, tập quán của làng, xã…mà không có Giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp đều không được công nhận là hôn nhân hợp pháp, quyền lợi giữa vợ chồng sẽ không được bảo đảm bởi sự bảo hộ của Nhà nước
1.3 Các chế tài đối với các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn
Để đảm bảo cho pháp luật về hôn nhân và gia đình được thực thi một cách nghiêm chỉnh, bảo vệ các mối quan hệ hôn nhân và gia đình phát triển một cách lành mạnh, đúng với chức năng và ý nghĩa của nó Vì vậy, nếu việc kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành thì tùy trường hợp cụ thể, tùy mức độ vi phạm của chủ thể mà pháp luật sẽ có những biện pháp chế tài khác nhau
Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định nguyên tắc chung cho
việc xử lý vi phạm pháp luật trong quan hệ hôn nhân và gia đình như sau: “Người nào
vi phạm các điều kiện kết hôn; cản trở việc kết hôn đúng pháp luật; giả mạo giấy tờ để đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi; hành hạ, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và các thành viên khác trong gia đình; lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi; không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ giám hộ hoặc có các hành vi khác vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tùy theo tính
Trang 38chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
Trên cơ sở nguyên tắc chung đó, Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình đã quy định cụ thể các hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình sẽ bị xử phạt, các hành vi đó bao gồm: Hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn; Hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ; Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; Hành vi vi phạm quy định về đăng
ký kết hôn
Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chỉ đặt ra đối với các hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình do tổ chức, cá nhân thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chủ yếu nhằm mục đích giáo dục để cá nhân, tổ chức vi phạm nhận thức được sai phạm, tự nguyện sửa chữa, thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định hoặc chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và
để răn đe, phòng ngừa chung Việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình đối với người vi phạm là người các dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa có xem xét đến ảnh hưởng và tác động của phong tục, tập quán để vận dụng cho phù hợp
Tương tự như các lĩnh vực xử phạt hành chính khác, việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng áp dụng hai hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền Cảnh cáo là chế tài hành chính được áp dụng để xử phạt cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với hành vi vi phạm hành chính do người thành niên chưa đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện Mục đích của hình thức xử phạt vi phạm cảnh cáo là không nhằm gây ra thiệt hại về vật chất
mà chỉ nhằm ngăn chặn kịp thời xử lý tại chổ đối với cá nhân, tổ chức đã có hành vi vi phạm hành chính, từ đó giáo dục ý thức chấp hành pháp luật đối với người có hành vi
vi phạm Việc áp dụng đúng đắn, chính xác hình thức xử phạt cảnh cáo có ý nghĩa quan trọng đối với công tác phòng ngừa vi phạm hành chính Để nâng cao hiệu quả của việc
áp dụng hình thức xử phạt này, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002; sửa đổi,
Trang 39bổ sung năm 2007, năm 2008 quy định việc cảnh cáo phải được quyết định bằng văn bản Phạt tiền là chế tài xử phạt hành chính có tính chất nghiêm khắc hơn hình thức phạt cảnh cáo, bởi nó gây ra thiệt hại vật chất đối với người bị xử phạt.
Theo quy định tại Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 của Chính phủ
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì mức xử phạt cụ thể đối với các hành vi vi phạm như sau:
Đối với hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn 17: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
+ Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt quan hệ đó;
+ Tổ chức việc kết hôn cho người chưa đến tuổi kết hôn
Đối với hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ 18: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
+ Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác;
+ Cản trở người khác kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác
Đối với hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn
Trang 40+ Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng.
+ Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
+ Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;
+ Kết hôn giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
+ Kết hôn giữa những người cùng giới tính
Ngoài ra còn có hình thức phạt bổ sung và biện pháp khác: Buộc chấm dứt quan
hệ hôn nhân trái pháp luật đối với những trường hợp vi phạm nêu trên
Đối với hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn 20 :
1 Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi tự
ý sửa chữa hoặc tẩy xoá làm sai lệch nội dung giấy tờ để làm thủ tục đăng ký kết hôn
2 Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau:
a) Sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục đăng ký kết hôn;
b) Sử dụng giấy tờ giả mạo để làm thủ tục đăng ký kết hôn;
c) Các hành vi gian dối khác khi đăng ký kết hôn
3 Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa hoặc tẩy xoá làm sai lệch nội dung đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Tịch thu giấy tờ giả mạo được sử dụng để thực hiện hành vi quy định tại điểm
b khoản 2 Điều này
20 Điều 13 Nghị định 76/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực tư pháp Nghị định này đã bãi bỏ Điều 9 Hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn của Nghị định số 87/2001/NĐ-
CP ngày 21-11-2001 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.