Tâm lí học là khoa học nghiên cứu về tâm lí con người, đặc biệt lànhững vấn đề thuộc về đời sống tinh thần của con người, bao gồm trí tuệtình cảm, tính cách,… Trong lĩnh vực nghiên cứu của mình, Tâm lí họcluôn luôn cố gắng giải thích sự khác biệt giữa cá nhân này với cá nhânkhác, giữa nhóm người này và nhóm người khác cũng như sự phát triểnhay thay đổi về mặt tâm lí của con người qua từng độ tuổi khác nhau. Từđó, hình thành chuyên ngành Tâm lí học phát triển (TLHPT).Có thể nói từ rất lâu, những tư tưởng nghiên cứu về Tâm lí học pháttriển đã xuất hiện. Từ những đề cập ban đầu liên quan đến cơ chế của sựphát triển tâm lí trẻ em, quy luật của sự phát triển tâm lí trẻ em đến nhữngđặc trưng về tâm lí của từng độ tuổi trong tiến trình phát triển của conngười. Tiếp theo là những nghiên cứu so sánh về sự khác biệt trên bìnhdiện nhân thức, trí tuệ và tình cảm của các độ tuổi khác nhau. Tuy vậy,lĩnh vực nghiên cứu Tâm lí học phát triển vẫn còn rất nhiều vấn đề cầnđược tiếp tục khám phá và đào sâu.Đối với lĩnh vực khoa học Tâm lí, Tâm lí học phát triển được xemnhư một môn chuyên ngành khá đặc biệt vì nó góp phần đáng kể giúpngười học, người nghiên cứu có những kiến thức nền tảng và chuyên sâucũng như vận dụng nó một cách thường xuyên trong quá trình làm việc.Điều này đòi hỏi người học và người nghiên cứu phải có những kiến thứckhá hệ thống và bài bản. Trong nhiều năm qua, sinh viên, học viên chuyênngành Tâm lí học hay Tâm lí giáo dục đã tiếp cận với Tâm lí học phát triểnnhưng chỉ dưới dạng tài liệu lưu hành nội bộ hay những bài giảng tự soạn.Những kiến thức về nhập môn Tâm lí học phát triển có thể giúp cho những4người bắt đầu bước vào lĩnh vực nghiên cứu chuyên ngành xem đó nhưmột tư liệu ban đầu để tìm hiểu tâm của con người cũng như có những cáinhìn đầu tiên khoa học, hệ thống…Với mong muốn cung cấp một cách hệ thống và khoa học hơn nhữngkiến thức về nhập môn Tâm lí học phát triển, nhằm giúp cho những ngườibắt đầu bước vào lĩnh vực nghiên cứu chuyên ngành có thêm nguồn tư liệutâm lí cũng như có cái nhìn tổng quát hơn về ngành học mới mẻ này,chúng tôi tiến hành biên soạn cuốn “Nhập môn tâm học phát triển.Đối tượng cuốn sách hướng đến là các bạn sinh viên, những bậc chamẹ những nhà giáo dục – những người muốn nghiên cứu về cơ sở sự pháttriển tâm lí theo từng độ tuổi – những ai thực sự quan tâm đến những cơ sởtâm lí đã tạo ra những đặc trưng tâm lí của con người trong những chặngđường dài từ khi sinh ra, tồn tại và phát triển.Trong quá trình nghiên cứu để biên soạn tài liệu này, chúng tôi tậptrung vào phần cơ sở khoa học để lí giải cho sự phát triển tâm lí của cáclứa tuổi cho nên nội dung chủ yếu vẫn bám sát vào những cơ sở khoa họcvà những quan niệm khoa học về sự phát triển tâm lí.Quá trình biên soạn và hoàn thiện quyển sách này khó tránh khỏinhững thiếu sót, chúng tôi mong đợi sự quan tâm, chia sẻ của các bạnđồng nghiệp, các bạn sinh viên và cả những ai quan tâm đến lĩnh vực Tâmlí học phát triển để sách được hoàn thiện hơn trong các lần tái bản sau.TS. HUỲNH VĂN SƠN
Trang 1TS HUỲNH VĂN SƠN
Nhập môn
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Tâm lí học là khoa học nghiên cứu về tâm lí con người, đặc biệt là những vấn đề thuộc về đời sống tinh thần của con người, bao gồm trí tuệ tình cảm, tính cách,… Trong lĩnh vực nghiên cứu của mình, Tâm lí học luôn luôn cố gắng giải thích sự khác biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác, giữa nhóm người này và nhóm người khác cũng như sự phát triển hay thay đổi về mặt tâm lí của con người qua từng độ tuổi khác nhau Từ
đó, hình thành chuyên ngành Tâm lí học phát triển (TLHPT)
Có thể nói từ rất lâu, những tư tưởng nghiên cứu về Tâm lí học phát triển đã xuất hiện Từ những đề cập ban đầu liên quan đến cơ chế của sự phát triển tâm lí trẻ em, quy luật của sự phát triển tâm lí trẻ em đến những đặc trưng về tâm lí của từng độ tuổi trong tiến trình phát triển của con người Tiếp theo là những nghiên cứu so sánh về sự khác biệt trên bình diện nhân thức, trí tuệ và tình cảm của các độ tuổi khác nhau Tuy vậy, lĩnh vực nghiên cứu Tâm lí học phát triển vẫn còn rất nhiều vấn đề cần được tiếp tục khám phá và đào sâu
Đối với lĩnh vực khoa học Tâm lí, Tâm lí học phát triển được xem như một môn chuyên ngành khá đặc biệt vì nó góp phần đáng kể giúp người học, người nghiên cứu có những kiến thức nền tảng và chuyên sâu cũng như vận dụng nó một cách thường xuyên trong quá trình làm việc Điều này đòi hỏi người học và người nghiên cứu phải có những kiến thức khá hệ thống và bài bản Trong nhiều năm qua, sinh viên, học viên chuyên ngành Tâm lí học hay Tâm lí giáo dục đã tiếp cận với Tâm lí học phát triển nhưng chỉ dưới dạng tài liệu lưu hành nội bộ hay những bài giảng tự soạn Những kiến thức về nhập môn Tâm lí học phát triển có thể giúp cho những
Trang 4người bắt đầu bước vào lĩnh vực nghiên cứu chuyên ngành xem đó như một tư liệu ban đầu để tìm hiểu tâm của con người cũng như có những cái nhìn đầu tiên khoa học, hệ thống…
Với mong muốn cung cấp một cách hệ thống và khoa học hơn những kiến thức về nhập môn Tâm lí học phát triển, nhằm giúp cho những người bắt đầu bước vào lĩnh vực nghiên cứu chuyên ngành có thêm nguồn tư liệu tâm lí cũng như có cái nhìn tổng quát hơn về ngành học mới mẻ này, chúng tôi tiến hành biên soạn cuốn “Nhập môn tâm học phát triển"
Đối tượng cuốn sách hướng đến là các bạn sinh viên, những bậc cha
mẹ những nhà giáo dục – những người muốn nghiên cứu về cơ sở sự phát triển tâm lí theo từng độ tuổi – những ai thực sự quan tâm đến những cơ sở tâm lí đã tạo ra những đặc trưng tâm lí của con người trong những chặng đường dài từ khi sinh ra, tồn tại và phát triển
Trong quá trình nghiên cứu để biên soạn tài liệu này, chúng tôi tập trung vào phần cơ sở khoa học để lí giải cho sự phát triển tâm lí của các lứa tuổi cho nên nội dung chủ yếu vẫn bám sát vào những cơ sở khoa học
và những quan niệm khoa học về sự phát triển tâm lí
Quá trình biên soạn và hoàn thiện quyển sách này khó tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong đợi sự quan tâm, chia sẻ của các bạn đồng nghiệp, các bạn sinh viên và cả những ai quan tâm đến lĩnh vực Tâm
lí học phát triển để sách được hoàn thiện hơn trong các lần tái bản sau
TS HUỲNH VĂN SƠN
Trang 5CHƯƠNG I NHẬP MÔN TÂM LÍ HỌC PHÁT TRIỂN
Tâm lí học phát triển là một trong những chuyên ngành ứng dụng sâu của Tâm lí học Ngay từ đầu, Tâm lí học đã xác định đối tượng nghiên cứu
là những hiện tượng tâm lí trong đời sống tinh thần của con người Ngay trong một con người, lại cũng có quá nhiều sự khác biệt nảy sinh trong tâm
lí giữa người này với người khác, sự thay đổi về tâm lí trong tiến trình phát triển của họ cũng cần được lí giải một cách thoả đáng về mặt khoa học Những nghi vấn trong sự phát triển tâm lí con người bắt đầu được đặt ra một cách liên tục: Tâm lí con người có sẵn hay không có sẵn? Đâu là yếu
tố ảnh hưởng đến tâm lí của trẻ em? Yếu tố nào sẽ tác động để tạo nên sự phát triển tâm lí ở trẻ? Sự phát triển tâm lí của trẻ em trải qua những cột mốc nào? Sự phát triển này diễn biến ra sao, sự phát triển này cho đến khi nào sẽ dừng lại?… Những thách thức đặt ra cho việc nghiên cứu Tâm lí học nói chung và Tâm lí học phát triển nói riêng trở thành những vấn đề cần được quan tâm và giải đáp
Sở hữu cho mình những nhiệm vụ hết sức đặc biệt, Tâm lí học phát triển cũng xác lập một đối tượng nghiên cứu đặc thù và lí thú
I ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU TÂM LÍ HỌC PHÁT TRIỂN
1 Đối tượng nghiên cứu
– Tâm lí học phát triển nghiên cứu về động lực phát triển tâm lí theo từng lứa tuổi, sự phát triển tâm lí theo từng lứa tuổi Đây chính là những yếu tố thu hút sự quan tâm của Tâm lí học phát triển và chính nó là những
cơ sở quan trọng để bức tranh về đặc điểm tâm lí của từng độ tuổi được
Trang 6phác thảo cũng như những cơ chế về những mâu thuẫn dẫn đến sự phát triển tâm lí được khám phá
– Các quy luật hình thành và phát triển của các quá trình tâm lí và phẩm chất tâm lí của con người là đối tượng quan trọng của Tâm lí học phát triển:
+ Quy luật phát triển các quá trình tâm lí
+ Quy luật hình thành và phát triển các phẩm chất tâm lí
Việc nghiên cứu các quy luật hình thành và phát triển tâm lí theo từng lứa tuổi là yêu cầu rất cơ bản Chính đối tượng nghiên cứu này làm cho Tâm lí học phát triển nghiên cứu về con người một cách cụ thể và sâu sắc hơn Nó không những nhìn chủ thể trong sự thay đổi mà còn nhận ra được sự khác biệt giữa chủ thể này với chủ thể khác trong tiến trình phát triển, trong nhóm tuổi và trong cùng một độ tuổi Việc tìm ra quy luật phát triển của các quá trình tâm lí cũng như quy luật hình thành và phát triển các phẩm chất tâm lí sẽ làm cho tâm lí con người được nhìn nhận trong tiến trình vận hành của nó, để thấy rằng những yếu tố tâm lí của con người được hình thành trong quá trình sinh ra – lớn lên sẽ chuyển động và biến đổi không ngừng theo hướng phát triển Nghiên cứu về tâm lí con người là nhận ra sự phát triển diệu kì trong những biến đổi nhất định của đời sống tâm lí trên bình diện phát triển cụ thể
Quy luật là các sự vật, hiện tượng được lặp đi lặp lại nhiều lần và trở thành một mối liên hệ, quan hệ bền vững Quy luật còn được hiểu đó là những "quy ước" chung mà thực tế tồn tại có liên quan với nó phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt tương đối trong một mối liên hệ đa chiều Đề cập đến quy luật có thể quan tâm đến sự phân loại các quy luật Có nhiều
Trang 7cách phân loại về quy luật khác nhau nhưng dựa trên phạm vi tác động của các quy luật trong sự phát triển tâm lí con người có thể phân chia thành các loại quy luật cơ bản sau:
* Quy luật phổ biến
Quy luật phổ biến là loại quy luật tác động trong tự nhiên, xã hội và trong tư duy của con người Những quy luật này thường được vận dụng để nghiên cứu trong phép duy vật biện chứng
* Quy luật cơ bản
Quy luật cơ bản là loại quy luật tác động trong một phạm vi hẹp hơn, được một số bộ môn khoa học chuyên ngành nghiên cứu Trong Tâm lí học phát triển quy luật này mở ra những tiền đề và khả năng phát triển tâm
lí khi nhìn nhận tâm lí con người dưới góc nhìn phát triển
Khi nghiên cứu Tâm lí học phát triển sẽ nhận thấy quy luật về tiền đề nguồn gốc, điều kiện của sự phát triển tâm lí con người dựa trên não bộ, kinh nghiệm xã hội lịch sử, văn hoá, giáo dục,… Tất cả những tác động của các yếu tố này tồn tại như một quy luật ảnh hưởng đến sự hình thành, đặc biệt là sự phát triển tâm lí cá nhân
* Các quy luật riêng
Quy luật riêng là những quy luật chỉ tác động trong một lĩnh vực nào
đó và được một bộ môn chuyên ngành nghiên cứu Các quy luật này chi phối sự phát triển, đặc trưng và riêng biệt của một đứa trẻ, từng đứa trẻ (hoặc sự chuyển tiếp từ giai đoạn tuổi này sang tuổi khác)
– Ngoài ra, Tâm lí học phát triển còn nghiên cứu các đặc điểm của các quá trình tâm lí và phẩm chất tâm lí riêng lẻ của cá nhân ở các lứa tuổi
Trang 8khác nhau, sự khác biệt của chúng trong phạm vi lứa tuổi Đây cũng chính
là một trong những đối tượng trọng tâm của Tâm lí học phát triển vì chính điều này là cơ sở rất quan trọng để công tác giáo dục tài năng hay phát huy tiềm lực của con người sẽ được tận dụng một cách tối da về hiệu quả
Tâm lí học phát triển nghiên cứu về sự phát triển tư duy theo từng lứa tuổi sự phát triển trí nhớ của trẻ em trong từng lứa tuổi trên cơ sở khoa học nhằm tác động một cách hữu hiệu để đạt được hiệu quả cao nhất trong tác động giáo dục để phát triển cá nhân, nhóm tuổi
– Tâm lí học phát triển còn nghiên cứu các dạng hoạt động khác nhau của cá nhân đang được phát triển và đây cũng là một trong những đối tượng nghiên cứu của Tâm lí học phát triển Cụ thể như đặc điểm hoạt động của học sinh Trung học cơ sở, trong đó bao gồm hoạt động chủ đạo
và các hoạt động khác của học sinh là gì? Nó diễn ra như thế nào?
2 Nhiệm vụ
xuất phát từ việc tiếp cận và chọn lọc những đối tượng nghiên cứu như trên, Tâm lí học phát triển giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản như sau:
– Xác định những điều kiện, những quy luật về sự hình thành nhân cách trong từng lứa tuổi
– Nghiên cứu những sự kiện – hiện tượng tâm lí theo từng lứa tuổi, những quy luật của những sự kiện, hiện tượng tâm lí đó
– Tạo điều kiện để nghiên cứu những đặc tính lứa tuổi, những yếu tố thiên bẩm năng lực – hứng thú… của lứa tuổi
Trang 9– Nghiên cứu sự hình thành nhân cách của lứa tuổi, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách theo từng lứa tuổi đặc thù
– Nghiên cứu những đặc điểm tâm lí trong hoạt động chủ đạo của từng lứa tuổi
– Giúp nhà trường định hướng để có nhưng biện pháp phát triển tâm
lí, nhân cách theo từng lứa tuổi, từng đối tượng,…
Dựa trên những nhiệm vụ và đặc thù thì Tâm lí học phát triển đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng hệ thống lí luận về sự phát triển tâm
lí của cá nhân cũng như lí giải một cách khoa học và hệ thống những biến đổi tâm lí của con người trong quá trình phát triển từ khi sinh ra cho đến khi mất đi Mặt khác, có những nhiệm vụ ẩn chứa mà Tâm lí học phát triển
đã giải quyết đó là giúp cho sự phát triển về lĩnh vực văn hoá tư tưởng của
xã hội tiến lên một mức độ mới để tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn khoa học
và cởi bỏ những quan niệm lạc hậu và cổ hủ khi kiến giải về sự phát triển tâm lí con người,…
3 Ý nghĩa
Trong thời đại ngày nay, Tâm lí học phát triển đã cống hiến những thành tựu đặc biệt quan trọng đối với Tâm lí học nói riêng và đối với khoa học cũng như cuộc sống nói chung Những thành tựu nghiên cứu của Tâm
lí học phát triển đã để lại những dấu ấn đặc biệt trên cả bình diện lí luận cũng như thực tiễn
3.1 Về lí luận
– Tâm lí học phát triển góp phần củng cố quan điểm Macxit về bản chất của các hiện tượng tâm lí, phép duy vật biện chứng trong sự phát triển của con người Đây chính là ý nghĩa to lớn giúp cho khoa học tâm lí có cái
Trang 10nhìn khách quan và đúng nghĩa về sự phát triển tâm lí Bên cạnh đó tạo ra những cơ sở quan trọng để hướng đến một hệ thống quan điểm công bằng, khách quan khi nhìn nhận về sự phát triển của con người
– Về nhận thức: Tâm lí học phát triển bổ sung, làm sáng tỏ, sinh động hơn về những lí luận chung của Tâm lí học, Tâm lí học đại cương, về nhận thức của con người đối với Tâm lí học
– Về hoạt động: Tâm lí học phát triển tạo niềm tin, xác định phương pháp luận để nghiên cứu tâm lí con người một cách khoa học, toàn diện
– Tâm lí học phát triển hỗ trợ đặc biệt cho việc thiết kế quá trình phát triển nhân cách của trẻ em, giải quyết những mâu thuẫn, những tồn tại, những rắc rối nảy sinh trong đời sống của con người
4 Mối liên hệ với các ngành khoa học khác
4.1 Tâm lí học đại cương
– Tâm lí học đại cương nghiên cứu những vấn đề chung nhất trong
sự phát triển tâm lí của con người làm cơ sở định hướng cho việc nghiên cứu Tâm lí học phát triển
Trang 11– Tâm lí học đại cương nghiên cứu những đặc điểm cơ bản về tâm lí của con người còn Tâm lí học phát triển nghiên cứu cụ thể theo lứa tuổi nên Tâm lí học phát triển sẽ bổ sung và làm sáng tỏ những tri thức của Tâm lí học đại cương
– Như vậy, có thể nói những thành tựu nghiên cứu của Tâm lí học đại cương tìm được từ các khái niệm như: quá trình tâm lí, trạng thái tâm lí,… sẽ là những khái niệm cơ bản trở thành cơ sở để Tâm lí học phát triển nghiên cứu từng mặt trong tiến trình phát triển nói chung và ở từng độ tuổi nói riêng Ngược lại, Tâm lí học đại cương sẽ khó có thể trở nên gần gũi
và thực tế nếu không dựa vào những thành tựu của Tâm lí học phát triển
và nói như thế nghĩa là Tâm lí học đại cương và Tâm lí học phát triển có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau
4.2 Tâm lí học sư phạm
Tâm lí học phát triển và Tâm lí học sư phạm gắn bó chặt chẽ và thống nhất với nhau vì có đối tượng nghiên cứu giao thoa và gần nhau Kết quả nghiên cứu của Tâm lí học phát triển sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với Tâm
lí học sư phạm và ngược lại
Các đặc điểm và quy luật phát triển lứa tuổi là cơ sở để Tâm lí học
sư phạm nghiên cứu tiếp về hoạt động dạy học Do vậy, Tâm lí học sư phạm muốn nghiên cứu những đặc điểm lĩnh hội tri thức khoa học và sự hình thành nhân cách của học sinh trong công tác dạy học và giáo dục thì nhất thiết phải sử dụng những thành tựu nghiên cứu của Tâm lí học phát triển
Ngược lại, kết quả nghiên cứu của Tâm lí học sư phạm làm cho việc nghiên cứu Tâm lí học phát triển được cụ thể hơn, sâu sắc hơn và mang
Trang 12tính ứng dụng cao hơn khi đặt nó vào trong hoạt động sư phạm, môi trường giáo dục
4.3 Giáo dục học và Lí luận dạy học bộ môn
– Tâm lí học phát triển là cơ sở lí luận quan trọng của Giáo dục học,
Lí luận dạy học bộ môn, giúp cho việc dạy học và giáo dục hiệu quả hơn Chỉ khi nào nhà giáo dục hiểu trẻ thì mới có thể giáo dục trẻ thích hợp nhất, đề xuất các biện pháp sư phạm hữu hiệu nhất nên Tâm lí học phát triển trở thành khoa học cơ sở là nền tảng đối với Giáo dục học
– Giáo dục học định hướng, đặt ra yêu cầu cho Tâm lí học phát triển nghiên cứu một cách cụ thể, mang ý nghĩa giá trị vận dụng cao Ngay cả những cơ sở quan trọng nhất của việc lựa chọn các phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức hoạt động cho người học cũng phải dựa vào những đặc điểm tâm lí – nhận thức của từng độ tuổi cho nên những chỉ số về tâm lí của từng độ tuổi do Tâm lí học phát triển đem lại là cực kì có giá trị với Giáo dục học
4.4 Các bộ môn khác như Giải phẫu sinh tí, Bệnh nhi học
– Tâm lí học phát triển phải dựa trên những cơ sở của Giải phẫu sinh
lí Bệnh nhi học để nghiên cứu một cách hệ thống và nghiêm túc… Cụ thể như Sinh lí học nghiên cứu phần thực thể tự nhiên của con người Tâm lí học phát triển xem đó là cơ sở quan trọng để nghiên cứu chức năng của não bộ, về những diễn biến tâm lí dựa trên nền tảng của điều kiện sinh lí Ngay cả những giai đoạn có những biến động lớn về mặt sinh lí thì tâm lí của độ tuổi ấy cũng có những đổi thay nhất định theo nguyên tắc sinh lí và
là cơ sở để nảy sinh những hiện tượng tâm lí Mặt khác, những hiện tượng tâm lí rất đặc biệt như: khủng hoảng tâm lí, rối loạn tâm lí… thì Tâm lí
Trang 13học phát triển vẫn phải dựa vào những đặc điểm về giải phẫu sinh lí mà cụ thể là đặc điểm của các giác quan, não bộ và thần kinh của con người để nghiên cứu
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÂM LÍ HỌC PHÁT TRIỂN
Nhắc đến một khoa học thì nguyên tắc cơ bản là: đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu và đặc biệt là xác định hệ thống phương pháp nghiên cứu Nếu giải quyết được việc xác định phương pháp luận và phương pháp hệ của việc nghiên cứu thì việc nghiên cứu khoa học sẽ đem hiệu quả và khả thi
Nguyên tắc tính khách quan được vận dụng một cách cụ thể khi nghiên cứu Tâm lí học phát triển là mọi cứ liệu về tâm lí cá nhân đều phải
Trang 14được lưu giữ vì đó là những bằng chứng về mặt khoa học Cho dù một biểu hiện tâm lí của trẻ xảy ra duy nhất một lần hay xảy ra lặp đi, lặp lại cũng phải được quan tâm vì đây là cơ sở quan trọng để minh hoạ cho những thông số hay chỉ số phát triển Đây cũng chính là những luận cứ quan trọng để người nghiên cứu có thể mở đầu cho một sự giả định Nói khác đi, việc kết luận một cách cảm tính hay chủ quan của người nghiên cứu khi nhìn nhận về sự phát triển tâm lí hay diễn tiến tâm lí của trẻ em sẽ không được chấp nhận vì nó vi phạm nguyên tắc khách quan Mọi biểu hiện về tâm lí của trẻ đều có những cơ sở và những kết luận trong sự phát triển tâm lí của trẻ đều phải dựa trên những cứ liệu rõ ràng và chi tiết
1.2 Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng khi nghiên cứu Tâm lí học phát triển
Nghiên cứu Tâm lí học phát triển phải nhìn nhận những biểu hiện tâm lí của từng độ tuổi luôn chịu ảnh hưởng một cách đồng bộ bởi những yếu tố khác tác động đến tâm lí người Từ những điều kiện sinh học đến những điều kiện xã hội hay vai trò đặc biệt quan trọng của chủ thể cùng với hoạt động của chủ thể đều được xem xét Sự tác động tổng hợp và đồng bộ này tồn tại và diễn ra như một quy luật phổ biến và nó để lại những dấu ấn quan trọng trong tiến trình phát triển tâm lí của con người Khi xem xét một hoàn cảnh cụ thể hay một giai đoạn cụ thể trong sự phát triển tâm lí, cách nhìn biện chứng đòi hỏi phải bao quát khá nhiều tác động đến sự tồn tại và phát triển của trẻ Lẽ đương nhiên, một đòi hỏi rất khoa học khác là phải tìm hiểu quá khứ và hiện tại cũng như có những tầm nhìn phóng chiếu về sự phát triển trong tương lai của trẻ,…
Ngoài ra, phải nhìn nhận trẻ em trong sự tác động đa chiều cũng như trong mối liên hệ tương tác giữa điều kiện sinh học với tâm lí, quan hệ
Trang 15giữa môi trường và gia đình với tâm lí Vì thế, khi nghiên cứu không thể tách đứa trẻ ra khỏi thực tại cũng như tách ra khỏi nhóm cộng đồng theo nguyên tắc biệt lập dù chỉ là tương đối
Những biểu hiện tâm lí của trẻ không thể tự nhiên có được Chính vì vậy những lí giải về mặt hành vi, thái độ hay những sự lựa chọn giá trị của trẻ và bất kì biến đổi nào khác đều có căn nguyên của nó Đó là những đổi thay luôn có những cơ sở từ môi trường bên ngoài Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng giúp người nghiên cứu Tâm lí học phát triển không những đặt khách thể nghiên cứu trong mối quan hệ cộng đồng mà còn nhìn nhận những tác động ẩn tàng xét trên bình diện tương tác đa chiều trong nghiên cứu về sự đổi thay hay phát triển của trẻ
1.3 Nguyên tắc thống nhất tâm lí, ý thức với hoạt động khi nghiên cứu Tâm lí học phát triển
Nguyên tắc này khẳng định tâm lí, ý thức không tách rời khỏi hoạt động con người Tâm lí, ý thức được hình thành, bộc lộ và phát triển trong quá trình hoạt động, đồng thời định hướng điều khiển điều chỉnh hoạt động Các đặc điểm tâm lí, quá trình diễn biến tâm lí trong từng độ tuổi đều phải được nghiên cứu thông qua hoạt động, diễn biến và các sản phẩm của hoạt động ở từng độ tuổi
Việc xem xét các đặc điểm tâm lí theo từng độ tuổi cũng phải được quan tâm trên bình diện giữa biểu hiện và bản chất, không thể quy gán một cách vội vàng những biểu hiện tạm thời ở trẻ cũng như không thể kết luận một cách thiếu tĩnh táo nếu những cứ liệu về việc nghiên cứu Tâm lí học phát triển chưa thực sự đủ độ "chín" về mặt ý nghĩa thống kê Chẳng hạn nghiên cứu những đặc điểm về nhận thức hay tình cảm của trẻ cần dược
Trang 16thực hiện ngay trong hoạt động thường nhật của trẻ vì chính đưa trẻ sẽ sống thật nhất trong cuộc sống cũng như thể hiện cá tính một cách rõ nét nhất thông qua hoạt động chủ đạo của độ tuổi
Nguyên tắc này đòi hỏi việc tìm hiểu tâm lí của con người mà đặc biệt là việc tìm hiểu tâm lí của trẻ em phải dựa trên nền tảng những biểu hiện tâm lí thông qua thái độ và hành vi của đứa trẻ Việc xem xét sự phát triển về mặt tâm lí của trẻ cũng cần dựa trên những cơ sở rất cụ thể và rõ ràng chứ không chỉ dựa vào những con số thô đo đạc được Điều này sẽ đưa ra một đòi hỏi rất nghiêm ngặt khi nghiên cứu các chi báo nghiên cứu phải xác thực nhưng phải đồng bộ
1.4 Nghiên cứu Tâm lí học phát triển trong cái nhìn vận động và phát triển
Khi nghiên cứu Tâm lí người nói chung và tâm lí ở từng lứa tuổi nói riêng cũng như khi nghiên cứu Tâm lí học phát triển phải đảm bảo một cách nghiêm túc tính thực tế nhưng vẫn phải đảm bảo tính dự kiến, dự phòng Điều này làm cho việc nghiên cứu Tâm lí học phát triển mang tính thực tiễn và ứng dụng cao
Sự phát triển tâm lí của trẻ em không phải là sự đổi thay hoàn toàn
mà là sự phát triển có kế thừa Mặt khác, giữa các thời kì lịch sử khác nhau thì sự phát triển tâm lí của từng độ tuổi cũng có sự đổi thay nhất định Cụ thể như những chỉ số về sinh lí và tâm lí thường được đo nghiệm theo chu
kì (thường là 10 năm) để có thể nhận ra sự khác biệt hay sự phát triển giữa các thế hệ nếu điều kiện nghiên cứu cho phép Đây cũng là một yêu cầu và nghiên cứu so sánh rất có giá trị trong Tâm lí học
Trang 17Nguyên tắc này đòi hỏi việc nghiên cứu không được "cứng nhắc", chỉ căn cứ vào những chỉ số đã có vế mặt phát triển tâm lí hay những kết luận mang tính chất cố định Chính những tác động về mặt xã hội – văn hoá và kể cả những biến đổi có chủ đích của khách thể sẽ tạo nên những thay đổi khá lớn trong tiến trình phát triển tâm lí Người nghiên cứu luôn luôn có cái nhìn vận động để xem xét mọi sự đổi thay trong một quan điểm rất mới mẻ, tích cực và đặc biệt là theo xu hướng thừa nhận nếu nó diễn ra theo một quy luật hoặc ít nhất là được lặp đi lặp lại nhiều lần dù chỉ là tương đối,…
2 Phương pháp nghiên cứu
đề, một khoa học nào đó Đây là những cách thức hợp lí, có mục đích dẫn đến một kết quả nhất định, một quá trình nhất định hay thực hiện một nhiệm vụ thực tiễn nào đó Phương pháp hệ cũng bao gồm những biện pháp kĩ thuật để hiện thực hoá phương pháp nghiên cứu với mục tiêu chứng minh tính chính xác của tri thức hay tính thuyết phục của tri thức về khách thể nghiên cứu
Trang 182.2 Sự phân loại các phương pháp nghiên cứu
Có nhiều cách phân loại khác nhau:
* Hướng 1: Phân loại của các nhà Tâm lí học Liên Xô cũ
Cách phân loại này chia thành ba nhóm phương pháp:
– Nhóm 1: Nhóm các phương pháp tổ chức
+ Phương pháp cắt ngang (so sánh)
Phương pháp này dùng để nghiên cứu sự phát triển tâm lí riêng biệt của trẻ ở các lứa tuổi khác nhau hoặc các trẻ em trong cùng độ tuổi (sử dụng việc so sánh để nhận ra kết quả nghiên cứu)
+ Phương pháp cắt dọc
Phương pháp này là phương pháp nghiên cứu tâm lí của một hoặc nhiễu đứa trẻ từ khi mới sinh đến trưởng thành hoặc trong một khoảng thời gian dài nào đó nhằm tìm sự biến đổi tâm lí quy luật phát triển tâm lí theo từng giai đoạn Phương pháp này có thể sử dụng khi nghiên cứu trẻ em song sinh (Zazzo, V.X Mukhina )
– Nhóm 2: Nhóm các phương pháp mang tính kinh nghiệm Nhóm phương pháp này bao gồm những phương pháp được sử dụng để thu thập
dữ liệu nghiên cứu mà cụ thể là những biểu hiện của các quá trình tâm lí,
Trang 19đặc điểm tâm lí, quy luật tâm lí ở một độ tuổi nhất định nào đó Trong nhóm phương pháp này có thể đề cập đến những phương pháp cụ thể như: phương pháp quan sát, phân tích sản phẩm, phỏng vấn,…
– Nhóm 3: Nhóm các phương pháp lựa chọn và xử lí các tài liệu đã thu thập:
Nhóm phương pháp này được thực hiện chủ yếu để xử lí những cứ liệu, số liệu hoặc luận cứ – luận chứng trong quá trình nghiên cứu Thực ra đây chính là những phương pháp quyết định chất lượng cuộc nghiên cứu
vì nó cũng chính là những thao tác xét trên bình diện khoa học của cuộc nghiên cứu Có thể thấy có hai phương pháp chính bao gồm: nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
+ Phương pháp nghiên cứu định lượng
Khái niệm định lượng (quantity) thường gắn liền với số lượng, tần
số, cường độ, mật độ,… Nghiên cứu định lượng thường sử dụng các phương pháp thu thập số liệu “cứng “ dưới dạng con số và với một số lượng mẫu như: phiếu điều tra, phỏng vấn theo mẫu, thực nghiệm và thậm chí là quan sát Theo nhà nghiên cứu Bryman, nghiên cứu định lượng thường gắn liền và hướng đến việc kiểm tra giả thuyết, thiết lập sự kiện, thống kê mô tả, tìm hiểu mối quan hệ giữa các biến số và dự đoán Nhà nghiên cứu Goodwin cho rằng nghiên cứu định lượng thường đi theo hướng diễn dịch, có quy trình chặt chẽ và sử dụng một số dụng cụ đo lường tương đối chi tiết
Phương pháp nghiên cứu định lượng còn được hiểu là phương pháp nghiên cứu chủ yếu bằng thống kê toán học để thu thập số liệu nghiên cứu nhằm tìm ra những đặc điểm tâm lí hoặc những biểu hiện tâm lí chung của
Trang 20một nhóm mẫu đại diện Nói khác đi, nghiên cứu định lượng là phương pháp dựa trên sự phân tích số lượng những dữ liệu thu thập được từ cuộc nghiên cứu
Phương pháp này cho phép người nghiên cứu thu thập những số liệu
từ một nhóm hoặc vài nhóm lứa tuổi (nếu nghiên cứu so sánh) và sau đó
sử dụng những biện pháp định lượng và phương pháp giải thích kết quả nghiên cứu định lượng Phương pháp này đòi hỏi việc chọn mẫu phải thực
sự khoa học cũng như việc xử lí các số liệu thống kê phải thực sự khách quan khi đảm báo những yêu cầu về độ tin cậy, độ phân cách,… để có thể đưa ra những kết luận chính xác Một trong những chương trình xử lí thuật toán thống kê bằng máy tính trong việc nghiên cứu Tâm lí học phát triển khá hữu hiệu ngày nay là chương trình SPSS đã được ứng dụng khá nhiều Tuy nhiên, điều quan trọng là người nghiên cứu phải thực sự chú ý đầu tiên đến việc mã hoá số liệu cũng như đặt ra những yêu cầu về thông số thống kê để "áp sát" nhiệm vụ nghiên cứu Mặt khác, điều rất quan trọng là phải đọc được những con số thống kê cũng như giải mã những con số thống kê ấy và bình luận một cách sắc nét Việc sử dụng phương pháp định lượng sẽ không giúp người nghiên cứu phân biệt mối liên hệ qua lại giữa những thuộc tính tâm lí khác nhau về chất lượng nhưng lại có những bằng chứng giống nhau về số lượng trên con số thống kê Trong trường hợp này, sẽ thiếu tính thuyết phục nếu chỉ nói với các con số mà thiếu hẳn những cứ liệu khác để bổ sung Cứ liệu ấy có được nhờ vào phương pháp nghiên cứu định tính
+ Phương pháp nghiên cứu định tính
Khái niệm định tính (quality) chỉ đặc tính của sự vật hay hiện tượng Nghiên cứu định tính thường chú trọng đến quá trình và ý nghĩa, những
Trang 21cái khó có thể cân – đo – đong – đếm một cách chính xác để thể hiện bằng
số lượng, tần số hay cường độ Từ giữa thế kỉ XX, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các phương pháp nghiên cứu định lượng chỉ chú ý đến logic của con số mà bỏ qua sự phong phú, phức tạp và chằng chịt vốn có của các hiện tượng xã hội Các phương pháp định tính chú trọng đến bản chất xã hội của thực tại, những ảnh hưởng của hoàn cảnh lên đối tượng nghiên cứu, mối quan hệ chặt chẽ giữa người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu định tính thường đi theo hướng gắn liền với việc lập giả thuyết và ban hành theo lối quy nạp Nghiên cứu định tính thường sử dụng những phương pháp thu thập dữ liệu như phỏng vấn, quan sát để có được những số liệu đa dạng và chi tiết Nghiên cứu định tính thường đòi hỏi người nghiên cứu xem xét số liệu ngay từ giai đoạn đầu của việc nghiên cứu và có những định hướng thích hợp cũng như được tái sử dụng những
số liệu nghiên cứu ấy để tiếp tục minh hoạ
Nghiên cứu định tính là phương pháp dùng để phân tích tài liệu thu thập theo nhóm, theo phương án hay nói cách khác đó là phương pháp dựa trên sự phân tích chất lượng những dữ liệu thu thập được, cùng với tính dự đoán được mô tả trong những thuật ngữ khái niệm khoa học đã biết nhằm
lí giải khoa học cho những giả thuyết
Thực tế cho thấy việc nghiên cứu định tính là một đòi hỏi khá quan trọng trong nghiên cứu Tâm lí học phát triển khi mà những yêu cầu mô tả nghiên cứu định lượng không thể thoả mãn nhu cầu phác thảo chân dung tâm lí của một độ tuổi thì nghiên cứu định tính thực hiện được yêu cầu này một cách khá hiệu quả Phương pháp nghiên cứu định tính không cho phép
sử dụng những biện pháp và phương pháp định lượng để giải thích kết quả nghiên cứu, nhận xét về mức độ phát triển của những thuộc tính tâm lí
Trang 22được dự đoán và trực tiếp tìm ra những mối liên hệ nguyên nhân giữa những đại lượng biến thiên được nghiên cứu Ở đây, chính nghiên cứu định tính làm cho những nghiên cứu về Tâm lí học phát triển sẽ mang tính khái quát nhưng vẫn đảm bảo tính cụ thể với những khách thể khác nhau trong tiến trình nghiên cứu
Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng dù có sự khác biệt nhưng không loại trừ lẫn nhau mà có mối quan hệ mật thiết với nhau Cả hai phương pháp này đều hướng đến việc tìm kiếm hiểu biết và tri thức khoa học mặc dù dạng thức thì khác nhau, chúng có thể hỗ trợ lẫn nhau tạo
ra một hiểu biết thấu đáo về đối tượng Bên cạnh đó, cả hai phương pháp hay hai cách tiếp cận đều đòi hỏi một quá trình nghiên cứu chuẩn xác và chặt chẽ, vì vậy, kết quả của một cách tiếp cận này có thể đủ độ tin cậy để
sử dụng cho cách tiếp cận kia và ngược lại Ngoài ra, cả hai cách tiếp cận đều sử dụng đo lường như là một thành phần quan trọng của tiến trình nghiên cứu Kết quả do lường đó có thể bổ sung cho nhau Việc áp dụng
cả nghiên cứu định tính và định lượng trong Tâm lí học phát triển sẽ làm cho việc nghiên cứu các đặc điểm tâm lí cụ thể, chi tiết nhưng có tính khái quát để tìm ra những cơ sở khoa học nhằm đưa ra những tác động phù hợp thúc đẩy sự phát triển tối da tâm lí của con người theo từng độ tuổi cũng như trong tiến trình phát triển
* Hướng 2: Cách phân loại của một số nhà Tâm lí học phát triển phương Tây
Theo quan điểm này thì phương pháp nghiên cứu Tâm lí học phát triển cũng tồn tại nhiều phương pháp khác nhau trong sự phân chia tương đối Cách phân loại này dựa vào hiện trạng việc nghiên cứu ở những chiều
Trang 23kích khác nhau để đưa ra những phương pháp nghiên cứu khác nhau Có thể điểm qua những phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp nghiên cứu mô tả và nghiên cứu giải thích
+ Phương pháp nghiên cứu trong điều kiện tự nhiên và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
+ Phương pháp nghiên cứu có tính lịch sử
+ Phương pháp nghiên cứu lí thuyết và nghiên cứu dựa trên hình tượng
+ Phương pháp nghiên cứu cơ sở và nghiên cứu ứng dụng
+ Phương pháp nghiên cứu cá thể và nghiên cứu nhóm
* Hướng 3: Phân loại các phương pháp nghiên cứu dựa trên cách thức thực hiện
Dựa trên cách thức thực hiện hiểu theo nghĩa là thực hiện phương pháp này trong những điều kiện và thao tác cụ thể thì có hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
+ Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
+ Phương pháp nghiên cứu không dùng thực nghiệm
2.3 Một số phương pháp nghiên cứu thông dụng
2.3.1 Phương pháp quan sát
2.3.1.1 Khái niệm
Quan sát là phương pháp theo dõi có hệ thống có tổ chức và lí giải những điều đang xảy ra Quan sát phải được sử dụng bằng nhiều giác quan kết hợp một cách hợp lí và sử dụng các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ Cụ thể
Trang 24hơn, quan sát trong nghiên cứu Tâm lí học phát triển là phương pháp mà nhà nghiên cứu theo dõi, ghi chép những biểu hiện đa dạng của hoạt động tâm lí của cá nhân hoặc nhóm trong độ tuổi cùng với những diễn biến của
– Quan sát theo mục tiêu
+ Là loại quan sát theo các mục tiêu cụ thể được đặt ra từ trước với các biểu hiện cụ thể cùng các tiêu chí đánh giá
+ Loại quan sát này được sử dụng để đánh giá một biểu hiện cụ thể trong tâm lí của trẻ, một đặc điểm tâm lí cụ thể của trẻ trong quá trình nghiên cứu Loại quan sát này có thể sử dụng cách đánh dấu vào bảng liệt
kê mức độ phát triển cụ thể của đối tượng quan sát
Cách 2: Quan sát bao gồm quan sát bộ phận và quan sát toàn diện – Quan sát bộ phận
Là loại quan sát được thực hiện khi chủ thể quan sát theo dõi một mặt nào đó trong hành vi, thái độ của khách thể nghiên cứu
Trang 25– Quan sát toàn diện:
Là loại quan sát được thực hiện nhằm quan sát nhiều mặt một cách bao quát tất cả những biểu hiện tâm lí của trẻ trong giai đoạn nghiên cứu nào đó ở một bối cảnh nào đó
2.3.1.3 Một số nguyên tắc khi quan sát
Dựa trên loại quan sát mà chủ thể nghiên cứu lựa chọn khi nghiên cứu mà các nguyên tắc quan sát sau đây sẽ được vận dụng một cách tương đối linh hoạt và sáng tạo
– Giữ khoảng cách vừa phải, không để trẻ biết mình đang được quan sát
– Không trò chuyện với trẻ (kể cả giao tiếp bằng ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ…)
– Không gây cản trở đến hoạt động của trẻ, can thiệp vào hoạt động của trẻ
– Ghi chép tất cả sự kiện thật khách quan, không nhận xét nhận định chủ quan, vội vàng
– Ghi chép sự việc đúng theo trình tự đã quan sát, không ghi những
Trang 262.3.1.4 Các bước quan sát
– Bước 1: Xác định mục tiêu quan sát, đối tượng quan sát
– Bước 2: Lập kế hoạch quan sát bao gồm những yêu cầu sau; xác định địa điểm, thời gian, khách thể quan sát, phương tiện hỗ trợ, cách thức quan sát, những lưu ý khi quan sát,…
– Bước 3: Thiết kế mẫu ghi chép quan sát hoặc các loại biên bản quan sát
– Bước 4: Quan sát và ghi chép theo mẫu hoặc quan sát tự nhiên khách thể nghiên cứu đã xác định
– Bước 5: Phân tích dữ liệu thu thập hoặc nghiên cứu định tính hoặc bằng nghiên cứu định lược (nếu số liệu cho phép)
Bước 6: Đề ra biện pháp giáo dục trực tiếp hoặc kế hoạch tác động lâu dài (kế hoạch giáo dục cá nhân)
Các bước quan sát trên được sử dụng một cách linh hoạt tuỳ theo từng yêu cầu khác nhau của từng cuộc nghiên cứu Tuy nhiên, các bước này được thực thi trong sự thoả mãn những yêu cầu về nguyên tắc quan sát cũng như đảm bảo có sự hỗ trợ thêm của những công cụ khác hay phương tiện khác để quá trình quan sát sẽ khách quan, khoa học cũng như đem lại những cứ liệu xác thực nhất
Như đã nói, trong mỗi cuộc nghiên cứu, phương pháp quan sát sẽ được vận dụng một cách chuyên biệt Tùy theo yêu cầu về nhiệm vụ nghiên cứu, xác định dữ liệu nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và những yêu cầu có liên quan, các loại mẫu quan sát sẽ rất đa dạng và phong phú
Có thể đề cập đến các loại mẫu quan sát sau:
Trang 27Thời gian quan sát Nội dung quan sát
Loại mẫu này được sử dụng khi quan sát những diễn tiến tâm lí một cách thường nhật Nó sẽ đem lại những cứ liệu rất cụ thể dưới dạng quan sát ghi chép, quan sát diễn tiến tâm lí
Trang 28Loại mẫu này được sử dụng khi quan sát một cách rất tự nhiên những
gì xảy ra trong tâm lí của trẻ Loại mẫu này được sử dụng để thu thập những cứ liệu nghiên cứu mẫu một cách ngẫu nhiên, lặp đi lặp lại để đưa
ra những kết luận ban đầu mang tính giá trị phát hiện
– Mẫu 3:
Họ tên học
sinh
Tình huống quan sát
Mô tả sự kiện hành
vi
Phân tích hiện tượng
Kết luận
Loại mẫu này được sử dụng khi quan sát những biểu hiện tâm lí trong diễn tiến tâm lí của các khách thể nghiên cứu được chọn lọc Những chỉ báo nghiên cứu sẽ được cụ thể hoá thành các chỉ báo quan sát để thoả mãn một yêu cầu nào đó trong nghiên cứu nhằm đưa ra những cứ liệu khoa học một cách cụ thể và khách quan để minh chứng cho vấn đế khoa học hay những giả thuyết khoa học đã xác lập
– Mẫu 4:
Kế hoạch quan sát
Trang 292.3.2 Phương pháp thực nghiệm
2.3.2.1 Khái niệm
Phương pháp thực nghiệm là phương pháp nghiên cứu tác động vào đối tượng một cách có chủ đích trong những điều kiện tạo ra nhằm làm bộc lộ hay làm biến đổi một hoặc một vài đặc tính của đối tượng mà nhà nghiên cứu mong muốn
2.3.2.2 Phân loại
Trang 30Có hai loại: Phương pháp thực nghiệm tự nhiên và thực nghiệm trong phòng thí nghiệm
– Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm
Là loại thực nghiệm được tổ chức sẵn sàng chặt chẽ và lựa chọn những tình huống khó để thực nghiệm
– Thực nghiệm tự nhiên
Là loại thực nghiệm tiến hành trong những điều kiện giống như tự nhiên nhưng được sắp đặt sẵn một cách tương đối
2.3.2.3 Một số nguyên tắc khi tiến hành thực nghiệm
– Phải đảm bảo việc tổ chức thực nghiệm diễn ra một cách hết sức bình thường và không làm xáo trộn quá lớn đối với nếp sống của đối tượng
– Xác định biến thực nghiệm và biến phụ thuộc trong quá trình nghiên cứu thực nghiệm
– Kiểm tra những biến số nhiễu đối với quá trình thực nghiệm nhiều nhất có thể có
– Kiên nhẫn và nghiêm túc đón nhận những kết quả thực nghiệm cũng như đảm bảo tính khách quan của nó
2.3.2.4 Các bước tiến hành thực nghiệm
Thực nghiệm được sử dụng hiện nay trong việc nghiên cứu Tâm lí học phát triển thông thường là thực nghiệm tác động để nâng cao một khả năng nào đó hay thay đổi một biểu hiện nào đó trong sự phát triển tâm lí
Có thể đề cập đến những bước cơ bản sau:
Trang 31+ Chọn nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm tương đồng (đo đầu vào)
+ Tiến hành thực nghiệm các biện pháp đã đề xuất ở nhóm thực nghiệm, nhóm đối chứng không áp dụng các biện pháp ở nhóm thực nghiệm
+ Tác động và đo kết quả ở hai nhóm (lần hai)
+ Tiếp tục thử nghiệm trên nhóm khác (nếu cần) và đo thêm kết quả một lần nữa và rút ra kết luận
2.3.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Anket)
2.3.3.1 Khái niệm
Anket là phương pháp sử dụng bảng hỏi được thiết kế sẵn từ trước, nhằm thu thập ý kiến chủ quan của một số đông nghiệm thể về một vấn đề hoặc hiện tượng nghiên cứu nào đó
2.3.3.2 Phân loại
Có thể phân ra làm hai loại: điều tra trực tiếp và điều tra gián tiếp + Điều tra trực tiếp: Là phương pháp mà nhà nghiên cứu trực tiếp thiết kế bảng hỏi, trực tiếp đi điều tra và thu hồi kết quả nghiên cứu cũng như xử lí các kết quả nghiên cứu
+ Điều tra gián tiếp: Là phương pháp điều tra qua các phương tiện thông tin đại chúng như: báo, đài, internet, ti vi,… hoặc người nghiên cứu
có thể sử dụng người khác thay mình đi phát phiếu điều tra đã được soạn thảo sẵn theo những chỉ báo nghiên cứu đã xác lập,…
2.3.3.3 Yêu cầu
Trang 32– Các câu hỏi phải ngắn gọn, dễ hiểu và phải phù hợp với trình độ của nghiệm thể
– Cần phải kết hợp giữa câu hỏi kín và câu hỏi mở trong bảng hỏi, việc kết hợp này cho phép nghiên cứu được sâu các động cơ, nhu cầu và mong muốn của khách thể nghiên cứu
– Phải tạo được bầu không khí chân thành hiểu biết lẫn nhau giữa người nghiên cứu và người được nghiên cứu, có như vậy mới thu được các thông tin khách quan, trung thực về đối tượng nghiên cứu
– Phải chuẩn bị chu đáo, chính xác câu hỏi, phương án trả lời khi soạn bảng hỏi và phải tiến hành nghiên cứu thử trước khi nghiên cứu trên diện rộng
– Cần phải hướng dẫn khách thể một cách chi tiết cách thức lựa chọn hoặc trả lời cho các câu hỏi
2.3.4 Phương pháp phỏng vấn
2.3.4.1 Khái niệm
Phỏng vấn là phương pháp thăm dò ý kiến của nghiệm thể, bằng cách trao đổi trực tiếp giữa người phỏng vấn và nghiệm thể, nhằm thu thập
ý kiến chủ quan của nghiệm thể về một vấn đề hoặc hiện tượng tâm lí nào
đó phục vụ cho mục đích nghiên cứu
2.3.4.2 Phân loại
– Phỏng vấn tiêu chuẩn hoá
Là loại phỏng vấn trực tiếp giữa người phỏng vấn và nghiệm thể theo quy trình và nội dung và các câu hôi đã được chuẩn bị từ trước
– Phỏng vấn phi tiêu chuẩn hoá
Trang 33Là loại phỏng vấn trực tiếp không theo một quy trình và kế hoạch cụ thể, người phỏng vấn có quyền đặt ra các câu hỏi tuỳ theo tình huống và thời cơ phỏng vấn
– Phỏng vấn sâu
Là loại phỗng vấn được tiến hành giữa nhà nghiên cứu và một nghiệm thể về một vấn đề nào đó Phỏng vấn sâu có thể giúp nhà nghiên cứu đi sâu vào các tầng bậc sâu của các hiện tượng tâm lí như: động cơ, sở thích, niềm tin, lí tưởng,… Phỏng vấn sâu thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác, giúp chúng ta khẳng định vấn đề hoặc hiện tượng nghiên cứu nào đó
2.3.4.3 Yêu cầu
– Người phỏng vấn phải hiểu biết tốt vấn đề nghiên cứu Thông thường, trước khi tiến hành phỏng vấn, người tiến hành phải nắm chắc vấn
đề nghiên cứu để có thể nắm chắc nội dung phỏng vấn
– Câu hỏi đưa ra phải ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với trình độ của nghiệm thể Khi tiến hành phỏng vấn, người phỏng vấn cần biết trước nghiệm thể là ai, ở lứa tuổi nào và trình độ của họ ra sao,… để đưa ra câu hỏi cho phù hợp
– Phải tạo ra được bầu không khí thân mật, chân thành và hiểu lẫn nhau giữa người phỏng vấn và nghiệm thể
– Chuẩn bị tốt các phương tiện cần thiết để cho buổi phỏng vấn có kết quả tốt như máy ghi âm, camera, giấy, bút,…
2.3.5 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động
2.3.5.1 Khái niệm
Trang 34Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động là phương pháp nghiên cứu nhằm tìm hiểu và đánh giá trình độ phát triển khoa học công nghệ và các giá trị văn hoá, tinh thần của con người hay nhóm người, thông qua các sản phẩm sáng tạo, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu đặt ra từ trước Trong Tâm lí học phát triển việc áp dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu những biểu hiện tâm lí của đối tượng được gửi vào những sản phẩm trong hoạt động thường nhật của chủ thể
2.3.5.2 Yêu cầu
– Người nghiên cứu phải nắm được vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở đó
có thể trình diễn, phân tích, đánh giá sản phẩm một cách trung thực khách quan
– Phải phân tích cụ thể, sâu sắc các giai đoạn, thời gian và điều kiện xuất hiện sản phẩm, đồng thời phải so sánh với các sán phẩm cùng loại đã
có trên thị trường
– Cần phải phân tích, so sánh để tìm ra các đặc điểm trình độ phát triển và kĩ năng của các nhóm người và các cá nhân tạo ra sản phẩm sáng tạo
2.3.6 Phương pháp trắc nghiệm
2.3.6.1 Khái niệm
Phương pháp trắc nghiệm hay còn gọi là test (phương pháp nghiên cứu theo mô hình) là phương pháp nghiên cứu dựa trên các kết quả đáng tin cậy từ một mẫu khá lớn các cá nhân khác nhau từ đó rút ra một mô hình mang tính chuẩn hoá làm cơ sở để đánh giá những vấn đề tâm lí nói chung hay những đặc điểm tâm lí của một con người – nhóm người Nói khác đi, trắc nghiệm trong Tâm lí học phát triển là phép thử đã được chuẩn
Trang 35hoá trở thành công cụ để nhà nghiên cứu đo lường các biểu hiện tâm lí của con người
2.3.6.2 Phân loại
Phương pháp trắc nghiệm được sử dụng theo các hình thức đa dạng như trắc nghiệm nhóm, trắc nghiệm cá nhân, trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá hoặc trắc nghiệm được thiết kế
2.3.6.3 Yêu cầu
– Trắc nghiệm đối tượng lựa chọn phải là trắc nghiệm khách quan – Các câu hỏi – bài tập trong trắc nghiệm phải thực sự khoa học và hợp lí cũng như bám sát tiêu chí cần đo nghiệm
– Trắc nghiệm phải đo đúng cái cần đo hay nói khác đi các tiêu chí
Trang 362.3.7.2 Yêu cầu
– Phải đảm bảo theo dõi trường hợp trong một khoảng thời gian thực
sự dài mới có thể thu thập được cứ liệu tương đối đầy đủ
– Luôn bảo đảm thu thập một các chi tiết và cụ thể những thông tin
về trường hợp nghiên cứu và không được bỏ sót
– Nên chú ý đến việc quan tâm đến một – hai trường hợp chính có so sánh với một vài trường hợp khác Đặc biệt là luôn có trường hợp dự phòng để tránh những biến động hoặc khách thể nghiên cứu từ chối tiếp tục hợp tác
– Rất cẩn trọng trong khi khái quát hoá những cứ liệu nghiên cứu từ nghiên cứu trường hợp vì độ khách quan của nó chưa thật sự thuyết phục
Thực chất cho thấy việc nghiên cứu Tâm lí học phát triển còn nhiều phương pháp khác như phương pháp nghiên cứu trên nhóm trẻ sinh đôi, phương pháp phỏng vấn, phương pháp trắc đạt xã hội học,… Tuy nhiên, những phương pháp trên là những phương pháp được sử dụng phổ biến trong giai đoạn hiện nay khi nghiên cứu Tâm lí học phát triển Mặt khác, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau, cho nên xu hướng hợp lí nhất là chọn lựa và phối hợp các phương pháp trên với nhau dựa vào mục tiêu nghiên cứu và khả năng thực thi để đảm bảo được tính khoa học và khả thi
Trang 37CHƯƠNG II LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
– Năm 1545, luật sư, bác sĩ Thomas Phay re – người Anh xuất bản quyển sách đấu tiên về nhi khoa trong đó đề cập đến sự phát triển của trẻ
em làm cơ sở để các bậc cha mẹ cũng như những nhà nghiên cứu về sự phát triển tâm lí trẻ em tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu
– Những tư tưởng đầu tiên tương đối có hệ thống về việc tìm hiểu tâm hồn trẻ em dược bắt đầu từ thế kỉ XVII của I.A Comenxki (Tiệp Khắc) Ông cho rằng muốn giáo dục trẻ phải tác động phù hợp tới tâm hồn trẻ
– Trong bài viết về sự hiểu biết của con người được xuất bản năm
1690 của John Locke, ông khẳng định những kiến thức con người nói chung và trẻ em nói riêng không phải tự nhiên có được vì trẻ em sinh ra là
"tấm bảng sạch" và những trải nghiệm trong cuộc sống của trẻ sẽ dần dần được khắc lên tấm bảng ấy
Trang 38– J J Rowssean (Pháp) khẳng định trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại và người lớn không phải lúc nào cũng hoàn toàn có thể hiểu trẻ, cho nên hãy để trẻ phát triển tự nhiên Ông còn khẳng định đừng đòi hỏi trẻ làm bất cứ việc gì Đừng bao giờ để cho trẻ thậm chí làm trẻ cảm nhận rằng bạn có quyền lực với trẻ Ông cho rằng khía cạnh chính của quá trình phát triển là giải pháp cho các cuộc xung đột giữa những xu hướng trẻ em với những yêu cầu của xã hội
– J H Pestalozzi (Thuỵ Sĩ) thì cho rằng: việc dạy học hệ thống có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển tâm lí trẻ em Hãy dựa trên những gì trẻ đang có để dạy cho trẻ theo một hệ thống để trẻ phát triển một cách thực sự
Rõ ràng ngay từ khi những tư tưởng nghiên cứu đầu tiên về trẻ em,
về Tâm lí học phát triển ra đời đã có sự mâu thuẫn trong cách nhìn nhận về các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí – nhân cách trẻ Đây cũng chính là một thách thức nhưng cũng là một cơ hội quan trọng để Tâm lí học phát triển có những bước tiến vượt bậc về sau
Vào thế kỉ XVIII, một số nhà Tâm lí học Nga như: V.H Tatisher, I I Noxicove cũng bắt đầu quan tâm nhiều đến việc tìm hiểu Tâm lí học phát triển Các nhà nghiên cứu này đều khẳng định những tác động bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí của trẻ em
– Tâm lí học phát triển ra đời vào nửa sau thế kỉ XIX dựa trên các cơ
sở khoa học của các tư tưởng tiến hoá Di truyền học (Darwin); sự ảnh hưởng tích cực của Triết học, Sinh vật học (Xexenop, Hegel, J Lamac,…)
– Trong thực tế đang tồn tại là giáo dục gia đình, giáo dục ngoài xã hội bị phê phán là không có cơ sở khoa học, không mang tính khoa học và
Trang 39không đem lại những hiệu quả cao như mong muốn thì nhiều nhà khoa học đều đi đến kết luận rằng cần phải hiểu biết tâm lí đối tượng, hiểu biết cơ chế về sự phát triển của trẻ em, của từng độ tuổi Đặc biệt tư tưởng của K.D Usinxki thể hiện khá rõ về vấn đề này: "Nhà giáo dục muốn giáo dục con người toàn diện phải hiểu con người về mọi mặt" đã góp phần thôi thúc việc nghiên cứu Tâm lí học phát triển lên đến một chất lượng mới – một tầm cao mới
– Bên cạnh đó, việc quan sát đặc điểm phát triển tâm lí lứa tuổi do các nhà sư phạm, giáo viên, các bậc cha mẹ,… cũng đã góp phần cho sự phát triển của Tâm lí học phát triển Cùng với những nguyên lí chung về
sự phát triển của trẻ em và những cứ liệu đã quan sát dược, các kết quả nghiên cứu về tâm lí học phát triển bắt đầu được phổ biến chi tiết và cụ thể
– Ở các nước phương Tây, các nhà bác học bắt đầu ghi chép lại những đặc điểm tâm lí trẻ em theo tuổi bằng cách sử dụng nhật kí Sau đó nhiều nghiên cứu về trẻ em tiếp tục được thực hiện
– Bên cạnh việc quan sát, tổng kết kinh nghiệm, những công trình nghiên cứu thực nghiệm bắt đầu xâm nhập vào Tâm lí học phát triển Cách nghiên cứu này có thể cung cấp một bản đặc trưng khách quan về sự phát triển của trẻ em Cũng trên kinh nghiệm này, vấn đề phương pháp nghiên cứu Tâm lí học phát triển bắt đấu được đề cập tìm hiểu
– Khoảng cuối thế kì XVIII, đầu thế kì XIX – những quyển sách khá nổi tiếng thuộc Tâm lí học phát triển có thể kể đến như "Những quan sát
về sự phát triển các năng lực tinh thần của trẻ – năm 1787" (Tidoman – Đức) nghiên cứu trẻ từ 0 đến 3 tuổi (có thể được xem như quyển sách đầu
Trang 40tiên về Tâm lí học trẻ em) và quyển "Tâm hồn trẻ thơ – năm 1881" (G.T P ray re – Đức) đã quan sát cảm giác và cảm xúc của trẻ từ 0 đến 1 tuổi cũng như vai trò của di truyền đối với sự phát triển tâm lí – cảm giác của trẻ,…
– Đầu thế kỉ XX, các nhật kí nghiên cứu về trẻ em của J.A.Xicovki, Xkupina, V.M Bekhterep,… xuất hiện, trong đó tập trung vào việc miêu
tả hành vi, mô tả sự phát triển tâm lí của trẻ theo từng giai đoạn lứa tuổi Tuy nhiên sự mô tả này còn vụn vặt và họ chưa có ý định khái quát thành
cơ sở lí luận hay đưa ra một quan niệm rõ rệt
– Cũng thời điểm này, những vận dụng bước đầu từ việc nghiên cứu Tâm lí học đại cương mà đặc biệt là Tâm lí học thực nghiệm vào giáo dục thì những yêu cầu cần phải nghiên cứu Tâm lí học phát triển một cách nghiêm túc, hệ thống bắt đầu được nảy sinh và phát triển
II TRƯỜNG PHÁI NGUỒN GỐC SINH VẬT VÀ NGUỒN GỐC XÃ HỘI TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÂM LÍ HỌC PHÁT
TRIỂN
Có thể nói đây là cơ sở khá quan trọng khi tìm hiểu về Tâm lí học phát triển Cả hai trường phái này đều tập trung giải quyết vấn đề: sự phát triển tâm lí trẻ em – các nguồn gốc và quy luật của sự phát triển tâm lí trẻ
em
1 Trường phái nguồn gốc sinh vật trong sự phát triển tâm lí trẻ
em
Quan điểm cơ bản của dòng phái này là nhân tố sinh vật và nhân tố
xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí trẻ em nhưng nhân tố sinh vật
mà trước hết là tính di truyền có tác dụng quyết định còn nhân tố xã hội chỉ đóng vai trò điều chỉnh sự phát triển tâm lí là do các tiềm năng sinh vật