HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ HỒNG MIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2016
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HỒNG MIÊN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2016
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS,TS Nguyễn Danh Tiên
2 TS Nguyễn Duy Hạnh
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp
tại Học việc Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia
và Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam là thành tố của hệ thống chính trị, là tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ Hội LHPN Việt Nam trở thành cầu nối giữa Đảng với đông đảo quần chúng phụ nữ Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng nhận thức rõ hơn về vị trí, vai trò của Hội LHPN trong hệ thống chính trị, xã hội và luôn quan tâm đến việc lãnh đạo hoạt động của Hội LHPN Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội LHPN Việt Nam đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Đồng thời, Hội đã tích cực tham gia các hoạt động của phụ nữ trong khu vực và quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức phụ nữ quốc tế đối với phong trào hoạt động của phụ nữ Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Tuy nhiên, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, hoạt động của Hội LHPN Việt Nam và công tác phụ nữ vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định Nội dung, phương thức (ND, PT) hoạt động của Hội LHPN Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình thực tế Tổ chức Hội ở một số nơi vẫn còn tình trạng “hành chính hóa” Việc tham mưu, chỉ đạo, điều hành tổ chức hoạt động của Hội còn nhiều lúng túng Hoạt động giám sát thực hiện luật pháp, chính sách, công tác phản biện xã hội ở nhiều địa phương chưa hiệu quả Trình độ, năng lực, tính chủ động sáng tạo của một bộ phận cán bộ Hội cấp cơ sở còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác Hội Do đó, chưa tập hợp được động đảo phụ nữ và chưa phát huy được mọi tiềm năng của phụ nữ trong xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ đổi mới
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, nhiều vấn đề trong nước và quốc tế đã và đang đặt ra cho công tác vận động và tổ chức quần chúng của Đảng và tất cả các thành viên của Mặt trận Tổ quốc, trong đó có Hội LHPN Việt Nam Ðể đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Ðảng ta đặc biệt coi trọng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên sự nỗ lực vượt bậc của toàn dân, trong đó có phụ nữ Đổi mới ND, PT hoạt động để hoàn thành tốt các nhiệm vụ của Hội được xem là vấn đề có ý nghĩa sống còn nhằm phát huy vai trò to lớn và mọi tiềm năng của phụ nữ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Do đó, đòi hỏi Đảng và các cấp chính quyền phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phụ nữ, đổi mới ND, PT hoạt động của Hội
Trang 4LHPN Việt Nam để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới
Với ý nghĩa đó, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt của Hội Liên hiệp Phụ nữ từ năm 1996 đến năm 2016” làm đề tài Luận án Tiến sỹ Lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016 Trên cơ sở đó, đúc kết một số kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam, góp nâng cao chất lượng, hiệu quả đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình nghiên cứu về phụ nữ, công tác phụ nữ nói chung và đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam nói riêng
- Làm rõ các yếu tố tác động đến quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới
ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016
- Phân tích, luận giải hệ thống những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác phụ nữ, đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam và quá trình Đảng chỉ đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016
- Đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan, khoa học về những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016
- Bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Luận án nghiên cứu chủ trương và quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN từ năm 1996 đến năm 2016
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Làm rõ chủ trương và quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo
đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
Về không gian: Luận án nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
Trang 5Về thời gian: Nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT
hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016 Năm 1996
là năm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, đề ra đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Năm 2016 là năm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tổng kết 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới ND,
PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, của Đảng về phụ nữ
và công tác vận động phụ nữ
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là chủ yếu Bên cạnh đó, luận án sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê; so sánh; phỏng vấn các nhân chứng lịch sử và các phương pháp nghiên cứu liên ngành
4.3 Nguồn tư liệu
Một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác phụ nữ; các Văn kiện của Đảng, Nhà nước, Chính phủ về công tác phụ nữ; các Văn kiện Đại hội, các báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của Hội LHPN Việt Nam; Các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Một là, tổng quan những nội dung những công trình nghiên cứu liên
quan đến đề tài luận án, trên cơ sở đó, khái quát những kết quả đã đạt được, chỉ rõ những hạn chế mà luận án tập trung giải quyết
Hai là, làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng lãnh đạo đổi
mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam và làm sáng tỏ quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm
1996 đến năm 2016
Ba là, luận án đưa ra một số nhận xét về những ưu điểm, hạn chế và
phân tích nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế; đúc kết một số kinh nghiệm quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
Bốn là, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, giúp Hội LHPN
Việt Nam nghiên cứu, tiếp tục đổi mới ND, PT hoạt động trong giai đoạn tiếp theo; làm tài liệu tham khảo phục vụ học tập, nghiên cứu trong các trường đại học và cao đẳng về công tác phụ nữ
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương, 8 tiết
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1 Các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng về phụ nữ, công tác vận động phụ nữ
Tiêu biểu là các cuốn sách, Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải
phóng phụ nữ của Trần Dương; Quan điểm của Đảng, Nhà nước và chủ tịch Hồ Chí Minh về phụ nữ và công tác phụ nữ của Hội LHPN Việt Nam; Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị của Nguyễn Đức Hạt
Các bài viết, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ của Đặng Thị Lương; Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác đào tạo bồi dưỡng và
đề bạt cán bộ nữ của Hoàng Thị Nữ; Công tác tuyên truyền của Đảng nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế tri thức của Lê Lục; Quan tâm hơn nữa việc thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia các hoạt động quản lý Nhà nước, xã hội của Hà Thị Khiết; Kỷ yếu
hội thảo khoa học, Những vấn đề lý luận về công tác phụ nữ ở Việt Nam
trong tình hình mới của Hội LHPN Việt Nam
Các tác giả đã hệ thống hóa những tư tưởng của Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương Đảng về công tác phụ nữ; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ và tổ chức Hội LHPN Việt Nam; khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam và trách nhiệm của Hội LHPN Việt Nam trong đời sống chính trị của đất nước thời kỳ đổi mới
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về phụ nữ và Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam
Tiêu biểu là các cuốn sách, Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước của Hội LHPN Việt Nam; Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế
của Hoàng Thị Ái Nhiên; Gia đình Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong
giai đoạn hiện nay của Dương Thị Minh; Bài viết, Nhiệm vụ trọng tâm, then chốt của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam các cấp trong thời kỳ mới của
Nguyễn Thị Thanh Hòa; đề tài, Sự tham gia của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam trong đời sống chính trị - xã hội của Đinh Thị Hà
Trang 7Luận án, Vai trò của nữ cán bộ quản lý Nhà nước trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Võ Thị Mai;Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Giáng
Hương, và nhiều bài viết của các tác giả trong và ngoài nước đã khẳng định
vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước; nêu lên vị thế, vai trò của phụ nữ và Hội LHPN Việt Nam trong đời sống chính trị-xã hội; đánh giá thực trạng thành tựu và hạn chế của Hội LHPN Việt Nam trong các hoạt động chính trị- xã hội; phân tích nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế; đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của phụ
nữ trong gia đình và xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội LHPN Việt Nam trong hệ thống chính trị
1.1.3 Các công trình nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng với đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Các cuốn sách, Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay của Thang Văn Phúc; Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các Đoàn thể nhân dân trong thời kỳ mới của Đõ Quang Tuấn; Một
số vấn đề cơ bản về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam của Hội LHPN Việt Nam
Các bài viết, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân của
Hoàng Chí Bảo; Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Trần văn Hơn; Một số ý kiến về đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân của Đan Tâm
Đề tài, Cơ cấu cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong hệ thống chính trị đổi mới của Hội LHPN
Việt Nam; Thực trạng và đề xuất phương hướng đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động và phát triển tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới của Nguyễn Thị Kim Thúy
Các công trình khoa học kể trên ở phạm vi, góc độ khác nhau đều đề cập đến vai trò của phụ nữ Việt Nam, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Hội LHPN Việt Nam; xác định tầm quan trọng của các cấp ủy đảng, chính quyền trong lãnh đạo công tác phụ nữ; khẳng định vai trò to lớn của Hội LHPN Việt Nam trong hệ thống chính trị; đánh giá thực trạng đổi mới ND,
Trang 8PT của Hội LHPN, chỉ ra nguyên nhân thực trạng và đề xuất một số giải pháp thực hiện tốt đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo
1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN
ÁN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Nội dung các công trình đã nghiên cứu, giải quyết
Các công trình nghiên cứu trên đã đánh giá vai trò lãnh đạo quan trọng của Đảng đối với công tác phụ nữ trong thời kỳ đổi mới; xác định tầm quan trọng của các cấp ủy đảng, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới ND,
PT hoạt động của Hội LHPN; đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế trong hoạt động của Hội LHPN Việt Nam Phân tích những thuận lợi và khó khăn của công tác Hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, đề xuất những định hướng, giải pháp đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Các công trình nghiên cứu trên đã phần nào gợi mở tính cấp thiết của việc nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN nhằm thực hiện tốt hơn công tác phụ nữ của Đảng trong thời kỳ mới Kết quả của những công trình nghiên cứu trên ở những mức độ khác nhau có ý nghĩa soi chiếu và là cơ sở để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016
1.2.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ thêm
Một là, làm rõ những yếu tố tác động đến việc đổi mới ND, PT hoạt
động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016 Trong đó, nêu
rõ những thời cơ, thuận lợi và những khó khăn, thách thức đối với việc đổi mới ND, PT của các cấp Hội
Hai là, phân tích quan điểm, chủ trương của Đảng về đổi mới ND,
PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam và làm rõ quá trình Đảng chỉ đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016
Ba là, đưa ra những nhận xét khách quan, khoa học về những ưu điểm,
hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế và bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm qua thực tiễn quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND,
PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016
Trang 9Chương 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006
2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM
2.1.1 Chủ trương của Đảng về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trước năm 1996
2.1.1.1 Một số khái niệm chung
* Khái niệm Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
“Lãnh đạo” là đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện đúng chủ trương đường lối đã đề ra Lãnh đạo còn dùng chỉ các cơ quan lãnh đạo, gồm những người có khả năng tổ chức các phong trào
Khái niệm “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt
động của Hội LHPN” là toàn bộ hoạt động của Đảng từ xây dựng, ban hành
các nghị quyết, chỉ thị về công tác phụ nữ, đổi mới ND, PT của Hội LHPN Việt Nam; quán triệt, tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các tổ chức Đảng, đảng viên, Hội LHPN Việt Nam, các tổ chức trong
hệ thống chính trị, tổ chức xã hội và nhân dân theo quy định vì sự tiến bộ, phát triển của phụ nữ và mục tiêu bình đẳng giới
*Khái niệm đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
Khái niệm “nội dung hoạt động” của Hội LHPN Việt Nam được
hiểu: Là toàn bộ những vấn đề, lĩnh vực mà Hội LHPN Việt Nam chỉ đạo,
tổ chức triển khai để thực hiện tôn chỉ, mục đích, chức năng nhiệm vụ của
Hội Nói cách khác, nội dung hoạt động của Hội LHPN Việt Nam là những
công việc mà Hội thực hiện vì sự tiến bộ, phát triển của phụ nữ và mục tiêu bình đẳng giới
Khái niệm “phương thức hoạt động” của Hội LHPN Việt Nam: Là
các cách thức, phương pháp Hội LHPN Việt Nam vận dụng để thực hiện nội dung hoạt động của Hội
Trang 10Khái niệm “Đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam” là
duy trì và phát huy những ND, PT hoạt động phù hợp với thực tiễn, hiệu quả; thay đổi, cải tiến những ND, PT hoạt động chưa hiệu quả, chưa phù hợp thực tiễn công tác phụ nữ; khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và đòi hỏi ngày càng cao của công tác phụ nữ, góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới
2.1.1.2 Nhận thức và chủ trương của Đảng về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trước năm 1996
Tại Đại hội VI (1986), Đảng đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong
sự nghiệp cách mạng của đất nước Báo cáo chính trị tại Đại hội chỉ rõ: “Để phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, cần làm cho đường lối vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong cả hệ thống chuyên chính vô sản, được cụ thể hoá thành chính sách, luật pháp”
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khoá VI ban
hành Nghị quyết số 8B-NQ/TW ngày 27/3/1990 về “Đổi mới công tác quần
chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân” Nghị
quyết chỉ rõ: “Việc đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm phát huy mọi tiềm năng của phụ nữ” Chỉ thị số 62/CT-TW ngày 25/6/1990 của Ban Bí thư về thực hiện Nghị quyết số 8B-NQ/TW xác định rõ yêu cầu đổi mới ND, PT của các đoàn thể và tổ chức quần chúng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991), Đảng chủ trương: “Các đoàn thể nhân dân đổi mới về tổ chức và hoạt động Hình thức tổ chức và sinh hoạt của đoàn thể phải đa dạng, đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống nhân dân, ích nước, lợi nhà”
Ngày 12/7/1993, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 04/NQ-TW về “Đổi
mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” Ngày
29/9/1993, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 28/CT-TW, giao nhiệm vụ cho Đảng đoàn Hội LHPN Việt Nam giúp Ban Bí thư trực tiếp chỉ đạo phong trào phụ
nữ, đổi mới nội dung, tổ chức và phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam trong tình hình mới Ngày 16/5/1994, Ban Bí thư Trung ương
Đảng ra Chỉ thị số 37- CT/TW “Một số vấn đề cấp bách về công tác cán bộ
nữ trong tình hình mới”, Chỉ thị thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng và
Nhà nước đối với sự phát triển của phụ nữ Việt Nam
Trang 112.1.2 Thực trạng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trước năm 1996 và yêu cầu khách quan của việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
2.1.2.1 Tình hình đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trước năm 1996
Thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới ND, PT của hội LHPN Việt Nam, năm 1989, Trung ương Hội LHPN Việt Nam đã phát động phụ
nữ cả nước hưởng ứng hai cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế
gia đình” và “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng
và bỏ học” Năm 1992, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ VII đã
cụ thể hóa các nội dung hoạt động thành “5 chương trình trọng tâm” và đã
được phụ nữ trong cả nước tích cực hưởng ứng, được các cấp ủy đảng, chính quyền đánh giá cao góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội Đặc biệt, tiềm năng to lớn của phụ nữ được phát huy, quy
tụ trong các phong trào thi đua "Giỏi việc nước, đảm việc nhà", "Ngày tiết
kiệm vì phụ nữ nghèo" Phong trào phụ nữ có bước phát triển mới, đóng
góp xứng đáng vào những thành tựu kinh tế, xã hội của đất nước thời kỳ đổi mới Tuy nhiên, hoạt động đổi mới ND, PT của Hội LHPN còn những hạn chế: Việc đổi mới ND, PT hoạt động của Hội chưa đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng phụ nữ Một bộ phận cán bộ Hội các cấp còn hạn chế về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ Việc thu hút hội viên chưa cao
* Nguyên nhân chủ quan và khách quan của những hạn chế
2.1.2.2 Yêu cầu khách quan của việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
- Đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
- Đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam gắn với đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị
- Đổi mới ND, PT hoạt động của hội LHPN Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu về dân chủ hóa đời sống xã hội và hội nhập quốc tế
Trang 122.2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ
NỮ VIỆT NAM TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006
2.2.1 Chủ trương của Đảng về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), Đảng nhấn mạnh các nhiệm vụ chủ yếu trong công tác vận động phụ nữ Vì sự tiến bộ và phát triển của phụ nữ là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội
Ngày 06/10/1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 42- CT/TW “Về việc tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Hội quần chúng”, xác định rõ vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền đối với
hoạt động của các hội quần chúng nói chung và Hội LHPN Việt Nam nói riêng
Ngày 21/02/2005, Ban chấp hành Trung ương ra Chỉ thị số
49/CT-TW Về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xác định
vai trò quan trọng của gia đình và của người phụ nữ trong thời kỳ mới Xác định: Hội LHPN Việt Nam phải đổi mới ND, PT hoạt động để tập hợp, lãnh đạo phụ nữ phát huy vai trò quan trọng trong phát triển gia đình
Tại Đại hội IX (4/2001), Đảng tiếp tục đổi mới tư duy về công tác vận động phụ nữ, với các quan điểm, chủ trương phù hợp với tình hình mới, nhất là việc thực hiện luật pháp, chính sách bình đẳng giới Coi chính sách bình đẳng giới là vấn đề then chốt trong sự phát triển của xã hội và sự tiến
bộ của phụ nữ
Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác phụ nữ thể hiện quan điểm chỉ đạo tăng cường đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam, đó là:
Thứ nhất, chú trọng nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của
các cấp Đảng, chính quyền đối với đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Coi sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác phụ nữ là trách nhiệm của Đảng và toàn xã hội để phụ nữ được khẳng định và phát huy năng lực của mình
Thứ hai, đổi mới, đa dạng hình thức tổ chức, phong phú nội dung
hoạt động của Hội LHPN bám sát mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, nhiệm
vụ chính trị trọng tâm của đất nước và của từng địa phương
Trang 13Thứ ba, về phương thức hoạt động, tăng cường công tác tham mưu,
đề xuất với các cấp ủy đảng, chính quyền về công tác phụ nữ đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành về công tác phụ nữ
2.2.2 Đảng chỉ đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
2.2.2.1 Chỉ đạo nâng cao vai trò Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong hệ thống chính trị, từng bước xây dựng, bổ sung chính sách, pháp luật về công tác phụ nữ
Việc Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chính sách cụ thể về công tác phụ nữ đã tạo điều kiện để Hội LHPN Việt Nam đẩy mạnh đổi mới ND, PT hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ; nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền về vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong hệ thống chính trị từng bước được nâng lên, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước
2.2.2.2 Chỉ đạo đổi mới nội dung hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam
*Chỉ đạo đổi mới các hoạt động thực hiện vai trò đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, nâng cao quyền làm chủ cho phụ nữ
- Tăng cường đổi mới việc tham gia xây dựng chính sách pháp luật
- Công tác tư vấn pháp luật, giải quyết đơn thư, các cấp Hội chú trọng việc tư vấn pháp luật về các lĩnh vực hôn nhân gia đình, tranh chấp đất đai, chế độ chính sách đối với phụ nữ
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của phụ nữ: Tăng cường giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách đối với phụ nữ
* Chỉ đạo đổi mới các hoạt động thực hiện vai trò chăm lo lợi ích thiết thực và giải quyết những vấn đề đặt ra đối với phụ nữ, hội viên
- Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục, vận động phụ nữ
- Đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, dạy nghề, tạo việc làm gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia,
hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, phát triển các loại hình tín dụng cho phụ nữ
- Xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc: Các cấp Hội tăng cường triển khai các hoạt động hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến