1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tiểu luận RỦI RO ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

13 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 87,5 KB
File đính kèm TTCK.rar (6 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận Rủi ro đầu tư chứng khoán+ PP thuyết trình đầu tư chứng khoán I. KHÁI QUÁT ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 1.1 Khái niệm về Đầu tư chứng khoán: Đầu tư: là sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm thu lại lợi ích nào đó trong tương lai. Hoạt động đầu tư có thể do một tổ chức hoặc một cá nhân thực hiện duới nhiều hình thức khác nhau song người ta thường chia thành hai hình thức đầu tư là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Chứng khoán: Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện bằng hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử. Chứng khoán bao gồm các loại: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng khoán phái sinh. Thực chất chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt. Vậy Đầu tư chứng khoán là một trong những hình thức đầu tư gián tiếp của nhà đầu tư vào các doanh nghiệp, tại đó chủ đầu tư bỏ vốn để mua các chứng khoán đang lưu hành trên thị trường chứng khoán để đạt được những lợi ích nhất định. Mục đích của đầu tư chứng khoán trước tiên cũng như các hình thức đầu tư khác là nhằm thu được lợi nhuận từ số tiền đã bỏ ra đầu tư, phân tán rủi ro có thể gặp phải trong tương lai, thực hiện quyền kiểm soát hoặc tham gia quản trị doanh nghiệp. 1.2. Bản chất của việc đầu chứng khoán Là một loại hình đầu tư tài chính. Trong hoạt động này, NĐT bỏ tiền để mua chứng khoán (bao gồm cổ phiếu, trái phiếu…). Giá trị của chứng khoán phụ thuộc vào giá trị kinh tế cơ bản của các quyền được bao hàm trong mỗi loại chứng khoán, hay phụ thuộc vào năng lực tài chính của nhà phát hành. Đồng thời, giá chứng khoán phụ thuộc vào quan hệ cung cầu chứng khoán trên thị trường. Đầu tư chứng khoán giúp NĐT có thể thu được lợi nhuận từ phần lợi tức được chia và phần tăng giá chứng khoán trên thị trường. Mặt khác, NĐT có thể được hưởng quyền quản lý, quyền kiểm soát doanh nghiệp từ việc nắm giữ cổ phiếu. 1.3. Phân loại Theo mục đích đầu tư, hoạt động đầu tư có 4 loại là: + Đầu tư ngân quỹ: nhằm đáp ứng khả năng thanh toán, hoạt động đầu tư ngân quỹ thường được thực hiện bởi các tổ chức kinh tế và NĐT lớn. Xuất phát từ nhu cầu thanh toán chi trả, nhu cầu dự phòng và dự trữ, các tổ chức kinh tế và NĐT lớn thường phải nắm giữ một lượng tiền khá lớn. Tuy nhiên, tiền không phải là tài sản sinh lời, nên các đối tượng này thường có xu hướng tăng cường đầu tư vào các tài sản sinh lời, giảm dự trữ tiền, do vậy tiềm ẩn khả năng phá sản lớn do khả năng thanh toán kém. Để khắc phục điều này, các nhà quản trị tài chính thường đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn, có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng… Bên cạnh khả năng sinh lời, các chứng khoán này có vai trò như là các dự trữ thứ cấp khi nhu cầu thanh toán chi trả phát sinh + Đầu tư hưởng lợi: hoạt động đầu tư hưởng lợi nhằm mục tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư có thể có được từ lợi tức, từ tài sản đầu tư như cổ tức hàng năm, hay từ lợi tức của trái phiếu. Bên cạnh đó, NĐT có thể thu được chênh lệch giá chứng khoán và các quyền lợi khác nếu có. Hoạt động đầu tư hưởng lợi gồm kinh doanh chênh lệch giá, hoạt động đầu cơ, kinh doanh giảm giá, tạo lập thị trường. + Đầu tư phòng vệ: hoạt động đầu tư có khả năng mang lại lợi nhuận lớn, song cũng hàm chứa rủi ro rất cao. Vì vậy, công cụ phòng vệ xuất hiện ngày càng nhiều nhằm giúp NĐT phòng tránh rủi ro, như: hợp đồng giao sau, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền mua…, các công cụ này được sử dụng cho cả nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá, nghiệp vụ đầu tư và nghiệp vụ phòng vệ. + Đầu tư nắm quyền kiểm soát: cho phép chủ sở hữu cổ phiếu có quyền kiểm soát công ty phát hành thông qua quyền nhận thông tin, quyền tham dự và biểu quyết tại ĐHCĐ. Số lượng cổ phiếu nắm giữ thường quyết định khả năng biểu quyết, kiểm soát của NĐT. Một số NĐT lớn, thường là NĐT tổ chức như doanh nghiệp hoặc ngân hàng lớn thường thực hiện hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát. Một hình thái khác của đầu tư nắm quyền kiểm soát phát triển trong những năm gần đây là hoạt động đầu tư mạo hiểm. Một số tổ chức đầu tư lớn tìm kiếm cơ hội đầu tư từ các công ty chưa phát triển, đặc biệt yếu kém về công nghệ quản lý. Thông qua nắm quyền kiểm soát, họ thực hiện tái cấu trúc công ty, thay đổi quản lý, công nghệ, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện hình ảnh trong công chúng đầu tư và sẽ thực hiện bán cổ phiếu trên thị trường tập trung hoặc thị trường OTC khi cổ phiếu tăng giá. II. RỦI RO CHỨNG KHOÁN

Trang 1

BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN NHÓM 11

1

Trang 2

I KHÁI QUÁT ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 1.1 Khái niệm về Đầu tư chứng khoán:

Đầu tư: là sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm thu lại lợi ích nào đó trong tương

lai Hoạt động đầu tư có thể do một tổ chức hoặc một cá nhân thực hiện duới nhiều hình thức khác nhau song người ta thường chia thành hai hình thức đầu tư là đầu tư trực tiếp

và đầu tư gián tiếp

Chứng khoán: Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp

của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện bằng hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử Chứng khoán bao gồm các loại: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng khoán phái sinh Thực chất chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt

Vậy Đầu tư chứng khoán là một trong những hình thức đầu tư gián tiếp của nhà

đầu tư vào các doanh nghiệp, tại đó chủ đầu tư bỏ vốn để mua các chứng khoán đang lưu hành trên thị trường chứng khoán để đạt được những lợi ích nhất định

Mục đích của đầu tư chứng khoán trước tiên cũng như các hình thức đầu tư khác

là nhằm thu được lợi nhuận từ số tiền đã bỏ ra đầu tư, phân tán rủi ro có thể gặp phải trong tương lai, thực hiện quyền kiểm soát hoặc tham gia quản trị doanh nghiệp

1.2 Bản chất của việc đầu chứng khoán

Là một loại hình đầu tư tài chính Trong hoạt động này, NĐT bỏ tiền để mua chứng khoán (bao gồm cổ phiếu, trái phiếu…) Giá trị của chứng khoán phụ thuộc vào giá trị kinh tế cơ bản của các quyền được bao hàm trong mỗi loại chứng khoán, hay phụ thuộc vào năng lực tài chính của nhà phát hành Đồng thời, giá chứng khoán phụ thuộc vào quan hệ cung cầu chứng khoán trên thị trường Đầu tư chứng khoán giúp NĐT có thể thu được lợi nhuận từ phần lợi tức được chia và phần tăng giá chứng khoán trên thị trường Mặt khác, NĐT có thể được hưởng quyền quản lý, quyền kiểm soát doanh nghiệp từ việc nắm giữ cổ phiếu

1.3 Phân loại

Theo mục đích đầu tư, hoạt động đầu tư có 4 loại là:

+ Đầu tư ngân quỹ: nhằm đáp ứng khả năng thanh toán, hoạt động đầu tư ngân quỹ thường được thực hiện bởi các tổ chức kinh tế và NĐT lớn Xuất phát từ nhu cầu thanh toán chi trả, nhu cầu dự phòng và dự trữ, các tổ chức kinh tế và NĐT lớn thường phải nắm giữ một lượng tiền khá lớn Tuy nhiên, tiền không phải là tài sản sinh lời, nên

Trang 3

các đối tượng này thường có xu hướng tăng cường đầu tư vào các tài sản sinh lời, giảm

dự trữ tiền, do vậy tiềm ẩn khả năng phá sản lớn do khả năng thanh toán kém Để khắc phục điều này, các nhà quản trị tài chính thường đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn, có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng… Bên cạnh khả năng sinh lời, các chứng khoán này có vai trò như là các dự trữ thứ cấp khi nhu cầu thanh toán chi trả phát sinh

+ Đầu tư hưởng lợi: hoạt động đầu tư hưởng lợi nhằm mục tiêu lợi nhuận Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư có thể có được từ lợi tức, từ tài sản đầu tư như cổ tức hàng năm, hay từ lợi tức của trái phiếu Bên cạnh đó, NĐT có thể thu được chênh lệch giá chứng khoán và các quyền lợi khác nếu có Hoạt động đầu tư hưởng lợi gồm kinh doanh chênh lệch giá, hoạt động đầu cơ, kinh doanh giảm giá, tạo lập thị trường

+ Đầu tư phòng vệ: hoạt động đầu tư có khả năng mang lại lợi nhuận lớn, song cũng hàm chứa rủi ro rất cao Vì vậy, công cụ phòng vệ xuất hiện ngày càng nhiều nhằm giúp NĐT phòng tránh rủi ro, như: hợp đồng giao sau, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền mua…, các công cụ này được sử dụng cho cả nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá, nghiệp vụ đầu tư và nghiệp vụ phòng vệ

+ Đầu tư nắm quyền kiểm soát: cho phép chủ sở hữu cổ phiếu có quyền kiểm soát công ty phát hành thông qua quyền nhận thông tin, quyền tham dự và biểu quyết tại ĐHCĐ Số lượng cổ phiếu nắm giữ thường quyết định khả năng biểu quyết, kiểm soát của NĐT Một số NĐT lớn, thường là NĐT tổ chức như doanh nghiệp hoặc ngân hàng lớn thường thực hiện hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát Một hình thái khác của đầu

tư nắm quyền kiểm soát phát triển trong những năm gần đây là hoạt động đầu tư mạo hiểm Một số tổ chức đầu tư lớn tìm kiếm cơ hội đầu tư từ các công ty chưa phát triển, đặc biệt yếu kém về công nghệ quản lý Thông qua nắm quyền kiểm soát, họ thực hiện tái cấu trúc công ty, thay đổi quản lý, công nghệ, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện hình ảnh trong công chúng đầu tư và sẽ thực hiện bán cổ phiếu trên thị trường tập trung hoặc thị trường OTC khi cổ phiếu tăng giá

Trang 4

II RỦI RO CHỨNG KHOÁN

(nguyên tắc bảo toàn vốn)

Các rủi ro khi đầu tư chứng khoán là điều mà các nhà đầu tư cần phòng ngừa khi tham gia vào thị trường chứng khoán Chứng khoán là lĩnh vực tài chính thể hiện sự chuyển dịch của dòng tiền bởi vậy nó phụ thuộc vào biến động của rất nhiều yếu tố kinh

tế

1 Rủi ro vĩ mô - môi trường

1.1 Những tác động của GDP tới thị trường chứng khoán (GDP – Tổng sản phẩm quốc nội)

+ GDP tăng trưởng sẽ tác động tích cực tới thị trường chứng khoán về lượng và chất

+ Nền kinh tế tăng trưởng tốt , thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI

và vốn gián tiếp FII Khi có nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia, thị trường sẽ trở nên minh bạch và chuyên nghiệp hơn

+Tăng trưởng kinh tế chung thể hiện sự ổn định của thị trường chứng khoán Cổ phiếu lên giá và sàn tràn ngập sắc xanh tích cực

+ Tăng trưởng kinh tế tạo ra nhu cầu cho các loại dịch vụ tài chính khác nhau Từ

đó, các công ty cần vốn để phát triển sẽ có nhiều cơ hội vay vốn và tìm kiếm cơ hội thu hút đầu tư

1.2 Những ảnh hưởng của CPI tới TTCK (CPI - Chỉ số giá tiêu dùng)

+ CPI tăng gắn với việc phải tăng chi phí đầu vào Điều này làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp, BTTC không được khả quan.Từ đó, giảm sức hút với các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán

+ CPI tăng sẽ làm tăng áp lực buộc nhà nước phải thực hiện chính sách tín dụng thắt chặt khiến các nhà đầu tư chứng khoán cấp nguồn tín dụng khó khăn hơn, vì vậy làm giảm đầu tư vào thị trường chứng khoán

+ CPI tăng làm kéo theo tăng lãi suất ngân hàng, khiến lãi suất trở nên hấp dẫn hơn

cơ hội đầu tư chứng khoán khiến thu hẹp dòng đầu tư trên thị trường

+ CPI tăng có thể gây ra 02 tác dụng trái chiều khác là tăng bán ra các chứng khoán

”xấu” để rút khỏi thị trường,tăng mua vào chứng khoán” tốt” để ẩn nấp lạm phát

1.3 Những tác động của lạm phát tới TTCK

Trang 5

+ Lạm phát ảnh hưởng gián tiếp tới thị trường chứng khoán thông qua thị trường hàng hóa.Lạm phát tăng có nghĩa rằng chi phí của doanh nghiệp sẽ bị đẩy lên cao, giá hàng hóa theo đó mà tăng lên Nhưng cầu hàng hóa sẽ giảm xuống vì giá tăng lên, dẫn đến doanh thu của hàng hóa cũng theo đó mà giảm Doanh nghiệp không còn hấp dẫn đối với nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán

+ Lạm phát cao là dấu hiệu cho nền kinh tế bất ổn Điều này làm cho người dân, nhà đầu tư mất niềm tin vào nền kinh tế ”Tâm lý bầy đàn ” xuất hiện, kéo theo việc rút vốn ồ ạt trên thị trường chứng khoán

1.4 Tác động của cung ứng tiền tệ đến TTCK

Khi lượng cung tiền tăng, thanh khoản vượt trội sẽ ảnh hưởng đến TTCK khá mạnh do tác động của chính sách tiền tệ tương đối nhanh và trực tiếp Chính sách mở rộng tiền tệ làm giảm lãi suất của nền kinh tế, làm giảm lãi suất chiết khấu của chứng khoán qua đó làm tăng giá kỳ vọng và tăng thu nhập.Ngoài ra,một sự gia tăng trong cung tiền sẽ làm gia tăng thanh khoản và tín dụng cho nhà đầu tư cổ phiếu dẫn đến giá các chứng khoán cao hơn, nghĩa là cung tiền tăng lên sẽ dẫn đến sự tăng trưởng và phát triển

ổn định hơn cho TTCK

1.5 Tác động giá vàng đến TTCK

Vàng khác với các tài sản khác bởi vì tiềm năng đối với vàng là tính thanh khoản cao và nó phản ứng với những thay đổi giá) Sự biến động của giá vàng ảnh hưởng đến phần lớn các nền kinh tế trên thế giới trong đó có TTCK Các nhà đầu tư có thói quen sử dụng chiến lược quản trị rủi ro đơn giản là đa dạng hóa trong danh mục đầu tư của họ các hàng hóa có cả đầu tư vàng hoặc dầu vì hai khoản đầu tư này thường có mối quan hệ nghịch đảo với xu huớng của TTCK

Vàng và chỉ số biến động của thị trường có quan hệ nhân quả theo chiều giá vàng tăng thì độ hỗn loạn của nền kinh tế tăng Khi giá vàng biến động tăng điều này có nghĩa

là thị trường đang hoảng loạn và từ đó làm giảm đi niềm tin của nhà đầu tư Các nhà đầu

tư thường đầu tư vàng, cả trực tiếp và gián tiếp để phòng ngừa rủi ro

Tóm lại, có thể thấy rằng giá vàng trong lịch sử thường được xem là “nơi tránh

bão” giúp tránh thiệt hại xảy ra trong thời kỳ lạm phát, bất ổn xã hội, và chiến tranh - các thời kỳ mà giá cổ phiếu luôn luôn sụt giảm Trong các cuộc khủng hoảng như thế này, giá vàng tăng mạnh khi giá chứng khoán sụt giảm, mặc dù mức độ tác động mạnh yếu có thể khác nhau đối với từng nền kinh tế

Trang 6

2 Rủi ro phía nhà đầu tư

2.1 Rủi ro hệ thống

Rủi ro hệ thống hay còn được gọi là rủi ro thị trường, bao gồm những rủi ro ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường chứng khoán mà bất kỳ nhà đầu tư nào tham gia chứng khoán đều gặp phải

Những rủi ro trong đầu tư chứng khoán của rủi ro hệ thống như: rủi ro biến động lãi suất, rủi ro biến động giá hàng hóa, rủi ro tiền tệ, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản

2.2 Rủi ro giá hàng hóa

Nhà đầu tư khi tham gia đầu tư chứng khoán tức là đầu tư vào các công ty cổ phần phát hành chứng khoán, hay nói một cách cụ thể hơn chính là đầu tư vào hàng hóa và sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đó

Có thể thấy giá hàng hóa tác động trực tiếp tới thị trường chứng khoán Nhất là những hàng hóa liên quan tới chính sách tài khóa của nhà nước như: nhiên liệu xăng, dầu; giá điện, ga, Do đó, khi giá hàng hóa thay đổi, rủi ro giá chứng khoán xảy ra lớn hơn

2.3 Rủi ro thanh khoản

Tính thanh khoản của chứng khoán là khả năng chuyển đổi dễ dàng từ tiền sang chứng khoán và ngược lại Rủi ro thanh khoản là sự bất ổn của chứng khoán khi điều kiện giao dịch thay đổi

Nếu số lượng chứng khoán lớn, giao dịch xảy ra với khối lượng lớn có thể thấy thanh khoản ở mức cao, nhà đầu tư dễ dàng trao đổi cổ phiếu

Nếu khối lượng giao dịch thấp, thậm chí có phiên không có giao dịch xảy ra có thể thấy thanh khoản ở cổ phiếu này là thấp

2.4 Rủi ro phi hệ thống

Rủi ro phi hệ thống là những rủi ro đặc trưng trong từng ngành hoặc từng công ty

Ví dụ các rủi ro khi đầu tư chứng khoán: tai nạn máy bay tới từ ngành hàng không, thông tin xấu từ một công ty chứng khoán không phải toàn thị trường đều bị ảnh hưởng

2.5 Rủi ro lỗi thời

Rủi ro này có thể xảy ra ở nhiều ngành sản xuất khi các sản phẩm đã rơi vào tình trạng lỗi thời, không có giá trị đổi mới, không tăng trưởng lợi nhuận của nhiều năm khiến doanh nghiệp trở nên hoạt động trì trệ, giá cổ phiếu giảm sút

Ví dụ: Nguyễn Kim là một thương hiệu “anh cả” trong ngành bán lẻ các thiết bị công nghệ, gia dụng, ở Việt Nam qua nhiều năm Song những năm gần đây, Nguyễn Kim

Trang 7

tăng trưởng vô cùng chậm, thậm chí không tăng trưởng khi một loạt các đàn em như Thế Giới Di Động (MWG), hay FPT ra đời và tăng trưởng mạnh mẽ Đó chính là rủi ro lỗi thời trong ngành công nghệ - một ngành đòi hỏi thay đổi lớn.

2.5 Rủi ro kiểm toán

Rủi ro này có thể đến với nhiều doanh nghiệp bởi sự kiểm soát chi phí và nguồn vốn kém, gây tổn hại tới giá trị doanh nghiệp, hoạt động sản xuất không hiệu quả gây thiệt hại tới doanh nghiệp cũng như giảm giá cổ phiếu

2.6 Rủi ro truyền thông

Rủi ro truyền thông xảy ra khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán phải đối mặt với sự kiện xấu, truyền thông xấu từ nhiều phía hoặc truyền thông sai sự thật gây ảnh hưởng xấu tới thương hiệu cũng như khiến giá cổ phiếu của công ty giảm nhanh

Đây có thể coi là rủi ro của đầu tư chứng khoán có sức ảnh hưởng lớn nhất đối với các doanh nghiệp

2.7 Rủi ro pháp lý

Rủi ro pháp lý là điều mà hầu hết các nhà đầu tư đều có thể mắc phải khi đầu tư chứng khoán và rủi ro nếu không nắm vững pháp luật chứng khoán, nhà đầu tư có thể đối mặt với nguy cơ rủi ro cao Thêm nữa, đối với các doanh nghiệp phát hành chứng khoán, những thay đổi của pháp luật, thắt chặt chính sách thuế, quy định vốn, cũng có thể gây rủi ro cho các doanh nghiệp

3 Rủi ro vi mô (doanh nghiệp)

3.1 Lĩnh vực hoạt động

Nhà đầu tư khi tham gia đầu tư chứng khoán tức là đầu tư vào các công ty cổ phần phát hành chứng khoán, hay nói một cách cụ thể hơn chính là đầu tư vào hàng hóa và sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đó

Có thể thấy giá hàng hóa tác động trực tiếp tới thị trường chứng khoán Nhất là những hàng hóa liên quan tới chính sách tài khóa của nhà nước như: nhiên liệu xăng, dầu; giá điện, ga, Do đó, khi giá hàng hóa thay đổi, rủi ro giá chứng khoán xảy ra lớn hơn Rủi ro liên quan đến lĩnh vực hoạt động xuất hiện do phản ứng của các nhà đầu tư đối với các hiện tượng trên thị trường Những sự sút giảm đầu tiên trên thị trường là nguyên nhân gây sợ hãi đối với các nhà đầu tư và họ sẽ cố gắng rút vốn Phản ứng dây truyền này làm tăng số lượng bán, giá cả CK sẽ rơi xuống thấp so với giá trị cơ sở

3.2 Tài chính doanh nghiệp

Trang 8

Đầu tư luôn chứa đựng những rủi ro bởi lẽ đầu tư là bỏ tiền ra trong hiện tại để nhằm tìm kiếm tiền trong tương lai và kết quả có thể rất tốt nhưng cũng có thể là rất xấu

Do đó, đánh giá rủi ro trong điều kiện có rủi ro luôn là cần thiết bởi vì qua đó có thể ngăn ngừa những tổn thất do rủi ro gây ra và phát huy những mặt tích cực khi cơ hội đem đến

Hầu hết các loại rủi ro đều ảnh hướng về tài chính, chi phí phát sinh hay sụt giảm doanh thu Nhưng rủi ro tài chính lại phản ánh cụ thể dòng tiền tệ lưu thông trong doanh nghiệp và khả năng tổn thất tài chính đột ngột

Ví dụ: Giả sử phần lớn doanh thu của doanh nghiệp bạn là từ một khách hàng lớn và bạn gia hạn thời hạn thanh toán cho khách đến 60 ngày Trong trường hợp này, bạn đang phải đối mặt với rủi ro tài chính nghiêm trọng Nếu khách hàng đó không thể thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán vì bất cứ nguyên nhân gì thì doanh nghiệp của bạn cũng sẽ gặp rắc rối lớn.

Các khoản nợ cũng làm tăng nguy cơ rủi ro tài chính đặc biệt nếu đó là những khoản nợ ngắn hạn Nếu lãi suất tăng đột ngột, thay vì phải trả 8% thì bây giờ bạn phải trả tới 15% Đó là khoản chi phí phát sinh lớn đối với doanh nghiệp của bạn và đó được coi là một rủi ro tài chính

Rủi ro tài chính sẽ tăng lên khi bạn kinh doanh trên phạm vi quốc tế Chúng ta hãy trở lại với ví dụ về trang trại ở California khi họ bán sản phẩm của mình ở Châu Âu Khi

họ bán hàng ở Pháp hay Đức, doanh thu là đồng euro, ở Anh là bảng Anh Tỷ giá luôn giao động, điều này nghĩa là tổng thu bằng tiền đô la cũng sẽ thay đổi theo Ví như công

ty có thể bán được nhiều hàng hơn trong tháng tới nhưng khoản doanh thu bằng đô la lại

ít hơn Đó là rủi ro tài chính nghiêm trọng với doanh nghiệp của bạn

3.3 Quản trị doanh nghiệp (Rủi ro hoạt động)

Rủi ro hoạt động là lỗi không mong muốn trong hoạt động thường ngày của công ty bạn Đó có thể là do lỗi kỹ thuật như mất điện hay do nhân công hoặc quy trình sản xuất Trong một số trường hợp, có nhiều hơn một nguyên nhân dẫn đến rủi ro hoạt động

Ví dụ, hãy thử xem xét rủi ro mà một trong những nhân viên của bạn viết sai số tiền trên séc, thanh toán USD100,000 thay vì USD10.000 từ tài khoản công ty bạn

Đó là lỗi từ "nhân sự" nhưng cũng là lỗi của "quy trình hoạt động" Chúng ta có thể hạn chế lỗi này bằng một quy trình thanh toán an toàn hơn, ví như nên có nhân viên thứ 2 kiểm tra lại mọi vấn đề thanh toán hoặc sử dụng một hệ thống điện tử có thể đánh dấu lại các khoản đáng ngờ để xem xét lại

Trang 9

Trong một số trường hợp, rủi ro hoạt động còn do những yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp, ví dụ như thiên tai, cắt điện, trục trặc với trang chủ website của doanh nghiệp Bất cứ điều gì làm gián đoạn hoạt động của công ty đều nằm trong phạm

vi rủi ro hoạt động

Dù các yếu tố dẫn đến rủi ro hoạt động có vẻ chẳng là gì khi so sánh với rủi ro chiến lược mà chúng ta đã đề cập ở phần trước nhưng những rủi ro hoạt động vẫn ảnh hưởng lớn tới công ty bạn Rủi ro hoạt động không chỉ cần chi phí để khắc phục sự cố mà còn làm gián đoạn liên lạc với công ty bạn hay không thể giao hàng cho những đơn hàng đặt trước, hậu quả là sự sụt giảm doanh thu cũng như ảnh hưởng tới uy tín doanh nghiệp

4 Rủi ro công ty môi giới chứng khoán

Rủi ro đến từ công ty môi giớ chứng khoán là rủi ro có thể xảy ra do CTCK không kiểm tra số dư, tỷ lệ ký quỹ, kết quả là khách hàng hoặc nhà môi giới khác có thể không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng thời hạn Bên cạnh đó CTCK cũng có thể gặp phải rủi ro trong quá trình ký kết với khách hàng các nội dung không thuộc khả năng và quyền hạn của công ty, cũng như rủi ro do nhân viên nghiệp vụ ghi sai nội dung và yêu cầu của khách hàng trong quá trình ký kết hợp đồng và thực hiện giao dịch như rủi ro nhập lệnh sai, rủi ro áp dụng biểu phí sai cho khách hàng ,…

- Rủi ro trong hoạt động tự doanh bắt nguồn từ đầu tư vượt quá hạn mức thẩm quyền đầu tư mua bán chứng khoán cho chính công ty; nhân viên hoặc người không đủ thẩm quyền tiến hành hoặc tham gia tiến hành vào xúc tiến các thủ tục mua bán chứng khoán cho công ty bằng nguồn vốn của công ty; xung đột quyền lợi với khách hàng, ưu tiên thực hiện lệnh tự doanh của công ty trước lệnh của khách hàng; lỗi sau giao dịch chuyển sang tài khoản tự doanh của công ty

- Rủi ro trong hoạt động bảo lãnh phát hành: ứng với mỗi hình thức bảo lãnh phát hành khác nhau mức độ rủi ro có thể mang lại cho CTCK là khác nhau Chẳng hạn, với hình thức BLPH chắc chắn, CTCK sẽ gặp rủi ro về giá khi số lượng chứng khoán nhận bảo lãnh không phân phối hết Ngoài ra, CTCK có thể gặp rủi ro về pháp lý, đó là những thiệt hại về mặt tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra bởi các tranh chấp và kiện tụng với các đối tác trong quá trình giao dịch, soạn thảo hợp đồng không chặt chẽ …

- Rủi ro trong hoạt động tư vấn: xuất phát từ việc tư vấn sai ảnh hưởng đến uy tín của CTCK hoặc việc ký kết hợp đồng tư vấn không đúng với nội dung quyền hạn của công ty hoặc không đúng với yêu cầu, gây ra hậu quả bất lợi cho công ty

Trang 10

III HẠN CHẾ RỦI RO

Một vài lưu ý giúp nhà đầu tư cá nhân quản trị rủi ro trên thị trường chứng khoán 3.1

3.1 Đối với rủi ro lừa đảo trên thị trường

- Tránh xa các cổ phiếu nhỏ, ít thông tin, ít người quan tâm, trừ khi tiếp cận được với các giám đốc điều hành đáng tin cậy của các công ty đó, bởi cổ phiếu càng nhỏ và càng ít thông tin thì càng dễ bị lừa đảo và lũng đoạn

- Khi cổ phiếu đang giữ là của doanh nghiệp có dấu hiệu lừa đảo, nhà đầu tư nên loại nó khỏi danh mục đầu tư, kiểm tra lại cẩn thận trước khi quyết định có nên đầu tư vào loại cổ phiếu đó không

- Xây dựng khả năng tự phân tích và thu thập thông tin, tự xác định được giá trị của các cổ phiếu, để tránh bị các cò mồi kích động

3.2 Đối với rủi ro về hoạt động của doanh nghiệp

- Đa dạng hóa cổ phiếu, để nếu cổ phiếu này bị rủi ro về doanh nghiệp thì có cổ phiếu khác bù lại

- Chọn lựa cổ phiếu của các doanh nghiệp đang mạnh và tương đối ít rủi ro, loại khỏi danh mục đầu tư các doanh nghiệp có nhiều nguy cơ suy yếu hay phá sản (ví dụ như

nợ quá nhiều mà tỷ lệ lợi nhuận kém, công nghệ lỗi thời, v.v )

3.3 Đối với rủi ro biến động giá thị trường

- Có tầm nhìn đầu tư dài hạn, để có thể chấp nhận lỗ tạm thời khi các biến động bất lợi về giá trong ngắn hạn xảy ra, miễn sao kỳ vọng lợi nhuận về dài hạn là tốt

- Không tham lam dùng đòn bẩy cao bởi dễ gặp phải rủi ro bất lợi khi có biến động ngắn hạn Ngược lại, cần có tiền mặt dự trữ (hay nguồn thu nhập đều đặn có thể dùng để đầu tư thêm), để mỗi khi giá của cổ phiếu tốt đi xuống trong ngắn hạn thì là có cơ hội mua vào

- Có thể kết hợp sử dụng các chứng khoán phái sinh để giảm bớt độ biến động của danh mục đầu tư, tăng độ ổn định ngắn hạn - Đa dạng hóa các chứng khoán để góp phần giảm rủi ro biến động giá thị trường

3.4 Đối với rủi ro về thông tin

- Tương tự như đối với rủi ro lừa đảo, nhà đầu tư nên tránh các cổ phiếu thiếu thông tin đáng tin cậy, đặc biệt là các cổ phiếu nhỏ, mờ ám

- Dành công sức, thời gian và tiền chi phí một cách thích đáng cho việc thu thập thông tin

Ngày đăng: 14/10/2019, 09:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w