1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận học thuyết hình thái kinh tế xã hội với việc nhận thức tính tất yếu của sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của việt nam

40 541 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 201,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

IHình thái kinh tế xã hội Mác Lê NinTrong lịch sử tư tưởng nhân loại trước Mác đã có không ít cách tiếp cận, khi nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội. Xuất phát từ những nhận thức khác nhau, với những ý tưởng khác nhau mà có sự phân chia lịch sử tiến hoá của xã hội theo những cách thức khác nhau: nhà triết học duy tâm Hêghen (17701831) phân chia lịch sử xã hội loài người thành 3 thời kỳ chủ yếu (thời kỳ phương Đông, thời kỳ Cổ Đại và thời kỳ Greemani); nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp Phuriê (17721837) chia lịch sử xã hội thành 4 giai đoạn (giai đoạn mông muội, giai đoạn dã man, giai đoạn gia trưởng, giai đoạn văn minh ).

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Lịch sử phát triển của nhân loại đã trải qua nhiều bước thăng trầm khác nhau

và đặc biệt là trước những biến động to lớn của thế giới Cuộc cách mạng khoa họccông nghệ ngày nay đang phát triển nhanh chóng với trình độ ngày càng cao đãthúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế vàđời sống xã hội Mỗi quốc gia, mỗi dântộc đều có những cơ hội phát triển trong đó,những ưu thế về vốn, công nghệ thị trường thuộc về các nước phát triển buộc cácnứơc chậm phát triển và đang phát triên phải đối đầu với những thách thức to lớn.Trong quan hệ quốc tế, xu hướng hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngàycàng trở thành những đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc trên thế giới Cácnước đều dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi tăng trưởng kinh tế, có ý nghĩaquyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia đồng thời thamgia vào quá trình hợp tác, liên kết khu vực và thế giới trong mọi lĩnh vực Do đóĐảng và nhà nước đã kịp thời xác định thời cơ và thách thức đối với nước ta Donước ta là nước có nền kinh tế tiểu nông muốn thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu đạt đếntrình độ phát triển thì tất yếu phải đổi mới Chính vì vậy công nghiệp hoá -hiện đạihoá có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nước ta, là nấc thang chủ yếu trên conđường phát triển của Việt Nam Đảng ta đã khẳng định :"xây dựng nước ta thànhmột nước công nghiệp sơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kịnh tế hợp lý, quan

hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàunước mạnh, xã hội công bằng văn minh “ Mục tiêu đường lối đó là sự vận dụngquan điểm, nguyên lý triết học Mác lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, là sựthể hiện vể luận điểm của lênin về khả năng tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giaiđoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Và đó cũng là mục tiêu của sự nghiệp côngnghiệp hoá và hiện đại hoá ở nước ta

Trang 2

Nhằm giải thích những vướng mắc nêu trên trong phạm vi bài tiểu luận naỳ

em xin đề cập đến đề tài : “Học thuyết hình thái kinh tế xã hội với việc nhận thức tính tất yếu của sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của Việt Nam” Tuy nhiên đây

là bài tiểu luận đầu tiên đồng thời đó cũng là đề tài có nội dung phức tạp và rộnglớn Vì vậy bài tiểu luận không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, rất mongnhận được nhiều ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để góp phần làm cho bàitiểu luận có đầy đủ nội dung và sâu sắc hơn

Trang 3

NộI DUNG

I/Hình thái kinh tế xã hội Mác -Lê Nin

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại trước Mác đã có không ít cách tiếp cận, khinghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội Xuất phát từ những nhận thức khác nhau,với những ý tưởng khác nhau mà có sự phân chia lịch sử tiến hoá của xã hội theonhững cách thức khác nhau: nhà triết học duy tâm Hê-ghen (1770-1831) phân chialịch sử xã hội loài người thành 3 thời kỳ chủ yếu (thời kỳ phương Đông, thời kỳ

Cổ Đại và thời kỳ Gree-ma-ni); nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp Phu-ri-ê(1772-1837) chia lịch sử xã hội thành 4 giai đoạn (giai đoạn mông muội, giai đoạn

dã man, giai đoạn gia trưởng, giai đoạn văn minh )

Mọi người cũng đã quen với những khái niệm thời đại đồ đá, thời đại máyhơi nước và gần đây là nền văn minh :nông nghiệp, công nghiệp, hậu côngnghiệp

Mỗi cách tiếp cận trên có những điểm hợp lý nhất định do đó đều có ý nghĩanhất định Nhưng chưa nói lên bản chất sự phát triển của xã hội một cách toàn diện,tổng thể do đó có những hạn chế

Dựa trên những kết quả nghiên cứu lý luận tổng thể quá trình lịch sử, các nhàsáng lập chủ nghĩa Mác đã vận dụng phép biện chứng duy vật để nghiên cứu lịch

sử xã hội , đưa ra quan điểm duy vật về lịch sử và đã hình thành nên học thuyết về

"hình thái kinh tế xã hội" Học thuyết đã vạch rõ kết cấu cơ bản và phổ biến củamọi xã hội, quy luật vận động và phát triển tất yếu của xã hội Học thuyết hìnhthái kinh tế -xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xãhội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với những quan hệ sản xuất của nóthích ứng với lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và với một kiến trúcthượng tầng được xây dưng trên những quan hệ sản xuất đó Bằng sự kế thừa cóchọn lọc tất cả những thành quả về triết học xã hội của các bậc tiền bối, bằngnhững công trình nghiên cứu tỉ mỉ về quá trình lịch sử của loài người, nhất là lịch

Trang 4

sử của xã hội tư bản, C Mác đã xây dựng nên học thuyết về hình thái kinh tế-xãhội bao gồm những quan điểm: sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và pháttriển; lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ;cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượngtầng, tức là toàn bộ các yếu tố cấu thành bộ mặt của thời đại:chính trị, kinh tế, vănhoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật Học thuyết hình thái kinh tế-xã hội với tư cách là

"hòn đá tảng "của xã hội học Mác xít nói chung cho phép chúng ta hình dung quátrình phát triển của lịch sử xã hội là một quá trình lịch sử từ thấp đến cao đó là:hình thái kinh tế-xã hội cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bảnchủ nghĩa và ngày nay là hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa Hình tháikinh tế-xã hội cũ được thay thế bằng hình thái kinh tế-xã hội mới cao hơn, tiến bộhơn Qúa trình đó diễn ra theo các quy luật khách quan chứ không phải theo ýmuốn chủ quan của con người Theo Lê-Nin :"chỉ có đem quy những quan hệ xãhội vào những quan hệ sản xuất, và đem qui những quan hệ sản xuất vào trình độcủa những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc đểquan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tựnhiên"

Hình thái kinh tế-xã hội có tính lịch sử, có sự ra đời phát triển và diệt vong.Nghiên cứu con đường tổng quát của sự phát triển lịch sử được qui định bởi quiluật chung của sự vận động của nền sản xuất vật chất, chúng ta nhìn thấy lôgíc củalịch sử thế giới

Vạch ra con đường tổng quát của sự phát triển lịch sử, điều đó không cónghĩa là đã giải thích được rõ ràng sự phát triển của xã hội trong một thời điểm củalịch sử Để hiểu lịch sử cụ thể thì cần phải tính đến tất cả những nhân tố bản chất

có tham gia trong sự tác động lẫn nhau

Có nhiều nguyên nhân làm cho quá trình chung của lịch sử có tính đa dạngĐiều kiện của môi trường địa lí có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển xã hội.Cũng không thể không tính đến sự tác động của những yếu tố như nhà nước, tính

Trang 5

độc đáo của nền văn hoá, của truyền thống, của hệ tư tưởng và tâm lí xã hội đốivới tiến trình lịch sử

1 Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội

Sản xuất là hoạt đặc trưng riêng có của con người và của xã hội loài người

Đó là quá trình hoạt động có mục đích và không ngừng sáng tạo của con người theoĂng ghen "điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ởchỗ :loài vật may lắm chỉ hái lượm, trong khi con người sản xuất "

Sản xuất vật chất xã hội là quá trình con người sử dụng công cụ lao động(trực tiếphoặc gián tiếp) vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên để tạo racủa cải xã hội, nhằm thoả mãn nhu cần tồn tại và phát triển –nhu cầu phong phú và

vô tận của con người

Hoạt động sản xuất vật chất tạo ra tư liệu sinh hoạt nhằm duy trì sự tồn tại và pháttriển của con người nói chung cũng như từng cá thể con người nói riêng Tuynhiên, ngoài chức năng đầu tiên và trực tiếp đó "lao động còn là một cái gì lớn laohơn thế nữa "Bằng việc "sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, con người

đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình"

Ăng ghen khẳng định "lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đờisống loài người"

Trải qua lịch sử lâu dài trinh phục giới tự nhiên, con người ngày càng hiểu rõhơn sức mạnh của mình Cùng với việc cải biến thế giới xung quanh, con ngườicũng đồng thời cải biến bản thân mình và các quan hệ giữa con người với nhaunhằm làm cho việc trinh phục giới tự nhiên đạt hiệu quả cao hơn Chính nhờ sự sảnxuất ra của cải vật chất để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người đồngthời sáng tạo ra toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội với tất cả sựphong phú và phức tạp của nó

Tóm lại dù được xem xét trong toàn bộ lịch sử của sự hình thành và phát triển xãhội loài người nói chung hay được xem xét trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể của

xã hội hiện thực nói riêng thì sự sản xuất vật chất vẫn luôn luôn đóng vai trò là cơ

Trang 6

sở, là nền tảng của sự tồn tại và phát triển xã hội Bởi thế đối với các hiện tượngcủa đời sống xã hội, người ta chỉ có thể đạt tới một sự giải thích có căn cứ, nếubằng cách này hay cách khác, sự giải thích ấy xuất phát từ nền sản xuất vật chất xãhội

2 Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Với tính cách là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương thức sản xuấtbiểu thị cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giaiđoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người Với một cách thức nhất định của sựsản xuất xã hội, trong đời sống xã hội sẽ xuất hiện những tính chất, kết cấu và đặcđiểm tương ứng về mặt xã hội

Phương thức sản xuất là cái mà nhờ nó người ta có thể phân biệt được sự khácnhau của những thời đại kinh tế khác nhau Đồng thời phương thức sản xuất chính

là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sảnxuất tương ứng

a> Lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa người với giới tự nhiên.Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loàingười Đó là kết quả của năng lực thực tiễn của con người trong quá trình tác độngvào tự nhiên tạo ra của cải vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của loàingười

Lực lượng sản xuất gồm :

-Tư liệu sản xuất do xã hội tạo ra, trước hết là công cụ lao động

- Người lao động với những kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, biết

sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất

Trang 7

Trong lao động sức mạnh và kĩ năng lao động thần kinh cơ bắp được nânglên rất nhiều lần Hơn nữa lao động của con người ngày càng trở thành lao động cótrí tuệ và lao động trí tuệ Trí tuệ con người không phải là cái gì siêu nhiên, mà làsản phẩm của tự nhiên và của lao động Nhưng trong quá trình lịch sử lâu dài của

xã hội loài người, trí tuệ hình thành phát triển cùng với lao động làm cho lao độngngày càng có hàm lượng trí tuệ cao hơn Hàm lượng trí tuệ trong lao động đặc biệt

là trong điều kiện của khoa học công nghệ hiện nay đã làm cho con người trở thànhmột nguồn lực đặc biệt của sản xuất, là nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận

Cùng với con người – người lao động, công cụ lao động cũng là một thành

tố cơ bản của lực lượng sản xuất Công cụ lao động theo Ăng ghen là" khí quancủa bộ óc con người", là" sức mạnh của tri thức đã được vật thể hoá" có tác dụng

"nối dài bàn tay" và nhân lên sức mạnh trí tuệ của con người Trong mọi thời đại,công cụ sản xuất luôn là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất, biểu hiện nănglực thực tiễn của con người ngày một tăng thêm Trình độ phát triển của công cụlao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người Trong tác phẩm

"Sự khốn cùng của triết học", C Mác đã nêu một tư tưởng quan trọng về vai tròcủa lực lượng sản xuất đối với việc thay đổi các quan hệ xã hội C Mác viết: "Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với lực lượng sản xuất Do có đượcnhững lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình

và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình loài người thay đổitất cả những quan hệ xã hội của mình Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội cólãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản côngnghiệp"

Khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm thời đại của sản xuất và

do vậy, nó hoàn toàn có thể được coi là cái đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiệnđại

b> Quan hệ sản xuất

Trang 8

Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sảnxuất Cũng như lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực đời sống vậtchất của xã hội, nó tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người

Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế cơ bản của một hình thái kinh tế-xã hội nhấtđịnh

Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau:

-Quan hệ giữa người với người đối với việc sở hữu tư liệu sản xuất

-Quan hệ giữa người và người đối với việc tổ chức quản lý

-Quan hệ giữa người với người đối với việc phân phối sản phẩm lao độngQuan hệ sản xuất do con người sáng tạo ra Song nó được hình thành mộtcách khách quan không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của con người Quan hệ sảnxuất mang tính ổn định tương đối với bản chất xã hội và tính phương pháp đa dạngtrong hình thức biểu hiện

Tính chất của quan hệ sản xuất được quy định bởi quan hệ sở hữu đối với tưliệu sản xuất -biểu hiện thành chế độ sở hữu-là đặc trưng cơ bản của phương thứcsản xuất Trong hệ thống các quan hệ sản xuất của mỗi nền kinh tế -xã hội xác địnhquan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất luôn có vai trò quyết định đối với tất cả các quan

hệ xã hội khác Quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trungtâm của các quan hệ sản xuất Chính quan hệ sở hữu –quan hệ giữa các tập đoànngười trong việc chiếm hữu các tư liệu sản xuất đã quy định địa vị của từng tậpđoàn trong hệ thống sản xuất xã hội

Trong các hình thái kinh tế-xã hội mà loài người đã từng trải qua, lịch sử đãtừng chứng kiến sự tồn tại của hai hình thức sở hữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất:

sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng Nhờ cơ sở đó nên về mặt nguyên tắc cácthành viên trong cộng đồng bình đẳng với nhau trong tổ chức lao động và phânphối sản phẩm Do tư liệu sản xuất là tài sản chung của cả cộng đồng nên các quan

hệ xã hội trong sản xuất vật chất và trong đời sống xã hội nói chung trở thành quan

hệ hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau Ngược lại trong chế độ tư hữu do chế độ

Trang 9

chỉ nằm trong tay một ít người nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc

về số ít người đó

Trong hệ thống các quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức, quản lý sản xuất

là các quan hệ có khả năng quyết định một cách trực tiếp quy mô, tốc độ, hiệu quả

và xu hướng của mỗi nền sản xuất cụ thể Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chứcquản lý, trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sảnphẩm lao động cũng như là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vậnđộng của toàn bộ nền kinh tế-xã hội

c>Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chấtvà trình độ của lực lượng sản xuất

Giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có mối quan hệ biện chứng vớinhau biểu hiện: Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi phát triển

Sự biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của lực lượngsản xuất mà trước hết là công cụ

Công cụ lao động phát triển dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất cũthay thế bằng quan hệ sản xuất mới

Quan hệ sản xuất vốn là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất (phùhợp)nhưng do mâu thuẫn của lực lượng sản xuất (đông )với quan hệ sản xuất(ổnđịnh tương đối )quan hệ sản xuất lại trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển củalực lượng sản xuất (không phù hợp) Phù hợp và không phù hợp là biểu hiện mâuthuẫn biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, tức là sự phù hợptrong mâu thuẫn và bao hàm mâu thuẫn Khi phù hợp cũng như nếu không phù hợpvới lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất luôn có tính độc lập tương đối với lựclượng sản xuất thể hiện trong nội dung sự tác động trở lại đối với lực lượng sảnxuất, quy định mục đích xã hội của sản xuất , xu hướng phát triển của quan hệ lợiích, từ đó hình thành những yếu tố tồn tại thúc đẩy và kìm hãm sự phát triển củalực lượng sản xuất Sự tác động trở lại nói trên của quan hệ sản xuấ bao giờ cũngthông qua các quy luật kinh tế –xã hội đặc biệt là quy luật kinh tế cơ bản Phù hợp

Trang 10

và không phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là khách quan vàphổ biến của mọi phương thức sản xuất

Sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất như

sự thống nhất giữa hai mặt đối lập tạo nên chỉnh thể sản xuất xã hội Trong "hệ tưtưởng Đức " (1846) lần đầu tiên Mác -Ăng ghen đã hình dung sự thống nhất đó như

là một "quan hệ song trùng "giữa hai "sự trao đổi chất" tất yếu và phổ biển ở mọinền sản xuất –xã hội đó là trao đổi chất giữa người với tự nhiên (lực lượng sảnxuất )và giữa người với người(quan hệ sản xuất)

Tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuấtđược Mác-Ăng ghen khái quát thành quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuấtvới trình độ, tính chất của lực lượng sản xuất

Đây là một trong những quy luật cơ bản của đời sống xã hội Quy luật chỉ rõđộng lực và xu thế phát triển của lịch sử

Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu lao động Khi công

cụ lao động sản xuất được sử dụng bởi từng cá nhân riêng biệt để sản xuất ra mộtsản phẩm cho xã hội không cần đến lao động của nhiều người thì lực lượng sảnxuất có tính chất cá thể, công cụ sản xuất được nhiều người sử dụng(máy móc thiết

bị hệ thống công nghệ hiện đại )để sản xuất sản phẩm thì lực lượng sản xuấtmang tính chất xã hội

Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện ở trình độ tinh xảo và hiện đạicủa công cụ sản xuất, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng, kỹ xảo củangười lao động, trình độ phân công lao động xã hội tổ chức quản lý sản xuất và quy

mô của nền sản xuất Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất càng cao thìchuyên môn hoá và phân công lao động càng sâu Trình độ phân công lao động vàchuyên môn hoá là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và biến đổi củaquan hệ sản xuất Một câu trong tác phẩm sự khốn cùng của triết học của Mác :"cáicối xay quay bằng tay cho xã hội có lãnh chúa phong kiến, cái cối xay chạy bằng

Trang 11

hơi nước cho xã hội có nhà tư bản" Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và giảmbớt lao động nặng nhọc con người không ngừng cải tiến, hoàn thiện và tạo ranhững công cụ, tri thức khoa học, trình độ chuyên môn kỹ thuật và mọi kỹ năngcủa người sản xuất cũng ngày càng phát triển Yếu tố năng động này của lực lượngsản xuất đòi hỏi quan hệ sản xuất phải thích ứng với môi trường Lực lượng sảnxuất quyết định sự hình thành và biến đổi của quan hệ sản xuất Khi không thíchứng với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất

sẽ kìm hãm thậm chí phá hoại sự phát triển của lực lượng sản xuất, mâu thuẫn củachúng tất yếu sẽ nẩy sinh Biểu hiện của mâu thuẫn này trong xã hội là giai cấp, làmâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng

Lịch sử đã chứng minh rằng do sự phát triển của lực lượng sản xuất, loàingười đã 4 lần thay đổi quan hệ sản xuất gắn liền với 4 cuộc cách mạng xã hội, dẫnđến sự ra đời nối tiếp nhau của các hình thái kinh tế-xã hội

Ví dụ:do công cụ sản xuất bằng đá thô sơ, trình độ hiểu biết hạn hẹp, để duytrì sự sống chống lại mọi tai hoạ của thiên nhiên con người phải lao động theo cộngđồng do vậy đã hình thành quan hệ sản xuất cộng sản nguyên thuỷ Công cụ bằngkim loại ra đời thay thế cho công cụ bằng đồ đá, lực lượng sản xuất phát triển năngsuất lao động nâng cao sản phẩm thặng dư xuất hiện, chế độ chiếm hữu nô lệ dựatrên quan hệ sản xuất tư hữu đầu tiên ra đời sau đó do các cưỡng bức tàn bạo trựctiếp của chủ nô với nô lệ đã đẩy đến mâu thuẫn gay gắt giữa họ, quan hệ sản xuấtphong kiến thay thế quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ

Vào giai đoạn cuối cùng xã hội phong kiến ở các nước Tây Âu lực lượng sản xuất

đã mang những yếu tố xã hội hoá gắn với quan hệ sản xuất phong kiến Mặc dùhình thức bóc lột của các lãnh chúa phong kiến được thay đổi liên tục từ địa tô laodịch đến địa tô hiện vật, địa tô bằng tiền, xong quan hệ sản xuất phong kiến chậthẹp vẫn không chứa đựng được nội dung mới của lực lượng sản xuất Quan hệ sảnxuất của tư bản chủ nghĩa ra đời thay thế quan hệ sản xuất phong kiến Trong lòngnền sản xuất tư bản, lực lượng sản xuất phát triển cùng với sự phân công lao động

Trang 12

và tính chất xã hội hoá công cụ sản xuất đã hình thành lao động chung của ngườidân có tri thức và trình độ chuyên môn hoá cao Sự lớn mạnh này của lực lượng sảnxuất dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Giảiquyết mâu thuẫn đó đòi hỏi phải xoá bỏ quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa,xác lập quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Theo Mác, do cóđược những lực lượng sản xuất mới loài người thay đổi phát triển sản xuất củamình và do đó thay đổi phát triển sản xuất làm ăn của mình, loài người thay đổicác quan hệ sản xuất của mình Mặc dù bị chi phối bởi lực lượng sản xuất nhưngvới tính cách là hình thức quan hệ sản xuất xã hội củng cố những tác động nhấtđịnh trở lại đối với lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chấttrình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy, địnhhướng và tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại nếu lạc hậuhơn so với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hay chỉ là tạmthời so với tất yếu khách quan của cuộc sống nhưng quan hệ sản xuất sẽ là xiềngxích kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

Phù hợp có thể hiểu ở một số nội dung là :cả ba mặt của quan hệ sản xuấtphải thích ứng với tính chất và trình độ sản xuất Quan hệ sản xuất phải tạo đượcđiều kiện sản xuất và kết hợp với tối ưu giữa tư liệu sản xuất và sức lao động, đảmbảo trách nhiệm từ sản xuất mở rộng Mở ra những điều kiện thích hợp cho việckích thích vật chất, tinh thần của người lao động

Vậy quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độcủa người sản xuất là quy luật chung của sự phát triển xã hội

Do tác động của quy luật xã hội này là sự phát triển kế tiếp nhau từ thấp đếncao của các phương thức sản xuất hay chính là của các hình thái kinh tế xã hội.Dưới những hình thức và mức độ khác nhau thì con người có ý thức được haykhông đồng thời quy luật cốt lõi này là sợi chỉ đỏ xuyên suốt dòng chảy tiến hoácủa lịch sử không những trong lĩnh vực kinh tế mà cả các lĩnh vực ngoài kinh tế,phi kinh tế

Trang 13

3 Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng một hình thái kinh tế-xã hội

Xã hội dưới bất kỳ hình thái nào đều là sản phẩm của quan hệ giữa người vớingười Quan hệ sản xuất của con người rất đa dạng, phong phú vận động và biếnđổi không ngừng Công lao to lớn của Mác và Ăng ghen là từ những quan hệ xã hộihết sức phức tạp đã phân biệt những quan hệ vật chất của xã hội với những quan hệtinh thần tư tưởng của xã hội, nêu bật cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định kiến trúcthượng tầng

Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng có quy luật phát triểnriêng nhưng không tồn tại tách rời nhau mà liên hệ tác động qua lại lẫn nhau và đềunảy sinh trên cơ sở hạ tầng, phản ánh cơ sở hạ tầng Song không phải tất cả các yếu

tố của kiến trúc thượng tầng đều liên hệ như nhau đối với cơ sở hạ tầng của nó.Trái lại một bộ phận như các tổ chức chính trị, pháp luật có liên hệ trực tiếp với cơ

sở hạ tầng, còn các yếu tố khác như triết học, nghệ thuật tôn giáo thì ở xa cơ sở hạtầng và chỉ liên hệ gián tiếp với nó

Đặc trưng của kiến trúc thượng tầng là sự thống trị về tư tưởng của giai cấpthống trị Trong xã hội có đối kháng giai cấp thì cơ sở hạ tầng tồn tại những quan hệđối kháng thì kiến trúc thượng tầng cũng mang tính chất đối kháng, phản ánh tínhđối khảng của cơ sở hạ tầng, biểu hiện ở xung đột về quan điểm tư tưởng và ởcuộc đấu tranh tư tưởng của các giai cấp đối kháng Giai cấp nào thống trị về mặtkinh tế và nắm giữ chính quyền nhà nước thì hệ tư tưởng cùng những thể chế của

Trang 14

giai cấp ấy cùng giữ địa vị thống trị Nó quy định và tác động trực tiếp đến xuhướng của toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội và quyết định cả tính chất, đặctrưng cơ bản của toàn bộ kiến trúc thượng tầng xã hội

do quan hệ sản xuất thống trị quy định Trong một cơ sở hạ tầng có nhiều thànhphần kinh tế nhiều kiểu quan hệ sản xuất thì kiểu quan hệ sản xuất thống trị bao giờcũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các thành phần kinh tế và các kiểu quan hệ sảnxuất khác; nó quy định và tác động trực tiếp đến xu hướng chung của toàn bộ đờisống kinh tế xã hội

Trong xã hội có giai cấp đối kháng, tính chất giai cấp của cơ sở hạ tầng là dokiểu quan hệ sản xuất thống trị quy định Tính chất đối kháng giai cấp và sự xungđột giai cấp bắt nguồn từ ngay trong cơ sở hạ tầng

3 3 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

a>Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng :

Mỗi hình thái kinh tế-xã hội có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của nó Do

đó cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mang tính chất lịch sự cụ thể, giữachúng có mối liên hệ biện chứng với nhau trong đó cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyếtđịnh

Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng được thểhiện ở một số mặt sau :

-Cơ sở hạ tầng nào thì sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy (giai cấp nào giữ vị tríthống trị về mặt kinh tế thì đồng thời cũng là giai cấp thống trị xã hội về tất cả cáclĩnh vực khác)

Trang 15

-Quan hệ sản xuất nào thống trị thì tạo ra kiến trúc thượng tầng chính trịtương ứng Mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế quyết định tính chất mâu thuẫn tronglĩnh vực tư tưởng

-Những biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng sớm hay muộn sẽ dẫn đến sựbiến đổi căn bản trong kiến trúc thượng tầng

-Khi cơ sở hạ tầng cũ mất đi thì kiến trúc thượng tầng do nó sinh ra cũng mấttheo, khi cơ sở hạ tầng mới ra đời thì một kiến trúc thượng tầng mới phù hợp với

Cơ sở hạ tầng cũ mất đi thì kiến trúc thượng tầng của nó với tính cách làmột chỉnh thể thống trị xã hội cũng mất theo Như vậy sự hình thành và phát triểncủa kiến trúc thượng tầng do cơ sở hạ tầng quyết định ;đồng thời nó còn có quan hệ

kế thừa đối với các yếu tố của kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ

Tính quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng diễn ra rấtphức tạp trong quá trình chuyển từ một hình thái kinh tế xã hội này sang một hìnhthái kinh tế-xã hội khác

b>Tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đốivới cơ sở hạ tầng

Các bộ phận của kiến trúc thượng tầng không phải phụ thuộc vào một chiềucủa cơ sở hạ tầng mà trong quá trình phát triển chúng còn tác động qua lại với nhau

và ảnh hưởng lớn đến cơ sở hạ tầng cũng như các lĩnh vực khác nhau của đời sống

xã hội

Sự phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng không phải làmột hệ thống liên hệ phụ thuộc có tính chất giản đơn ;không phải bất cứ sự biến đổi

Trang 16

nào trong kiến trúc thượng tầng cũng được giải thích chỉ bằng những nguyên nhânkinh tế Bên trong bản thân những yếu tố của kiến trúc thượng tầng cũng xuất hiệnnhững sự liên hệ tác động lẫn nhau nhiều vẻ Những tác động ấy dẫn tới những hậuquả đôi khi không phải quy định bởi kinh tế

Sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng được thể hiện

ở chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là bảo vệ, duy trì, củng cố và pháttriển cơ sở hạ tầng sinh ra nó ; đấu tranh xoá bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượngtầng cũ

Trong xã hội có đối kháng giai cấp, kiến trúc thượng tầng đảm bảo sự thống trịchính trị và tư tưởng của giai cấp giữu địa vị thống trị trong kinh tế Nếu giai cấpthống trị không xác lập được sự thống trị về kinh tế và tư tưởng, cơ sở kinh tế của

Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng như triết học, đạo đức, tôn giáo,nghệ thuật cũng đều tác động mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng bằng những hình thứckhác nhau song thường thường những tác động đó phải thông qua nhà nước, phápluật và các thể chế tương ứng; chỉ thông qua đó chúng mới phát huy

được hiệu lực đối với cơ sở hạ tầng cũng như đối với toàn xã hội

Trong bản thân kiến trúc thượng tầng cũng diễn ra quá trình biến đổi, phát triển

có tính chất độc lập tương đối Quá trình đó càng phức tạp với cơ sở hạ tầng, sựtác động của nó với cơ sở hạ tầng càng có hiệu quả

Trang 17

Như vậy kiến trúc thượng tầng có tác dụng to lớn đối với cơ sở hạ tầng khi nó tácđộng cùng chiều với quy luật vận động của cơ sở hạ tầng, trái lại khi tác độngngược chiều với quy luật kinh tế khách quan nó sẽ cản trở sự phát triển của cơ sở

hạ tầng Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhấn mạnh rằng chỉ có kiến trúc thượng tầngtiến bộ nảy sinh trong qúa trình phát triển của cơ sở kinh tế mới phản ánh nhu cầucủa sự phát triển kinh tế, mới có thể thúc đẩy kinh tế phát triển, xã hội tiến lên.Ngược lại nếu kiến trúc thượng tầng là sản phẩm của cơ sở kinh tế đã lỗi thời thìgây tác dụng kìm hãm sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội Nhưng tác dụng kìmhãm đó chỉ là tạm thời, sớm muộn nó sẽ được cách mạnh khắc phục

Quá nhấn mạnh hoặc thổi phồng vai trò của kiến trúc thượng tầng, phủ nhận tínhtất yếu của kinh tế xã hội, sẽ không tránh khỏi rơi vào chủ nghĩa duy tâm chủ quan

và không thể nhận thức đúng đắn sự phát triển của lịch sử Ngược lại nếu tuyệt đốihoá vai trò quyết định của kinh tế mà không thấy tác động tích cực của kiến trúcthượng tầng cũng là một sai lầm nghiêm trọng

II/ Sự vận dụng hình thái kinh tế-xã hội vào sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam

Với sự ra đời của học thuyết Mác Lê -Nin về hình thái kinh tế-xã hội chủ nghĩaduy vật đã vạch rõ kết cấu cơ bản và phổ biến của mọi xã hội, qui luật vận động vàphát triển tất yếu của xã hội

1 Tính tất yếu

Loài người đã trải qua năm hình thái kinh tế-xã hội Mỗi hình thái sau tiến bộ hơnvăn minh hơn hình thái trước Đầu tiên là hình thái kinh tế tự nhiên (cộng sảnnguyên thuỷ) con người chỉ biết săn bắt hái lượm, ăn thức ăn sống cuộc sống của

họ phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, họ chưa biết chăn nuôi trồng trọt, chưa biếttích luỹ thức ăn Họ cùng làm cùng hưởng cùng sống theo chế độ quần hôn Có thểnói đây là thời kỳ sơ khai, thời kỳ mông muội của loài người

Trang 18

Sau đó đến hình thái kinh tế-xã hội: chiếm hữu nô lệ con người đã văn minh hơn

họ không còn ăn tươi sống và đã biết lao động tạo ra của cải, xã hội chế độ tư hữu

Xã hội phân chia kẻ giàu người nghèo, thay thế chế độ quần hôn bằng chế độ hônnhân một vợ một chồng

Giai cấp chủ nô và nô lệ là quan hệ giữa hai giai cấp, quan hệ bóc lột hoàn toàncủa cải vật chất của con người Nô lệ biến thành công cụ lao động Vấn đề giai cấptrọng xã hội phong kiến bản chất vẫn là quan hệ bóc lột sự bóc lột thể hiện qua sự

có mặt Người nông dân, tá điền làm thuê và nộp tô thuế cho quan lại, địa chủ song

họ có một chút quyền lợi là tự do

Hình thái kinh tế-xã hội tư bản chủ nghĩa ra đời đưa loài người lên nấc thang caohơn của nền văn minh Xã hội đã phong phú hơn về giai cấp Giai cấp thống trị làgiai cấp cơ bản Thủ đoạn bóc lột của chúng tinh vi hơn rất nhiều lần so với sự bóclột trước đó trong các xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến Người công nhân làmthuê bị bóc lột sức lao động quan giá trị thặng dư, làm việc quá sức mặc dù xãhội tư bản chủ nghĩa tạo ra một lượng của cải rất lớn cho xã hội nhưng bản chấtbóc lột cùng những mâu thuẫn khác là không thể điều hoà Phần đông con ngườitrong xã hội tư bản chủ nghĩa đều bị mất quyền lợi, mất bình đẳng

Cả 3 chế độ nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa có những đặc điểm riêng nhưng

nó đều là chế độ có những mâu thuẫn đối kháng không thể điều hoà giữa giai cấpbóc lột và giai cấp bị bóc lột, dựa trên sự tư hữu về sản xuất Giai cấp bóc lột vàgiai cấp thống trị mọi hoạt động về mặt kinh tế xã hội chính trị đều chỉ phục vụ choquyền lợi của chính họ

Một hình thái kinh tế-xã hội tồn tại được thì nó phải có những mặt tốt nhấtđịnh của nó chúng ta không thê phủ nhận những thành quả mà hình thái kinh tế-xãhội nói trên đã đạt được: xã hội cộng sản nguyên thuỷ là chế độ xã hội đầu tiên đặtnền móng cho sự phát triển của loài người; xã hội chiếm hữu nô lệ giai cấp thốngtrị bắt đầu tích luỹ của cải cho xã hội, quan trọng nhất là nó đưa con người thoát rakhỏi thời kỳ mông muội hoang dã, xã hội phong kiến là bước chung gian để loài

Trang 19

người chuyển sang một nền văn minh mới nó hình thành những tiền đề tốt cho sự

ra đời của xã hội tư bản chủ nghĩa Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa không chỉ còn làsản xuất nông nghiệp con người đã được tiếp cận với sản xuất công nghiệp, vớinhững thành tựu khoa học kỹ thuật nó đã tạo ra những khả năng phát triển mạnh

mẽ lực lượng sản xuất , nó tạo ra một khối lượng của cải vật chất cho nhân loại

Xong một tấm huy chương luôn có hai mặt của nó Mặc dù các xã hội nóitrên đã đạt được những thành quả trong lịch sử phát triển loài người nhưng nhữngmặt trái của nó cùng bằng tất cả các xã hội trước cộng lại những mâu thuẫn đốikháng không thể điều hoà giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột Nền văn minhđảm bảo cho sự công bằng xã hội

Hình thái kinh tế-xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ

xã hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với những quan hệ sản xuất của

nó thích ứng với lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và với một kiến trúcthượng tầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó

Đồng thời đó là xã hội bước đầu vừa phát huy thừa kế những thành quả của chủnghĩa tư bản đồng thời khắc phục những mâu thuẫn, những hạn chế của chủ nghĩa

tư bản Một xã hội mà quyền lực nằm trong tay giai cấp công nhân và nhân dân laođộng, một tầng lớp đông đảo của xã hội Mọi hoạt động kinh tế, xã hội, chính trịphục vụ lợi ích chung của toàn xã hội Không còn tình trạng bóc lột, mọi ngườiđều bình đẳng, sinh hoạt lao động dưới sự quản lí của nhà nước thông qua phápluật thự hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ tập chung dân chủ côngbằng xã hội Quan hệ sản xuất được xây dựng trên cơ sở của lực lượng sản xuất vàtrình độ phát triển cao cơ sở hạ tầng phù hợp với kiến trúc thượng tầng

Đây là hình thái kinh tế-xã hội ưu việt một đỉnh cao của văn minh loài người Nhân loại đã chứng kiến nhà nước, dân tộc do điều kiện lịch sử riêng của mình đã

bỏ qua một, hai giai đoạn nào đó để tiến lên giai đoạn lịch sử cao hơn dưới hìnhthức này hay hình thức khác tức là " rút ngắn và làm dịu bớt những cơn đau đẻ".Việt Nam là một trong số những nước đó

Trang 20

Song Việt Nam từ một nền kinh tế tiểu nông muốn thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu

và nhanh chóng đạt đến trình độ một nước phát triển bằng con đường đi lên chủnghĩa xã hội tất yếu phải tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước

2 Mục đích

Mục tiêu của công nghiệp hoá- hiện đại hoá ở nước ta hiện nay như Đại Hội Đảngtoàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định là : Xây dựng nước ta thành mộtnuớc công nghiệp có cơ sở vật chất hiện đại Cơ cấu kinh tế lập hiến, quan hệ sảnxuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vậtchất và tinh thần nâng cao, quốc phòng an ninh được giữ vững chắc dân giàu nướcmạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh, nước ta đã chuyển sang một thời kì pháttriển mới thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá -hiện đại hoá đây là những nhận địnhrất quan trọng đối với những bước đi tiếp theo trong sự nghiệp đổi mới

Thuộc phạm trù lực lượng sản xuất và vận động bên ngoài biện chứng nội tại củaphương thức sản xuất vấn đề công nghiệp hoá ngày càng gắn chặt với hiện đại hoátrước hết phải được xem xét từ tư duy triết học Mác xít chứ không phải là từ tư duykinh tế hay tư duy nào khác

Có rất nhiều quan niệm về công nghiệp hoá (CNH) có quan niệm cho rằng "CNH

là trang bị đặc tính công nghiệp cho một hoạt động nào đó, là cơ sở, mô hình chocải tiến các ngành các hoạt động trong nền kinh tế quốc dân" Hoặc có những quanniệm cho rằng "CNH là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năngcải tạo nông nghiệp Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm làchế tạo máy " Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc cho rằng "CNH

là quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng pháttriển các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển một cơ cấu kinh tếvới nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại" Ngoài ra có ý kiến cho rằng :CNH là một quá trình nhằm đưa nước ta từ một nền công nghiệp lạc hậu thành mộtnước công nghiệp hiện đại

Ngày đăng: 31/03/2016, 00:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w