Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN là một khái niệm rộng, bao gồm toàn bộ những công việc liên quan đến các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban ngàn
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HỒNG MIÊN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2016
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2019
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HỒNG MIÊN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2016
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 62 22 03 15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS,TS Nguyễn Danh Tiên
2 TS Nguyễn Duy Hạnh
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu nêu ra trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy
đủ theo quy định
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Hồng Miên
Trang 4luận án và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu 27
Chương 2: QUÁ TRÌNH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP
2.1 Những yếu tố tác động đến quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ 32 2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam từ năm 1996
Chương 3: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN
3.1 Bối cảnh mới và chủ trương của Đảng về đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 70 3.2 Đảng chỉ đạo đẩy mạnh đổi mới nội dung, phương thức hoạt động
4.1 Nhận xét quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016 112 4.2 Một số kinh nghiệm của Đảng về lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016 137
Trang 6Biểu đồ 4.1: Bảng so sánh số cán bộ Hội được tập huấn về công tác giải
quyết đơn thư, tư vấn pháp luật từ năm 1997 đến năm 2017 120 Biểu đồ 4.2: Bảng so sánh số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được Hội
giúp đỡ và thoát nghèo từ năm 2002 đến năm 2016 121 Biểu đồ 4.3: Bảng so sánh tỷ lệ nữ đại biểu Quốc Hội và Hội đồng nhân
dân các cấp từ khóa IX đến khóa XIII (1997-2016) 124 Biểu đồ 4.4: Bảng so sánh sự phát triển hội viên phụ nữ trong tổ chức
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ là lực lượng xã hội to lớn, đóng góp vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam Ngay từ khi ra đời, Đảng đã sớm quan tâm tổ chức
ra các đoàn thể phụ nữ, từ tổ chức Phụ nữ Giải phóng đến Hội phụ nữ Dân chủ, Hội phụ nữ Phản đế và hiện này là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (LHPNVN) để vận động, tập hợp, đoàn kết phát huy sức mạnh của phụ nữ trong đấu tranh cách mạng, trong đời sống xã hội, thực hiện bình đẳng giới (BĐG) Giải phóng phụ nữ và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là một thành tố trong hệ thống chính trị (HTCT), là tổ chức chính trị - xã hội đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ; là nơi tập hợp đoàn kết, vận động, tổ chức phụ nữ thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và vận động xã hội tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước, thực hiện BĐG HLHPNVN trở thành cầu nối giữa Đảng với đông đảo quần chúng phụ nữ Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng nhận thức rõ hơn về
vị trí, vai trò của HLHPN trong HTCT, xã hội và luôn quan tâm đến việc lãnh đạo hoạt động của HLHPN Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội LHPNVN đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Đồng thời, Hội đã tích cực tham gia các hoạt động của phụ nữ trong khu vực và quốc tế, tranh thủ sự ủng
hộ của các tổ chức phụ nữ quốc tế đối với phong trào hoạt động của phụ nữ Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Tuy nhiên, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động của HLHPNVN và công tác phụ nữ (CTPN) còn bộc lộ những hạn chế nhất định: “Định hướng lãnh đạo, chính sách, phương pháp, công tác vận động phụ nữ còn thiếu cụ thể, chưa sát hợp với từng đối tượng, khu vực, vùng, miền chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu đổi mới” [37, tr.2] Những nội dung, phương thức hoạt động (NDPTHĐ) của HLHPNVN
Trang 8chưa đáp ứng được yêu cầu tình hình thực tế Đó là, việc động viên, thu hút phụ nữ tuy được đánh giá là cơ bản hoàn thành về chỉ tiêu phát triển hội viên nhưng còn nhiều khó khăn, thành phần các đối tượng hội viên chưa đồng đều, chất lượng chưa cao Hoạt động của Hội chưa thực sự đáp yêu cầu của các tầng lớp phụ nữ Tổ chức Hội ở một số nơi vẫn còn tình trạng “hành chính hóa” Việc tham mưu, chỉ đạo, điều hành tổ chức hoạt động của Hội còn nhiều lúng túng Hoạt động giám sát thực hiện luật pháp, chính sách, công tác phản biện
xã hội ở nhiều địa phương chưa hiệu quả Trình độ, năng lực, tính chủ động sáng tạo của một bộ phận cán bộ Hội cấp cơ sở còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác Hội trong tình hình mới
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, nhiều vấn đề trong nước và quốc tế đã và đang đặt ra cho công tác vận động và
tổ chức quần chúng, không chỉ của Đảng mà với tất cả các thành viên của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), trong đó có HLHPNVN Ðể đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Ðảng ta đặc biệt coi trọng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên sự nỗ lực vượt bậc của toàn dân, trong đó có phụ
nữ Đổi mới NDPTHĐ để hoàn thành tốt các nhiệm vụ của Hội được xem là vấn đề có ý nghĩa sống còn Do đó, đòi hỏi Đảng và các cấp chính quyền phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với CTPN và đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN “để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện BĐG” [37, tr.3] Do vậy, nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống việc Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN, đúc rút kinh nghiệm, phát huy những ưu điểm, khắc phục hạn chế là vấn đề cấp thiết có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của HLHPNVN, góp phần quan trọng tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh vững chắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN)
Trang 9Với ý nghĩa đó, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt của Hội Liên hiệp Phụ nữ từ năm 1996 đến năm 2016” làm đề tài Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình nghiên cứu về phụ nữ, CTPN nói chung và đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN nói riêng
- Làm rõ các yếu tố tác động đến quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016
- Phân tích, luận giải hệ thống những quan điểm, chủ trương, đường
lối của Đảng về CTPN, đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN và quá trình Đảng chỉ đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN qua 2 giai đoạn 1996 -
2006 và 2006 - 2016
- Đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan, khoa học về những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016
- Bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Luận án nghiên cứu chủ trương và quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPN từ năm 1996 đến năm 2016
Trang 103.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN là một
khái niệm rộng, bao gồm toàn bộ những công việc liên quan đến các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban ngành thực hiện các hoạt động của HLHPNVN vì sự tiến bộ, phát triển của phụ nữ và BĐG với các phương pháp, hình thức, biện pháp tiến hành để thực hiện các nội dung hoạt động của Hội Luận án tập trung làm rõ chủ trương và quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN với các vấn đề: Nâng cao vai trò của HLHPNVN trong HTCT, từng bước xây dựng, bổ sung chính sách pháp luật về CTPN; các hoạt động thực hiện vai trò đại diện, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, nâng cao quyền làm chủ cho phụ nữ Phương thức tham mưu với cấp
ủy đảng, chính quyền về các vấn đề liên quan đến CTPN và BĐG; hoạt động phối hợp với chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể trong thực hiện nhiệm
vụ chính trị; công tác chỉ đạo trong hệ thống Hội và hoàn thiện tổ chức, bộ máy, công tác cán bộ Hội
Về không gian: Luận án nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới
NDPTHĐ của HLHPNVN
Về thời gian: Luận án nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới
NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016 Năm 1996 là năm Đại hội lần thứ VIII, Đảng đề ra đường lối chuyển hướng đất nước sang thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH với sự đổi mới toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội Năm 2016 là năm Đại hội lần thứ XII, tổng kết 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN Tuy nhiên, lịch sử là một quá trình liên tục nên trong quá trình nghiên cứu luận án có sử dụng một số tài liệu liên quan trước năm 1996 và sau năm 2016
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, của Đảng về phụ nữ
và CTPN
Trang 114.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là chủ yếu Bên cạnh đó, luận án sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê; so sánh; phỏng vấn các nhân chứng lịch sử, kết hợp với các phương pháp liên ngành của khoa học xã hội
+ Phương pháp lịch sử được sử dụng ở chương 2 và chương 3 để phân kỳ thời gian; làm rõ hoàn cảnh lịch sử; trình bày hệ thống chủ trương, quan điểm và
sự chỉ đạo của của Đảng về đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN
+ Phương pháp lôgic sử dụng ở chương 2, chương 3 và chương 4 để xâu chuỗi các sự kiện, liên kết các nội dung làm rõ sự phát triển về nhận thức và quá trình hoàn thiện chủ trương của Đảng về lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN và khái quát những ưu điểm, hạn chế, rút ra những kinh nghiệm qua thực tiễn quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm
1996 đến năm 2016
+ Phương pháp phân tích tổng hợp: Thu thập, phân tích và đánh giá các nguồn tài liệu liên quan, gồm các văn kiện của Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương; các công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu
về vấn đề đổi mới NDPTHĐ của các tổ chức chính trị nói chung và HLHPNVN nói riêng
+ Phương pháp thống kê, so sánh, đánh giá: Thống kê, so sánh kết quả đạt được trong đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN qua các giai đoạn; đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế của việc đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN
+ Kết hợp với các phương pháp liên ngành của khoa học xã hội để đánh giá sự lãnh đạo của Đảng với đổi mới NDPTHĐ của HLHPN đã góp phần
làm thay đổi toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ Việt Nam
4.3 Nguồn tư liệu
Luận án chủ yếu dựa vào các nguồn tài liệu, bao gồm:
- Một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CTPN
Trang 12- Các Văn kiện Đại hội lần thứ VIII, IX, X, XI, XII của Đảng; các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Bí thư về CTPN; các văn kiện của Nhà nước về CTPN
- Các Văn kiện Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI; các báo cáo tổng kết năm, tổng kết nhiệm kỳ của HLHPNVN
- Các công trình khoa học liên quan đến phụ nữ, tổ chức, hoạt động của HLHPNVN; các bài tạp chí được đăng tải trên các tạp chí Trung ương
và địa phương, trên các trang Web của các cơ quan tổ chức liên quan đến vấn đề phụ nữ
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Góp phần hệ thống chủ trương và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016
- Nhận xét quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016
- Góp phần tổng kết thực tiễn quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN giai đoạn 1996 - 2016
- Các kinh nghiệm luận án đúc kết nhằm tiếp tục đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN, góp phần thực hiện tốt chủ trương của Đảng về CTPN trong giai đoạn tiếp theo
6 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án dùng làm tài liệu tham khảo, giúp HLHPNVN và HLHPN các cấp ở cơ sở nghiên cứu, tiếp tục đổi mới NDPTHĐ trong giai đoạn tiếp theo
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ học tập, nghiên
cứu về phụ nữ và CTPN trong các trường đại học và cao đẳng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương, 8 tiết
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Phụ nữ và CTPN là một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, dưới nhiều góc độ khác nhau Thời gian qua,
có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề CTPN, đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN được công bố dưới các hình thức như: Sách, bài viết trên tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học và luận án Tiến sỹ Có thể khái quát thành những nhóm công trình chủ yếu sau đây:
1.1.1 Các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng về phụ nữ, công tác vận động phụ nữ
Cuốn sách, Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ
[19], tác giả Trần Dương đã nêu quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, Người rất coi trọng sự nghiệp giải phóng phụ nữ trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng Theo Người, trình độ giải phóng phụ nữ được coi là thước đo của trình độ phát triển xã hội; quan điểm của Hồ Chí Minh
về xác lập, đảm bảo quyền bình đẳng và chăm lo cho sự tiến bộ của phụ nữ; khẳng định: “Vai trò của người phụ nữ ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng trong xã hội, đặc biệt là sự tiến bộ của phụ nữ trong thời đại mới” Đồng thời, tác giả đã phân tích vai trò to lớn của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ, BĐG và sự tiến bộ của phụ nữ
Cuốn sách, Quan điểm của Đảng, Nhà nước và chủ tịch Hồ Chí Minh về
phụ nữ và công tác phụ nữ [87] của HLHPNVN đã trình bày quan điểm của
Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, về quyền bình đẳng và sự tiến bộ của phụ nữ; vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, sử dụng cán bộ nữ; về tăng
Trang 14cường BĐG và nâng cao vị thế năng lực của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Cuốn sách, Bác Hồ với sự tiến bộ của phụ nữ [147], các tác giả Như
Quỳnh, Lê Minh Cầm và Minh Hiền đã trình bày những quan điểm, tư tưởng tiến bộ của Bác về vấn đề giải phóng phụ nữ và sự tiến bộ của phụ nữ Theo
Hồ Chí Minh: “Giải phóng phụ nữ là công việc của toàn Đảng, toàn xã hội và của nhân dân, phụ nữ phải được học văn hóa, được giáo dục, đào tạo thành những công dân XHCN Giải phóng phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong sự nghiệp giải phóng của cách mạng” Đồng thời, các tác giả đã phân tích vai trò của phụ nữ đối với sự phát triển của đất nước; trình bày những câu chuyện về tình thương yêu, sự quan tâm dạy bảo của Bác với chị em phụ nữ
và những kỷ niệm sâu đậm, những tình cảm tha thiết của phụ nữ dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh
Cuốn sách, Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa [151] của Đỗ Thị Thạch đã: “Hệ thống hóa các
quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước, phương hướng xây dựng đội ngũ nữ trí thức ở nước ta hiện nay”; khẳng định phẩm chất, trí tuệ của người phụ nữ trong xây dựng đất nước; những yếu tố tác động đến phẩm chất, trí tuệ của người phụ nữ; phân tích, đánh giá đặc điểm, vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đặc biệt là vai trò của đội ngũ nữ trí thức; đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và phát huy năng lực của lực lượng trí thức nữ trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Cuốn sách, Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống
chính trị [52], tác giả Nguyễn Đức Hạt đã trình bày quan điểm của Đảng về công
tác cán bộ nữ, xác định: “Cán bộ nữ là lực lượng nòng cốt trong phong trào phụ
nữ, do vậy xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là tất yếu khách quan, là định hướng chính trị cụ thể cho việc thực hiện công tác cán bộ nữ” Đồng thời, tác giả đã nghiên cứu, góp phần làm sáng tỏ những luận cứ khoa học về việc nâng cao vị trí, vai trò, năng lực
Trang 15lãnh đạo của cán bộ nữ; tăng cường sự tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ trong hệ thống bộ máy tổ chức của Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể nhân dân trong tình hình mới
Các bài viết, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ [118], của Đặng Thị Lương; Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ [149], tác giả
Thái Sơn đã trình bày quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ trong
xã hội, khẳng định: “Con đường giải phóng dân tộc cũng là con đường giải phóng phụ nữ” Các tác giả xác định: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ trong bối cảnh hiện nay, muốn phát huy vai trò của phụ nữ phải có chủ trương, chính sách, pháp luật cụ thể để đưa họ tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, phát huy hết tiềm năng trong xây dựng đất nước” Sự nghiệp giải phóng phụ nữ phụ thuộc vào chính sự cố gắng, phấn đấu của bản thân phụ nữ
Bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác đào tạo bồi dưỡng và đề bạt
cán bộ nữ [141] của Hoàng Thị Nữ; Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ
nữ và xây dựng đội ngũ cán bộ nữ [122], tác giả Nguyễn Thị Mão đã khẳng định
quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CTPN, xác định vai trò, vị trí và những đóng góp to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, từ đó thấy được tầm quan trọng của công tác cán bộ nữ Các tác giả khẳng định: “công tác cán bộ nữ phải được quan tâm đặc biệt; phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc và sử dụng cán bộ nữ, tạo mọi điều kiện để phụ nữ tham gia vào mọi hoạt động của xã hội, kể cả công tác lãnh đạo, quản lý để phụ nữ phát huy được vai trò của mình trong xây dựng và phát triển đất nước” Qua đó, các tác giả đưa ra những đề xuất nhằm thực hiện tốt công tác cán bộ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Bài viết, Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Hội Liên hiệp phụ nữ
Việt Nam - Thực trạng và những giải pháp đổi mới [74], của HLHPNVN đã
chỉ rõ: Những cơ sở khoa học, thực tiễn của mối quan hệ giữa HLHPNVN với Đảng - tổ chức sáng lập và lãnh đạo Hội cũng như các tổ chức đoàn thể nhân dân khác trong suốt quá trình cách mạng; quan hệ phối hợp hành động
Trang 16với Nhà nước - cơ quan quản lý xã hội Đồng thời, nghiên cứu cũng phân
tích thực trạng và đề ra những giải pháp để HLHPNVN thực hiện tốt vai trò của mình trong giám sát và phản biện xã hội
Bài viết, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam với việc triển khai Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ XI về vấn đề phụ nữ [58], tác giả Nguyễn Thị Thanh Hòa
đã khẳng định: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, HLHPNVN quyết tâm cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, chủ động xây dựng kế hoạch, triển khai những vấn đề trực tiếp, cơ bản về BĐG và CTPN; xây dựng Báo cáo Đại hội bảo đảm quán triệt và thực hiện các nhiệm
vụ đề ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) Bài viết là tài liệu tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đến các cấp Hội
Bài viết, Công tác tuyên truyền của Đảng nhằm nâng cao vai trò của
phụ nữ trong phát triển kinh tế tri thức [117], tác giả Lê Lục khẳng định:
“Thông qua công tác tuyên truyền, vận động làm thay đổi nhận thức của mỗi người về vai trò của phụ nữ, đặc biệt là phải làm sao cho nhận thức đó chuyển hóa thành hành vi, thái độ ứng xử bình đẳng với phụ nữ”; cần tăng cường các hoạt động tập huấn để các tài liệu tuyên truyền, giáo dục pháp luật về giới và BĐG đến được với tất cả phụ nữ và cộng đồng; đồng thời, phụ nữ phải tự phấn đấu, rèn luyện các kỹ năng cần thiết của nhà lãnh đạo, đặc biệt là khắc phục một số yếu điểm của giới mình trong công tác lãnh đạo, quản lý để khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế tri thức
Bài viết, Tiếp tục tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong đời sống
chính trị của đất nước [62], của Nguyễn Thị Thanh Hòa; Quan tâm hơn nữa việc thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia các hoạt động quản lý Nhà nước, xã hội [111] của Hà Thị Khiết, đã khẳng định: “Quan
điểm của Đảng, Nhà nước về giải phóng phụ nữ, về quyền bình đẳng và sự tiến bộ của phụ nữ; về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ sử dụng cán bộ nữ”; trên quan điểm của Đảng, Nhà nước về phụ nữ, vai trò của phụ nữ trong
Trang 17thời kỳ đổi mới, các tác giả khẳng định: Vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam và trách nhiệm của HLHPNVN trong đời sống chính trị của đất nước thời kỳ đổi mới Các tác giả kiến nghị Đảng, Nhà nước tiếp tục quan tâm chỉ đạo hoạt động của HLHPNVN, tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy khả năng của mình trong đời sống chính trị của đất nước
Công trình nghiên cứu, Sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo và
quản lý ở Việt Nam [107], của Jean Munro và các cộng sự, nghiên cứu dưới góc
độ nhân học, đã đánh giá sơ lược thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong vai lãnh đạo và quản lý trong khu vực Nhà nước của Việt Nam; phân tích những cản trở và thách thức đối với sự thăng tiến của phụ nữ trong khu vực Nhà nước; đánh giá vai trò của phụ nữ trong lãnh đạo quản lý ở Việt Nam Từ đó, đề cập đến: chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về CTPN và các khuyến nghị chính sách đối với phụ nữ và CTPN trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Đề tài, Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ vận trong thời kỳ mới
[156] của Lê Thị Thu đã điều tra, phân tích, đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò nòng cốt của HLHPNVN đối với CTPN trong thời kì đổi mới; việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế thực hiện công tác vận động phụ nữ Đề tài nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với việc nâng cao năng lực cho phụ nữ trên nhiều phương diện Từ đó, tác giả chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế và đề xuất những phương hướng, giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ vận trong công cuộc CNH, HĐH đất nước
Kỷ yếu hội thảo khoa học, Những vấn đề lý luận về công tác phụ nữ ở
Việt Nam trong tình hình mới [100] Các bài viết của các nhà khoa học đã bàn
luận khá sâu sắc các vấn đề lý luận về quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác- Lê nin về CTPN, các lý thuyết phát triển phụ nữ hay những nỗ lực đổi mới theo hướng kiến tạo, phục vụ của Chính phủ, quyền con
Trang 18người của phụ nữ, các vấn đề đặt ra liên quan đến phụ nữ và gia đình, thúc đẩy
sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, vấn đề thực hiện BĐG, đổi mới và phát triển tổ chức HLHPNVN
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về phụ nữ và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
* Các công trình nghiên cứu chung về phụ nữ
Cuốn sách, Vai trò địa vị của người phụ nữ Việt Nam những ghi nhận
mang tính lịch sử về giới nữ và quyền nữ giới [136] của Nhà xuất bản Lao
động-Xã hội đã trình bày khái quát địa vị, nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong
xã hội xưa - nay và sự phát triển mang tính thời đại; những ghi nhận mang tính lịch sử về nữ giới và quyền nữ giới; những đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ xưa đến nay góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp; vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh; đánh giá về nhan sắc và tài năng của phụ nữ Việt Nam trên các lĩnh vực trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Cuốn sách, Phụ nữ Việt Nam bước vào thế kỷ XXI [70] của HLHPNVN
đã nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong tiến trình lịch sử phát triển đất nước từ khi có Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng đến đầu thế kỷ XXI Công trình đã góp phần đánh giá ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn vai trò của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong 15 năm đổi mới từ năm 1986 đến năm 2001
Cuốn sách, How Remarkable Women Lead (Cách người phụ nữ xuất
chúng lãnh đạo) [197] tác giả Joanna Barsh, Susie Cranston đã trình bày những
kinh nghiệm về sự thành công của những người phụ nữ trên thế giới; những câu chuyện cá nhân về “người thật, việc thật” và sự hiểu biết sâu sắc về vai trò của người phụ nữ trong xã hội hiện đại; khẳng định, các nữ lãnh đạo là những con người đầy tham vọng, quyết đoán, tự tin và biết cân nhắc rủi ro Họ nói lên chính kiến và vận mệnh của mình Đồng thời, họ cũng biết cảm thông, tích cực, vui vẻ, kết nối và quan tâm đến người khác Những tính cách này đã làm nên chân dung
Trang 19một người phụ nữ lãnh đạo Các tác giả khẳng định: “Để thành công phụ nữ phải luôn có sự đam mê, tự tin quyết đoán và luôn chủ động xây dựng chiến lược phát triển thiết thực mang tính đột phá trong công việc và cuộc sống”
Cuốn sách, Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và công
cuộc đổi mới đất nước [79] của HLHPNVN đã làm rõ vai trò to lớn của người
phụ nữ Việt Nam trong tiến trình lịch sử gần 80 năm (1930-2007) dưới sự lãnh đạo của Đảng Đồng thời, công trình đã: Nêu bật những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện sự quan tâm sâu sắc đối với phụ nữ và phong trào phụ nữ; đề cao và khẳng định vai trò, vị trí và sức mạnh to lớn của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Công trình đã tiếp tục chứng minh và khẳng định sự đúng đắn về chủ trương và quá trình lãnh đạo của Đảng đối với CTPN; đồng thời, nêu bật sự cố gắng, nỗ lực, những đóng góp to lớn của phụ nữ trong
sự nghiệp cách mạng của dân tộc
Cuốn sách, Sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất
nước [195] tác giả Dương Thị Xuân đã trình bày quan điểm của Đảng và Nhà
nước về sự tiến bộ của phụ nữ trong thời kỳ đổi mới; đồng thời, nêu lên những kết quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thời kỳ đổi mới đất nước; Tác giả khẳng định: “Phụ nữ Việt Nam không chỉ
có vị trí, vai trò trong nước mà còn có vị thế quan trọng trên trường quốc tế trong thời kì CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế”
Cuốn sách: Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước và
hội nhập quốc tế [139] của Hoàng Thị Ái Nhiên đã trình bày quan điểm của
Đảng và nhà nước về vai trò của người phụ nữ, khẳng định: “Phụ nữ tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội, là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải, vật chất và tinh thần cho xã hội Đặc biệt, phụ nữ có vị trí hết sức quan trọng trong gia đình với vai trò làm vợ, làm mẹ, là người thầy đầu tiên của con người” Tác giả nêu lên những kết quả trong các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Trang 20của phụ nữ Việt Nam, đồng thời, khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế
Cuốn sách, Hai mươi năm một chặng đường phát triển của phụ nữ Việt
Nam (1975-1995) [65] của HLHPNVN đã trình bày những hoạt động cơ bản và
đánh giá vai trò của phụ nữ Việt Nam từ sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đến những năm đầu tiến hành sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN Qua đó, khẳng định: “Phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; đồng thời, dự báo những bước
đi tiếp theo để phụ nữ Việt Nam hòa nhập, tiến vào thế kỷ XXI
Cuốn sách, Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [8] của các tác giả Đỗ Thị Bình, Lê
Văn Ngọc và Nguyễn Linh Khiếu đã phân tích làm rõ vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong gia đình thời kỳ CNH, HĐH đất nước Công trình đã tiếp tục khẳng định: Phụ nữ Việt Nam có vai trò to lớn trong gia đình và xã hội Họ vừa đảm nhiệm công việc gia đình, vừa thực hiện tốt công việc xã hội Tuy nhiên, truyền thống gia đình Việt Nam đã ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động xã hội của người phụ nữ
Cuốn sách, Gia đình Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong giai đoạn hiện
nay [128] tác giả Dương Thị Minh đã trình bày những đặc điểm cơ bản của gia
đình Việt Nam; phân tích làm rõ vai trò quan trọng của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam, đó là: “Vai trò làm vợ, làm mẹ, là người thầy đầu tiên của con người và vai trò tham gia sản xuất tạo thu nhập cho gia đình” Đồng thời, tác giả nêu lên những nhân tố cơ bản tác động đến sự biến đổi của gia đình thời hiện đại
và xu hướng biến đổi vai trò của phụ nữ; đưa ra các giải pháp để phát huy vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong xây dựng gia đình hạnh phúc
Cuốn sách, Việt Nam Điều tra, đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ
2006 [180] của Tổng cục thống kê và UNICIF; Việt Nam Điều tra, đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2014 [181] của Tổng cục thống kê và UNICIF
đã trình bày những nghiên cứu trên diện rộng các vấn đề ảnh hưởng tới sức
Trang 21khỏe, sự phát triển, điều kiện sống của phụ nữ và trẻ em Kết quả nghiên cứu
đã đánh giá thực tiễn những khó khăn của phụ nữ và trẻ em Việt Nam đang gặp phải trong cuộc sống, đó là: “Phụ nữ Việt Nam chủ yếu là lao động giản đơn với sự hạn chế về trình độ, ít được đào tạo chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, khả năng tiếp cận việc làm thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao” Công trình nghiên cứu phục vụ cho việc đánh giá về thực hiện các mục tiêu quốc gia và cam kết quốc
tế và làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với phụ nữ và trẻ em trong thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước
Cuốn sách, Việc làm, đời sống phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt
Nam [153] tác giả Lê Thi đi sâu phân tích thực trạng việc làm và những vấn đề
khó khăn trong đời sống của phụ nữ trong quá trình chuyển đổi kinh tế thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, khẳng định: Lao động nữ Việt Nam chiếm 48% lực lượng lao động xã hội, phần lớn là lao động giản đơn có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thấp, hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp nên luôn gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm và nguy cơ thất nghiệp, đời sống luôn gặp khó khăn Tác giả cho rằng: “Để giải quyết vấn đề việc làm và đời sống cho phụ nữ, cần phải có những chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước để tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển kinh tế, khẳng định vai trò trong gia đình và xã hội”
Luận án, Vai trò của nữ cán bộ quản lý Nhà nước trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa [121] của Võ Thị Mai đã nghiên cứu sâu về vấn đề giới
và vấn đề nữ cán bộ quản lý trong bộ máy Nhà nước, làm rõ thực trạng và xu hướng biến đổi vai trò nữ cán bộ trong quá trình CNH, HĐH đất nước; phân tích thực trạng, chỉ ra các yếu tố tác động đến vai trò của nữ cán bộ trong quản lý Nhà nước Luận án khẳng định: “Trong công tác cán bộ ở nước ta thời kỳ CNH, HĐH vẫn có khoảng cách lớn về vấn đề giới, chưa đánh giá đúng tiềm năng của phụ nữ, chưa có giải pháp quy hoạch phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao một cách phù hợp” Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa
vị thế, vai trò của phụ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước trước những đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Trang 22Luận án, Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt
Nam hiện nay [106] của Nguyễn Thị Giáng Hương đã nghiên cứu sâu về nguồn
nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam; đánh giá vai trò to lớn của nguồn nhân lực nữ chất lượng cao trong phát triển kinh tế, xã hội Tác giả khẳng định:
“Nguồn nhân lực nữ chất lượng cao là yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Luận án phân tích thực trạng, chỉ ra các yếu tố tác động và đề xuất một số giải pháp để phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao, góp phần phát huy vai trò và tiềm năng của phụ nữ trong phát triển kinh tế, xã hội ở Việt Nam hiện nay
Bài viết: Hoạt động và đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa [57] tác giả Nguyễn Thị Thanh Hòa đã
phân tích vai trò quan trọng của phụ nữ trong thời kỳ mới; trình bày những hoạt động sáng tạo, đa dạng, phong phú của phụ nữ Việt Nam trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong xây dựng gia đình và phát triển kinh tế Tác giả khẳng định: “Chiếm hơn 70% lao động nông thôn, phụ nữ Việt Nam có vai trò
to lớn trong xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới Việc phát huy vai trò to lớn của phụ nữ đã góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”
Bài viết, Hoạt động và đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong những
năm gần đây [146] tác giả Lê Thị Quý đã trình bày những đóng góp to lớn
của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế, xã hội thời kỳ đổi mới Tác giả khẳng định: Khi được tham gia lãnh đạo, quản lý, được trao quyền cùng với việc trau dồi về phẩm chất, năng lực, phụ nữ đã từng bước khẳng định vai trò của mình trong phát triển kính tế, xã hội Đặc biệt, phụ nữ có điều kiện thuận lợi để phát huy tiềm năng, trí tuệ và sáng tạo đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Bài viết: Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay [148] của
Phạm Hạnh Sâm đã khẳng định: Sự tham gia lãnh đạo, quản lý giúp người phụ
nữ thực hiện tốt vai trò đại diện cho ý trí, nguyện vọng của chính bản thân phụ
Trang 23nữ; được trao quyền, cùng với việc trau dồi về phẩm chất, năng lực thực sự giúp phụ nữ tự khẳng định mình trong hoạt động thực tiễn Đồng thời, phụ nữ có điều kiện thuận lợi để phát triển tiềm năng, sức lực và trí tuệ, đóng góp nhiều hơn cho
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và cho sự nghiệp BĐG
Các bài viết: Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế đến
năm 2000 [55] tác giả Trương Mĩ Hoa; Về năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị [120] của Võ Thị Mai; Phát huy nội lực của phụ nữ trong phát triển kinh tế và giảm nghèo bền vững [61] tác giả Nguyễn Thị
Thanh Hòa; Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong công tác lãnh đạo, quản
lý ở nước ta hiện nay [152] của Đỗ Thị Thạch, đã khẳng định vai trò to lớn của
phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước; phân tích những đóng góp của phụ nữ trong việc tham gia phát triển kinh tế, xã hội và quán lý nhà nước Các tác giả khẳng định: “Trong thời kỳ CNH, HĐH, phụ nữ Việt Nam đã phát huy tiềm năng trong phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới” Qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ và phát huy tiềm năng to lớn của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
và hội nhập quốc tế
Công trình nghiên cứu, Nghiên cứu về doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ
nữ làm chủ ở Việt Nam: thực trạng và khuyến nghị chính sách [53] của
HAWAS, ADB, MBI, đã đánh giá thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp, kinh tế tư nhân của Việt Nam; phân tích những thuận lợi và thách thức đối đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ do phụ nữ làm chủ; đánh giá tầm quan trọng của doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa do phụ
nữ làm chủ trong sự phát triển của nền kinh tế theo hướng thị trường Từ đó, đề cập đến chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và các khuyến nghị chính sách đối với phụ nữ và doanh nghiệp vừa và nhỏ do phụ nữ làm chủ trong xây dựng và phát triển đất nước
Trang 24Công trình nghiên cứu, Lao động nữ trong công nghiệp Việt Nam thời kỳ
đổi mới [187] của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học về Lao động nữ đã chỉ ra thực
trạng tình hình lao động nữ trong các khu công nghiệp ở Việt Nam; vấn đề việc làm và đời sống của lao động nữ trong các khu công nghiệp, khẳng định: “Đời sống của phụ nữ còn gặp nhiều khó khăn Người phụ nữ chưa thực sự được đối
xử công bằng trong phát triển kinh tế, Doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đúng mực đến đời sống của phụ nữ” Khuyến nghị Chính phủ Việt Nam cần quan tâm đến việc chăm lo cho đời sống phụ nữ, đặc biệt là lao động nữ tại các khu công nghiệp; cần có những chính sách phù hợp để phát huy vai trò của phụ
nữ trong phát triển kinh tế xã hội hiện nay
Cuốn sách, Những vấn đề giới: từ lịch sử đến hiện đại [113] của Phan
Thanh Khôi và Nguyễn Thị Thạch đã trình bày những nghiên cứu về giới theo quan điểm của C.Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin và Hồ Chí Minh; vấn đề giới trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Các tác giả khẳng định: “Ngay từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cao tư tưởng
“nam nữ bình quyền”, đến nay tư tưởng đó vẫn xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng” Để giải phóng phụ nữ, Đảng chỉ rõ: Phải đưa phụ nữ vào các tổ chức riêng, từ đó, HLHPNVN ra đời Khẳng định: “Đảng có nhiều chủ trương, chính sách chỉ đạo sự nghiệp giải phóng phụ nữ để phụ nữ có thể phát huy vai trò to lớn của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội” Đây là công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ về vấn đề giới, là căn cứ lý luận và thực tiễn
về thực trạng giới ở nước ta hiện nay; là một trong những cơ sở để hoạch định chính sách hướng đến mục tiêu BĐG và vì sự tiến bộ của phụ nữ ở nước ta
Cuốn sách, Globalisation, Gender and Work in the Context of
Economic Transition: The Case of Viet Nam (Toàn cầu hóa, Giới và việc làm trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế: Trường hợp của Việt Nam) [198] của
Naila Kabeer đã nghiên cứu vấn đề việc làm trong bối cảnh toàn cầu hóa với
sự chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam Tác giả đã chỉ ra vấn đề bất BĐG trong phát triển kinh tế ở Việt Nam; những khó khăn của lao động nữ trong
Trang 25vấn đề tìm kiếm việc làm Tác giả khẳng định: “Lao động nữ Việt Nam phần lớn có trình độ thấp, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp kém, chưa qua đào tạo Trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, lao động nữ Việt Nam đứng trước nguy cơ thất nghiệp cao” Qua đó, tác giả khuyến nghị Chính phủ tăng cường chính sách BĐG, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chuyên môn nghề nghiệp cho lao động
nữ, phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
Cuốn sách, Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình [116] tác giả Nguyễn
Linh đã nghiên cứu khá cơ bản về các vấn đề phụ nữ, giới và gia đình, trình bày sâu sắc cơ sở lý luận, khoa học và mối quan hệ giữa các vấn đề phụ nữ, giới và gia đình; phân tích vị trí, vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới, những nhân tố tác động đến quá trình giải phóng phụ nữ, BĐG và xây dựng gia đình XHCN Đồng thời, cuốn sách đã đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của thực trạng và đề ra các nhóm giải pháp để góp phần giải phóng phụ
nữ, thực hiện BĐG và xây dựng gia đình, phát huy vai trò của người phụ nữ trong thời kì cách mạng mới
Đề tài, Nghiên cứu định kiến giới đối với cán bộ nữ lãnh đạo các cấp
trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế [50] tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đã tập
trung nghiên cứu và chỉ ra: Những quan niệm, định kiến đối với phụ nữ trong lịch sử; thực tế vấn đề thực hiện BĐG và những chính sách đối với phụ nữ trên trên các lĩnh vực; thực trạng vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, kinh tế
Từ đó, tác giả chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất những phương hướng, giải pháp cơ bản để thực hiện BĐG và nâng cao vai trò của cán bộ nữ lãnh đạo các cấp trong thời kì đổi mới, hội nhập quốc tế
Gần đây, các tổ chức phi Chính phủ hợp tác với Việt Nam thực hiện các nghiên cứu về đói nghèo, BĐG và phát triển, vấn đề phụ nữ ở Việt Nam Tiêu
biểu là các công trình khoa học: Khác biệt giới trong nền kinh tế chuyển đổi ở
Việt Nam: Các phát hiện quan trọng về giới Điều tra mức sống ở Việt Nam lần
Trang 262, (1997-1998) [108] của Jordan D.Ryan, Jean-Francois Ghyoot; Bình đằng giới trong pháp luật Việt Nam [20] của Đại sứ quán Phần Lan Hà Nội; Báo cáo nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ Việt Nam [54] của
Henrica A.F.M Jansen và các cộng sự Những công trình khoa học này đã chỉ
ra vấn đề bất BĐG trong gia đình, xã hội của phụ nữ Việt Nam: Người phụ nữ còn bị phân biệt trong các hoạt động xã hội Họ chưa thực sự được đối xử công bằng trong các tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế, xã hội còn bị hạn chế, những cản trở phát huy năng lực nội sinh của phụ nữ Người phụ nữ còn bị bạo hành trong gia đình Khuyến nghị Chính phủ Việt Nam cần quan tâm đến việc chăm lo cho đời sống phụ nữ, đặc biệt là phụ
nữ nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số; cần thực hiện tốt chính sách BĐG và phát triển để phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế, xã hội hiện nay
Công trình nghiên cứu, Phát huy vai trò của phụ nữ trong công cuộc
phát triển bền vững ở Việt Nam [193] của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế
Trung ương, đã đánh giá thực trạng hoạt động và đóng góp của phụ nữ trong sự phát triển kinh tế, xã hội; chỉ ra thực trạng hiện nay, phụ nữ còn bị phân biệt trong các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội; những cản trở phát huy năng lực của phụ nữ; khuyến nghị Chính phủ Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý và chính sách đối với CTPN để phát huy vai trò to lớn của của phụ nữ trong xây dựng và phát triển đất nước
Cuốn sách, Enterprising Women: Expanding Economic Opportunities in
Africa (Phụ nữ dám nghĩ dám làm: Mở rộng cơ hội kinh tế ở Châu Phi) [196]
của Africa Development Forum đã trình bày vấn đề phát triển kinh tế của doanh nhân nữ khu vực Châu Phi và cận Sahara; chỉ ra sự bất bình đẳng trong hoạt động kinh doanh, những thách thức lớn đối với phụ nữ trong phát triển doanh nghiệp; phân tích vấn đề khoảng cách giới trong các loại hình kinh doanh mà phụ nữ và nam giới điều hành Tác giả nêu ra 4 lĩnh vực chính của Chương trình Nghị sự mở rộng cơ hội phát triển kinh tế của phụ nữ là: Tăng cường quyền sở hữu và kinh nghiệm kiểm soát tài sản của phụ nữ; cải thiện khả năng tiếp cận tài
Trang 27chính của phụ nữ; xây dựng vốn nhân lực về kỹ năng và mạng lưới kinh doanh; tăng cường tiếng nói của phụ nữ trong cải cách môi trường kinh doanh Từ đó, tác giả khẳng định: “Việc thu hẹp khoảng cách giới là yếu tố giúp phụ nữ có cơ hội thành công trong phát triển kinh tế”
* Nhóm các công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Cuốn sách, Các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam [72], đã dày công tra cứu, sưu tầm và trình
bày“những quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của HLHPNVN Các quy định này chính là những căn cứ pháp lý để HLHPNVN thực hiện các hoạt động thực tiễn.”
Cuốn sách, Lịch sử Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (1930-1976), tập I [96]
và Lịch sử Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (1976-1912), tập II [97] của
HLHPNVN, hai cuốn sách đã: “Tổng kết, đánh giá một cách hệ thống quá trình
ra đời, trưởng thành và phát triển về tổ chức, hoạt động của HLHPNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh” Đồng thời, đã: Nêu rõ vai trò chỉ đạo tích cực, sáng tạo trong vận dụng cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng vào nhiệm vụ công tác Hội; trong đoàn kết, tập hợp và vận động hội viên, phụ
nữ thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ của Hội trong các giai đoạn cách mạng; góp phần tôn vinh những cán bộ, hội viên, phụ nữ có nhiều đóng góp cho sự phát triển của HLHPNVN và cho đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [97, tr.14] từ năm 1930 đến năm 2012
Cuốn sách, Nâng cao vị trí chính trị và năng lực hoạt động của Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam [48] của Trịnh Xuân Giới đã phân tích vai trò và năng lực
hoạt động của phụ nữ và HLHPNVN; khẳng định vị trí của phụ nữ và HLHPNVN trong HTCT; đồng thời, đề cập những chủ trương của Đảng, Nhà
Trang 28nước đối với hoạt động của HLHPNVN trong giai đoạn hiện nay; đề xuất một số giải pháp nâng cao vị trí và năng lực hoạt động của HLHPNVN trong HTCT
Bài viết, Nhiệm vụ trọng tâm, then chốt của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam các cấp trong thời kỳ mới [56], tác giả Nguyễn Thị Thanh Hòa đã đánh
giá vai trò của HLHPN các cấp trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; phân tích bối cảnh đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH từ đó nêu ra những nhiệm vụ trọng tâm, then chốt của HLHPN các cấp đáp ứng yêu cầu mới của tình hình đất nước Đồng thời, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra
Đề tài, Vị trí, vai trò, chức năng và mô hình tổ chức của Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam trong hệ thống chính trị [76] của HLHPNVN đã“nghiên cứu
những quan điểm, chủ trương của Đảng về CTPN thời kỳ đổi mới Trên cơ sở khoa học và thực tiễn, đề tài đã xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng và mô hình tổ chức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam trong HTCT Từ đó, xác định cơ cấu cán bộ mô hình tổ chức của HLHPNVN và đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng một mô hình tổ chức Hội LHPN khoa học, tinh gọn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.”
Đề tài, Sự tham gia của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong đời sống
chính trị- xã hội [49] của Đinh Thị Hà đã“nêu lên vị thế của HLHPNVN
trong đời sống chính trị - xã hội; đánh giá thực trạng thành tựu và hạn chế của HLHPNVN trong các hoạt động chính trị - xã hội; phân tích nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế; đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của HLHPNVN trong HTCT ở Việt Nam, nhằm phát huy hơn nữa vị thế của phụ nữ Việt Nam trong xã hội hiện nay.”
Nghiên cứu những vấn đề chung về phụ nữ và HLHPNVN, nhất là trong
xã hội hiện đại chính là cơ sở để thấy được sự đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong việc tích cực đề ra những chủ trương, đường lối, chính sách, lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội, thu hút,
Trang 29tập hợp, vận động phụ nữ Việt Nam phát huy tiềm năng, sức sáng tạo xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
1.1.3 Các công trình nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng với đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Cuốn sách, Đổi mới mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân
dân cấp phường trong điều kiện kinh tế thị trường [133] do Dương Xuân Ngọc
là chủ biên, đã phân tích“những yêu cầu thực tiễn đòi hỏi phải đổi mới mối quan hệ giữa Đảng với chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp cơ sở; đưa ra những đề xuất đổi mới mối quan hệ và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng với chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp cơ sở trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay.”
Cuốn sách, Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay [144] của Thang Văn Phúc đã khẳng
định“vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; phân tích tính tất yếu khách quan của việc đổi mới
tổ chức và hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị- xã hội ở nước ta trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; xác định các nhiệm vụ, giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị- xã hội ở nước ta hiện nay nhằm phát huy hơn nữa vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị- xã hội trong công cuộc đổi mới phát triển đất nước.”
Cuốn sách, Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các Đoàn thể nhân dân trong thời kỳ mới [182] của Đỗ Quang
Tuấn đã“phân tích những biến đổi của tình hình đất nước sau 10 năm đầu đổi mới; nêu lên những yêu cầu bức thiết của việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ và các đoàn thể quần chúng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của MTTQ
và các đoàn thể quần chúng trong thời kỳ mới.”
Trang 30Bài viết, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân [7] của Hoàng
Chí Bảo; Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [104] của Trần Văn Hơn; Một số
ý kiến về đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân [150] tác giả Đan Tâm Những bài viết này đã“nêu lên yêu cầu
bức thiết của việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ và các đoàn thể quần chúng trong tình hình mới hiện nay Qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của MTTQ và các đoàn thể quần chúng trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Bài viết, Năm năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị
khóa X, về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [103] của Nguyễn Thị Thu Hồng đã phân tích tình hình thực tiễn và yêu
cầu của thời kỳ mới, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với CTPN và phát huy hơn nữa vai trò của HLHPNVN trong tình hình mới Tác giả cho rằng:
“Để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới”, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW Bài viết đã hệ thống kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW trên tất
cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Bài viết khẳng định:
“Các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể và toàn xã hội đã quan tâm sát sao đến CTPN HLHPNVN, đã thực hiện tốt vai trò tập hợp, lãnh đạo phụ nữ phát huy vai trò, tiềm năng trong phát triển kinh tế, xã hội thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” Kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết khẳng định sự đúng đắn về chủ trương và chỉ đạo của Đảng đối với CTPN thời kỳ mới
Cuốn sách, Một số vấn đề cơ bản về đổi mới nội dung, phương thức
hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam [85] của HLHPNVN đã nêu rõ
Trang 31những thành tựu và hạn chế trong hoạt động của HLHPNVN thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; phân tích những yêu cầu khách quan của tình hình thế giới và trong nước đòi hỏi HLHPNVN phải đẩy mạnh NDPTHĐ thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, xã hội mà Đảng, Nhà nước giao phó; đề xuất một số giải pháp đổi mới NDPTHĐ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HLHPNVN trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Cuốn sách, Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam [94] của HLHPNVN đã nêu lên quan điểm, chủ trương
của Đảng về tổ chức và hoạt động của HLHPNVN; đánh giá thực trạng đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm 2007 đến năm 2012, những thành tựu đạt được và hạn chế tồn tại; đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN trong thời gian tới
Bài viết: Làm tốt công tác vận động, quy tụ sức mạnh của các tầng lớp
phụ nữ Việt Nam [60] tác giả Nguyễn Thị Thanh Hòa đã đánh giá những kết
quả của công tác Hội và phong trào phụ nữ Việt Nam, góp phần to lớn vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước những năm 2007 - 2012; nêu ra dự báo về những thuận lợi, khó khăn, thách thức đối với công tác vận động phụ nữ trong giai đoạn mới; đề ra những định hướng lớn và giải pháp có tính đột phá nhằm phát huy hơn nữa vai trò của HLHPNVN trong công tác vận động phụ nữ, góp phần vào sự nghiệp xây dựng
và phát triển đất nước
Bài viết, Công bằng xã hội và hội nhập xã hội đối với phụ nữ, một số vấn
đề thực tiễn và phương pháp tiếp cận [105] của Lê Ngọc Hùng; Phụ nữ Việt Nam “Đoàn kết - sáng tạo - hội nhập - phát triển” [59] của Nguyễn Thị Thanh
Hòa Các tác giả đã khẳng định: “Những kết quả của công tác Hội và phong trào phụ nữ cả nước trong thời kì đổi mới, góp phần to lớn vào thành tựu chung, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước” Đồng thời, các tác giả đã nêu ra những dự báo về thuận lợi, khó khăn, thách thức đối với công tác vận động phụ nữ trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH
Trang 32đất nước cũng như những định hướng lớn và giải pháp có tính đột phá của Hội nhằm phát huy hơn nữa vai trò của HLHPNVN trong vận động, quy tụ sức mạnh của phụ nữ, góp phần vào sự nghiệp đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
và hội nhập quốc tế
Đề tài, Đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam [84] của
HLHPNVN đã trình bày thực trạng, nhu cầu của phụ nữ và đề xuất biện pháp
thu hút phát triển hội viên tham gia sinh hoạt Hội; xác định thực trạng bộ máy
tổ chức, trình độ, năng lực của cán bộ Hội các cấp; đề xuất phương hướng đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy và dự báo yêu cầu, nhiệm vụ đối với cán bộ Hội, đề xuất tiêu chuẩn, tiêu chí cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu mới Bên cạnh đó, đề tài làm rõ vị trí của HLHPNVN trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước; đồng thời, đánh giá việc triển khai các chương trình, phong trào hoạt động của HLHPNVN, dự báo xu hướng phát triển Hội đến năm 2020, tầm nhìn 2030 và
đề xuất mục tiêu, quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển tổ chức Hội đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới
Đề tài, Cơ cấu cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong hệ thống chính trị đổi mới [73] của
HLHPNVN đã nghiên cứu làm rõ những cơ sở khoa học và thực tiễn của những vấn đề xoay quanh công tác tổ chức, cán bộ của HLHPNVN trong HTCT hiện nay Từ đó, xác định cơ cấu cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Hội; đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ cấu cán bộ chủ chốt của HLHPNVN trong HTCT Đây là những yếu tố quan trọng để HLHPNVN thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong CTPN, đổi mới NDPTHĐ của Hội
Đề tài, Thực trạng và đề xuất phương hướng đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động và phát triển tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới [177] do Nguyễn Thị Kim Thúy làm chủ nhiệm đã
đánh giá thực trạng bộ máy tổ chức, trình độ, năng lực của cán bộ HLHPN các cấp; thực trạng hoạt động của HLHPNVN, nhu cầu của phụ nữ trong tình hình
Trang 33mới; xác định phương hướng đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy và dự báo yêu cầu, nhiệm vụ đối với HLHPNVN trong giai đoạn mới Từ đó, đề xuất biện pháp thu hút phát triển hội viên tham gia sinh hoạt Hội; đề xuất mục tiêu, quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển tổ chức Hội đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ mới
Luận án, Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đổi
mới nội dung, phương thức hoạt động từ năm 1997 đến 2012 [159] của Nguyễn
Thị Nhật Thu đã nêu khái quát những quan điểm của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về CTPN và đổi mới NDPTHĐ của HLHPN Hải Dương; phân tích thực trạng đổi mới NDPTHĐ của HLHPN tỉnh Hải Dương; rút ra một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo HLHPN tỉnh đổi mới NDPTHĐ trong thời gian qua
Các công trình khoa học kể trên ở phạm vi, góc độ khác nhau đều đề cập đến vai trò của phụ nữ Việt Nam, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với HLHPNVN; xác định tầm quan trọng của các cấp ủy đảng, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo CTPN; khẳng định vai trò to lớn của HLHPNVN trong HTCT; đánh giá thực trạng đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN, chỉ ra nguyên nhân thực trạng và đề xuất một số giải pháp thực hiện tốt việc đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN trong giai đoạn tiếp theo
1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Nội dung các công trình đã nghiên cứu, giải quyết
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án khá phong phú về nội dung, đa dạng về chuyên ngành, số lượng tương đối lớn, dưới những góc độ tiếp cận khác nhau đã tập trung giải quyết được những vấn đề cơ bản, đó là:
Về lý luận, các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa những tư tưởng,
quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về phụ nữ và CTPN, khẳng định:
Trang 34Phụ nữ là lực lượng xã hội to lớn, CTPN là nhiệm vụ của cả HTCT và toàn xã hội; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với CTPN trong quá trình cách mạng
Về thực tiễn, các công trình nghiên cứu trên đã nêu bật vị trí, vai trò, đóng
góp của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc; khái quát truyền thống quý báu của phụ nữ Việt Nam là những chất liệu tạo niềm tin, khát vọng, thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữa trong thời kỳ mới; vai trò của phụ nữ và HLHPNVN trong HTCT; vị trí, vai trò to lớn của phụ nữ trong gia đình và xã hội; khẳng định vai trò to lớn của HLHPNVN trong tập hợp, lãnh đạo phụ nữ phát huy tiềm năng to lớn trong phát triển kinh tế, xã hội thời kỳ đổi mới
Các công trình nghiên cứu trên đã đánh giá vai trò lãnh đạo quan trọng của Đảng đối với CTPN trong thời kỳ đổi mới; xác định tầm quan trọng của các cấp ủy đảng, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPN các cấp; đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế trong hoạt động của HLHPNVN Phân tích những thuận lợi và khó khăn, thách thức của công tác Hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, đề xuất những định hướng, giải pháp đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN Các công trình nghiên cứu trên
đã phần nào gợi mở tính cấp thiết của việc nghiên cứu về quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN nhằm thực hiện tốt hơn CTPN của Đảng trong thời kỳ mới
Với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh kế thừa các công trình nghiên cứu trên, đó là:
- Về tư liệu: Các công trình nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau với
khối lượng tư liệu khá lớn và phong phú sẽ là nguồn tài liệu quý về cơ sở lý luận và thực tiễn để nghiên cứu sinh tham chiếu trong quá trình triển khai nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Về nội dung: Các công trình nghiên cứu trên đã bước đầu hệ thống
hóa quan điểm của Chủ tịch hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương của Đảng
về CTPN, đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN; phân tích thực trạng đổi mới một
Trang 35số hoạt động của HLHPNVN; đề xuất định hướng, giải pháp đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Hội
- Về phương pháp: Các công trình trên đã sử dụng nhiều phương pháp
nghiên cứu khác nhau như: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh, phương pháp liên ngành…Đó là những phương pháp tác giả có thể kế thừa trong quá trình thực hiện luận án
Kết quả những công trình nghiên cứu trên ở những mức độ khác nhau có ý nghĩa soi chiếu và là cơ sở để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPN từ năm 1996 đến năm 2016 Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên gồm nhiều chuyên ngành với mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau nên thông tin trong các công trình trên chỉ có giới hạn ở một số lĩnh vực, khía cạnh nào đó hoặc chỉ mô tả thực trạng một số hoạt động của CTPN, đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN ở một giai đoạn ngắn nhất định và chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính hệ thống về
sự lãnh đạo của Đảng đối với việc đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN
Các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra tầm quan trọng và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với CTPN, đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN dưới góc độ chính trị - xã hội thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam từ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Đặc biệt vai trò của Đảng trong lãnh đạo CTPN, đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN là vô cùng quan trọng nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu đúc kết những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng đối với việc đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN một cách toàn diện và hệ thống trên các phương diện về nhận thức, chỉ đạo và kết quả đạt được trong đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm
1996 đến năm 2016
Cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ,
có hệ thống về quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN từ
Trang 36năm 1996 đến năm 2016 Vì vậy, việc thực hiện đề tài này là rất cần thiết xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
Để làm sáng tỏ quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016, luận án tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đề sau:
Một là, làm rõ những yếu tố tác động đến việc đổi mới NDPTHĐ của
HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016 Trong đó, nêu rõ những thời cơ, thuận lợi và những khó khăn, thách thức đối với việc đổi mới NDPTHĐ của các cấp Hội
Hai là, phân tích quan điểm, chủ trương của Đảng về đổi mới NDPTHĐ
của HLHPNVN; qua đó, làm rõ sự phát triển về nhận thức và chủ trương của Đảng về đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN qua 2 giai đoạn 1996 - 2006 và
2006 - 2016
Ba là, làm rõ quá trình Đảng chỉ đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN
trên các phương diện: Nâng cao vai trò của HLHPNVN trong HTCT Hoàn thiện
về chính sách, pháp luật và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN; đổi mới các hoạt động thực hiện vai trò đại diện và chăm lo lợi ích cho phụ nữ; nâng cao chất lượng công tác tham mưu với cấp ủy
và công tác chỉ đạo trong hệ thống Hội; đổi mới về tổ chức và công tác cán bộ nâng cao hiệu quả hoạt động của các cấp Hội; củng cố, tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế của HLHPNVN, tham gia hội nhập quốc tế
Bốn là, đưa ra những nhận xét khách quan, khoa học về những ưu điểm,
hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế và bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm qua thực tiễn quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016
Trang 37Tiểu kết chương 1
Phụ nữ và CTPN là một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học dưới nhiều góc độ khác nhau Qua khảo cứu các công trình khoa học nghiên cứu về phụ nữ và CTPN đã được công bố dưới nhiều thể loại: Sách đã xuất bản; luận án tiến sĩ đã bảo vệ; các đề tài nghiên cứu khoa học, chương trình khoa học, kỷ yếu hội thảo khoa học đến các bài được đăng tải trên các tạp chí khoa học khác nhau, có thể chia thành ba nhóm
công trình: Một là, các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm, đường lối của Đảng về phụ nữ, công tác vận động phụ nữ; Hai là, các
công trình khoa học nghiên cứu về phụ nữ và HLHPNVN; Ba là, các công
trình nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng với đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN
Các công trình khoa học trên đã cung cấp cho luận án về tình hình tổng quan nghiên cứu chung ở cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, qua đó các công trình đều khẳng định quan điểm, chủ trương của Đảng về CTPN, đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước xuyên suốt trong các Văn kiện, Nghị quyết và ngày càng được đề cập nhiều hơn trong các Đại hội VIII, IX, X, XI của Đảng Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn để tác giả tham khảo, kế thừa giải quyết nhiệm vụ đặt ra cho nghiên cứu về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPN từ năm 1996 đến năm 2016
Trang 38Chương 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP
PHỤ NỮ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006
2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM
2.1.1 Chủ trương của Đảng về đổi mới nội dung, phương thức hoạt
động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trước năm 1996
2.1.1.1 Một số khái niệm chung
* Khái niệm lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN
“Lãnh đạo” là đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện đúng chủ trương đường lối đã đề ra Lãnh đạo còn dùng chỉ các cơ quan lãnh đạo, gồm những người có khả năng tổ chức các phong trào
Trong tác phẩm sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu quan niệm khái quát về “lãnh đạo”: “Lãnh đạo đúng nghĩa là:
1 Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng…
2 Phải tổ chức sự thực thi cho đúng…
3 Phải tổ chức sự kiểm soát…”[125, tr.325]
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng lãnh đạo đúng là phải: “Ra quyết định đúng về chủ trương, đường lối, tổ chức thực hiện và kiểm soát đúng việc thực hiện quyết định Việc kiểm soát gồm cả kiểm tra và giám sát toàn bộ hoạt động thực hiện chủ trương, đường lối đã đề ra”
Như vậy, “lãnh đạo” là quá trình chủ thể lãnh đạo ban hành nghị quyết, chỉ thị, quyết định và tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định đã đề ra
Từ luận giải trên có thể đưa ra khái niệm: “Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN là toàn bộ hoạt động của Đảng
Trang 39từ xây dựng, ban hành các nghị quyết, chỉ thị về CTPN, đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN; quán triệt, tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các tổ chức Đảng, đảng viên, HLHPNVN, các tổ chức trong HTCT,
tổ chức xã hội và nhân dân theo quy định vì sự tiến bộ, phát triển của phụ nữ
và mục tiêu BĐG”
Từ khái niệm trên có thể xác định, chủ thể lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN là Đảng Cộng sản Việt Nam, cấp ủy đảng các cấp, khách thể là các cấp HLHPNVN và các cơ quan quản lý nhà nước các cấp
* Khái niệm đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN
Khái niệm “nội dung hoạt động” của HLHPNVN được hiểu: “Là toàn bộ
những vấn đề, lĩnh vực mà HLHPNVN chỉ đạo, tổ chức triển khai để thực hiện tôn chỉ, mục đích, chức năng nhiệm vụ của Hội” [94, tr.11] Nói cách khác, “nội
dung hoạt động của HLHPNVN là những công việc mà Hội thực hiện vì sự tiến
bộ, phát triển của phụ nữ và mục tiêu BĐG”
Các nội dung hoạt động, gồm: “Các hoạt động thực hiện vai trò đại diện,
chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, nâng cao quyền làm chủ cho phụ nữ; hỗ trợ phụ nữ nâng cao trình độ, nhận thức, cải thiện đời sống và giải quyết những vấn đề đặt ra đối với phụ nữ, tạo điều kiện để phụ
nữ tiến bộ, bình đẳng; hoạt động hợp tác quốc tế; hoàn thiện tổ chức bộ máy, công tác cán bộ Hội” Nội dung hoạt động của HLHPNVN rất đa dạng, phong phú, bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ chính trị trọng tâm của đất nước và của từng địa phương
Khái niệm “phương thức hoạt động” của HLHPNVN: “Là các cách
thức, phương pháp HLHPNVN vận dụng để thực hiện nội dung hoạt động của Hội” [94, tr.12]
Các phương thức hoạt động, gồm: “Tham mưu, đề xuất với cấp ủy Đảng,
chính quyền các cấp về CTPN; phối hợp với chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể trong thực hiện nhiệm vụ chính trị; chỉ đạo, hướng dẫn trong hệ thống
Hội và vận động xã hội”
Trang 40Mối quan hệ giữa phương thức hoạt động và nội dung hoạt động là
quan hệ biện chứng [94, tr.12] Trong đó, nội dung là yếu tố cơ bản, phương
thức là yếu tố quan trọng “Không thể có phương thức hoạt động được đánh giá là tốt, nếu nội dung hoạt động không được xác định đúng đắn, trình độ năng lực cán bộ không theo kịp” [94, tr.13] Một nội dung có thể cần một hoặc nhiều phương thức hoạt động, ngược lại, một phương thức hoạt động
có thể sử dụng cho nhiều nội dung hoạt động khác nhau
Khái niệm đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN: “Là duy trì và phát
huy những NDPTHĐ phù hợp với thực tiễn, hiệu quả; thay đổi, cải tiến những NDPTHĐ chưa hiệu quả, chưa phù hợp thực tiễn CTPN; khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và đòi hỏi ngày càng cao của CTPN, góp phần thực hiện mục tiêu BĐG”
Tuy nhiên, việc đổi mới NDPTHĐ của HLHPN phải đảm bảo những yêu cầu: “Bám sát và vận dụng, thực hiện sáng tạo, hiệu quả các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, luật pháp chính sách của Nhà nước liên quan đến CTPN và BĐG; đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ; chăm lo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng đa dạng của đông đảo phụ nữ” [84, tr.91]; đồng thời, phải: “Tăng cường xây dựng tổ chức Hội, từng bước phát triển nguồn lực; phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng cấp Hội; khai thác tiềm năng, tạo sự đồng thuận, ủng hộ của xã hội và các tầng lớp phụ nữ đối với tổ chức Hội; đổi mới phải mang tính kế thừa, phát triển” [84, tr.92]
2.1.1.2 Nhận thức và chủ trương của Đảng về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trước năm 1996
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn nhận thức và xác định rõ tầm quan trọng, vai trò của HLHPNVN trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Hội Liên hiệp Phụ nữ phải là lực lượng mạnh mẽ giúp Đảng động viên, tổ chức và lãnh đạo phụ nữ tiến lên chủ nghĩa xã hội" [127, tr.420] Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của HLHPNVN đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, trong các chỉ thị, nghị quyết, Đảng chỉ rõ