1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn Quản lý sự thay đổi trong GD-Liêm

24 17 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 257,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành quả trong nhiều năm qua của nền giáo dục của chúng ta là đã tạo nên mộtđội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức cơbản vững chắc và gắn bó c

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của laođộng và quan hệ giữa con người Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng làđộng lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức,cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao Hội nhập đã trởthành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế vàđời sống của từng quốc gia Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầuhết các quốc gia để phát triển

Thành quả trong nhiều năm qua của nền giáo dục của chúng ta là đã tạo nên mộtđội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức cơbản vững chắc và gắn bó chặt chẽ với thực tiễn Họ đã có những đóng góp xứng đángvào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời đã góp phần đào tạo bồi dưỡngnên một thế hệ cán bộ khoa học – công nghệ trẻ kế tiếp, giàu trí tuệ và năng động Độingũ này là lực lượng nòng cốt đáng tin cậy, đã và đang tích cực góp phần tạo nền tảng

để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước cơ bản theo hướng hiện đại

Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập với khu vực và quốc tế, trước những đòi hỏingày càng cao của thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực; trước thực tiễncủa nền giáo dục (GD) của đất nước chưa thực sự là một động lực thúc đẩy và là mộtđiều kiện cơ bản bảo đảm việc thực hiện những mục tiêu KT-XH, xây dựng và bảo vệđất nước… mà nguyên nhân sâu xa là quá trình tiếp cận các xu thế giáo dục mới đểđịnh hướng cho quá trình đổi mới, phát triển công tác giáo dục ở các nhà trường cònchậm, thiếu chủ động, chưa sáng tạo và kịp thời; sự thay đổi và việc quản lý sự thay đổigiáo dục còn nhiều bất cập, Vậy, làm thế nào để khắc phục được điều đó?

PHẦN II: NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Sự thay đổi trong giáo dục

2.1.1.1 Khái niệm sự thay đổi và quản lý sự thay đổi

Thay đổi là quá trình vận động do ảnh hưởng, tác động qua lại của sự vật, hiệntượng, của các yếu tố bên trong và bên ngoài; thay đổi là thuộc tính chung của bất kì sựvật hiện tượng nào

Thay đổi bao gồm cả sự biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu Thay đổi đượchiểu ở các mức độ khác nhau: cải tiến, đổi mới, cải cách, cách mạng Sự thay đổi củacác nhà trường có thể do các nguyên nhân bên ngoài và nguyên nhân bên trong; có thể

là sự thay đổi tự nhiên, diễn ra thường xuyên và sự thay đổi được hoạch định Trong

Trang 2

giáo dục, chúng ta có thể thấy rõ sự thay đổi về chương trình, sách giáo khoa, phươngpháp, phương tiện, cơ sở vật chất trường học

Thay đổi là một yếu tố quan trọng liên quan đến sự thành công của một nhàtrường Nếu không mau chóng thích ứng với sự thay đổi nhà trường khó có thể giữđược vị trí và chất lượng giáo dục

Quản lý sự thay đổi là một cách để tổ chức thích ứng được với sự thay đổi TheoPGS.TS Đặng Xuân Hải thì “Quản lý sự thay đổi thực chất là kế hoạch hóa, điều hành

và chỉ đạo triển khai sự thay đổi để đạt được mục tiêu đề ra cho sự thay đổi đó” Phảikhẳng định rằng người hiệu trưởng trường phổ thông có vai trò kép là lãnh đạo và quảnlý

2.1.1.2 Quá trình quản lý sự thay đổi

Quá trình quản lý sự thay đổi trải qua bốn bước:

- Bước 1: Chuẩn bị cho sự thay đổi

Ở bước này nhà quản lý xác định và chọn lựa được những việc cần làm để thay đổitrường phổ thông Người quản lý nhà trường phải nhận diện cho được “sự thay đổi” màmình phải quản lý có đặc điểm, tính chất như thế nào; những nội dung cơ bản nào cầngiải quyết Người quản lý phải phân tích được khả năng đón nhận sự thay đổi của nhàtrường, dự báo trước những xu hướng, cơ hội và nguy cơ của nhà trường và tiến trìnhthay đổi trong nhà trường để chuẩn bị với những thách thức đặt ra

- Bước 2: Xây dựng kế hoạch thay đổi

Phải làm cho mọi người hiểu đúng mục đích, nội dung, sự thay đổi, tránh nhiễukhông cần thiết Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực(nhân lực, vật lực, tài lực) và thời gian, không gian cần cho việc hoàn thành các mụctiêu Chi phí về tất cả các mặt phải được xác định Hơn nữa phải tìm ra phương án chiphí ít nhất cho việc thực hiện mỗi một mục tiêu Thay đổi có kế hoạch là loại hình thayđổi tổ chức được sử dụng nhiều nhất hiện nay

- Bước 3: Tổ chức thực hiện thay đổi

Soạn thảo và ra các quyết định liên quan đến sự thay đổi của nhà trường Xác định

và phân loại các hoạt động cần thiết để thực hiện mục tiêu, nhóm các hoạt động lại theonhân lực và các nguồn lực hiện có một cách tối ưu theo hoàn cảnh để hình thành cơ cấu

tổ chức Lựa chọn, sử dụng cán bộ phù hợp thực hiện sự thay đổi, phân nhiệm và phânquyền rành mạch cho các bộ phận, ràng buộc các bộ phận theo chiều dọc và chiềungang trong mối quan hệ trách nhiệm, quyền hạn và thông tin

- Bước 4: Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện thay đổi và củng cố sự thay đổi

Ở giai đoạn này các nhà trường cần theo dõi tiến độ, duy trì sự cân bằng, xem xétlại các kết quả, thành công và thất bại để từ đó điều chỉnh mục tiêu và kế hoạch Đồng

Trang 3

thời cần kiểm định, đánh giá kết quả thay đổi và đánh giá chất lượng và năng lực thayđổi của nhà trường.

2.1.2 Sự cần thiết phải có sự thay đổi trong giáo dục

2.1.2.1 Yêu cầu khách quan

i)Sự phát triển của Khoa học kỹ thuật - Công nghệ

 Lượng thông tin khoa học công nghệ tăng nhanh, tăng nhiều gấp bội Tri thức khoa học tăng nhanh, tăng nhiều Đây là thời đại bùng nổ thông tin

 Với sự ra đời và phổ cập của nhiều máy tính điện tử, tính chất của lao động dần dần thay đổi, hiệu quả cao hơn, quản lý lao động thuận lợi hơn

 Khoa học càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Nhiều phát minh khoa học

ra đời, xuất hiện nhiều ngành khoa học mới, các vật liệu mới và sự xâm nhập lẫn nhau của các khoa học là kết quả của cuộc cách mạng khoa học kyc thuật-công nghệ hiện đại Đặc biệt, trong thời đại ngày nay thế giới đang có bốn công nghệ mới đang là trụ cột của thời đại ngày nay:

+ Công nghệ sinh học gắn liền với công nghệ gen, công nghệ tế bào: tác dụng là

có thể kéo dài tuổi thọ, nâng cao năng suất vật nuôi, cây trồng

+ Công nghệ vật liệu siêu nhỏ, siêu bền, siêu dẫn

+ Công nghệ năng lượng: Thế giới đang hướng đến hai loại năng lượng chủ yếu

là năng lượng mặt trời và năng lương nguyên tử

+ Công nghệ thông tin: làm cho vấn đề giao lưu, hợp tác, các vấn đề quản lý xã hội có những bước thuận lợi

 Hợp tác trí tuệ là nét đặc trưng của thế giới ngày nay

ii) Sự phát triển xã hội

 Xu hướng của thế giới ngày nay nhìn chung chuyển từ xu hướng đối đầu sang đối thoại, hợp tác, hòa bình vẫn là xu thế chung Tuy vậy, vẫn còn những nơi có chiến tranh sắc tộc, mâu thuẫn khu vực Song, theo Liên hợp quốc thế giới hiện nay vẫn là thế giới phụ thuộc lẫn nhau

 Thế giới đang đối mặt với những vấn đề toàn cầu: môi trường, dân số, năng lượng, sự phân hóa giàu nghèo, xu hướng đô thị hóa nhanh

 Hợp tác quốc tế, toàn cầu hóa là một trào lưu, "dòng chảy", quốc tế hóa, cùng nhau giải quyết những vấn đề toàn cầu Tính chất tích cực rất lớn đang là xu thế của thế giới ngày nay, các nước ngày càng xích lại gần nhau

 Hình thành xã hội học tập với bốn trụ cột: với xu hướng đổi mới và phát triển giáo dục toàn cầu thực hiện có hiệu quả các trụ cột của giáo dục và thực hiện triếtlý học tập suốt đời do Liên hiệp quốc phát động: Học để biết; học để làm; học để chung sống; học để làm người và học suốt đời để nó tạo ra một xã hội học tập, ở

Trang 4

đó mọi người đều có cơ hội học tập và phát huy tiềm năng của mỗi người; đồng thời mở ra những khả năng học tập cho mỗi người.

iii) Sự phát triển kinh tế

- Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế Ý tưởng đổi mới và phát triển công nghệ mới trở thành chìa khoá cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao chất lượng cuộc sống Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, dịch chuyển cơ cấu nhanh

- Ứng dụng công nghệ thông tin được tiến hành rộng rãi trong mọi lĩnh vực; mạng thông tin đa phương tiện phủ khắp, kết nối hầu hết các tổ chức, gia đình Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng Mọi lĩnh vực hoạt động xã hội đều có tác động của công nghệ thông tin

- Sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tiên tiến nhất, tiêu biểu nhất của nền sản xuất tương lai Các doanh nghiệp đều có sản xuất công nghệ, đồng thời có doanh nghiệp chuyên sản xuất công nghệ, có thể gọi đó là doanh nghiệp trithức, trong đó khoa học sản xuất được thể chế hoá, không còn phân biệt giữa phòng thí nghiệm và công xưởng, những người làm việc trong đó họ vừa là nhà nghiên cứu vừa lànhà sản xuất, họ là những công nhân trí thức

- Xã hội học tập, giáo dục phát triển, đầu tư cho giáo dục khoa học chiếm tỷ lệ cao Đầu tư vô hình (con người, giáo dục, khoa học ) cao hơn đầu tư hữu hình (cơ sở vật chất) Phát triển con người trở thành nhiệm vụ trọng tâm Hệ thống giáo dục phải đảm bảo cho mọi người có thể học tập ở bất cứ lúc nào Mạng thông tin có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho việc học tập suốt đời

- Tri thức trở thành vốn quý nhất trong nền kinh tế tri thức Tri thức là nguồnlực hàng đầu tạo sự tăng trưởng Tri thức và thông tin được tăng lên khi sử dụng, không mất đi khi sử dụng (các nguồn vốn khác bị mất đi khi sử dụng)

- Sáng tạo là linh hồn của đổi mới, sáng tạo là vô tận Đổi mới thường xuyên là động lực thúc đẩy sự phát triển Công nghệ đổi mới nhanh, vòng đời công nghệ rút ngắn, có khi chỉ mấy năm, thậm chí mấy tháng Các doanh nghiệp muốn trụ được và phát triển phải luôn đổi mới công nghệ và sản phẩm

- Dân chủ hoá, xã hội thông tin thúc đẩy sự dân chủ hoá: Mọi người đều dễdàng truy cập thông tin mình cần Điều này dẫn đến dân chủ hoá các hoạt động và tổ chức điều hành xã hội Người dân nào cũng có thể được thông tin kịp thời về các chính sách của Nhà nước, các tổ chức và có ý kiến ngay khi thấy không phù hợp

- Các doanh nghiệp vừa hợp tác vừa cạnh tranh để phát triển: Trong cùng một lĩnh vực, khi một công ty thành công, lớn mạnh lên thì các công ty khác phải tìm cách sáp nhập hoặc chuyển hướng hoạt động

Trang 5

- Nền kinh tế toàn cầu hoá: Thị trường và sản phẩm mang tính toàn cầu, một sản phẩm được sản xuất từ bất kỳ nơi nào cũng có thể nhanh chóng có mặt khắp nơi trên thếgiới hoặc sản phẩm phần lớn được thực hiện từ nhiều nơi trên thế giới, kết quả cao của công ty ảo, làm việc từ xa.

- Sự thách đố văn hoá: Trong nền kinh tế tri thức- xã hội thông tin, văn hoá có điều kiện phát triển nhanh và văn hoá là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Do thông tin, tri thức bùng nổ, trình độ văn hoá nâng cao, nội dung và hình thức các hoạt động văn hoá phong phú, đa dạng Nhu cầu thưởng thức của người dân cũng tăng cao, giao lưu văn hoá thuận lợi, tạo điều kiện cho các nền văn hoá giao thoa, đễ tiếp thu các tinh hoa văn hoá của nhân loại để phát triển Nhưng các nền văn hoá cũng đứng trước nguy cơ rủi ro cao, dễ bị pha tạp, lai căng, dễ mất bản sắc văn hoá dân tộc

* Những ảnh hưởng của sự phát triển khoa học kỹ thuật-công nghệ, sự phát triển xã hội, sự phát triển kinh tế trong thời đại ngày nay đối với giáo dục

- Thời cơ:

Giáo dục ngày nay có điều kiện để tiếp cận với những thành tựu của khoa học côngnghệ mới để tiến hành đổi mới nội dung, phương pháp trên cơ sở các thành tựu củakhoa học công nghệ, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong giáo dục

Giáo dục có cơ hội ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học Với việc kếtnối mạng, các công nghệ, tri thức không chỉ tồn tại ở các địa điểm xa xôi, cách trở vàkhó tiếp cận hoặc chỉ giới hạn với một số ít người

KHKT&CN phát triển thì cơ sở vật chất, phương tiện dạy học ngày càng được nângcao và hiện đại hóa, tạo điều kiện thuận lợi trong dạy học, tạo cơ hội học tập cho conngười tốt hơn nhiều

Sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục trong điều kiện KHKT&CN phát triểnngày càng cao sẽ hõ trợ rất nhiều cho sự phát triển giáo dục

Hầu hết các nước đã có chính sách tạo điều kiện cho giáo dục phát triển, rất đề caovai trò của giáo dục, giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục phát triển Hợp tác, trao đổi trong giáo dục ngày càng thuận lợi, nhằm giáo dục mỗi nước ngàycàng phát triển, các nước thường xuyên chia sẻ nhau về kinh nghiệm giáo dục

Cơ hội và quyền học tập của con người được đề cao và đảm bảo Xã hội tạo ranhững cơ hội học tập như đa dạng hóa mục tiêu, hình thức đào tạo; trách nhiệm của xãhội ngày càng cao đối với người học, giáo dục với sự nghiệp quần chúng, xã hội hóahọc tập

Các nước đều đề cao vị trí, vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển kinh

tế xã hội Các nước đều khẳng định rằng, giáo dục là quốc sách hàng đầu, giáo dục làchìa khóa bước vào tương lai, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển

Trang 6

Kinh tế các nước hiện nay đang ở chiều hướng phát triển, thành tựu khoa học kỹthuật-công nghệ tạo điều kiện để hiện đại hóa nhà trường, hỗ trợ về cơ sở vật chất,phương tiện dạy học hiện đại, từ đó giúp nâng cao chất lượng giảng dạy, hiệu quả giáodục.

Kinh tế xã hội phát triển tạo điều kiện và cơ hội học tập của con người ngày ngàycàng được đáp ứng

Kinh tế hội nhập sẽ tạo điều kiện cho sự chia sẻ kinh nghiệm về giáo dục giúp chocác nước phát triển giáo dục Các quốc gia có thể hợp tác trong lĩnh vực giáo dục thôngqua hình thức khác nhau, chẳng hạn hội thảo các chuyên gia qua trực tuyến,

Giáo dục phải gắn với kinh tế xã hội: Đòi hỏi giáo dục phải phù hợp với sự đổi mớikinh tế, thích ứng với điều kiện kinh tế hiện nay Phải đa dạng hóa mục tiêu đào tạo, đadạng hóa phương thức đào tạo, đa dạng hóa nội dung đào tạo

Đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đào tạo trong tất cả các loại hình trường để đápứng nhu cầu về trình độ nhân lực

Giáo dục giải quyết những vấn đề toàn cầu: dân số, môi trường, năng lượng, sắctộc,

Đòi hỏi phải coi trọng giáo dục đạo đức truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc

Đòi hỏi giáo dục phải được đổi mới toàn diện về mục tiêu, nội dung, phương pháp,hình thức, để đáp ứng yêu cầu xã hội

2.1.2.2 Yêu cầu chủ quan

Xuất phát từ những bất cập và yếu kém của Giáo dục Việt Nam trong những năm qua:

- Hệ thống giáo dục quốc dân thiếu tính thống nhất, thiếu liên thông giữa một sốcấp học và một số trình độ đào tạo, chưa có khung trình độ quốc gia về giáo dục Tìnhtrạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề đào tạo, giữa các vùng miền chậm đượckhắc phục, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của xã hội Số lượng các cơ sở đào tạo,quy mô tăng nhưng các điều kiện đảm bảo chất lượng chưa tương xứng

- Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời

kỳ mới và so với trình độ của các nước có nền giáo dục tiên tiến trong khu vực, trên thế

Trang 7

giới Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển số lượng với yêu cầu nâng caochất lượng; năng lực nghề nghiệp của học sinh, sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng đượcyêu cầu của công việc; có biểu hiện lệch lạc về hành vi, lối sống trong một bộ phận họcsinh, sinh viên

- Quản lý giáo dục vẫn còn nhiều bất cập, còn mang tính bao cấp, ôm đồm, sự vụ

và chồng chéo, phân tán; trách nhiệm và quyền hạn quản lý chuyên môn chưa đi đôi vớitrách nhiệm, quyền hạn quản lý về nhân sự và tài chính Hệ thống pháp luật và chínhsách về giáo dục thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung Sự phối hợp giữa ngànhgiáo dục và các bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ Chính sách huy động và phân bổnguồn lực tài chính cho giáo dục chưa hợp lý; hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa cao.Đầu tư của Nhà nước cho giáo dục chưa tập trung cao cho những mục tiêu ưu tiên; phầnchi cho hoạt động chuyên môn còn thấp Quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ

sở giáo dục chưa được quy định đầy đủ, sát thực

- Một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụgiáo dục trong thời kỳ mới Đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu cục bộ, vừa khôngđồng bộ về cơ cấu chuyên môn Tỷ lệ nhà giáo có trình độ sau đại học trong giáo dụcđại học còn thấp; tỷ lệ sinh viên trên giảng viên chưa đạt mức chỉ tiêu đề ra trong Chiến

lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 Vẫn còn một bộ phận nhỏ nhà giáo và cán bộ

quản lý giáo dục có biểu hiện thiếu trách nhiệm và tâm huyết với nghề, vi phạm đạođức và lối sống, ảnh hưởng không tốt tới uy tín của nhà giáo trong xã hội Năng lực củamột bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn thấp Các chế độ chính sách đốivới nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đặc biệt là chính sách lương và phụ cấp theolương, chưa thỏa đáng, chưa thu hút được người giỏi vào ngành giáo dục, chưa tạo đượcđộng lực phấn đấu vươn lên trong hoạt động nghề nghiệp Công tác đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được các yêu cầu đổi mới giáo dục

- Nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, công tác thi, kiểm tra, đánh giáchậm được đổi mới Nội dung chương trình còn nặng về lý thuyết, phương pháp dạyhọc lạc hậu, chưa phù hợp với đặc thù khác nhau của các loại hình cơ sở giáo dục, vùngmiền và các đối tượng người học; nhà trường chưa gắn chặt với đời sống kinh tế, xãhội; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội; chưa chú trọng giáo dục kỹnăng sống, phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên

- Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường còn thiếu và lạc hậu Vẫn còn tình trạngphòng học tạm tranh tre, nứa lá ở mầm non và phổ thông, nhất là ở vùng sâu, vùng xa;thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và các phương tiện dạy học chưa đảmbảo về số lượng, chủng loại và chất lượng so với yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục,

Trang 8

nhất là ở các trường đại học Quỹ đất dành cho các cơ sở giáo dục chưa đạt chuẩn quyđịnh

- Nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục còn hạn chế,chưa đáp ứng kịp các yêu cầu phát triển giáo dục Chất lượng và hiệu quả nghiên cứukhoa học trong các trường đại học còn thấp; chưa gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiêncứu khoa học và sản xuất

Nguyên nhân của những bất cập, yếu kém:

- Quan điểm “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”, "đầu tư cho giáo dục làđầu tư phát triển" chưa thực sự được thấm nhuần và thể hiện trên thực tế;

- Tư duy về giáo dục chậm đổi mới Một số vấn đề lý luận mới về phát triển giáodục trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tếchưa được nghiên cứu đầy đủ Chưa nhận thức đúng vai trò quyết định của đội ngũ nhàgiáo và sự cần thiết phải tập trung đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục Chưa nhậnthức đầy đủ và thiếu chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực của cả nước, của các bộngành, địa phương; thiếu quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp Cácchính sách tuyển và sử dụng nhân lực sau đào tạo còn nhiều bất cập

- Những tác động khách quan làm tăng thêm những yếu kém bất cập của giáo dục.Quá trình hội nhập quốc tế đã mang tới những cơ hội, nhưng cũng đưa đến nhiều tháchthức lớn đối với giáo dục Trong xã hội, tâm lý khoa cử, sính bằng cấp, bệnh thành tíchvẫn chi phối việc dạy, học và thi Mặt trái của kinh tế thị trường đã có nhiều tác độngtiêu cực đến giáo dục Nhu cầu học tập của nhân dân và đòi hỏi nâng cao chất lượnggiáo dục ngày càng cao trong khi khả năng đáp ứng của ngành giáo dục và trình độ pháttriển kinh tế -xã hội của đất nước còn hạn chế

Từ những lý do trên, Giáo dục Việt Nam tất yếu phải thay đổi

2.2 Định hướng và cách thực hiện về đổi mới nội dung dạy học điều kiện hiện nay

2.2.1 Định hướng đổi mới nội dung dạy học.

a) Khái niệm nội dung dạy học

- Theo quan điểm lý luận, nội dung dạy học (NDDH) là hệ thống tri thức kỹ năng, kỹxảo mà người học cần phải nắm vững trong quá trình dạy học (DH), trong thực tế DH,NDDH quyết định dạy cái gì, học cái gì

- Biểu hiện của NDDH đó là:

+ Chương trình, kế hoạch;

+ Sách giáo khoa, giáo trình,

+ Tài liệu dạy học khác như sách hướng dẫn, sách tham khảo, sách bài tập

b) Lý do đổi mới nội dung dạy học

Trang 9

+ Đặc điểm XH hiện nay sự biến động XH, toàn cầu hóa, quốc tế hóa

+ Kinh tế phát triển xuất hiện tri thức và ngành nghề thay đổi, hàng năm tri thứcngành nghề lạc hậu 20-30%;

+ Mục tiêu đào tạo hiện nay có những thay đổi cơ bản, gia đoạn hiện nay cónhững yêu cầu cao về trình độ chuyên môn, trình độ KHKT đòi hỏi NDDH phải thayđổi mô hình con người mới

- Hình thức tổ chức giáo dục chủ yếu là dạy học trên lớp, chưa coi trọng việc tổchức các hoạt động xã hội, hoạt động trải nghiệm Phương pháp giáo dục và đánh giáchất lượng giáo dục nhìn chung còn lạc hậu, chưa chú trọng dạy cách học và phát huytính chủ động, khả năng sáng tạo của học sinh

- Trong thiết kế CT, chưa quán triệt rõ mục tiêu, yêu cầu của hai giai đoạn (giaiđoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp); chưa bảo đảm tốttính liên thông trong từng môn học và giữa các môn học, trong từng lớp, từng cấp vàgiữa các lớp, các cấp học; còn hạn chế trong việc phát huy vai trò tự chủ của nhà trường

và tính tích cực, sáng tạo của giáo viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục;chưa đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục của các vùng khó khăn; việc tổ chức, chỉ đạo xâydựng và hoàn thiện CT còn thiếu tính hệ thống

Trang 10

c Các định hướng đổi mới nội dung dạy học

- Hiện đại hóa NDDH là cập nhất những thành tựu mới vào trong NDDH, đồng thờiloại bỏ nững tri thức lạc hậu không hợp lý rõ nét nhất là đổi mới chương trình sách giáokhoa, giáo trình, tài liệu bồi dưỡng GV

- Tích hợp nội dung dạy học hiện nay đang còn trong tình trạng NDDH quá tải từtiểu học đến THPT, song cần đưa nhiều môn mới vào như giao thông, môi trường, giớitính, pháp luật đưa bằng cách nào? nên phải lồng ghép, tích hợp như môi trường vàomôn địa lý, GDGT vào môn GDCD

- Thực hiện phân hóa và cá biệt hóa NDDH được xem là một xu thế tất yếu lànguyên tắc sư phạm

Phân hóa dạy học là xây dựng NDDH phù hợp với đối tượng, trình độ, nhận thức,không giống nhau mà khác nhau nên phân hóa đến cá biệt hóa NDDH nó là nguyên tắc

tư tưởng chủ đạo trong DH hiện nay, không riêng gì VN mà nhiều nước Nâng cấp độ

vĩ mô và vi mô ( từng bài) như phân ban, xây dựng NDDH phù hợp với từng nhóm HS,hay kết hợp phân ban với tự chọn, có nững môn học mà HS lựa chọn đến cuối cùng dạyhọc tự chọn là cao nhất

Vi mô có những thao tác kỷ thuật để phân hóa VD như đặt câu hỏi giành cho đốitượng nào? khá, giỏi hay yếu , cao hơn nữa câu hỏi giành cho em nào?

- Thực hiện NDDH gắn với thực tiễn cuộc sống, KT-XH của mỗi quốc gia

- Đáp ứng với nhu cầu XH tính đến năng lực, nguyện vọng của người học ( đa dạnghóa NDDH, thực hiện phân cấp trong xây dựng NDDH, Bộ - Trường: bắt buộc - tựchọn trong các chương trình đào tạo THPT, cử nhân, thạc sĩ )

- Phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo của các loại hình trường (Phổ thông; cơbản, hiện đại,; Đại học chuyên ngành, chuyên biệt )

- Tăng cường tính tư tưởng, tính nhân văn, tính dân tộc trong NDDH

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có bản dự thảo về nội dung chương trình bậc giáo dục phổ thông, nội dung như sau:

Chương trình GD phổ thông mới tiếp tục tập trung vào những giá trị cơ bản củavăn hoá, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại; bảo đảm yêu cầu

cơ bản, hiện đại, phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi của HS các cấp học.

Nhìn chung hệ thống các lĩnh vực giáo dục và hệ thống các môn học của CT hiệnhành được kế thừa từ tên gọi đến nội dung các mạch kiến thức lớn, thời lượng cho cácmôn học Kiến thức cơ bản của tất cả các môn học ở bậc phổ thông, nhất là một số mônhọc truyền thống của Việt Nam có thế mạnh, có chất lượng và hiệu quả (được chứng tỏqua các kỳ đánh giá quốc gia và quốc tế) đều được kế thừa trong CTGD mới, chỉ bớt đinhững kiến thức quá chuyên sâu, chưa hoặc không phù hợp với yêu cầu học vấn phổ

Trang 11

thông và tâm –sinh lý lứa tuổi, không phục vụ nhiều cho việc phát triển phẩm chất vànăng lực Nội dung các hoạt động giáo dục của CT hiện hành cũng được kế thừa trongHoạt động trải nghiệm sáng tạo của CTGD mới như chào cờ, sinh hoạt lớp, hoạt độngđoàn đội, hoạt động ngoài giờ lên lớp v.v…

Chương trình môn học giai đoạn giáo dục cơ bản bảo đảm trang bị cho học sinh trithức phổ thông nền tảng, toàn diện và thực sự cần thiết Kết thúc giai đoạn này, học sinh

có khả năng tự học, đạt được những phẩm chất và năng lực thiết yếu, nhất là các năng lựcchung, thấy rõ sở trường, năng lực của mình để tự tin tham gia cuộc sống lao động hoặc tiếp tục học lên

Ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở thực hiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số lĩnh vực giáo dục, một số môn học trong chương trình hiện hành để tạo thành môn học tích hợp; thực hiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung giáo dục, giảm hợp lý số môn học

Chú trọng tính thiết thực của các nội dung dạy học và hoạt động trải nghiệm sángtạo, cùng với hoạt động tư vấn trường học để giúp học sinh học xong trung học cơ sở cóthể chọn con đường học lên theo giáo dục nghề nghiệp hoặc trung học phổ thông, gópphần thực hiện yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở

Ở cấp trung học phổ thông, chương trình giáo dục bảo đảm phân hoá mạnh: Họcsinh học một số (4) môn bắt buộc, đồng thời được tự chọn các môn học (từ lớp 10) vàchuyên đề học tập (từ lớp 11), trong đó có những chuyên đề riêng về hướng nghiệp Kếtthúc giai đoạn này, học sinh có kiến thức, kỹ năng phổ thông cơ bản được định hướngtheo lĩnh vực nghề nghiệp, phù hợp với năng khiếu và sở thích, phát triển tiềm năng cánhân để chuẩn bị tốt cho giai đoạn giáo dục sau phổ thông hoặc bước vào cuộc sống laođộng

Hệ thống môn học giúp cho việc hình thành, phát triển các năng lực chung củahọc sinh

1 Môn học cốt lõi thuộc lĩnh vực giáo dục Ngôn ngữ và văn học

a) Tiếng Việt/Ngữ văn

Nội dung cốt lõi bao gồm các mạch kiến thức và kỹ năng cơ bản, thiết yếu về tiếngViệt và văn học; phù hợp với lứa tuổi và các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lựccủa học sinh ở từng cấp học

- Giai đoạn giáo dục cơ bản: Môn học có tên là Tiếng Việt ở cấp tiểu học và Ngữvăn ở cấp trung học cơ sở Kết thúc giai đoạn giáo dục cơ bản, học sinh có thể sử dụngtiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống hàng ngày và học tập tốt cácmôn học khác; có thể đọc, viết, nói và nghe các dạng văn bản phổ biến và thiết yếu;đồng thời qua môn học, học sinh được bồi dưỡng và phát triển về tâm hồn và nhân

Trang 12

cách Chương trình được thiết kế theo các mạch nội dung chính: đọc, viết, nói và nghe.Kiến thức tiếng Việt và văn học được tích hợp trong quá trình dạy học đọc, viết, nói vànghe thông qua các văn bản văn học và văn bản thông tin Các văn bản ngữ liệu đượclựa chọn và sắp xếp phù hợp với trình độ tiếp nhận của học sinh ở mỗi cấp học.

- Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: Học sinh được phát triển và nângcao năng lực sử dụng tiếng Việt trong các hoạt động học tập và thực tiễn đời sống; đồngthời được tiếp cận với một số nội dung học tập có liên quan đến định hướng nghềnghiệp, đáp ứng sở thích và nhu cầu học tập của người học Môn học được tổ chứcthành hai phần: Bắt buộc và tự chọn Phần bắt buộc có tên là Ngữ văn 1, tiếp nối cácmạch nội dung đã học từ giai đoạn giáo dục cơ bản, nhưng chú ý nhiều hơn đến tínhchất công cụ của môn học Phần tự chọn có tên là Ngữ văn 2 (TC2), gồm các phân mônVăn học, Luyện đọc và Luyện viết Văn học giúp học sinh có cơ hội đọc nhiều và đọcsâu hơn các tác phẩm văn học theo loại thể, giai đoạn văn học hay phong cách sáng tác,được học có hệ thống hơn một số nội dung văn học sử và lý luận văn học có tác dụngthiết thực đối với việc đọc và viết về văn học Luyện đọc chủ yếu rèn luyện năng lựcđọc hiểu cho học sinh thông qua các loại văn bản văn học và văn bản thông tin khácnhau Sau khi đọc, học sinh cũng có cơ hội viết về những gì đã đọc Luyện viết giúphọc sinh phát triển năng lực tạo lập các loại văn bản khác nhau, chủ yếu là văn bảnthông tin Ngoài ra, học sinh cũng có cơ hội nói và trình bày về những gì đã viết NgoàiNgữ văn 1 và Ngữ văn 2, đến lớp 11 và 12, có thêm hệ thống các chuyên đề học tậpNgữ văn (TC3) Đó là những nội dung chuyên sâu về tiếng Việt, văn học, văn hoá, gắnvới định hướng nghề nghiệp và ngành học mà học sinh có thể học ở bậc cao hơn, đápứng sở thích và nhu cầu của những học sinh muốn đi sâu vào từng lĩnh vực, chuyênngành hẹp của môn học

b) Ngoại ngữ 1, Ngoại ngữ 2

Nội dung được thiết kế nhằm phát triển cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết theo cácmức khác nhau dựa theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (thamchiếu khung năng lực ngoại ngữ của châu Âu); chương trình được xây dựng liền mạch

từ giai đoạn giáo dục cơ bản lên đến hết lớp 12 Kết quả học tập được xác nhận thôngqua đánh giá cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết

c) Tiếng dân tộc

Tiếng dân tộc là môn học TC1, có thể bắt đầu và kết thúc học ở bất kỳ lớp nàotrong giai đoạn từ lớp 3 đến lớp 9

2 Môn học cốt lõi thuộc lĩnh vực giáo dục Toán học

Giáo dục toán học được thực hiện ở nhiều môn học như Toán, Vật lý, Hoá học,Sinh học, Công nghệ, Tin học, trong đó môn Toán là môn học cốt lõi

Ngày đăng: 31/10/2019, 20:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w