Trong sự phát triển của xã hội, khi Nhà nước và pháp luật ra đời thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng pháp luật và bảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước thiết lập. Theo đó, quyền khởi kiện của tổ chức, cá nhân đã được pháp luật quy định và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc khởi kiện. Khi đơn khởi kiện của các chủ thể đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định thì Tòa án có trách nhiệm thụ lý vụ án. Thụ lý vụ án dân sự (VADS) đúng có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm được quyền tiếp cận công lý của chủ thể khi có tranh chấp dân sự, đồng thời tránh được việc phải giải quyết hậu quả của việc thụ lý vụ án không đúng dẫn đến tốn kém về công sức, tiền của đương sự. Do đó, việc nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện thụ lý vụ án dân sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đồng thời có thể đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này là một hoạt động cần thiết. Với nhận thức đó, em xin lựa chọn đề bài số 14: “Điều kiện thụ lý vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này” làm đề tài bài tập học kỳ của mình.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KÌ MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
ĐỀ SỐ : 14
1
Trang 2MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ 1
II NỘI DUNG CÁC QUY PHẠM ĐỊNH LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ 3
1 Điều kiện về chủ thể khởi kiện 3
2 Điều kiện về thẩm quyền của Tòa án 4
3 Điều kiện về thời hiệu khởi kiện 6
4 Điều kiện về hình thức đơn khởi kiện 7
5 Điều kiện liên quan đến sự việc chưa được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng người khởi kiện có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật TTDS 7
6 Điều kiện về nộp tiền tạm ứng án phí 8
III ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG ĐIỀU KIỆN THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ 9
1 Về điều kiện thẩm quyền theo cấp và theo lãnh thổ của Tòa án 9
2 Về điều kiện nộp tiền tạm ứng án phí 11
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
2
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong sự phát triển của xã hội, khi Nhà nước và pháp luật ra đời thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng pháp luật và bảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước thiết lập Theo đó, quyền khởi kiện của tổ chức,
cá nhân đã được pháp luật quy định và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc khởi kiện Khi đơn khởi kiện của các chủ thể đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định thì Tòa án có trách nhiệm thụ lý vụ án Thụ lý vụ án dân sự (VADS) đúng có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm được quyền tiếp cận công lý của chủ thể khi có tranh chấp dân sự, đồng thời tránh được việc phải giải quyết hậu quả của việc thụ lý vụ án không đúng dẫn đến tốn kém về công sức, tiền của đương sự Do đó, việc nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện thụ lý vụ án dân sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Đồng thời có thể đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật trong lĩnh vực này là một hoạt động cần thiết Với nhận thức đó, em xin lựa chọn đề
bài số 14: “Điều kiện thụ lý vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này” làm đề tài bài tập học kỳ của mình
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
1 Khái niệm thụ lý vụ án dân sự
Pháp luật Tố tụng dân sự (TTDS) Việt Nam hiện hành không đưa ra một khái niệm cụ thể về thụ lý VADS mà tại khoản 1 Điều 195 BLTTDS chỉ quy định sau khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng
án phí và Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí; trường hợp họ được miễn hoặc không phải nộp thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo Các hoạt động đó của toàn án được gọi là thụ lý vụ án dân sự
Vì vậy ta có thể hiểu Thụ lý vụ án là việc tòa án nhận đơn khởi kiện của người
khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ án dân sự để giải quyết 1
2 Đặc điểm của thụ lý vụ án dân sự
Thứ nhất, thụ lý VASD là việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân.
Trên thế giới, có rất nhiều quốc gia quy định quyền tiếp cận công lý của con người thông qua những quy định về việc Thẩm phán không được từ chối xét xử Có
1 Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam - Trường Đại học Luật Hà Nội.
1
Trang 4thể nói đây là một trong những bảo đảm quan trọng giúp cho quyền khởi kiện VADS được thực thi có hiệu quả trên thực tế
Thứ hai, thụ lý VADS là hoạt động đầu tiên của quá trình TTDS xác nhận trách nhiệm giải quyết VADS của Tòa án.
Thụ lý VADS thực chất là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập để xem xét, giải quyết Khi đơn khởi kiện được nộp đến Tòa án thì Tòa án xem xét đơn khởi kiện và có thể quyết định: trả lại đơn khởi kiện; chuyển đơn khởi kiện đến cho Tòa án có thẩm quyền hoặc tiến hành thủ tục thụ lý vụ án Việc Tòa
án chấp nhận tiến hành thụ lý vụ án đồng nghĩa với việc Tòa án đã xác nhận trách nhiệm giải quyết vụ án thuộc về mình mà không phải thuộc về một cơ quan Nhà nước nào khác Từ đây, các mối quan hệ pháp luật tố tụng sẽ được phát sinh, các chủ thể sẽ
bị ràng buộc với nhau và mối quan hệ đó sẽ được điều chỉnh bằng các quy định của pháp luật TTDS
Thứ ba, thụ lý VADS là hoạt động do Tòa án có thẩm quyền thực hiện.
Thụ lý VADS là một hoạt động do Tòa án có thẩm quyền thực hiện nghĩa là, VADS đó phải thuộc thẩm quyền chung của Tòa án, đúng thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án Khi thỏa mãn cả ba điều kiện về thẩm quyền thì Tòa án mới tiến hành thủ tục thụ lý vụ án; nếu không thỏa mãn thì Tòa án sẽ phải thực hiện chuyển đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền xem xét, giải quyết hoặc trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện
Thứ tư, căn cứ phát sinh thụ lý VADS là dựa trên đơn kiện của chủ thể có quyền khởi kiện.
Khoa học pháp lý đã chứng minh rằng, thụ lý VADS là hoạt động đặc trưng của Tòa án, nó gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của Tòa án Tuy vậy, điều này không
có nghĩa là Tòa án tự ý thụ lý VADS, mà Tòa án chỉ thụ lý khi có người yêu cầu Đây
là nét khác biệt của TTDS so với tố tụng hình sự, vì ở tố tụng hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện việc giải quyết vụ án thường xuất phát từ quyết định khởi tố của cơ quan có thẩm quyền do mối quan hệ cần giải quyết là giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi phạm tội Còn trong TTDS, khi quyền và lợi ích bị xâm phạm thì chủ thể có quyền và lợi ích đó có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết để bảo vệ cho mình, và khi đó, Tòa án mới thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của mình như quy định trong Hiến pháp và Luật tổ chức TAND
Thứ năm, thụ lý VADS là một thủ tục tố tụng gồm nhiều bước khác nhau để đi đến kết quả là Tòa án nhận trách nhiệm giải quyết VADS.
Thụ lý VADS bao gồm nhiều hoạt động cơ bản: nhận đơn khởi kiện, kiểm tra các điều kiện thụ lý, trả lại đơn khởi kiện, giải quyết khiếu nại, kiến nghị về trả lại đơn khởi kiện (nếu có), dự tính tạm ứng án phí và yêu cầu người khởi kiện nộp, vào
sổ thụ lý vụ án và thông báo về việc thụ lý Kết quả của quy trình tố tụng này là việc Tòa án nhận trách nhiệm giải quyết VADS
3 Vai trò, ý nghĩa của thụ lý vụ án dân sự
2
Trang 5Việc thụ lý VADS có ý nghĩa pháp lý quan trọng vì nó đặt trách nhiệm cho Tòa
án phải giải quyết vụ án trong thời gian luật định Sau khi thụ lý vụ án, thẩm phán phải triệu tập các đương sự đến Tòa để xác minh và hòa giải, đối với những việc pháp luật quy định không được giải thì phải khẩn trương hoàn thiện hồ sơ đưa vụ án ra xét
xử tại phiên tòa
Thụ lý vụ án dân sự còn có ý nghĩa thiết thực bảo đảm việc bảo vệ kịp thời những quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình, lao động Bằng hoạt động xét xử, Tòa án đã góp phần bảo vệ và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu quả xét xử, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, tạo niềm tin của nhân dân với chế độ, trong đó Tòa án là cơ quan trực tiếp thụ lý giải quyết vụ án
II NỘI DUNG CÁC QUY PHẠM ĐỊNH LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN THỤ LÝ
VỤ ÁN DÂN SỰ
Khi khởi kiện tại Tòa án thì các chủ thể phải đáp ứng các điều kiện thời kiện theo quy định Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, khi chủ thể khởi kiện đáp ứng đầy đủ các điều kiện này thì thì Tòa án sẽ thụ lý VADS Tòa án chỉ thụ lý VADS khi việc khởi kiện đáp ứng điều kiện khởi kiện, hình thức đơn khởi kiện; bên cạnh đó việc khởi kiện còn phải đúng thẩm quyền theo cấp, lãnh thổ và người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí Cụ thể như sau:
1 Điều kiện về chủ thể khởi kiện
Để khởi kiện VADS, chủ thể khởi kiện phải có quyền khởi kiện và có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, đất đai, nhà ở Bởi quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự chỉ có được khi chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung: Quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, đất đai, nhà ở Chủ thể không có quyền, lợi ích dân sự, không có quyền khởi kiện trừ một số trường hợp ngoại lệ theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, mặc dù người khởi kiện có quyền, lợi ích dân sự nhưng quyền, lợi ích đó không hoặc chưa bị xâm phạm thì cũng chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án dân sự Về nguyên tắc, chỉ có cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích bị xâm phạm mới có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi của mình Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền hay lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực phụ trách, trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật quy định quyền khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức gồm: Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện trong trường hợp cần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác
2 Điều kiện về thẩm quyền của Tòa án
3
Trang 62.1 Thẩm quyền theo loại việc
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo loại việc là tổng hợp các loại vụ việc về dân sự mà Tòa án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết theo thủ tục TTDS Thẩm quyền
về loại việc của Tòa án sẽ phân định với những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác
BLTTDS năm 2015 được xây dựng dựa trên Hiến pháp năm 2013 và theo đó nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được ghi nhận tại Điều 4 BLTTDS năm 2015 Đáng chú ý là sự bổ sung khoản 2 Điều luật này: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”, đây có thể nói là sự thay đổi quan trọng nhất của BLTTDS năm
2015 so với BLTTDS năm 2004 nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công lý của người dân được thực hiện Chính vì vậy cách quy định của BLTTDS năm 2015 khác so với BLTTDS năm 2004 Theo BLTTDS năm 2004, Tòa
án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khác về dân sự khác mà pháp luật có quy định ngoài các tranh chấp được BLTTDS quy định Điều này có nghĩa Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khác về dân sự nếu có một văn bản pháp khác đang có hiệu lực thi hành quy định vụ việc đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án Khác với điều này, các điều khoản quét cuối cùng của các Điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS năm 2015 quy định “… trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”, điều này có nghĩa, Tòa án chỉ có quyền từ chối thụ ý giải quyết các tranh chấp dân sự khi pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác.2
Ví dụ: Về việc xác định Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất Trước đây khi Luật Đất đai năm 2013 chưa có hiệu lực thì tranh chấp quyền sử dụng đất sẽ được giải quyết theo hướng dựa trên việc có hay không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm căn cứ giải quyết các tranh chấp về đất đai Nói cách khác, nếu chủ thể có giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất hoặc các giấy tờ hợp lệ được quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm
2013 thì Tòa án sẽ giải quyết theo thủ tục TTDS Ngược lại, nếu chủ thể không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ hợp lệ không được khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết mà phải giải quyết ở UBND nơi có đất đang tranh chấp Hiện nay, khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thì đối với đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ hợp lệ, các đương sự có quyền lựa chọn TAND hoặc UBND là nơi giải quyết tranh chấp Quy định như vậy có phần hợp lý hơn bởi
có như vậy mới đảm bảo được quyền tiếp cận công lý của công dân
2.2 Thẩm quyền của Tòa án các cấp
Theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 quy định về hệ thống tổ chức Tòa án thì TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm
2 Nguyễn Thị Hương – Khởi kiện và thụ lý VADS- Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, Nà Nội.
4
Trang 7đối với các VADS Do vậy, việc xác định đúng thẩm quyền của Tòa án theo cấp chỉnh
là việc xác định xem đối với một VADS cụ thể TAND cấp huyện hay TAND cấp tỉnh
sẽ có thẩm quyền giải quyết Việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo cấp được quy định tại Điều 35, 37 BLTTDS năm 2015 dựa trên tính chất phức tạp của từng loại vụ việc, dựa vào điều kiện cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn nghiệp vụ thực tế của đội ngũ cán bộ Tòa án
Theo đó, thẩm quyền của Tòa án cấp huyện hiện nay được quy định tại BLTTDS năm 2015 như sau: Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 Bộ luật này Tranh chấp về kinh doanh thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật này Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 Bộ luật này Những tranh chấp trên
mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần ủy tác tư pháp cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài không thuộc thẩm quyền của
Tòa án cấp huyện Tuy nhiên, theo khoản 4 Điều 35 “Tòa án nhân dân cấp huyện nơi
cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con,…”, trường hợp
này xuất hiện yếu tố đương sự ở nước ngoài nhưng vẫn thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện Thực chất, đây không phải vấn đề mới được đề cập đến trong BLTTDS năm 2015 mà khi xây dựng BLTTDS năm 2015 các nhà làm luật đã kế thừa quy định của khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP1 nhằm hoàn thiện quy định về các vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Theo Điều 37 BLTTDS năm 2015, thì TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo loại việc trừ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện Có thể nhận thấy thẩm quyền của Tòa án cấp huyện và cấp tỉnh được phân định rõ ràng, tránh tình trạng vượt cấp hay thụ lý nhầm Các chủ thể khi khởi kiện cần nắm rõ những quy định này để xác định tranh chấp của mình là tranh chấp gì, thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp nào như vậy mới có thể gửi đơn khởi kiện đến đúng Tòa án đúng cấp có thẩm quyền giải quyết, từ đó giúp tiết kiệm thời gian, công sức trong việc đi kiện
2.3 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
Xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ phải căn cứ vào Điều 39 và Điều 40 BLTTDS năm 2015
Đối với tranh chấp mà đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ có Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết Đối với các tranh chấp này, các bên đương sự không có quyền thỏa thuận về việc yêu cầu Tòa án nơi không có bất động sản giải quyết
Đối với tranh chấp không phải bất động sản thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc nơi bị đơn có trụ sở Đối với tranh chấp này, các bên có quyền thỏa thuận chọn Tòa án nơi nguyên đơn cư trú hay có trụ
5
Trang 8sở giải quyết hoặc đối với trường hợp theo Điều 40 BLTTDS năm 2015 (quy định về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn) thì nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết Sự thỏa thuận của các đương sự phải bằng văn bản và phải phù hợp với quy định của pháp luật Văn bản thỏa thuận phải được nộp cho Tòa
án cùng với đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ khác để làm căn cứ xác định thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án
Kiểm tra điều kiện về thẩm quyền của Tòa án, Thẩm phán cần đối chiếu với địa chỉ của người bị kiện; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đối tượng tranh chấp được trình bày trong nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện
3 Điều kiện về thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu
Nhằm tránh một chế định do hai bộ luật cùng quy định, về thời hiệu khởi kiện
đã được quy định trong BLDS năm 2015 cho nên BLTTDS năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự
Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu khi có yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ
BLTTDS năm 2015 đã có bước đột phá hết sức quan trọng, ngoài việc xác định thời hiệu khởi kiện không phải là điều kiện để thụ lý vụ án dân sự Như vậy, theo quy định mới này, trường hợp thời hiệu khởi kiện đã hết, Tòa án vẫn giải quyết vụ án bình thường Nếu đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản
án, quyết định giải quyết vụ việc, mà xét thấy thời hiệu khởi kiện đã hết, thì Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 217 BLTTDS năm 2015) Quyền khởi kiện là quyền
cơ bản của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự và Tòa án luôn có trách nhiệm phải thụ lý đơn khởi kiện và không được lấy lý do thời hiệu khởi kiện đã hết để từ chối thụ lý đơn khởi kiện khi có yêu cầu
4 Điều kiện về hình thức đơn khởi kiện
Ở Việt Nam, người khởi kiện phải thực hiện quyền khởi kiện thông qua đơn khởi kiện được làm theo đúng mẫu quy định và gửi đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức do pháp luật quy định Hình thức, nội dung đơn khởi kiện được quy định tại Điều 189 BLTTDS năm và Điều 5 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục 6
Trang 9giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã được sửa đổi,
bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự
5 Điều kiện liên quan đến sự việc chưa được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc
đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án nhưng người khởi kiện có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật TTDS.
Để đảm bảo việc thực hiện bản án, quyết định, điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 quy định nếu vụ án dân sự đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì các đương sự không được quyền khởi kiện nữa, trừ một số trường hợp sau đây:
Trường hợp Tòa án đã bác đơn yêu cầu ly hôn của người chồng yêu cầu ly hôn
vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi, thì Tòa án chỉ thụ lý lại
vụ án yêu cầu ly hôn của người chồng khi đã đáp ứng đủ điều kiện khởi kiện quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trường hợp bản án, quyết định về ly hôn có giải quyết quan hệ về con, mức cấp dưỡng Sau khi bản án, quyết định này có hiệu lực pháp luật, nếu điều kiện nuôi con thay đổi, thì người bố hoặc mẹ có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu thay đổi người nuôi con Hoặc nếu có yêu cầu thay đổi về mức cấp dưỡng thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết
Trong các vụ án bồi thường thiệt hại, đương sự có thể khởi kiện lại yêu cầu Tòa án xem xét lại mức bồi thường
Trong vụ án, đương sự yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thày đổi người giám hộ
Vụ án đòi tải sản cho thuê, cho mượn; đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ
mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại
Ngoài ra, trường hợp Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 bao gồm: Người khởi kiện rút toàn
bộ yêu cầu khởi kiện; nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì theo quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015 đương sự có quyền khởi kiện lại
Do vậy, Tòa án chỉ được giải quyết những việc trước đó chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp được quyền khởi kiện lại Điều kiện này nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của pháp luật, khi xác định điều kiện của các quan hệ xã hội Trên cơ sở các quy định của pháp luật, khi xác định điều kiện này Tòa án phải căn cứ vào các tài liệu do đương sự cung cấp về quá trình xảy ra tranh chấp để xác định sự việc đã giải quyết hay chưa
7
Trang 106 Điều kiện về nộp tiền tạm ứng án phí
Tạm ứng án phí là khoản tiền mà người khởi kiện có nghĩa vụ phải nọp để Tòa
án thụ lý giải quyết vụ án Tòa án chỉ thụ lý vụ án khi người khởi kiện xuất trình biên lai tạm nộp án phí dân sự sơ thẩm Nếu người khởi kiện không nộp hoặc nộp không
đủ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm thì Tòa án không thụ lý vụ án Qua kiểm tra đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, xác định được người khởi kiện đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên, Thẩm phán tiến hành thông báo nộp tạm ứng án phí sơ thẩm cho người người khởi kiện biết (trừ trường hợp họ được miễn nộp tiền tạm ứng
án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí) để họ làm thủ tục nộp tiền tạm ứng
án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí
Để xác định người khởi kiện có phải nộp tiền tạm ứng án phí cũng như mức tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện phải nộp, Thẩm phán cần phải căn cứ vào nội dung tranh chấp, yêu cầu của người khởi kiện cũng như các quy định của pháp luật về
án phí, cụ thể là Điều 143, 146, 147 BLTTDS năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án để yêu cầu người khởi kiện nọp tạm ứng án phí theo quy định
Thông thường Tòa án căn cứ vào đơn khởi kiện, đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập và các tài liệu, chứng cứ kèm theo để xác định số tiền tạm ứng án phí mà đương sự phải nộp Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng xác định được
số tiền tạm ứng án phí cụ thể trên cơ sở tài liệu của đương sự nọp cho Tòa án, nhất là các tranh chấp tài sản cần xác định giá trị
Sau khi xác định nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và dự tính số tiền tạm ứng án phí, Thẩm phán ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí (khoản 2 Điều 195 BLTTDS năm 2015) Như vậy là cùng với thông báo nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải có phiếu báo ghi số tiền tạm ứng án phí để người khởi kiện làm căn cứ nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự
Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí tại cơ quan thi hành án và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí
Đối với trường hợp có trở ngại khách quan hoặc bất khả kháng thì thời gian do
có trở ngại khách quan hoặc bất khả kháng không tính vào thời hạn nộp tiền tạm ứng
án phí (điểm d khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015) Trở ngại khách quan “là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động như: thiên tai, dịch họa, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu” “Bất khả kháng” là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép Ví dụ: do ốm đau, tai nạn phải điều trị tại bệnh viện nằm ngoài tầm kiểm soát của người khởi kiện nên họ không thể thực hiện được việc nộp tiền tạm ứng án phí
8