VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI *** ĐÀM THỊ VÂN THOA VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT[.]
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-*** -
ĐÀM THỊ VÂN THOA
VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2023
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-*** -
ĐÀM THỊ VÂN THOA
VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 9380102
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS ĐẶNG MINH ĐỨC
2 TS DƯƠNG KIM ANH
Hà Nội - 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng cá nhân tôi Các
số liệu, kết quả được sử dụng minh họa trong luận án này là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Đàm Thị Vân Thoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu luận án, tuy gặp rất nhiều khó khăn về thông tin, tư liệu, tác động tiêu cực của đại dịch Covid - 19, song được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giảng viên tại Học viện Khoa học xã hội cũng như cán bộ, công chức làm việc tại Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, nghiên cứu
sinh đã hoàn thành luận án: “Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ trong xây
dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay”
Nghiên cứu sinh trân trọng gửi lời cảm ơn tới: Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, các thầy, cô giảng viên cũng trong Học viện; các cán bộ, công chức tại Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu nhập thông tin, số liệu về hoạt động tham gia xây dựng pháp luật của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Đặc biệt, nghiên cứu sinh cảm ơn sâu sắc PGS.TS Đặng Minh Đức, TS Dương Kim Anh đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ trong suốt quá trình nghiên cứu sinh nghiên cứu, hoàn thiện luận án
Trong quá trình nghiên cứu, do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, luận án không tránh khỏi một vài sai sót, hạn chế Nghiên cứu sinh rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô giảng viên và các đồng nghiệp
Trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 81.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề cần giải quyết 221.3 Cơ sở lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu 25
Kết luận Chương 1 31 Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 32
2.1 Một số vấn đề về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 322.2 Nhận thức chung về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 492.3 Các phương diện thể hiện vai trò của Hội LHPN Việt Nam tham gia xây dựng văn bản QPPL 552.4 Các yếu tố bảo đảm vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 61
Kết luận Chương 2 67 Chương 3: THỰC TRẠNG VAI TRÒ XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM 68
3.1 Quy định của pháp luật về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 683.2 Thực tiễn vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 783.3 Đánh giá thực trạng vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 106
Kết luận Chương 3 119
Trang 6Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG VĂN
BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 120
4.1 Quan điểm về bảo đảm vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 120
4.2 Một số giải pháp bảo đảm vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 126
4.3 Đánh giá tác động của các giải pháp và các biện pháp khắc phục 138
Kết luận Chương 4 140
KẾT LUẬN 141
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO 145
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 3.1: Hoạt động lấy ý kiến xây dựng Luật Bình đẳng giới 80 Bảng 3.2: Kết quả lấy ý kiến dự thảo Luật Bình đẳng giới 82 Bảng 3.3: Tham gia góp ý vào văn bản luật trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV (nhiệm kỳ 2016 – 2022) của Hội LHPN Việt Nam 87 Bảng 3.4: Kết quả lấy ý kiến vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2010 – 2022) 91
Hình 2.1: Các bước trong giai đoạn lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 40 Hình 2.2: Các bước trong giai đoạn soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật 43 Hình 2.3: Quy trình soạn thảo luật do Chính phủ trình 46 Hình 2.4: Tổ chức bộ máy của cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 52 Hình 3.1: Quy trình lấy ý kiến vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 90 Hình 3.2: Quy trình phản biện xã hội dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 96
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Một nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, trong đó sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đóng vai trò quan trọng thúc đẩy hoàn thiện pháp luật, tránh được bệnh chủ quan, duy ý chí,
áp đặt từ một phía của cơ quan nhà nước Văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) được ban hành phù hợp với tâm tư, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống, đảm bảo khả thi trong thực tiễn Hoạt động xây dựng văn bản QPPL là một quá trình gồm nhiều công đoạn với sự tham gia của nhiều chủ thể Trong quá trình đó, mỗi chủ thể có vai trò và mức độ khác nhau, được quy định bởi pháp luật và chức năng, nhiệm vụ gắn liền với từng chủ thể Ở Việt Nam, trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền và quá trình hội nhập quốc tế, với mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi,
dễ tiếp cận, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của người dân, doanh nghiệp thì một trong những điều kiện, giải pháp quan trọng là phải đảm bảo tính công khai, minh bạch ngay trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL Theo
đó, ngoài việc quy định trình tự, thủ tục chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước thì cần bảo đảm sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL và quyền tiếp cận của người dân sau khi văn bản QPPL được ban hành Bên cạnh đó, các văn bản QPPL được ban hành phải bảo đảm tính hợp hiến và tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật, bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản QPPL…
Phụ nữ Việt Nam chiếm 50,2% dân số và 47,4% lực lượng lao động ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Trong những năm qua, các văn bản của Đảng và hệ thống pháp luật về bình đẳng giới ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia thực chất vào đời sống xã hội Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam là tổ chức
Trang 10chính trị - xã hội - một thành viên quan trọng của hệ thống chính trị đã được Hiến định, có chức năng đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh Với đặc thù là tổ chức đại diện cho giới nữ trong hệ thống chính trị, nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ,Nghị quyết 11/NQ-TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhấn mạnh nhiệm vụ
của Hội LHPN Việt Nam là “phát huy vai trò chủ động tham mưu, đề xuất với Ðảng, Nhà nước về chủ trương, chính sách liên quan đến phụ nữ, thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội”.
Hệ thống pháp luật Việt Nam đã quy định Hội LHPN Việt Nam là một trong những chủ thể tham gia xây dựng văn bản QPPL trên các phương diện:
đề xuất văn bản QPPL; soạn thảo văn bản QPPL; tham gia Ban soạn thảo, Tổ biên tập; góp ý dự thảo văn bản QPPL; phản biện xã hội; tham gia thẩm định, thẩm tra văn bản QPPL Hơn nữa, trong quá trình xây dựng văn bản QPPL, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trở thành nguyên tắc được quy định tại Điều 5
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 "Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật”, trong đó Hội LHPN Việt
Nam được quy định là một chủ thể không thể thiếu khi tham gia lồng ghép vấn
đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL
Trong những năm qua, Hội LHPN Việt Nam đã tích cực đề xuất chính sách, pháp luật, tham gia xây dựng, hoàn thiện các văn bản QPPL dưới góc độ giới, góp phần quan trọng vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung
và khuôn khổ pháp lý về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ nói riêng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau như nhận thức của các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản QPPL và các cơ quan có liên quan về bình đẳng giới
và sự tham gia của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, của người dân vào
Trang 11quy trình ban hành văn bản QPPL thiếu đồng bộ; việc phối hợp giữa cơ quan soạn thảo, cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới và Hội LHPN Việt Nam trong quá trình xây dựng văn bản QPPL chưa hiệu quả, năng lực tham gia xây dựng văn bản QPPL của Hội LHPN Việt Nam còn hạn chế nên nhiều văn bản QPPL chưa đảm bảo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới và đảm bảo quyền, lợi ích hơp pháp của phụ nữ, công tác đề xuất luật, giám sát, phản biện xã hội chính sách, pháp luật về bình đẳng giới của tổ chức Hội chưa thu được nhiều kết quả…
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 13 đã nhấn mạnh cần phải“Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới” trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới; dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện ngày càng mở rộng, vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới ngày càng được quan tâm Là tổ chức chính trị - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội LHPN
Việt Nam đã đề ra mục tiêu đến năm 2030 là tổ chức “có vai trò then chốt, góp phần để Việt Nam trở thành quốc gia có thể chế và hệ thống chính sách pháp luật tạo sự chuyển biến về giới” trong Chiến lược phát triển Hội LHPN Việt
Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2035 Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài luận án tiến
sĩ “Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các
vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của luận án là làm sáng tỏ luận cứ khoa học về lý luận
và thực tiễn về vai trò của Hội LHPN Việt Nam với tư cách là một chủ thể tham gia xây dựng văn bản QPPL, trọng tâm là xây dựng văn bản luật Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong tham gia xây dựng văn bản QPPL
Trang 122.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận án để tìm ra các vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện
- Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận về vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL, đặc biệt là xây dựng văn bản luật có liên quan đến phụ nữ, trẻ em, gia đình và bình đẳng giới, quyền và trách nhiệm của tổ chức Hội LHPN Việt Nam
- Đánh giá thực tiễn vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL hiện nay Phân tích những thành công, hạn chế của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL, chỉ rõ nguyên nhân của những kết quả và hạn chế đó ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quy định pháp luật và thực tiễn về vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL, tập trung vào xây dựng văn bản luật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Phân tích và luận giải vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong
xây dựng văn bản QPPL, tập trung nghiên cứu vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản luật
Về địa bàn: nghiên cứu vai trò của các cấp Hội LHPN Việt Nam trong
xây dựng văn bản QPPL trên phạm vi cả nước, tập trung nghiên cứu vai trò của cấp TW Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản luật
Về thời gian: Từ năm 2005 đến tháng 12 năm 2022
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được tiếp cận trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng xuyên suốt trong toàn
bộ luận án để luận giải các nội dung liên quan đến chủ đề luận án, trong đó làm
rõ những vấn đề trọng tâm của luận án như khái niệm và các phương diện thể hiện vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL; đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật và kết quả thực hiện vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL ở Việt Nam hiện nay
- Phương pháp cấu trúc hệ thống: được sử dụng trong Chương 2 và
Chương 3 của Luận án nhằm nhận diện và đánh giá kết quả việc thực hiện vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong tham gia xây dựng văn bản QPPL Tác giả xem xét, đánh giá vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL trên cơ sở mối tương quan với các tổ chức, thiết chế có cùng vai trò này
và với các cơ quan có liên quan
- Phương pháp luật học so sánh: được sử dụng trong chủ yếu trong
Chương 3 nhằm nhằm so sánh, đối chiếu cơ chế pháp lý liên quan đến vai trò, trách nhiệm của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng, đề xuất văn bản QPPL qua từng giai đoạn
5 Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, luận án hệ thống hóa các quan điểm khoa học về xây dựng
văn bản QPPL, về vị trí, vai trò Hội LHPN Việt Nam trong hệ thống chính trị… Trên cơ sở đó, luận án làm rõ khái niệm và các phương diện thể hiện vai trò của
Trang 14Hội LHPN Việt Nam với tư cách là một chủ thể trong văn bản QPPL; nêu và phân tích về các yếu tố bảo đảm vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong tham gia xây dựng văn bản QPPL Đồng thời, bước đầu chứng minh được tính tất yếu tham gia xây dựng văn bản QPPL của Hội LHPN Việt Nam, khẳng định tổ chức Hội LHPN Việt Nam là một chủ thể trong QPPL nói chung và là một chủ thể quan trọng tham gia vào quá trình lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình xây dựng văn bản QPPL
Thứ hai, luận án đánh giá các quy định của pháp luật và việc thực hiện
vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL
Thứ ba, luận án xác định mục đích, quan điểm và đề xuất hệ thống các
giải pháp, kiến nghị có tính toàn diện, khả thi nhằm tăng cường vai trò của các cấp Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL ở nước ta hiện nay Những giải pháp trong thời gian tới đó là tăng cường nhận thức đúng đắn và sự cam kết mạnh mẽ của hệ thống chính trị trong công tác phụ nữ, bình đẳng giới, vai trò của tổ chức Hội trong xây dựng văn bản QPPL; hoàn thiện cơ chế pháp
lý đảm bảo sự tham gia xây dựng pháp luật của Hội LHPN Việt Nam; tăng cường sự phối hợp với MTTQ và các tổ chức thành viên, Chính phủ, Quốc hội, các cơ quan, tổ chức trong xây dựng văn bản QPPL; nâng cao hiệu quả của tổ chức Hội trong xây dựng văn bản QPPL
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần làm rõ những vấn đề lý luận của Hội LHPN Việt Nam với vai trò là một chủ thể tham gia xây dựng văn bản QPPL; các phương diện thể hiện vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Một số kết quả của luận án được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước, MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để đảm bảo sự tham gia của các chủ thể trong xây dựng pháp luật, góp phần thực
Trang 15hành dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội và tính khả thi của văn bản QPPL khi được ban hành
-Luận án có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt là tài liệu tham khảo cho Hội LHPN Việt Nam, các cơ quan, tổ chức và giảng viên, sinh viên ngành Luật, ngành Giới và Phát triển của Học viện Phụ nữ Việt Nam trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về vai trò của Hội LHPN Việt Nam, MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động xây dựng văn bản QPPL
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Những vấn đề lý luận về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Chương 3: Thực trạng vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm vai trò của Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Cùng với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, các hoạt động nghiên cứu liên quan đến các phương thức phát huy dân chủ thực chất của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng văn bản QPPL ở Việt Nam đã và đang được các cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu Mặc dù vậy, cho đến thời điểm hiện nay, trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học chưa có công trình khoa học hoàn chỉnh nào nghiên cứu trực tiếp về vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL ở Việt Nam Ở tầm luận án tiến sĩ cũng chưa có nghiên cứu sinh nào nghiên cứu riêng biệt về đề tài này Tuy nhiên, trên thực tế,
có một số công trình nghiên cứu liên quan đến một vài khía cạnh của đề tài, đây
là nguồn tham khảo quan trọng cho luận án của nghiên cứu sinh
1.1.1 Tình hình nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Một số công trình nghiên cứu đã phác họa bức tranh về quy trình lập
pháp của một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam như: “Báo cáo kết quả nghiên cứu quy trình lập pháp của một số nước trên thế giới [9]; “Sổ tay Phân tích chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật” [22],
“Báo cáo nghiên cứu về một số quy trình, thủ tục trong hoạt động của Quốc hội” [92], “Quy trình và kỹ thuật lập pháp” [95] Theo GS.TS Trần Ngọc
Đường (2019), quy trình lập pháp là quá trình phức tạp gồm nhiều hoạt động
cụ thể có liên quan mật thiết với nhau do nhiều chủ thể tiến hành [27, tr.94], đồng thời khẳng định mối quan hệ chặt chẽ của giữa quy trình lập pháp và chất lượng của dự án là luật, chúng không thể tách rời nhau mà còn có mối quan hệ
biện chứng, tác động qua lại với nhau Trong bài viết “Các bước làm luật: ở
Trang 17người và ở ta” của tác giả Nguyễn Đức Lam (2007) [67] đã chỉ ra những bất
cập trong quy trình xây dựng văn bản luật của Việt Nam theo Luật Ban hành văn bản QPPL 2002, đưa ra khuyến nghị về quy trình làm luật của Việt Nam, vai trò của cơ quan đề xuất luật, của công chúng và của Quốc hội
Bên cạnh các công trình nghiên cứu tập trung phân tích lý luận về quy trình lập pháp nói chung, đánh giá và đưa ra các kiến nghị, đề xuất nâng cao năng lực lập pháp của Quốc hội, một số nghiên cứu đã đề cập đến chủ thể tham
gia quy trình lập pháp của một số nước trên thế giới Báo cáo “Kết quả nghiên cứu quy trình lập pháp của một số nước trên thế giới của Bộ Tư pháp” (2019)
[9] cho thấy trong giai đoạn soạn thảo dự án luật ở một số quốc gia có sự tham gia rất tích cực của các chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức xã hội bên cạnh các cơ quan xây dựng luật chuyên nghiệp Tác giả Phan Thanh Hà (2018) trong
bài viết “Chủ thể tham gia vào quy trình lập pháp ở Việt Nam hiện nay và một
số vấn đề đặt ra” [29] chỉ ra trách nhiệm của từng chủ thể tham gia vào mỗi
giai đoạn trong quy trình lập pháp ở Việt Nam, trong đó đề cập đến vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên (trong đó có Hội LHPN Việt Nam)
là nhóm chủ thể theo luật định có quyền tham gia vào hoạt đọng lập pháp [29, Tr.19].Tác giả Lê Thị Ngọc Mai (2018) lại đi sâu phân tích trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng và thông qua chính sách theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 - một bước trong quy
trình xây dựng pháp luật trong bài viết “Trình tự, thủ tục xây dựng và thông qua chính sách đối với luật, pháp lệnh” [65] Tác giả cũng đã chia sẻ một số kinh
nghiệm nước ngoài về sự tham gia của các cơ quan, tổ chức trong quy trình xây dựng và thông qua chính sách Tuy nhiên, việc phân tích về trách nhiệm của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên – một chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật còn sơ lược và chưa thực sự đầy đủ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức này và quy định của pháp luật hiện nay
Trang 18Qua tổng quan cho thấy, có khá nhiều các nghiên cứu đề cập đến các hình thức tham gia xây dựng pháp luật của các tổ chức xã hội với tư cách là một chủ thể tham gia xây dựng pháp luật, khẳng định vai trò của các tổ chức xã hội nói chung, các tổ chức xã hội hoạt động về bình đẳng giới và sự phát triển
của phụ nữ nói riêng Tác giả Đặng Tất Dũng (2016) trong luận án tiến sĩ “The participantion of civil society organization in the law-making process in Vietnam with reference to the United Kingdom” (Sự tham gia của các tổ chức
xã hội trong quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam và so sánh với Vương Quốc Anh) [101] phân tích các hoạt động cụ thể của các tổ chức xã hội tại Vương quốc Anh trong việc tham gia xây dựng văn bản QPPL, có sự so sánh, đối chiếu với Việt Nam Theo đó, trong giai đoạn xây dựng dự thảo, các tổ chức
xã hội đóng vai trò đảm bảo tính dân chủ, huy động sự tham gia rộng rãi của người dân và xã hội bao gồm các hoạt động cụ thể như: (1) vận động hành lang (lobbying), (2) đưa ra kiến nghị (petitioning) và (3) thảo luận trực tuyến (online discussion) Đến giai đoạn thảo luận tại Quốc hội, các tổ chức xã hội được tạo
cơ hội tham gia thông qua các hoạt động như các hội thảo, các buổi thảo luận
do các ủy ban của Quốc hội tổ chức và sẵn sàng tiếp nhận kiến nghị của các tổ chức xã hội…Để tận dụng tốt các cơ hội tham gia xây dựng pháp luật, các tổ chức xã hội ở Vương quốc Anh đã có nhiều cách làm hiệu quả như xuất bản các ấn phẩm ngắn gọn với những thông tin có giá trị liên quan đến chính sách gửi cho các bên có liên quan, bày tỏ quan điểm về chính sách trên truyền hình, internet, radio, gửi email đến Quốc hội… Luận án đã phân tích tầm quan trọng của các tổ chức xã hội (bao gồm cả MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên bao gồm Hội LHPN Việt Nam) khi tham gia xây dựng pháp luật ở Việt Nam, xác định các yếu tố để thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức xã hội – một chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật từ thực tiễn của Việt Nam và kinh nghiệm của Vương Quốc Anh Tác giả Nguyễn Công Giao trong bài viết
“Một số vấn đề về vận động chính sách công” (2018) [28] cho rằng vận động
Trang 19chính sách của các tổ chức xã hội là hoạt động có hệ thống và mang tính chuyên nghiệp để thuyết phục, gây ảnh hưởng các chủ thể có thẩm quyền ban hành chính sách nhằm bảo vệ lợi ích của một nhóm chủ thể nhất định thông qua các hoạt động chính như: tham dự và nêu ý kiến điều trần tại Quốc hội; vận động
để được chủ trì khởi thảo các văn bản QPPL; tổ chức các cuộc tiếp xúc, tọa
đàm, đối thoại chính sách… Trong bài viết “Sự tham gia của các tổ chức xã hội trong quy trình xây dựng pháp luật” của tác giả Đinh Ngọc Quý [84] đưa
ra các yêu cầu và đề xuất các kiến nghị để các tổ chức xã hội tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật như: phản biện xã hội đa dạng hơn, xây dựng chính sách, pháp luật dựa trên bằng chứng khoa học và thực tiễn; có hình thức tham vấn công chúng và cung cấp bằng chứng, nâng cao trách nhiệm của các bên
trong quá trình xây dựng pháp luật….Bên cạnh đó, bài viết Understanding advocacy: a pimer on the policy making role of non profit organization (Hiểu
về vận động chính sách: một quan điểm về vai trò hoạch định chính sách của
tổ chức phi lợi nhuận) [100] thì vận động chính sách cũng có thể thông qua hình thức như: tổ chức chiến dịch vận động, tham gia bình luận, nêu chính kiến, cung cấp nghiên cứu đầu vào, vận động hành lang, đàm phán,…Hay trong
nghiên cứu “Civil Participation in Decision Making in the Wastern Partnership Countries” [106] (2017) (Sự tham gia của xã hội vào quá trình xây dựng pháp
luật ở các nước đối tác phía đông) cũng đưa ra các ví dụ điển hình về hình thức các tổ chức xã hội ở một số quốc gia như Ucraina, Belarus, tham gia vào quá trình xây dựng văn bản QPPL như thảo luận bàn tròn, lấy ý kiến công chúng
Cuốn sách “Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội ở Việt Nam” [71]
của các tác giả Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2012) đã đưa ra kinh nghiệm phát huy vai trò của các tổ chức xã hội ở Trung Quốc nhằm mở rộng sự tham gia của quần chúng nhân dân, tăng cường tự quản xã hội Các tổ chức xã hội Trung quốc có thể tham gia hoạch định chính sách của Đảng và Chính phủ bằng các hình thức: (1) thông qua người lãnh đạo tổ chức trực tiếp
Trang 20tham gia vào cơ quan của chính quyền nhà nước; (2) tham gia vào công tác hoạch định chính sách thông qua phản ánh các vấn đề có liên quan với các bộ, ngành ban hành chính sách; (3) trực tiếp tham gia vào các hoạt động hoạch định chính sách cùng với chính quyền địa phương tùy theo chức năng, nhiệm vụ của
tổ chức (phát biểu ý kiến, trình bày nguyện vọng cũng như phân tích các chính sách sẽ được chính phủ ban hành; chủ động đề xuất với lãnh đạo Đảng và Chính phủ các phương án hoạch định chính sách về các vấn đề như kinh tế, chính trị, ngoại giao, môi trường để đảm bảo chính sách phản ánh đầy đủ thực tiễn và có tính khả thi hơn) [71, Tr.28]
Bài viết “Pháp luật Thái lan về tổ chức xã hội và vai trò của tổ chức xã hội trong quản lý nhà nước” [69] khẳng định một số tổ chức xã hội tham gia
vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách quốc gia thông qua việc thực hiện nghiên cứu độc lập nhằm cung cấp các bằng chứng cho các cơ quan xây dựng pháp luật; tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về các chính sách Trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1997 của Thái lan, tổ chức xã
hội với tên gọi “Mạng lưới Hiến pháp của phụ nữ” đã vận động phụ nữ tham
gia ứng cử vào Ủy ban soạn thảo Hiến pháp, đồng thời nâng cao nhận thức của
xã hội, đặc biệt là phụ nữ về tầm quan trọng của Hiến pháp Kết quả là, Hiến pháp năm 1997 của Thái Lan đã có những điều khoản bảo đảm và bảo vệ quyền con người, tăng cường bình đẳng [69,Tr.82] Các nghiên cứu về hoạt động của
các tổ chức phụ nữ như chuyên đề nghiên cứu về kinh nghiệm của các tổ chức phụ nữ có hệ thống chính trị tương đồng với Việt Nam, đề tài khoa học cấp Bộ
“Xây dựng chiến lược phát triển tổ chức Hội” (2019) [55]; Báo cáo “Quan hệ hợp tác giữa Hội LHPN Việt Nam và Hội LHPN Lào qua các thời kỳ - Những thành tựu và bài học kinh nghiệm” (2017) [52] của Hội LHPN Việt Nam cho
thấy Hội Phụ nữ đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện thông qua
hệ thống Hiến pháp và pháp luật, có vai trò đại diện, tập hợp các tầng lớp phụ
nữ để bảo vệ và triển khai sự lãnh đạo của Đảng đối với đất nước, thực hiện chức năng đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em Một số
Trang 21quốc gia đã có các quy định để tạo cơ hội cho Hội LHPN tham gia vào quá trình xây dựng chính sách, pháp luật có liên quan đến phụ nữ và trẻ em Hệ thống văn bản QPPL của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào quy định cụ thể
về địa vị pháp lý của Hội LHPN Lào, xác định quyền tham gia xây dựng, soạn thảo chính sách, pháp luật Hội LHPN Lào, đặc biệt tại khoản 1 Điều 45 Luật
về Phát triển và Bảo vệ phụ nữ 2004 (Law on the Development and Protection
of women (2004) [92] đã quy định quyền và nghĩa vụ của cấp Hội TW:
“Nghiên cứu, xây dựng, soạn thảo chính sách, chương trình, dự án, luật pháp
và quy định có liên quan đến sự phát triển và bảo vệ phụ nữ và đề xuất với các
cơ quan có thẩm quyền để xem xét” Hội LHPN Cuba (Federation of Cuban
Women) là một trong những tổ chức quần chúng của cách mạng Cuba với hơn
4 triệu hội viên, chiếm 90% nữ giới trong độ tuổi từ 14 trở lên Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, Hội LHPN Cuba có quyền xây dựng văn bản QPPL; trình lên Quốc hội các sáng kiến luật pháp ủng hộ cho sự phát triển của phụ nữ, tham gia góp ý kiến vào quá trình sửa đổi hiến pháp và các văn bản QPPL nhằm đảm bảo quyền lợi của phụ nữ Cuba [104]
Trong bài viết “Giải pháp hoàn thiện các điều kiện thực hành dân chủ đại diện ở Việt Nam” [89] tác giả Nguyễn Minh Tuấn đã phân tích các hình
thức dân chủ đại diện ở nước ta hiện nay, trong đó nêu thực trạng và đề xuất giải pháp về dân chủ đại diện thông qua MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong bối cảnh việc phát huy dân chủ đại diện là động lực quan trọng
để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân Báo cáo “Nghiên cứu tham vấn ý kiến công chúng trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật” [96] đề cập đến vai trò, tầm quan trọng của
việc lấy ý kiến công chúng nhằm phát huy dân chủ, tạo sự đồng thuận trong xã hội, đồng thời đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp về hoàn thiện pháp luật về cơ chế lấy ý kiến công chúng và mô hình thí điểm tham vấn công chúng
ở Việt Nam
Trang 22Vai trò của MTTQ Việt Nam trong xây dựng pháp luật được GS.TS Trần Ngọc Đường (2019) nêu ra trong bài viết cùng tên [27] đã luận giải về vị trí, tính đặc thù MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội (trong đó có Hội LHPN Việt Nam) trong hệ thống chính trị của nước ta Bài viết cũng đã đề cập đến các hoạt động xây dựng pháp luật của MTTQ Việt Nam - một nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta theo quy định của Luật MTTQ Việt Nam 2015 và Luật Ban hành văn bản QPPL
2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản QPPL 2015 (2020) đó là: ban hành văn bản QPPL, đưa ra sáng kiến xây dựng văn bản QPPL (cả ở cấp TW và cấp địa phương); trình dự án luật, tham gia các công đoạn của quy trình xây dựng pháp luật từ việc hình thành các đề nghị xây dựng văn bản QPPL, hình thành chương trình xây dựng luật và pháp lệnh hàng năm đến việc soạn thảo, thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh trước khi trình Quốc hội xem xét thông qua; trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của MTTQ nhận xét, nêu chính kiến, kiến nghị đối với sự thảo văn bản QPPL và giám sát việc thực hiện pháp luật khi được cơ quan có thẩm quyền thông qua Một vài nghiên cứu khác đã đi sâu nghiên cứu về các cách thức của MTTQ Việt Nam và các tổ chức
chính trị - xã hội tham gia xây dựng pháp luật Sách chuyên khảo “Phản biện
xã hội trong hoạt động lập pháp, hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước của Quốc hội” của tác giả Vũ Hồng Anh (2013) [1] khẳng định
sự cần thiết của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia vào quá trình xây dựng các văn bản QPPL và đề xuất một số giải pháp tăng cường phản biện
xã hội trong hoạt động lập pháp [1,Tr.198-199] Với cách tiếp cận về trách nhiệm, nội dung tham gia phản biện xã hội của Hội LHPN Việt Nam, tác giả
Hà Thị Thanh Vân (2018) trong bài viết “Một số đề xuất về việc thực hiện trách nhiệm bảo đảm bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật” [98] tập
trung phân tích các quy định của pháp luật về trách nhiệm phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật về bình đẳng giới của Hội LHPN Việt Nam và những
Trang 23thách thức đặt ra, một số vấn đề cần chú trọng trong công tác này - một khía cạnh thể hiện vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL Tuy nhiên, Hội LHPN Việt Nam là một tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam nhưng việc nghiên cứu vai trò, cơ chế phối hợp giữa các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam, trong đó có tổ chức Hội LHPN Việt Nam trong quy trình xây dựng pháp luật lại chưa được đề cập đến
Một số nghiên cứu, chuyên đề đã đề cập đến vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng chính sách, pháp luật ở các mức độ khác nhau Báo cáo
khoa học của Hội LHPN Việt Nam (2021) về“Vai trò của Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam trong xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời gian qua và giải pháp phát huy vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045” [58, Tr.4]
đã khẳng định tổ chức Hội là một chủ thể trong cấu trúc của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và tham gia xây dựng chính sách, pháp luật là một trong những hình thức quan trọng mà Hội LHPN Việt Nam tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Có nghiên cứu chỉ
ra rằng tham gia xây dựng chính sách, luật pháp là một trong những nội dung quan trọng để Hội LHPN Việt Nam có thể thực hiện được tôn chỉ mục đích và
chức năng “đại diện chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ” [47, Tr.5] Cuốn sách “Các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội LHPN Việt Nam” [34] của Hội LHPN Việt Nam (2002) đã
đề cập đến các quy định của pháp luật để Hội tham gia quản lý nhà nước, trong hoạt động lập pháp, lập quy được khẳng định là một cơ chế để phụ nữ thực hiện quyền làm chủ của mình, cụ thể là: Hội được quyền trình dự án luật; tham gia
ý kiến xây dựng luật; ký, ban hành nghị quyết hoặc thông tư liên tịch về các lĩnh vực mà Hội tham gia quản lý nhà nước; có quyền đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ luật, nghị quyết của Quốc hội trái
Trang 24hiến pháp, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản QPPL của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ [34,Tr,7-14]
…Trong khi đó, cuốn sách “Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về bình đẳng giới” [35] của Hội LHPN Việt Nam (2009), đã chỉ ra căn cứ pháp lý và
vai trò của Hội LHPN Việt Nam tham gia xây dựng chính sách, pháp luật; các hoạt động cụ thể tham gia góp ý xây dựng chính sách, tham gia biên soạn văn bản QPPL, đề xuất chính sách và sáng kiến pháp luật, phản biện xã hội đối với
dự thảo luật; chia sẻ kỹ năng lồng ghép giới và cung cấp thông tin, dữ liệu về
giới…Tập bài giảng “Công tác tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện công tác luật pháp chính sách về bình đẳng giới của Hội LHPN Việt Nam” của
Trường cán bộ Phụ nữ TW (nay là Học viện Phụ nữ Việt Nam) (2012) đưa ra khái niệm Hội LHPN Việt Nam tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về bình đẳng giới là việc Hội tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật, tham gia soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; đề xuất chính sách và sáng kiến xây dựng pháp luật; phản biện xã hội dự thảo chính sách, pháp luật về bình đẳng giới [91, Tr.14] thông qua các cách thức cụ thể như cử đại diện tham gia ban soạn thảo, gửi văn bản góp ý, tham gia ý kiến tại các cuộc họp….Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ mang tính chất liệt kê, tóm lược văn bản, các quy định của pháp luật tại thời điểm ban hành mà chưa phân tích, làm rõ cơ sở lý luận cũng như những vấn đề thực tiễn đặt ra cho tổ chức Hội trong xây dựng chính sách, pháp luật
Tổng quan một số nghiên cứu ở trên cho thấy, để xây dựng một xã hội dân chủ, minh bạch, một hệ thống pháp luật có tính khả thi thì sự tham gia của
tổ chức xã hội vào quá trình xây dựng pháp luật là một tất yếu Các tổ chức xã hội tham gia vào quy trình xây dựng pháp luật với phương thức, cách làm khá
đa dạng Đây là những thông tin hữu ích để tác giả có thể nghiên cứu, đối sánh
và đưa ra các giải pháp phù hợp đối với Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL ở Việt Nam Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đã khẳng định vai
Trang 25trò trong xây dựng văn bản QPPL của Hội LHPN Việt Nam với tư cách là một
tổ chức chính trị - xã hội thực hiện chức năng đại diện cho các tầng lớp phụ nữ thông qua một số hình thức cụ thể, tuy nhiên mới chỉ liệt kê, chưa phân tích sâu, toàn diện
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thực trạng của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Thời gian qua, có khá nhiều các nghiên cứu về kết quả của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL Khi đánh giá về việc thực hiện các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Chính phủ
(2014) cho rằng “MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên đã phát huy vai trò của mình trong việc tham gia góp ý vào các dự án luật, trong đó chú trọng những dự án luật liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên, liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tổ chức bộ máy nhà nước Nhiều văn bản góp ý của TW MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên được đánh giá là có chất lượng cao, có sắc thái riêng, được cơ quan tiếp thu.” [18, Tr.26] Hội LHPN Việt Nam (2013) đã
đánh giá tổng thể việc tham gia xây dựng văn bản QPPL của Hội theo Luật Bình đẳng giới 2006 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 [38] thông qua các hình thức: đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản QPPL, góp
ý, phản biện xã hội dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo cũng chỉ ra những lúng túng về cách thức để Hội LHPN Việt Nam thực hiện trách nhiệm phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật
về bình đẳng giới được quy định trong Luật Bình đẳng giới năm 2006 Hội LHPN Việt Nam đánh giá sau 5 năm thực hiện Quyết định 217/QĐ-TW ngày
12/12/2013 [2] “Phát hiện, kiến nghị của Hội trong quá trình giám sát, phản biện
xã hội góp phần quan trọng bổ sung và từng bước hoàn thiện chính sách, pháp luật về phụ nữ, trẻ em, gia đình và bình đẳng giới” [45, Tr.11] Báo cáo rà soát
độc lập 10 năm thực hiện Luật Bình đẳng giới (2020) [11] đã đề cập đến vai trò
Trang 26của Hội LHPN Việt Nam trong lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL Báo cáo nhấn mạnh đến việc thực hiện vai trò của Hội LHPN Việt Nam – tổ chức có nghĩa vụ tương đương như một cơ quan Nhà nước, đồng thời là một trong những tổ chức tiên phong thúc đẩy Luật Bình đẳng giới ra đời
và có nhiều kiến nghị được tiếp thu vào các văn bản QPPL [9, Tr.61] Ngoài
ra, còn có nhiều các bài viết, báo cáo đánh giá về kết quả tham gia xây dựng văn bản QPPL của Hội ở các khía cạnh, các giai đoạn khác nhau như: Cuốn
sách “Các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội LHPN Việt Nam” [34], Báo cáo 5 năm thực hiện Luật Bình đẳng giới 2006 của Hội LHPN Việt Nam [50], Báo cáo 10 năm thực hiện Luật Bình đẳng giới 2006 của Hội LHPN Việt Nam [51], Báo cáo 10 năm thực hiện Nghị định 56/2012/NĐ-CP ngày 12/7/2017 về trách nhiệm của UBND các cấp trong việc bảo đảm cho các cấp Hội LHPN Việt Nam tham gia quản lý nhà nước [53]
Tuy nhiên, tác giả Vương Toàn Thắng (2017) trong bài viết “Một số vấn
đề về quyền tham gia xây dựng pháp luật của công dân” [85] cho rằng mặc dù
là các tổ chức đại diện cho các tầng lớp nhân dân nhưng các tổ chức chính trị -
xã hội (trong đó có Hội LHPN Việt Nam) hoạt động như các cơ quan hành chính nhà nước, xơ cứng cả về tổ chức và phương thức hoạt động nên việc thực hiện chức năng đại diện cho người dân thông qua phản ánh nguyện vọng, ý chí của các tổ chức này bị hạn chế Hoặc dưới góc nhìn của các tổ chức phi chính phủ, qua phân tích, đánh giá sự ảnh hưởng của các bên liên quan trong quy trình ban hành chính sách công theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015,
báo cáo nghiên cứu “Vận động và chiến lược vận động của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam” của Lê Quang Bình và cộng sự [13] khẳng định, trong quy trình
xây dựng pháp luật hiện nay, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên luôn là
một bên trong quá trình tham vấn, góp ý nhưng các tổ chức này “vừa không có động lực, vừa không đủ năng lực” tham gia vào quá trìxây dựng văn bản QPPL
Trang 27[13,Tr.13] Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu, cỡ mẫu hẹp, nhưng đây cũng là những gợi mở để xác định giả thuyết nghiên cứu
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về các giải pháp bảo đảm vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Nghiên cứu của UN Women (2010) trong bài viết “Understanding the role of NGO in the legislative process” (Hiểu được vai trò của các tổ chức phi
chính phủ trong tiến trình lập pháp) [102] đã khuyến nghị một số nội dung trong quá trình tham gia xây dựng pháp luật của các tổ chức phi chính phủ, đó là: phải xem xét năng lực của tổ chức khi tham gia vào quá trình vận động chính sách; nghiên cứu các quy định của pháp luật mỗi quốc gia về sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ hay phải xác định những hạn chế trong thực tế mà các tổ chức phi chính phủ gặp phải trong quá trình vận động chính sách bằng cách đã ra các nghiên cứu trường hợp tại một số quốc gia Nigeria, Armernia, Kazakhsran…Một số nghiên cứu đã đề cập đến các giải pháp để bảo đảm vai trò đại diện của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong tham gia quản lý
nhà nước Bài viết “Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam” [73] của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2017) khẳng
định Hội LHPN Việt Nam có vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ và sự nghiệp bình đẳng giới, đồng thời đưa ra một số đề xuất đổi mới nội dung phương thức của Hội như: tham gia quá trình hoạch định chủ trương, chính sách và chương trình kinh tế - xã hội; hoàn thiện và thực hiện luật pháp về bình đẳng giới, tạo điều kiện phát triển của phụ nữ Đây là những gợi mở về giải pháp để phát huy vai trò của Hội LHPN Việt Nam tham gia xây dựng chính sách, luật pháp trong thời gian tới Tác giả Vũ Đăng Minh (2009) trong bài viết
“Phát huy vai trò của các cấp Hội LHPN Việt Nam trong việc tham gia quản
lý nhà nước” [66] đã chỉ ra một trong những yếu tố tác động đến kết quả tham gia quản lý của Hội LHPN Việt Nam, đó là “trong quá trình nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, các bộ, ngành chưa thường xuyên phối hợp với
Trang 28TW Hội LHPN Việt Nam để tạo điều kiện cho TW Hội tham gia nhiều hơn vào việc xây dựng cơ chế, chính sách” [66,Tr.38] Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số
giải pháp hoàn thiện cơ chế tạo điều kiện cho các cấp Hội LHPN tham gia quản lý nhà nước, tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến vào nội dung các văn bản QPPL trong quá trình xây dựng dự thảo
Bài viết “Hoạt động giám sát, phản biện xã hội của TW Hội LHPN Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” (2019) của tác giả Nguyễn Thanh Cầm [14]; tác giả Bùi Thị Hòa trong bài “Phát huy vai trò của các cấp Hội và hội viên phụ nữ trong hoạt động giám sát phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” [31] khẳng định giám sát, phản biện xã hội của MTTQ
Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội là những phương thức quan trọng góp phần hoàn thiện nền dân chủ XHCN đồng thời đề xuất một số giải pháp về thể chế, về năng lực của cán bộ Hội để công tác phản biện xã hội - một hình thức tham gia xây dựng văn bản QPPL của Hội LHPN Việt Nam phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội Tác giả Trần Hoài Nam (2017) trong luận án tiến
sĩ Luật học “Vai trò, trách nhiệm của chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự
án Luật, pháp lệnh trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” đề cập đến giải pháp tiếp tục chuyên nghiệp hóa và công khai hóa hơn
nữa công tác xây dựng các dự án luật, tuy nhiên các giải pháp mới chỉ nhìn từ góc độ thu hút sự tham gia trực tiếp của người dân vào quá trình xây dựng luật,
pháp lệnh [63, Tr.148-149] Tác giả Ngô Sách Thực trong bài viết “Những vấn
đề đặt ra trong thực hiện nhiệm vụ phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội trong giai đoạn hiện nay” [87] đưa ra một số
giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động phản biện xã hội - một trong những hình thức tham gia xây dựng pháp luật của MTTQ Việt Nam và các tổ chức
chính trị - xã hội Bài viết “Các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng pháp luật” của Đỗ Duy Thường
(2019) [88] bàn đến cơ chế thực hiện quyền sáng kiến pháp luật và hoạt động
Trang 29góp ý kiến dự thảo văn bản QPPL của MTTQ, trong đó đề xuất các giải pháp
về cơ chế phối hợp giữa MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của MTTQ trong xây dựng pháp luật Tác giả Đặng Thị Kim Ngân đưa ra thực trạng và các giải pháp sơ lược liên quan đến hình thức (là thành viên Ban soạn thảo, tổ biên tập; góp ý dự thảo) tham gia xây dựng
pháp luật của MTTQ Việt Nam trong bài viết “Ủy ban TW MTTQ Việt Nam tham gia thành viên Ban soạn thảo, Tổ Biên tập xây dựng văn bản QPPL; tham gia góp ý dự thảo văn bản QPPL của nhà nước – Thực trạng và giải pháp” [64]; “Chiến lược phát triển tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đến năm
2030, tầm nhìn 2035” [32] khuyến nghị một số giải pháp cơ bản để nâng cao
hiệu quả công tác tham mưu đề xuất, giám sát, phản biện xã hội của Hội như nâng cao năng lực nghiên cứu, phát hiện vấn đề có liên quan đến phụ nữ, trẻ
em, bình đẳng giới; tạo diễn đàn để phụ nữ và nhân dân thể hiện tiếng nói, quan
điểm trong quá trình xây dựng pháp luật “Tài liệu tập huấn về kỹ năng, phương pháp lấy ý kiến, phản biện xã hội trong xây dựng chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thúc đẩy sự tham gia của các nhóm yếu thế” [10] đã nêu
cụ thể nội dung và các kỹ năng cần thiết về phản biện xã hội của MTTQ và các
cơ quan, tổ chức Một trong những nội dung trong Báo cáo sơ kết 5 năm thi hành Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015 của Hội LHPN Việt Nam (2020) [56] là đề xuất về cơ chế phối hợp và sửa đổi, bổ sung về mặt thể chế giữa Hội LHPN Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và MTTQ Việt Nam nhằm tạo
sự đồng thuận đối với các kiến nghị, đề xuất với các cơ quan chức năng trong xây dựng pháp luật trên cơ sở nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân
Một số nghiên cứu đã đề cập hoạt động hiệu quả của các tổ chức phụ nữ
trong xây dựng văn bản QPPL như chuyên đề nghiên cứu về các tổ chức phụ
nữ có hệ thống chính trị tương đồng với Việt Nam [55], Báo cáo kết quả quan
hệ hợp tác giữa Hội LHPN Việt Nam và Hội LHPN Lào – Những thành tựu và
Trang 30bài học kinh nghiệm [52], Phụ nữ và cách mạng Cu ba: Hội LHPN Cuba (Women and the Cuban Revolution: The Federation of Cuban Women) [104]
cho thấy Hội LHPN Lào, Hội LHPN Cuba đều là các tổ chức đại diện cho hội viên, phụ nữ, thu hút rộng rãi các tầng lớp phụ nữ với đặc điểm chung là hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản mỗi nước, là cầu nối giữa Đảng với quần chúng nhân dân Để tham gia hiệu quả vào quá trình xây dựng văn bản QPPL, Hội LHPN Lào đã thành lập Trung tâm nguồn về giới và phát triển (GRID) trên khắp đất nước Các Trung tâm này thu thập số liệu về giới, thực hiện các nghiên cứu, cung cấp các bằng chứng cho các cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình tham gia xây dựng các văn bản QPPL; Đồng thời, các Trung tâm này cung cấp các thông tin về giới, tổ chức các khóa đào tạo về giới nhằm nâng cao nhận thưc và năng lực cho cán bộ chính quyền các cấp Đối với Hội LHPN Cuba, để có căn cứ đề xuất và tham gia xây dựng các văn bản QPPL, Hội LHPN Cuba ưu tiên thực hiện các đề tài nghiên cứu liên quan đến phụ nữ, bình đẳng giới [55, Tr.24]
1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề cần giải quyết
1.2.1 Đánh giá chung
- Những thành công của các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
Qua nghiên cứu các tài liệu, công trình có liên quan đến nội dung luận án, tác giả có một vài đánh giá về những đánh giá trước đây đã đạt được như sau:
Thứ nhất, hiện trạng số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài tương đối nhiều, với các mức độ liên quan khác nhau
Các nghiên cứu đã đề cập đến quy trình lập pháp của một số quốc gia, sự tham gia của các chủ thể trong quá trình đó Các công trình nghiên cứu quốc tế
đã đề cập đến sự cần thiết phải tham gia quá trình xây dựng pháp luật của các
tổ chức xã hội thông qua những phương thức, các hoạt động mà các tổ chức xã hội đã thực hiện trong quá trình tham gia xây dựng pháp luật Trong đó, một
Trang 31vài nghiên cứu đã đề cập đến việc tham gia xây dựng pháp luật của các tổ chức
xã hội hoạt động vì mục tiêu phát triển phụ nữ và bình đẳng giới Đây là những tài liệu hữu ích cho nghiên cứu sinh trong quá trình nghiên cứu, đặc biệt là việc định hướng nghiên cứu, đề xuất các giải pháp của luận án phù hợp với bối cảnh thực tế của Việt Nam
Các công trình nghiên cứu trong nước đã đề cập bước đầu về sự tham gia của hệ thống Hội LHPN Việt Nam và công tác xây dựng văn bản QPPL; đề cập đến một số kết quả của Hội LHPN Việt Nam tham gia vào quá trình này; đồng thời gợi mở những giải pháp bảo đảm vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong công tác xây dựng văn bản QPPL Đây thực sự là nguồn tư liệu quan trọng để tiếp tục triển khai sâu về những nội dung của luận án
Thứ hai, một số vấn đề liên quan đến chủ đề của luận án đã được làm
sáng tỏ và được nghiên cứu tiếp thu trong quá trình nghiên cứu đề tài trên các phương diện cụ thể sau:
Trên phương diện lý luận, vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội
trong đó có tổ chức Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng pháp luật cũng đã được một số nghiên cứu đề cập đến, tuy nhiên cũng chưa nhiều, chưa sâu
Trên phương diện thực tiễn, các kết quả về hoạt động xây dựng văn bản
QPPL, qua đó thực hiện chức năng đại diện cho các tầng lớp phụ nữ của Hội LHPN Việt Nam trong thời gian qua tương đối rõ nét, đặc biệt là công tác xây dựng văn bản QPPL từ khi đất nước đổi mới đến nay Những kết quả này là nguồn tư liệu hữu ích để tác giả hoàn thiện nội dung của luận án
Trên phương diện đề xuất, kiến nghị các giải pháp, một số nghiên cứu
đã đề cập đến kinh nghiệm của các tổ chức xã hội, các tổ chức hoạt động vì sự bình đẳng, tiến bộ của phụ nữ ở các quốc gia khác nhau tham gia xây dựng pháp luật với các hình thức và cách thức đa dạng Một vài nghiên cứu đã có những giải pháp từ khái quát đến cụ thể nhằm nâng cao vai trò của MTTQ Việt
Trang 32Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó có tổ chức Hội LHPN Việt Nam tham gia xây dựng văn bản QPPL hiện nay
- Một số hạn chế của các nghiên cứu liên quan đến luận án
Qua nghiên cứu tổng quan cho thấy, bên cạnh các kết quả đạt được, các nghiên cứu mới chỉ đề cập đến vai trò của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội nói chung mà chưa có các nghiên cứu cụ thể về tổ chức Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL trên các khía cạnh: sáng kiến xây dựng luật, góp ý, phản biện xã hội dự thảo văn bản QPPL cũng như cách thức Hội tham gia vào quá trình này, chưa phân tích mối quan hệ phối hợp giữa Hội LHPN Việt Nam và các chủ thể khác trong suốt quá trình xây dựng văn bản QPPL Hiện nay, việc nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng về vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL chưa thật sự đầy đủ, vẫn còn những khoảng trống cũng như thiếu những giải pháp tổng thể nhằm thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước trong xây dựng pháp luật và thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới
1.2.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Thứ nhất, phân tích và làm rõ các khái niệm, nội hàm thể hiện vai trò của
Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL; nội dung, yêu cầu về sự tham gia của Hội LHPN Việt Nam trong toàn bộ quy trình xây dựng văn bản QPPL ở Việt Nam hiện nay
Thứ hai, nghiên cứu sự biến chuyển trong lý luận về vai trò của Hội
LHPN Việt Nam - tổ chức đại diện cho phụ nữ hoạt động vì sự tiến bộ của phụ
nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới tham gia xây dựng văn bản QPPL trong bối cảnh phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN
ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, luận án cần làm rõ mối tương quan, phối hợp giữa Hội LHPN Việt Nam với MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các chủ thể khác trong quá trình xây dựng văn bản QPPL
Trang 33Thứ ba, làm rõ các yếu tố tác động đến việc bảo đảm cho Hội LHPN Việt
Nam tham gia quá trình xây dựng văn bản QPPL ở Việt Nam hiện nay
Thứ tư, phân tích các quy định pháp lý và vai trò của Hội LHPN Việt
Nam trong toàn bộ quy trình xây dựng văn bản QPPL
Thứ năm, đề xuất và hoàn thiện giải pháp để đảm bảo vai trò của Hội
LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL
1.3 Cơ sở lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu
1.3.1 Cơ sở lý thuyết
- Quyền tham gia xây dựng pháp luật
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966
[24] nêu rõ mọi công dân đều có quyền và cơ hội để “tham gia điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức đại diện do họ tự lựa chọn” (Điều 25) Đối với phụ nữ, Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử chống lại phụ nữ năm 1979 [25] quy định “Các quốc gia thành viên Công ước phải tiến hành tất cả các biện pháp thích hợp nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong đời sống chính trị và công cộng của đất nước, cụ thể, phải đảm bảo cho phụ nữ, trên cơ sở bình đẳng với nam giới, các quyền: b) Được tham gia vào việc xây dựng và thực hiện các chính sách của chính phủ ” (Điều 7)
Như vậy, quyền tham gia điều hành các công việc xã hội theo nghĩa rộng bao gồm các cơ chế giúp người dân trực tiếp hoặc gián tiếp có thể bày tỏ ý kiến
và ý tưởng về các vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, quản lý hoặc quyết định xã hội…Sự tham gia ở đây có nghĩa là góp phần thực hiện một hoạt động hay đảm nhiệm vị trí, vai trò nào đó trong một quy trình hoạt động nhằm đạt được hiệu quả chung Sự tham gia của người dân với tính chất là một quá trình, tạo ra cơ hội bình đẳng giữa các chủ thể có liên quan, trong đó tất cả mọi người được thể hiện quan điểm, ý kiến của mình…và Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm thực hiện
Quyền tham gia xây dựng pháp luật là biểu hiện cụ thể của nhóm quyền tham gia vào đời sống chính trị của người dân được các công ước quốc tế và pháp luật
Trang 34của mỗi quốc gia ghi nhận và có trách nhiệm phải thực hiện Ở Việt Nam, trong bối cảnh dân chủ ngày càng được mở rộng gắn với quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì sự tham gia của các cá nhân, tổ chức vào quá trình xây dựng pháp luật là tiền đề đảm bảo cho pháp luật phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân, nâng cao tính khả thi khi văn bản QPPL được ban hành Quyền tham gia xây dựng pháp luật của công dân gắn với nhiều phương thức, hình thức thực hiện khác nhau để tạo cơ hội cho người dân có thể chủ động (tự đề đạt mong muốn, nguyện vọng) hoặc bị động (được hỏi) với hình thức trực tiếp (tự mình thực hiện) hoặc gián tiếp (thông qua các tổ chức, cá nhân đại diện thực hiện)
Quyền tham gia xây dựng pháp luật thể hiện sự tương tác giữa chủ thể có quyền và chủ thể có nghĩa vụ trong việc bảo đảm thực hiện quyền Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm quyền và cơ hội tham gia bình đẳng của tất cả người dân, tổ chức đại diện cho họ vào quá trình xây dựng pháp luật bằng nhiều hình thức khác nhau, đồng thời có trách nhiệm tiếp thu, giải trình các ý kiến tham gia, phản biện của người dân Bên cạnh đó, nhà nước cần phát huy vai trò của các tổ chức đại diện trong việc nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng và khơi dậy trách nhiệm của người dân thực hiện quyền của mình
- Lý thuyết về dân chủ
Thuật ngữ “dân chủ” ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII trước công nguyên
Về mặt ngữ nghĩa, ngôn ngữ Hy Lạp cổ dùng thuật ngữ “demokratos” để diễn đạt dân chủ, trong đó “demos” là nhân dân và “kratos” là quyền lực Như vậy, dân chủ trong tiếng Hy Lạp cổ được hiểu là quyền lực thuộc về nhân dân hoặc quyền lực của nhân dân Cách hiểu trên cơ bản được giữ nguyên cho đến ngày nay Theo đó, dân chủ là một khái niệm dùng để chỉ dân làm chủ, nhân dân là gốc của quyền lực nhà nước, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải xuất phát
từ ý chí, ý nguyện của nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân
Trang 35Có hai phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Dân chủ trực tiếp là phương thức tôn trọng và thực hiện dân chủ trong các tổ chức, cộng đồng hay xã hội, theo đó quyền làm chủ của các thành viên trong tổ chức, cộng đồng hay xã hội đó được thực hiện một cách trực tiếp bởi chính bản thân các thành viên đó Dân chủ đại diện là phương thức tôn trọng và thực hiện dân chủ trong các tổ chức, cộng đồng hay xã hội, chủ yếu trong tổ chức của tổ chức đại diện cơ quan quyền lực nhà nước, theo
đó quyền làm chủ của các thành viên xã hội được thực hiện thông qua các đại diện của họ được bầu chọn hoặc chỉ định trong số các thành viên
Trong thực tiễn, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện kết hợp cả hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Người dân có thể thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua dân chủ trực tiếp (tham gia bầu cử trực tiếp, trưng cầu ý dân, góp ý, xây dựng văn bản QPPL…) hoặc dân chủ đại diện (thông qua Nghị viện (Quốc hội), các đảng chính trị, tổ chức xã hội, các nghiệp đoàn hoặc cơ chế vận động hành lang) [33] Đối với dân chủ đại diện, để có thể làm tốt vai trò đại diện của mình, trên cơ sở các quy định của pháp luật, mỗi chủ thể đại diện bao giờ cũng phải làm rõ các nội hàm: đại diện cho ai, đại diện cho lợi ích nào và làm thế nào (thông qua nội dung, cách thức thực hiện và con người trực tiếp thực hiện) để chủ thể đại diện có được sự tin tưởng, chia sẻ của người được đại diện và thực hiện được sứ mệnh của mình
Ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng và tổ chức bộ máy nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Nước ta là nước dân chủ”, “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; công việc đổi mới, xây dựng
là trách nhiệm của dân” [60, tr.232] Người dân có thể thực hiện quyền lực nhà
nước thông qua dân chủ trực tiếp hoặc dân chủ đại diện Hiến pháp 2013 (Điều
3) đã quy định dân chủ là một mục tiêu của Nhà nước: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước
Trang 36mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.” Tại điều 6, Hiến pháp 2013 đã
quy định các hình thức thực hiện quyền lực nhà nước trong xây dựng và hoàn
thiện nhà nước pháp quyền XHCN “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan Nhà nước khác” Theo đó, bên cạnh hình
thức dân chủ trực tiếp, người dân thực hiện dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các cơ quan hành pháp và tư pháp và thông qua các tổ chức đại diện cho tiếng nói, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, đó là MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội Với tư cách là một thành tố trong hệ thống chính trị, vai trò đại diện cho nhân dân của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã được Hiến định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản
biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh, Hội LHPN Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam là các tổ
chức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình;
cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.” (Điều 9 Hiến pháp 2013)
- Lý thuyết quản trị nhà nước tốt
Ở mỗi quốc gia, quản trị nhà nước tốt không phải là mô hình tổ chức, hoạt động của một nhà nước mà là các nguyên tắc định hướng cho việc thiết kế và vận hành bộ máy nhà nước trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước để quản
lý tốt mọi vấn đề của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa… Quản trị nhà
Trang 37nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực của nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của công dân thông qua các hoạt động hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu của nhà nước Quản
lý, quản trị nhà nước không phải là cai trị, cấm đoán mà là quản trị bằng dân chủ, bằng sự mở rộng tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, sử dụng
có hiệu quả các công cụ thể chế, chính sách và các phương pháp, kỹ năng, kỹ trị hiện đại nhằm tạo điều kiện cho kinh tế - xã hội phát triển, tạo thuận lợi cho các hoạt động của người dân và doanh nghiệp và cho sự phát triển bền vững của đất nước Theo tài liệu của Uỷ ban Kinh tế - Xã hội châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP) (tiếng Anh: The United Nations Economic and Social Commission for Asia and the Pacific), cách tiếp cận quản trị nhà nước tốt theo chỉ số thể chế là: chính sách, khung pháp lý và thể chế, hiệu lực, phân cấp và
sự tham gia trong quá trình ra quyết định; minh bạch và trách nhiệm giải trình, công bằng và bao trùm [105] Một trong những đặc trưng của quản trị nhà nước tốt là huy động, bảo đảm sự tham gia của các chủ thể trong xã hội vào hoạt động của Chính phủ Trong đó, sự tham gia của cả phụ nữ và nam giới là nền tảng quan trọng của quản trị nhà nước tốt Các cá nhân, tổ chức trong xã hội có thể tham gia vào hoạt động của chính phủ (cụ thể như tham gia vào việc ban hành các quyết định hành chính, các chính sách, biện pháp hành động) bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người đại diện hoặc các tổ chức đại diện
hợp pháp Đồng thời, đối với nhà nước quản trị tốt phải đảm bảo trách nhiệm
giải trình: các chủ thể ban hành và thực hiện quy định pháp luật, chính sách không chỉ có trách nhiệm giải trình đối với cơ quan cấp trên, đối với cơ quan dân cử mà còn có trách nhiệm giải trình đối với khu vực tư nhân, các tổ chức
xã hội, công chúng và các bên liên quan Bên cạnh đó, còn có quan niệm của Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc về quản trị nhà nước tốt, đó là: đảm
bảo sự tham gia; sự công bằng của luật pháp; tính minh bạch; đáp ứng mọi bên liên quan; hướng tới sự đồng thuận; bình đẳng; hiệu lực và hiệu quả; trách nhiệm giải trình; tầm nhìn chiến lược; hay quan niệm của Ngân hàng Thế giới
Trang 38về quản trị nhà nước tốt: tiến trình hoạch định chính sách công khai và có dự đoán trước; hành chính công chuyên nghiệp; bộ máy hành pháp có trách nhiệm giải trình; sự tham gia tích cực của người dân vào hoạt động công; luật pháp công bằng
Như vậy, quản trị nhà nước tốt là việc thực hiện các công việc của nhà nước có hiệu quả với sự tham gia của nhiều chủ thể trong xã hội, thỏa mãn nhu cầu và bảo đảm quyền của công dân, tổ chức Đối với mỗi quốc gia, để đạt được
sự phát triển bền vững, việc nghiên cứu và áp dụng mô hình quản trị nhà nước tốt vào thực tiễn là một yêu cầu vô cùng cần thiết hiện nay
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL ở Việt Nam hiện nay đã được định hình nhưng vẫn còn khoảng trống về pháp lý, kết quả thực hiện còn hạn chế
- Hội LHPN Việt Nam là một bộ phận trong hệ thống chính trị có chức năng chăm lo, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tầng lớp phụ nữ, đảm bảo vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL bằng các giải pháp cụ thể về thể chế và thực thi sẽ góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN
1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong quá trình xây dựng văn bản QPPL được thể hiện cụ thể qua những hình thức và nội dung cụ thể như thế nào và chịu tác động bởi những yếu tố nào?
- Việc thực hiện vai trò trong xây dựng pháp luật trên các phương diện của Hội LHPN Việt Nam trong thời gian qua như thế nào? Có những ưu điểm và hạn chế gì? Nguyên nhân cụ thể là gì?
- Trong giai đoạn hiện nay, để đảm bảo vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL cần dựa trên những quan điểm nào và các giải pháp cụ thể
là gì?
Trang 39Kết luận Chương 1
Luận án đã thực hiện khảo cứu một số công trình nghiên cứu trong nước
và nước ngoài có liên quan đến chủ đề vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, có khá nhiều nghiên cứu về các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vai trò của các chủ thể khác nhau trong quy trình tham gia xây dựng văn bản QPPL, trong đó nhấn mạnh vai trò của các tổ chức xã hội tham gia xây dựng pháp luật với các phương thức đa dạng Các nghiên cứu cũng chỉ ra vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức xã hội hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ nói chung và của Hội LHPN Việt Nam nói riêng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia xây dựng văn bản QPPL đã được các nhà khoa học nghiên cứu ở các mức độ khác nhau Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết trong quá trình tổng quan chưa phản ánh được một cách toàn diện, hệ thống về vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL Tuy nhiên, các tài liệu khảo cứu là những tư liệu quan trọng, có tính gợi mở để tác giả tiếp tục nghiên cứu trong quá trình triển khai đề tài luận án
Trang 40Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 2.1 Một số vấn đề về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
2.1.1 Văn bản quy phạm pháp luật
2.1.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội [26] đã đề cập các tiêu chí để một văn bản được coi là văn bản QPPL, đó là: (1)
do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; (2) theo thủ tục, hình thức, tên gọi được luật định; (3) chứa đựng quy tắc xử sự chung; và (4) được áp dụng nhiều lần trong đời sống khi xảy ra tình huống mà pháp luật đã dự liệu
Ở Việt Nam, khái niệm văn bản QPPL lần đầu tiên được quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 1996 (ban hành năm 2002), được hoàn thiện trong quy định của luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008 và đặc biệt là Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 Theo quy
định của Luật Ban hành văn bản QPPL 2015 thì “Văn bản QPPL là văn bản có chứa QPPL, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định trong Luật này” (Điều 2) và “QPPL là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện” (khoản 1, Điều 3)
2.1.1.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
Điều 4, Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định hệ thống văn bản QPPL bao gồm Hiến pháp và nhiều loại văn bản QPPL khác nhau Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 (ban hành năm 2020), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021 đã bổ sung thêm một
số loại văn bản QPPL