Với những ý nghĩa to lớn, và tầm quan trọng như vậy của học thuyết kinh tế tư sản cổ điển. Đồng thời để hiểu rõ hơn, hiểu sâu hơn các phạm trù kinh tế cũng như trang bị cho mình một tri thức căn bản về các phạm trù kinh tế nhằm phục vụ trong công việc và trong cuộc sống nên em đã chọn đề tài: “Các nhà kinh tế tư sản cổ điển đã đưa kinh tế chính trị thành trở thành hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh” để tìm hiểu.
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Khi nước ta lựa chọn phát triển kinh tế theo định hướng XHCN với nền tảng lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, không ít quan niệm cho rằng học thuyết về kinh tế của các nhà tư sản là để bảo vệ chế
độ, nền tảng và tư tưởng của giai cấp tư sản nên không quan tâm và
ít đi vào nghiên cứu Theo em, cách nhìn nhận như thế là phiến diện
và bảo thủ.
Thứ nhất
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu môn học lịch sử các học
thuyết kinh tế, em thấy rằng kinh tế chính trị tư sản cổ điển là tư tưởng kinh tếcủa giai cấp tư sản nhưng đó là những tư tưởng kinh tế của giai cấp tư sảntrong giai đoạn chống chế độ phong kiến và thiết lập phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa Giai cấp tư sản đang đóng vai trò cách mạng trong lịch sử, tư
tưởng của nó phản ánh sự tiến bộ chung của xã hội Kinh tế chính trị tư sản
cổ điển là một trường phái khoa học trong lịch sử các học thuyết kinh tế.
Họ đã nghiên cứu những mối quan hệ nội tại của các quan hệ sản xuất tư sản, nghĩa là nghiên cứu để vạch ra bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Với một hệ thống lý luận đã đặt nền móng cho khoa học kinh
tế, điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của kinh tế học hiện đại ở tất cả nước đang thực hiện nền kinh tế thị trường, trong đó có nước ta.
Thứ hai, tuy học thuyết của họ đứng trên lập trường của giai cấp tư sản và còn có những hạn chế nhất định, song những thành tựu mà họ đạt được có ý nghĩa hết sức to lớn đối với các nhà nghiên cứu kinh tế sau này.
Và có thể nói, học thuyết kinh tế của các nhà tư sản cổ điển là nền tảng lý luận để C.Mác – Ănghen và sau này là Lênin kế thừa và phát triển thành
Trang 2một hệ thống lý luận có ý nghĩa mang tầm giá trị vượt thời đại và không chỉ là nền tảng cho việc phát triển kinh tế ở các nước XHCN mà cả cho các nước trên thế giới.
Thứ ba, nước ta hiện nay đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa “vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghia” nên việc nghiên cứu lại những thành tựu về lý luận giá trị mà các nhà kinh tế tư sản cổ - sự kế thừa của C.Mác về thành tựu ấy là rất cần thiết cho việc sản xuất trao đổi và lưu thông hàng hóa, nhất là trong thời kì hội nhập như hiện nay.
Chính những vấn đề đã nêu trên mà em quyết định chon đề tài
“Những thành tựu và hạn chế về lý luận giá trị của các nhà kinh tế tư sản
cổ điển, việc kế thừa và phát triển lý luận giá trị của C.Mác”
Tuy nhiên, do kiến thức còn nhiều hạn chế và thời gian nghiên cứu không nhiều nên bài viết còn có những thiếu sót nên em rất mong được nhận được những ý kiến đóng góp của thầy, (cô) để bài viết của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm các thầy!
Với những thành tựu mà các nhà kinh tế tư sản cổ điển mang lại, với những đại biểu xuất sắc và hệ thống lý luận mang tính chất ứng dụng trực tiếp vào xã hội tư bản thời bấy giờ, nó không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa thời đại
Tuy quá trình nghiên cứu còn nhiều hạn chế, song lý luận giá trị của các nhà kinh tế tư sản cổ điển đã xây dựng được một hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh tạo được sự tiến bộ vượt bậc so với các học thuyết kinh tế trước đó đồng thời trở thành một trong ba nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin Một lần nữa xin khẳng định rằng thành tựu về lý
Trang 3luận giá trị của C.Mác một phần là nhờ vào sự kế thừa và phát triển của các nhà kinh tế tư sản trước đó.
Với những ý nghĩa to lớn, và tầm quan trọng như vậy của học thuyếtkinh tế tư sản cổ điển Đồng thời để hiểu rõ hơn, hiểu sâu hơn các phạm trùkinh tế cũng như trang bị cho mình một tri thức căn bản về các phạm trù kinh
tế nhằm phục vụ trong công việc và trong cuộc sống nên em đã chọn đề tài:
“Các nhà kinh tế tư sản cổ điển đã đưa kinh tế chính trị thành trở thành hệthống lý luận tương đối hoàn chỉnh” để tìm hiểu
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Hê thống lại các lý luận của các nhà kinh tế cổ điển theo một trình tự từchưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
3 Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian, nên tiểu luận chỉ bàn về các vấn đề chung nhấttrong học thuyết kinh tế của các nhà kinh tế cổ điển Nghiên cứu những phạmtrù chung nhất của nền kinh tế hàng hoá
4 Phương pháp nghiên cứu.
-Phương pháp duy vật biện chứng va duy vật lịch sử
-Phương pháp phân tích, so sánh
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG
I Sơ lược về tiểu sử của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển.1.1 William Petty (1623-1687).
W.Petty sinh năm 1623, trong một gia đình thợ may nghèo ở một thị trấnyên bình của Hampshire, bên dòng sông Test, miền nam nước Anh Việc họccủa ông về cơ bản chỉ có học thuộc lòng, đó là một kiểu giáo dục điển hìnhđối với trẻ em thuộc tầng lớp xã hội thấp trong thời kỳ đó Mặc dù vậy,W.Petty nổi lên trong cách giáo dục đó vì ông có tính rất tò mò và đọc rộng
về văn chương và khoa học
Vào độ tuổi 14, ông thôi học và tìm việc trên một chiếc tàu thườngxuyên qua lại eo biển Măng-sơ, Trong năm đầu làm việc, ông bị gẫy chân, vìkhông còn có ích đối với người chủ ông ở lại Pháp W.Petty quyết định ở lạiPháp và nhập jọc trường Jesuit College ở Caen Ông rời Cean năm 1640, dành
3 năm trong hải quân, và sa đó đến Hà Lan để học giải phẫu và y học
Năm 1646 W.Petty trở lại nướic Anh để học nghề y tại trường Oxford.Sau khi nhận bằng tiến sỹ y học ông được bổ nhiệm làm giáo sư giải phẫu tạiOxford W.Petty trở nên nổi tiềng và được kính trọng vì người ta tưởng ông làkiếp phục sinh từ cái chết của một người đàn bà bị xử treo cổ Nhưng trongnhững tuần giảng đầu tiên, ông đã nhận thấy rằng cuộc sống nghiên cứukhông thích hợp đối với ông và ông đã rời Oxford để trở thành một bác sỹtrưởng trong quân đội Ailen, cùng thời gian đóm W.Petty trở thành ngườigiám sát chính ở Ailen, và ông đã dùng kiến thức có được trong công việc này
để tích luỹ được nhiều của cảc và đất đai Vào những năm 1660, ông giúpthành lập một Hiệp hội hoàng gia London về nâng coa hiểu biết tự nhiên.Cương lĩnh của nó tuân thieo phương pháp kho học của Francis Bacon-sửdụng quan sáo và thí nghiệm đểt nghiên cứu thế giới tự nhiên và xã hội
Trang 51.2 Francois Quesnay (1694-1774).
F.Quesnay nổi tiếng với tư cách là người sáng tạo ra mô hình kinh tế đầutiên, tức là Biểu kinh tế, và với tư cách là người đứng đầu phái trọng nông,trường phái tư tưởng kinh tế đầu tiên Tuy vậy, F.Quesnay được ngưỡng mộ
vì nhiều điều khác như việc đề xuất của ông về thị trường tự do, phân tích sựtạo thành văn hoá phân phối thặng dư kinh tế, cũng như cách nhìn nhận củaông về nền kinh tế như là một tập hợp gắn kết chặt chẽ của các bộ phận độclập
F.Quesnay sinh năm 1694 ở gần Versailles Cha ông là một nông dân và
là chủ một cửa hàng nhỏ, vì thế ông không được giáo dục một cách chínhthống, nhưng F.Quesnay là một người rất ham mê sách
Vào tuổi 17, ông quyết định trở thành nhà giải phẫu Mặc dù không thíchkhoá học y khoa nhưng ông vẫn tiếp tục nghiên cứu Năm 1735, ông đượcmời làm bác sỹ riêng cho công tước Villenroy Năm 1774, ông nhận bằng tiến
sỹ y học và trở thành thành viên của Hội khoa học Pháp
Lúc 55 tuổi, F.Quesnay trở nên quan tâm đên kinh tế học và toán học.Với hiểu biết rộng và có nhiều mối quan hệ với những người có địa vị cao,ông được viết một số mục trong Bách khoa thư của Diderot Những mục đó
đã làm ông trở nên nổi tiếng và được nhiều người ủng hộ
Chịu ảnh hưởng của các phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên,F.Quesnay cổ vũ nhiệt thành cho trật tự tự nhiên của phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa dựa trên cơ sở tự do cạnh tranh, không có sự can thiệp của nhànước Ông có công lớn trong việc phân tích tư bản và “sản phẩm thuần tuý”của nền kinh tế
1.3 Adam Smith (1723-1790).
A.Smith sinh năm 1723 tại Kirkcaldy, một thị trấn nhỏ gần Edinburgh,Scotland Cha ông là một luật sư đã mất ngay trước khi ông sinh ra Do vậy,A.Smith được mẹ và những người bảo trợ theo di chúc của cha ông nuôinấng
Trang 6Mặc dù khi nhở là một đức trẻ ốm yếu bênhj tật, nhưng A.Smith có niềmđam mê rất lớn đối với với sách vở và là một độc giả nhiệt tình Vảo tuổi 14,ông được gửi đến trường Đại học Glasgow, nơi ông nghiên cứu triết học đạođức, toán học và kinh tế chính trị Năm 1740, ông giành được học bổng điOxford và học tại trường Balliol trong sáu năm tiếp theo.
Năm 1751 A.Smith được mời làm giáo sư về Lôgic tại Đại họcGlasgow Một năm sau đó ông đảm trách vị trí Giáo sư Triết học đạo đức.Các bài giảng của ông về đạo đức được nhiều người chú ý tham dự và sau đóđược tập hợp thành tác phẩm thành công đầu tiên của ông – tác phẩm Lýthuyết về những xúc cảm đạo đức
Khi Charles Townshend đọc cuốn “Lý thuyết về những cảm xúc đạođức”, ông nhận ra thật may mắn nếu mời đựoc A.Smith làm gia sư cho contrai riêng của ông, Smith đã nhận lời và từ giã chức giáo sư tại Glasgow đểlên đường sang Pháp làm gia sư cho con trai của nha quý tộc Công việc mớinày cho phép A.Smith có nhiều thời gian rảnh rỗi để đọc và suy ngẫm, và nhờchuyến đi Pháp , ông có cơ hội gặp gỡ những người đứng đầu của phái trọngnông, kể cả Francois Quyesnay
Sau khi đi vòng quanh nước Pháp ba năm, A.Smith trở về Kirđcaly vàsau đó dành 10 năm tiếp theo để hoàn thành cuốn sách của ông – tác phẩm
“Của cải của các dân tộc”, được xuất bản năm 1776, và tác phẩm này đã đemlại cho ông sự nổi tiếng và giàu có
Sau khi hoàn thành cuộc cách mạng của mình với lý thuyết “bàn tay vôhình”, từ năm 1778 A.Smith từ bỏ lĩnh vực nghiên cứu kinh tế để trở về cuộcsống của một viên chức thuế quan ơ Scotland cho đến cuối đời Với đức tínhkhiêm nhường, giản dị và giàu lòng nhân ái, A.Smith đã được nhiều ngườiđương thời kính phục, và yêu mến
1.4 David Ricardo (1772-1823).
D.Ricardo sinh năm 1772 tại London trong một gia đình Do thái giàu có.Ông được đào tạo chu đáo theo hướng kế nghiệp cha trong thế giới tài chính
Trang 7và thương mại Khi 14 tuổi ông vào làm trong công ty môi giới của cha, ôngnhanh chóng làm quen với hoạt động kinh doanh Ông được xem là một nhàđàm phán cực kỳ tài năng, và nhanh chóng thành thạo trong các hoạt độngđày khó khăn và bí ẩn như kinh doanh trên thị trường chứng khoán.
D.Ricardo bị cha từ bỏ vì ông cưới một cô gái thuộc giáo pháo Quaker
và cải sang đạo Thiên chúa Không một xu dính túi và phải đảm bảo cho cuộcssong gia đình,D.Ricardo chạy vạy khắp nới để vây tiền và mở một công tymôi giới của chính ông Dù những năm đầu đầy gian khó, nhưng sau đókhông lâu ông nhanh chóng kiếm được một tài sản lớn và trở nên độc lập vềtài chính vào tuổi 26 Điều này cho phép ông giành thời gian theo đuổi những
sở thích của ông trong lĩnh vực khoa học và tri thức Ông thành lập mộtphòng thí nghiệm, bắt đầu thu thập khoáng vật, văn hoá tham gia hội địa chấthọc Anh
Trong một kỳ nghỉ với vợ vào năm 1799, D.Ricardo ngẫu nhiên đọcđược cuốn “Của cải của các dân tộc” của A.Smith, D.Ricardo quyết định dànhthời gian rảnh rỗi cho nghiên cứu kinh tế
Năm 1819, D.Ricardo tậu được một ghế trong hạ viện Anh Đây là mộtghế đại biểu cho hạt Portarlington xứ Ailen-một địa điểm ông chưa bao giờđặt chân đến D.Ricardo đã nhanh chóng trở thành một chuyên gia có tiếngtrong nghị viện về các vẫn đề tài chính và ông thường phát biểu sôi nổi về cácvấn đề kinh tế cấp bách đương thời như tiền tệ văn hoá ngân hàng, thuế quan,thuế khoá và suy thoái trong nông nghiệp
Trong cuộc đời khoa học của mình, D.Ricardo chịu ảnh hưởng nhiềunhất của A.Smith và Malthus-nhà kinh tế học tư sản tầm thường nổi tiếng.Người ta cũng không thể không nói đên J.Mill, một nhà văn và nhà chính luận
có công lao to lớn trong việc dẫn dắt D.Ricardo đến với khoa học, giúp ôngxuất bản những công trình đầu tiên, một người bạn trung thành đến tận cuốiđời nhưng luôn luôn tự nhận là học trò và người kế tục của ông
Trang 8Công trình nổi tiếng nhất của D.Ricardo là cuốn sách “Những nguyên lýcủa kinh tế chính trị học và vấn đề thuế khoá” được xuất bản vào tháng 4 –
1817 khi ông 35 tuổi Trước đó, năm 1815 ông đã viết cuốn sách nghiên cứu
về ảnh hưởng của giá cả thấp đối với lợi nhuận của tư bản
D.Ricardo có một tài sản vô giá là kiến thức kinh tế thực tến đặc biệt làtrong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ Nhờ vậy trong hệ thống lý luận của mình,ông đã thể hiện được một cơ sở vững chắc cho phương pháp nghiên cứu kinh
tế học Đối với những người đương thời hệ thống kinh tế của D.Ricardo làmột hệ thống kinh tế kiểu mới
Trang 9II Hệ thống một số lý luận.
2.1 Lý luận về giá trị.
Trong tác phẩm “Những nguyên lý của khoa kinh tế chính trị và vấn đềthuế khoá”, đại biểu nổi tiếng nhất của tư tưởng kinh tế chính trị tư sản cổđiển D.Ricardo đã đưa ra luận điểm chung nói rằng “giá trị của hàng hoá, hay
số lượng của một hàng hoá nào đó trao đổi, là số lượng lao động tương đốicần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định chứ không phải do khoảnthưởng lớn hay nhỏ trả cho lao động đó quyết định” Lý luận về giá trị đãđược các nhà kinh tế học trước đó nói đến và mầm mống của học thuyết giátrị lao động bắt đầu được nêu ra trong lý thuyết của W.Petty
Công lao to lớn của W.Petty là ở chỗ, ông là người đầu tiên nêu ranguyên lý giá trị lao động, nghĩa là lao động là cơ sở của giá trị Lý luận củaông có nhiều mâu thuẫn W.Petty đã nêu ra ba luận điểm về giá trị Luậnđiểm thứ nhất ông cho rằng giá trị hàng hoá bằng số lượng so sánh của laođộng chứa đựng trong những hàng hoá đó Trong luận điểm này, W.Petty đãphân tích sự phụ thuộc giữa giá trị và năng suất lao động và rút ra rằng giá trị
tỉ lệ nghịch với năng suất lao động W.Petty nói rõ là sự khác nhau của cácloại lao động ở đây không quan hệ gì cả, chỉ tuỳ thuộc vào thời gian lao động.Như vậy W.Petty có ý định đặt ra vấn đề lao động giản đơn và lao động phứctạp, nhưng ông chỉ dừng lại ở đó không phân tích luận điểm đó hơn nữa Mặt khác ông lẫn lộn giữa giá trị và giá trị sử dụng khi đưa ra luận điểmthứ hai cho rằng “việc đánh giá tất cả mọi vật phải được quy thành hai mẫu số
tự nhiên là đất đai và lao động, nghĩa là chúng ta phải nói: giá trị của mộtchiếc thuyền hay một cái áo là ngang với giá trị của một số đất đai là baonhiêu đó cộng với một lượng lao động là bao nhiêu đó Bởi vì cả hai vật đó,thuyền và áo đều do đất đai và lao động của con người tạo ra” Ông cho rằng
“lao động là bố là nhân tố tích cực của của cải, còn đất đai là mẹ của nó…”,
Trang 10nhưng khi phát sinh vấn đề thước đo thống nhất của giá trị thì W.Petty vềthực chất muốn quy giá trị của đất thành lao động.
W.Petty đưa ra luận điểm thứ ba cho rằng “suất ăn trung bình hàng ngàycủa một người lớn là thước đo chung của giá trị chứ không phải lao độnghàng ngày của anh ta Cái thước đo ấy đều đặn và không biến đổi như là giátrị của bạc ròng Vì vậy mà tôi đã quy định giá trị của một cái nhà tranh ởAirơlen bằng những số lượng suất ăn hằng ngày mà người xây dựng đã chiphí để dựng lên nó” Ở đây ông hoàn toàn không biết đến giá trị Các luậnđiểm giá trị của W.Petty còn chưa dựa trên cơ sở vững chắc là lao động, luậnđiểm khoa học của ông còn xen kẽ với những luận điểm không khoa học.Ngay cả quan niệm giá trị khoa học của W.Petty còn in dấu vủa chủ nghĩatrọng thương vì theo ông các lao động khác có giá trị là vì nó được so sánhvới lao động sản xuất ra bạc-lao động sản xuất ra tiền Ông quy định lao động
cụ thể sản xuất ra bạc thành lao động trừu tượng – khi giải quyết những vấn
đề địa tô, lợi tức…ông lại đứng trên quan niệm khoa học về giá trị
Các nhà tư tưởng lớn thời cổ đại đã cảm thấy những thuộc tính khácnhau của hàng hoá nhưng mãi đến A.Smith quan điểm đó mới được xây dựngmột cách vững chắc Ông đã phân biệt rõ ràng và dứt khoát giá trị trao đổi vàgiá trị sử dụng của hàng hoá Giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi.Một số đồ vật có thể có giá trị sự dụng rất lớn nhưng giá trị trao đổi của chúngrất ít A.Smith đặt cho mình nhiệm vụ phải xác định cái “thước đo thực tế”của giá trị trao đổi và “giá cả thực tế” của tất cả các hàng hoá Theo A.Smithlúc đầu sự giàu có của con người là tuỳ thuộc vào chỗ giá trị sử dụng nhiềuhay ít, khi có phân công lao động thì lại phụ thuộc vào số lượng lao động mà
họ có thể chi phối hay có thể mua được Lao động chính là thước đo thực tếcủa giá trị trao đổi của mọi hàng hoá Lao động là giá cả đầu tiên , là tổng sốtiền mua đầu tiên đã trả cho tất cả các vật phẩm Không phải vàng và bạc màchính lao động là cái đầu tiên được dùng để đổi lấy tất cả của cải trên thế giới
Đó là khái niệm đúng đắn về giá trị Thực chất A.Smith hiểu giá trị bằng số
Trang 11lượng lao động đã hao phí chứa đựng trong hàng hoá A.Smith cho rằng rấtkhó xác định tỉ lệ giữa những lượng lao động khác nhau, một giờ lao độngnặng nhọc có thể có giá trị bằng hai giờ lao động nhẹ, một số nghề đòi hỏiphải đào tạo mười năm, việc tính toán sự khó khăn và dễ dàng của lao độngrất phức tạp và ông cho rằng sự cạnh tranh trên thị trường giải quyết vấn đềđó.
Khí xác định thước đo bên ngoài của giá trị, ông đã đi đến một khái niệmgiá trị khác: giá trị bằng số lượng lao động sống mua được trong việc trao đổihàng hoá Trên thực tế ông đã lấy tiền công làm thước đo các giá trị hàng hoá.Ông cho rằng đối với người công nhân thì lúc nào và ở đâu những lượng laođộng như nhau bao giờ cũng có giá trị giống nhau Trong cách hiểu thứ hai vềgiá trị rõ ràng A.Smith đã nhầm lẫn giữa lao động sống và lao động quá khứ,giữa số lượng lao động và giá trị lao động, A.Smith đã đem lại những kháiniệm giá trị đó áp dụng vào để giải thích việc trao đổi giữa tư bản và lao động
và thấy không còn đúng nưa vì vậy ông tuyên bố chỉ trong xã hội nguyên thuỷ
và ít phát triển, tồn tại trước khi có sự tích luỹ tư bản và sở hữu tư nhân vềruộng đất thì hàng hoá mới được trao đổi theo chi phí đã làm ra chúng Trongđiều kiện lao động đối lập với công nhân làm thuê thì thời gian lao độngkhông còn là thước đo nội tại điều tiết giá trị trao đổi của hàng hoá nữa Nhưvậy có nghĩa là A.Smith phủ nhận quy luật giá trị trong chủ nghĩa tư bản.Đến D.Ricardo, học thuyết giá trị của D.Ricardo mang tính khoa học vàkhá hoàn chỉnh D.Ricardo đã soát lại hoạc thuyết giá trị của A.Smith, gạt bỏnhững chỗ mà ông cho là sai lầm và không cần thiết, giữ lại và phát triểnnhững nhân tố hợp lý của lý luận đó D.Ricardo cũng phân biệt giá trị sử dụng
và giá trị trao đổi của hàng hoá, coi sự công dụng không phải là thước đo củagiá trị trao đổi, nhân tố tự nhiên chỉ mang lại cho hàng hoá một giá trị sử dụngchứ không mang lại cho hàng hoá một giá trị trao đổi Theo ý kiến củaD.Ricardo, những hàng hoá có ích sở dĩ có giá trị trao đổi là do hai nguồn:tính chất hiếm có và số lượng lao động cần thết để sản xuất ra chúng Ông
Trang 12thấy rằng giá trị của một loạt hàng hoá chỉ do sự hiếm có quyết định, vì không
có một lao động nào có thể làm tăng số lượng của những hàng hoá đó, và vìvậy “giá trị của chúng không thể bị hạ xuống do lượng cung tăng lên” Vìnhững hàng hoá loại đó cấu thành một tỉ trọng rất nhỏ bé, nên ông cho rằngkhi nghiên cứu giá trị trao đổi và những quy luật điều tiết giá cả tương đối củacác hàng hoá người ta có thể chỉ lấy những hàng hoá mà số lượng có thể đượctăng lên bằng lao động của con người
Khi nghiên cứu đến cơ cấu giá trị, A.Smith đã đưa ra cái giáo điều củamình là: tiền công, lợi nhuận, địa tô là nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhậpcũng như mọi giá trị trao đổi D.Ricardo vạch rõ Smith đã nhầm lẫn giữa quátrình hình thành giá trị và quá trình phân phối gía trị Việc phân phối giá trịkhông ảnh hưởng gì đến việc hình thành giá trị Việc tăng tiền công khônglàm cho giá trị hàng hoá tăng lên mà làm cho lợi nhuận giảm xuống, tương tưnhư vậy đối với lợi nhuận và điạ tô Ông cũng không đồng ý với A.Smith khiSmith không tính đến lao động quá khứ trong giá trị hàng hoá Ông cho rằngkhông những chi phí lao động trực tiếp để sản xuất ra giá trị hàng hoá mà còntính đến cả những lao động đã hao phí vào các công cụ lao động
D.Ricardo phân biệt giữa giá cả tự nhiên và giá cả thị trường, giá cả làbiểu hiện bằng tiền của giá trị, giá cả tự nhiên là giá cả cần thiết để thườngxuyên thoả mãn số cầu, cộng với một lợi nhuận thông thường Đây chính làgiá cả sản xuất mà sau này C.Mác nói tới
D.Ricardo phân tích mối quan hệ giữa giá trị và năng suất lao động vàkết luận khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị giảm xuống Khác vớiA.Smith, ông cho rằng quy luật giá trị không chỉ hoạt động trong xã hộinguyên thuỷ mà còn hoạt động trong chủ nghĩa tư bản nữa, quy luật cgiá trị
có chức năng phân phối lại lao động, quy định tỉ lệ trao đổi và điều tiết sựhình thành giá cả Ông phân biệt một cách rõ ràng giá trị và của cải, giá trịkhông phụ thuộc vào tình hình có nhiều của cải mà phụ thuộc vào tình hình
Trang 13sản xuất khó hay dễ, thước đo của của cải không phải là thước đo giá trị; giátrị giảm xuống trong khi của cải tăng lên.
So với A.Smith, học thuyết giá trị của D.Ricardo triệt để hơn, hoàn thiệnhơn và trở thành nhất quán Nhưng cũng như Smith, D.Ricardo không nghiêncứu sâu về bản chất giá trị vịvậy ông khong nhìn thấy gính lịch sử của phạmtrù giá trị mà cho nó là phạm trù vĩnh viễn, đồng nhất với các hình thái của
nó Ông xuất phát từ tiền đề thực tế có sẵn của chủ nghĩa tư bản cho nên ôngkhông nghiên cứu những tiền đề của sản xuất hàng hoá cũng như những điềukiện tác động đến những quy luật đó A.Smith cho rằng quy luật giá trị khônghoạt động dưới chủ nghĩa tư bản là ông đã cảm thấy một cái gì đó là cho quyluật giá trị biến đổi Trên thực tế, A.Smith đã cho thấy không thể dùng trựctiếp quy luật giá trị để giải thích việc trao đổi giữa tư bản và lao động.D.Ricardo đã có lý khi khẳng định quy luật giá trị vẫn hoạt động trong chủnghĩa tư bản Những chỗ mà A.Smith cảm thấy có vấn đề thì ông không biếttới, cho nên ông không thể giải quyết được mâu thuẫn trong lý luận giá trị củaA.Smith và không phân biệt được sản xuất hàng hoá và sản xuất hàng hoá tưbản chủ nghĩa
Khi nghiên cứu sâu hơn về giá trị, ông đã bứoc sang giá cả sản xuất và
đã bất lực khi nhìn thấy tiền công tăng lên làm giá trị tăng lên, rồi tốc độ chuchuyển của tư bản cũng ảnh hưởng đến giá trị…Điều này đã dẫn lý luận củagiá trị của ông đến chỗ bế tắc, không triệt để và mâu thuẫn
2.2 Lý luận về tiền công.
W.Petty xác định tiền công: “Pháp luật chỉ phải đảm bảo cho người côngnhân số tối thiểu để sống thôi”, cái số đó phụ thuộc vào tính chất mầu mỡ tựnhiên của ruộng đất và quy môi những nhu cầu do khí hậu quy định Trướcđây phái trọng thương chỉ đơn giản kêu gọi pháp chế quy định mức tiền côngrối đa, còn W.Petty nghiên cứu gía cả tự nhiên của lao động, nắm được mốiliên hệ giữa tiền công và giá trị của các tư liệu sinh hoạt, hay đặt ra vấn đềquy luật kinh tế của tiền công Cũng như tất cả các nhà kinh tế học cổ điển khi
Trang 14nghiên cứu về tiền công họ đều cho rằng, người công nhân bán lao động, họchưa phân biệt được hai phạm trù lao động và sức lao động.
Khác với phái trọng thương và W.Petty, A.Smith tán thành thiềncôngcao vì ông cho rằng một xã hội không thể “phồn vinh và hạnh phúc nếumột bộ phận rất lớn những thành viên của nó nghèo nàn và khổ sở” Xuất phát
từ chỗ các loại thú vật đều sinh sôi nảy nở một cách tự nhiên tuỳ theo các tưliệu sinh hoạt sẵn có, A.Smith cho rằng lượng cầu về người điều tiết sự sảnxuất ra họ, cũng như điều tiết sự sản xuất ra bất cứ một hàng hoá nào khác, vìvậy “tiền công cao, vốn là hậu quả của việc tăng của cải, đồng thời cũng lànguyên nhân làm tăng dân số”
Theo Smith, nguyên nhân của sự khác nhau có tính chất nghề nghiệptrong tiền công là: tính chất dễ chịu hay khó chịu của công việc; mức độ khókhăn và đắt đỏ trong việc dạy nghề; tính chất thường xuyên hay không thườngxuyên của công viêc; mức độ tín nhiệm; khả năng thành đạt Tiền công caohơn ở những ngành mới của công nghiệp và thương nghiệp Nó khác nhaugiữa các ngành và các địa phương
Ông nhận xét rằng, thông thường, thông thường tiền công và lợi nhuậnkhông đồng thời tăng lên, công nhân muốn lĩnh được càng nhiều càng tốt, còn
tư bản trả càng ít càng hay Ông phân biệt rõ tiền công danh nghĩa và tiềncông thực tế, nhu cầu về lao động và giá cả thông thường hay trung bình củalương thực quyết định mức tiên công Nhu cầu về lao động quyết định mức tưliệu sinh hoạt, còn giá cả lương thực quyết định “giá cả bằng tiền của laođộng”
Ở một chỗ khác ông coi giá trị và giá cả sản xuất là một, cho nên tiềncông tăng làm cho giá cả tăng Tiền công là nguồn gốc của giá trị trao đổi
Sự phân tích tiền công của A.Smith đã tiến những bước dài so với pháitrọng nông Ở pháo trọng nông lợi nhuận và tiền công còn nhập thành một ỞSmith tình công và lợi nhuận được hình thành khác nhau, có nguyên tắc khácnhau và quy luật vận động khác nhau Trong khi phân tích về tiền công ông