(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên(Luận văn thạc sĩ) Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyênv
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG THỊ HỒNG VÂN
KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH
VỚI TRỰC QUAN TRONG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: LL&PPDH bộ môn Lý luận Chính trị
Mã số: 8140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ MINH TUYÊN
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sĩ “Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong
bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” do học viên Dương Thị Hồng Vân thực hiện nghiên cứu dưới
sự hướng dẫn của TS Vũ Minh Tuyên, Khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học
Sư phạm, Đại học Thái Nguyên trong thời gian từ tháng 11 năm 2019 đến tháng
8 năm 2020 một cách nghiêm túc, độc lập
Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu và số liệu được nêu ra trong luận văn này là trung thực, chưa hề được sử dụng và công bố ở bất kỳ một công trình nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin được tác giả trích dẫn trong luận văn đều
có nguồn gốc rõ ràng
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 9 năm 2020
Tác giả luận văn
Dương Thị Hồng Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi
dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên” được hoàn thiện, trước hết tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với
TS Vũ Minh Tuyên, người đã hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi nghiên cứu
và hoàn thành luận văn đúng tiến độ
Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy cô giáo Khoa Giáo dục Chính trị, đặc biệt
là các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy các chuyên đề của toàn khoá học đã giúp
tôi có nền tảng kiến thức để hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới Khoa Giáo dục Chính trị, phòng Đào
tạo trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Trung tâm Bồi dưỡng chính
trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ, để tôi hoàn thành
luận văn này
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới anh em, bạn bè, gia đình đã động viên,
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020
Dương Thị Hồng Vân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
6 Đóng góp mới của tác giả 5
7 Kết cấu của đề tài 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VỚI TRỰC QUAN TRONG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỐI TƯỢNG KẾT NẠP ĐẢNG TẠI TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 6
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 8
1.2 Cơ sở lý luận việc kết hợp PPTT với TQ trong bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ 11
1.2.1 Khái lược PPTT và PPTQ 11
1.2.2 Mối quan hệ giữa PPTT và TQ theo hướng đổi mới PPDH 24
Trang 61.3 Khái quát chương trình bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng 33
1.3.1 Mục đích, yêu cầu 33
1.3.2 Đối tượng của chương trình 33
1.3.3 Nội dung của chương trình 34
1.3.4 Phương pháp, hình thức tổ chức và thời gian thực hiện 34
Kết luận chương 1 35
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VỚI TRỰC QUAN TRONG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỐI TƯỢNG KẾT NẠP ĐẢNG TẠI TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN 37
2.1 Khái quát chung về Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 37
2.2 Thực trạng việc kết hợp PPTT với TQ trong Bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 39
2.2.1 Khái quát tình hình dạy học chương trình Bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ 39
2.2.2 Đánh giá chung về thực trạng của việc kết hợp PPTT với TQ trong bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ 42
2.3 Quy trình của việc kết hợp PPTT và PPTQ theo hướng đổi mới ở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ 49
2.3.1 Quy trình thiết kế 49
2.4 Điều kiện để thực hiện kết hợp PPTT với TQ theo hướng đổi mới ở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ 58
2.4.1 Đối với đội ngũ giảng viên 59
2.4.2 Đối với học viên 60
2.4.3 Đối với các cấp quản lý 60
Kết luận chương 2 62
Trang 7Chương 3 THỰC NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VỚI PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỐI TƯỢNG KẾT NẠP ĐẢNG TẠI TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG
CHÍNH TRỊ HUYỆN ĐẠI TỪ 63
3.1 Kế hoạch thực hiện 63
3.1.1 Giả thuyết thực nghiệm 63
3.1.2 Mục đích thực nghiệm 63
3.1.3 Địa điểm thực nghiệm 63
3.1.4 Thời gian tiến hành thực nghiệm 63
3.1.5 Đối tượng thực nghiệm và đối chứng 64
3.1.6 Phương pháp thực nghiệm 64
3.2 Nội dung thực nghiệm 65
3.2.1 Thiết kế các bài giảng thực nghiệm 65
3.2.2 Quy trình thực nghiệm 65
3.3 Kết quả thực nghiệm và trưng cầu ý kiến 66
3.3.1 Kết quả thực nghiệm và phân tích kết quả thực nghiệm 66
3.3.2 Kết quả và phân tích kết quả trưng cầu ý kiến học viên 67
3.3.3 Kết luận thực nghiệm 68
3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc kết hợp PPTT với PPTQ theo hướng đổi mới ở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ 69
3.4.1 Giải pháp đối với việc thực hiện quy trình thiết kế bài giảng 69
3.4.2 Giải pháp đối với quá trình thực hiện bài giảng trên lớp của giảng viên 72
Kết luận chương 3 73
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC
Trang 8TN : Thực nghiệm
TQ : Trực quan
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng
Bảng 2.1: Đánh giá của học viên về việc thực trạng giảng dạy bồi dưỡng
LLCT của giảng viên 42
Bảng 2.2 Mức độ hứng thú của học viên khi giáo viên giảng dạy 43
Bảng 2.3 Đánh giá của giảng viên về thực trạng sử dụng PPDH trong giảng dạy Bồi dưỡng LLCT 45
Bảng 2.4 Kết quả học tập của học viên đầu năm 2020 46
Bảng 2.5 Kết quả học tập của học viên năm 2019 46
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra của lớp thực nghiệm 66
Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra của lớp đối chứng 66
Biểu Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ hứng thú của học viên khi giáo viên giảng dạy 44
Biểu đồ 2.2 Kết quả học tập của học viên đầu năm 2020 46
Biểu đồ 2.3 Kết quả học tập của học viên năm 2019 47
Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả kiểm tra của lớp thực nghiệm và đối chứng 66
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giảng viên là người có vai trò quan trọng trong việc định hướng phương pháp học tập cho học viên Để nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên và học tập của học viên, người giảng viên cần không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực, lấy học viên làm trung tâm Phương pháp giảng dạy của giảng viên có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng bài giảng của giảng viên
và kết quả học tập của học viên Đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị phải xuất phát từ yêu cầu của sự hội nhập giáo dục và đào tạo khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với khu vực và thế giới Đặc biệt việc học lý luận chính trị sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức hơn, bởi thế giới, nhất là các nước phát triển hầu như không dạy và học các môn này, mà nếu có học cũng chỉ học triết học và kinh tế chính trị học nói chung; đổi mới phương pháp giảng dạy còn xuất phát từ đối tượng người học - là những cán bộ, công chức, viên chức có thâm niên công tác, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao; đổi mới phương pháp giảng dạy xuất phát từ mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị hiện nay
Đổi mới PPDH nói chung được Đảng, Nhà nước rất quan tâm, là nhiệm
vụ hết sức quan trọng nhằm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Nghị quyết 02 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII chỉ rõ: Đổi
mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen nền nếp sáng tạo của người học đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học Tại Hội
nghị cán bộ toàn quốc học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, ngày
20/4/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Các cơ quan nghiên
cứu, giảng dạy lý luận chính trị căn cứ vào nội dung của Nghị quyết để xây dựng các chương trình, đề tài nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn triển khai Nghị quyết Đại hội XII, khẩn trương cập nhật bổ sung, hoàn thiện chương trình, giáo
Trang 11Như vậy, việc đổi mới nội dung và PPDH một cách cơ bản, toàn diện, nhằm phát huy tư duy, năng lực sáng tạo của học viên, tăng cường tính chủ động trong học tập là vấn đề cấp thiết của xã hội, là nhiệm vụ quan trọng của mỗi giảng viên, có ý nghĩa thiết thực trong quá trình học tập của học viên ở các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện
Đổi mới PPDH trong tất cả các chương trình đào tạo, bồi dưỡng hiện nay nói chung, trong đó có chương trình bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng nói riêng là nhiệm vụ tất yếu của mỗi giảng viên, nếu người dạy chỉ sử dụng đơn thuần một phương pháp trong giảng dạy sẽ dẫn đến tình trạng người học thụ động, nhàm chán Do vậy, việc kết hợp PPTT với PPTQ theo tinh thần đổi mới sẽ khắc phục được tình trạng này, đồng thời phát huy tốt hơn ưu thế của việc kết hợp, cũng như khắc phục hạn chế tối đa nhược điểm của hai phương pháp này nhằm nâng cao chất lượng dạy học, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giáo dục LLCT trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Thực tế, việc kết hợp PPTT với PPTQ trong quá trình dạy học các chuyên đề trong chương trình bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng ở Trung tâm BDCT huyện Đại Từ đã được thực hiện Tuy nhiên, do PPTT đã ăn sâu vào tiềm thức, ít tiếp cận với PPTQ nên đa phần học viên còn thụ động, ý thức về vị trí - nhiệm vụ môn học chưa cao, việc vận dụng tri thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn còn hạn chế Bởi vậy, việc kết hợp PPTT với TQ trong dạy học chương trình Bồi dưỡng LLCT nói chung và dành cho đối tượng kết nạp Đảng nói riêng là
yêu cầu cấp bách đặt ra, cho nên tôi đã lựa chọn đề tài “Kết hợp phương pháp
thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài luận văn của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng kết hợp PPTT với TQ trong
Trang 12Từ, tỉnh Thái Nguyên, đề tài đề xuất quy trình và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc kết hợp PPTT với TQ trong bồi dưỡng LLCT tại Trung tâm BDCT huyện
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận của việc kết hợp PPTT với TQ trong bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Phân tích thực trạng và đề xuất quy trình kết hợp PPTT với TQ trong bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Thực nghiệm và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kết hợp PPTT với
TQ trong bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc vận dụng PPTT với TQ theo hướng đổi mới trong bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng ở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ với chức năng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị - hành chính; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức, kỹ năng và chuyên môn, nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, chính quyền cho cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị ở
cơ sở trong toàn huyện Nhưng trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu việc kết hợp phương pháp thuyết trình với trực quan trong bồi dưỡng lý luận chính trị cho đối tượng kết nạp Đảng ở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2018 - 2020
Trang 134 Giả thuyết khoa học
Việc nghiên cứu kết hợp PPTT với TQ trong bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng ở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đem lại hiệu quả cao sẽ phát huy được tính tích cực, tự giác, năng động của học viên trong học tập; hình thành ở họ năng lực độc lập, tư duy sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy LLCT ở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với việc sử dụng một số nhóm phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Trên cơ sở tổng hợp các tài liệu khoa học từ những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, phân tích thực trạng và kết quả thực nghiệm việc kết hợp PPTT với TQ trong bồi dưỡng LLCT dành cho đối tượng kết nạp Đảng ở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng LLCT tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện
- Phương pháp lịch sử và logic: Từ việc nghiên cứu các công trình khoa học về dạy học nói chung và việc kết hợp PPTT và TQ, tác giả vận dụng để xây dựng hệ thống lý thuyết về kết hợp PPTT với TQ trong bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng ở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Đề tài thực hiện hình thức khảo sát qua các phiếu thăm dò giáo viên và học viên ở các lớp bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng ở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm học 2018 - 2019; 2019 - 2020
Trang 14- Phương pháp quan sát: Trong các tiết thực nghiệm, chúng tôi cũng tiến hành quan sát thái độ, tinh thần làm việc của học viên và giáo viên qua việc ghi nhật kí lớp học, hoặc ghi âm, chụp ảnh một số tiết dạy Thông tin thu được là cơ
sở để đánh giá về thực tế sử dụng kết hợp PPTT với TQ trong bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định được quy trình đưa ra đã phù hợp chưa và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kết hợp PPTT với TQ trong bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết
nạp Đảng ở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Phương pháp bổ trợ
- Sử dụng phương pháp thống kê; để xử lý số liệu kết quả nghiên cứu, xây
dựng bảng, biểu rút ra được các kết luận khoa học đáp ứng được mục tiêu và nhiệm vụ mà đề tài nêu ra
6 Đóng góp mới của tác giả
- Góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả việc bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Giáo dục công dân, Giáo dục chính trị và đặc biệt là có thể áp dụng đối với các lớp Bồi dưỡng LLCT và nghiệp vụ tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện, thành phố, thị xã như: Lớp Bồi dưỡng nhận thức Đảng, Đảng viên mới…
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP
THUYẾT TRÌNH VỚI TRỰC QUAN TRONG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỐI TƯỢNG KẾT NẠP ĐẢNG TẠI TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Dạy học là hoạt động chủ đạo của người thầy và tiếp thu, lĩnh hội tri thức
là hoạt động của người trò Trong dạy học, để người thầy truyền tải kiến thức một cách tốt nhất và người trò tiếp thu, lĩnh hội tri thức một cách hiệu quả nhất, đòi hỏi người thầy cần biết sử dụng PPDH phù hợp Nghiên cứu về việc sử dụng phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học đã có nhiều công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước
Trong bài viết “Những cách giảng dạy và giáo dục của Khổng Tử”, tác giả Kim Cheng Patrick Low cho rằng: “Khổng Tử là người đề xuất Nho giáo với việc
sử dụng PPTT để truyền đạt các quan điểm trong bài giảng của mình Ông luôn tự coi mình là một người truyền đạt tri thức, truyền đạt những cái đã có tới người nghe Ông thường sử dụng những câu chuyện cách ngôn chứ không giảng giải trực tiếp cách cư xử cho các môn đồ Cách dạy “gián tiếp” này được sử dụng rất nhiều trong các bài giảng của ông thông qua những lời ám chỉ, nói bóng gió và thậm chí
là sự lặp thừa“ [20; tr.681] Mặc dù phương pháp được Khổng Tử sử dụng trong dạy học là phương pháp đối thoại gợi mở, nhưng để cung cấp kiến thức cho học trò, Khổng Tử đã sử dụng cách thức truyền đạt tri thức để thực hiện quá trình trao đổi giữa thầy và trò, giữa người dạy và người học
Tác giả Mariatte Denman trong bài “Phương pháp Socrates - sử dụng như thế nào trong lớp học viết về cuộc nói chuyện của giáo sư Khoa học chính trị Rob Reich về PPDH” cho biết giáo sư Reich đã thừa nhận rằng: “Trong những thập kỉ gần đây, phương pháp Socrates là nền tảng của truyền thống sư phạm phương
Trang 16Tây” và “Trong phương pháp Socrates, kinh nghiệm lớp học là một cuộc đối thoại được chia sẻ giữa giáo viên và học sinh trong đó cả hai có trách nhiệm thúc đẩy đối thoại thông qua thẩm vấn, các thầy được coi là lãnh đạo của cuộc đối thoại” [23; tr.1] Để thực hiện được phương pháp đối thoại, Socrates cũng đã sử dụng cách thức truyền thụ kiến thức kinh nghiệm của mình cho các môn đệ
Đối với PPTQ, đầu tiên thuật ngữ này được sử dụng từ kiểu dạy học sơ khai nhất của Sôcrates và Khổng Tử để con người nhận thức được thế giới Bởi
lẽ theo họ “thế giới hòa tan trong ta và con người có thể nhận thức chính bản
thân họ” Mối quan tâm của Khổng Tử đó là tri thức kinh nghiệm không có sẵn
trong mỗi con người, nó được hình thành trong mỗi con người thông qua học tập Ông khẳng định: “Tính người ta vốn gần nhau”, Khổng Tử rất coi trọng nhận thức cảm tính, con người nhận thức được thế giới phải dựa vào kết quả quan sát các sự vật trực quan và hai ông đã rút ra được nội dung dạy học cho mình trong
quá trình giảng dạy Từ đó “phương pháp trực quan gắn liền với dạy học” [21;
tr.7]
Đầu thế kỉ XVII, nhà giáo dục nổi tiếng người Tiệp Khắc J.A Kômenski (1592 - 1670) đã đưa ra nguyên tắc dạy học, lý luận dạy học và phương pháp dạy học của quá trình nhận thức Ông cho rằng: Kiến thức càng dựa vào cảm giác thì
nó càng xác thực Nghiên cứu sự vật không chỉ dựa vào cái mà người khác quan sát, chứng minh mà phải căn cứ vào những cái chính mắt mình nhìn, chính tai mình nghe, chính mũi mình ngửi, chính lưỡi mình nếm, chính tay mình sờ, … Theo ông để có tri thức chắc chắn, nhất định phải dùng phương pháp trực quan Ông được đánh giá là người đầu tiên trong lịch sử dùng trực quan để giải thích từ vựng và được xem là người đặt nền móng cho lý luận dạy học hiện đại
Quan điểm của Kômenski sau này được các nhà giáo dục như Pestalossi (1746-1827), Clsinki (1824-1870) và nhiều người khác tiếp tục nghiên cứu để làm rõ hơn về PPTQ sử dụng trong dạy học Nhìn chung các ông đều khẳng định vai trò to lớn của dạy học bằng PPTQ thậm chí còn tuyệt đối hóa PPDH này coi
nó là “nguyên tắc cao nhất”, là “quy tắc vàng” trong dạy học
Trang 17Cùng với quan điểm về PPTQ, đến thời cận đại và hiện đại, các nhà khoa học giáo dục đã đưa ra được khái niệm về PPTT trên các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau: Trong công trình nghiên cứu PPTT trong bài giảng, các tác giả
Waugh, G H và Waugh, R F., cho rằng: “Thuyết trình là một phương pháp
giảng dạy mà ở đó giảng viên (GV) đàm phán, thuyết phục, sinh viên (SV) không thảo luận thông tin truyền đạt trong bài thuyết trình hoặc đặt câu hỏi về bài giảng bằng lời nói; là một chiều độc thoại, là bài giảng thẳng không có hoạt động hay lời nói có sự tham gia của SV” [36; tr.36]
Tác giả Frire - nhà xã hội học, nhà giáo dục học nổi tiếng người Braxin - coi việc sử dụng PPTT là “hệ thống ban phát kiến thức”, là quá trình chuyển tải thông tin từ thầy sang trò Thực hiện lối dạy này, giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là “kho tri thức” sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo [16; tr.26] Về cơ bản, các tác giả trên đã có chung quan điểm khi nhận định về PPTT, đó là tính truyền thụ một chiều, giáo viên sử dụng lời nói để truyền đạt thông tin, trong đó sinh viên có trách nhiệm ngồi nghe và ghi chép
Từ những nghiên cứu trên đây đã cho thấy, việc sử dụng PPTT và PPTQ
đã được các nhà giáo dục học quan tâm sử dụng nhiều trong quá trình dạy học
nhằm truyền thụ tri thức một cách có hiệu quả đến người học
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, PPTT cũng được các nhà khoa học giáo dục quan tâm: Trong
cuốn Lí luận dạy học hiện đại - Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và PPDH (dịch
giả Nguyễn Văn Cường) đã viết: “Thuyết trình là thông báo của giáo viên và việc tiếp thu mang tính tiếp nhận thụ động của người học, thông qua đó người học tiếp nhận thông tin, xử lí về mặt nhận thức và phát triển các quá trình trí
nhớ” [4; tr.117] Trong cuốn PPDH truyền thống và đổi mới, tác giả Thái Duy
Tuyên khẳng định: “Thuyết trình là phương pháp thông tin một chiều Giáo viên nêu ra các ý tưởng hay khái niệm, phát triển, đánh giá và cuối cùng tóm tắt các
ý chính đã nêu trong khi học sinh ngồi nghe và ghi chép” [32; tr.58-59] Trong
Trang 18cuốn Đổi mới PPDH, chương trình và sách giáo khoa, tác giả Trần Bá Hoành
quan niệm: “Thuyết trình là trình bày rõ ràng bằng lời trước nhiều người một vấn
đề gì đó” [16; tr.131] Các quan điểm này cho thấy các nhà khoa học ở nước ta cũng đã đồng quan điểm với các nhà khoa học trên thế giới khi coi PPTT là phương pháp truyền đạt thông tin một chiều của người dạy, người học lĩnh hội thông tin, nghe và ghi chép
Vào những năm đầu thế kỷ XX trở lại đây, nền giáo dục trên thế giới và Việt Nam xuất hiện những quan điểm dạy học mới, bao gồm nhiều phương pháp dạy học khác nhau Trong Thông báo kết luận của Bộ Chính trị số 242-TB/TW,
ngày 15/4/2009 khẳng định: Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc
phục cơ bản lối truyền thụ một chiều Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng cường thời gian tự học,
tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên; gắn bó chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành…
Nghị quyết 40/2000/QH10 đã khẳng định: Đổi mới nội dung, chương trình, sách
giáo khoa, phương pháp dạy học phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp
và đổi mới trang thiết bị dạy học Với phương tiện dạy học phù hợp sẽ hổ trợ tốt
cho việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực của người giáo viên, nhất
là đối với phương pháp trực quan
Tác giả Lê Tràng Định (2003), Phân loại và sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học, giáo dục, số 54 cũng đã đề cập tới khái niệm, cách phân loại phương tiện trực quan khi sử dụng trong dạy học Tuy nhiên, tác giả chưa làm rõ được ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học trực quan Tác giả Vũ Đình
Bảy (chủ biên, 2017), Lí luận dạy học môn GDCD ở trường phổ thông đã nêu ra
khái niệm, các hình thức trực quan trong dạy học GDCD ở phổ thông chỉ ra được
ưu điểm, hạn chế của PPDH này Tác giả khẳng định: “Sử dụng PPTQ trong dạy học phù hợp với con đường biện chứng của quá trình nhận thức, đó là quá trình
đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, đi từ cụ thể đến trừu tượng” [1; tr.91]
Trang 19Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu như các giáo trình Giáo dục
học của tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987) tập 1, tập 2, Nxb Giáo dục,
Hà Nội; Giáo dục học đại cương của Phạm Viết Vượng (1996), Nxb Đại học
Quốc gia, Hà Nội; Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại của tác giả Thái Duy Tuyên (1999), Nxb Giáo dục, Hà Nội… Các cuốn sách này đều nhấn mạnh đến vị trí, vai trò của PPTT và PPTQ trong dạy học Tuy nhiên, PPDH nào khi sử dụng đều có ưu điểm và nhược điểm của nó, việc sử dụng kết hợp hai phương này trong dạy học sẽ góp phần khắc phục nhược điểm của từng PPDH đơn lẻ, phát huy được tính tích cực cho người học
Cũng đã có một số công trình nghiên cứu về việc sử dụng kết hợp của
PPTT với PPTQ trong dạy học như: “Kết hợp phương pháp thuyết trình với
phương pháp trực quan trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần thế giới quan - phương pháp luận ở trường Đại học Lao động - Xã hội” của tác giả Nguyễn Hữu Đức (2010), trường Đại học sư phạm Hà
Nội; “Kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp trực quan trong dạy
học môn GDCD nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trường THPT Nguyễn Tất Thành, Hà Nội” của tác giả Vũ Tiến Dũng (2012), trường Đại học
sư phạm Hà Nội… một số bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng nghiên cứu về sự kết hợp của hai phương pháp này trong dạy học Những công trình nghiên cứu này đều cho thấy việc kết hợp của PPTT và TQ trong dạy học vào từng nội dung cụ thể sẽ góp phần phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động của người học Điều này hoàn toàn phù hợp với việc đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay ở tất cả các cấp, bậc học
Nghiên cứu đề tài này, tôi tiếp tục khẳng định vai trò kết hợp PPTT với PPTQ trong Bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng tại Trung tâm BDCT huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, đồng thời đề xuất quy trình - biện pháp theo hướng đổi mới nhằm phát huy tính tích
Trang 201.2 Cơ sở lý luận việc kết hợp PPTT với TQ trong bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đại Từ
1.2.1 Khái lược PPTT và PPTQ
1.2.1.1 Khái niệm về phương pháp và phương pháp dạy học
* Khái niệm phương pháp
Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Mathod” nghĩa là cách thức, con đường để đạt mục đích
Phương pháp được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau Phương pháp theo nghĩa chung nhất là cách thức đạt tới mục tiêu, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Phương pháp là tổ hợp cách thức mà chủ thể sử dụng để tác động vào đối tượng hoạt động nhằm biến đổi theo mục đích xác định” [35; tr.176]
Phương pháp là phạm trù gắn với hoạt động có ý thức, phản ánh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Bởi vậy, phương pháp là một nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
Có nhiều định nghĩa khác nhau, song xét về bản chất, phương pháp là sự
vận động của nội dung dạy học Theo chúng tôi: phương pháp là con đường,
cách thức để thực hiện hoạt động có chủ đích của chủ thể
Để nhận thức được bản chất và quy luật của sự vật hiện tượng cũng như cải tạo hiện thực một cách có hiệu quả đòi hỏi con người cần phải có phương pháp, đây
là một yêu cầu mang tính quy luật Dạy học cũng phải tuân theo quy luật này
* Phương pháp dạy học
PPDH là một yếu tố quan trọng của quá trình dạy học Có nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH Theo quan niệm của Iu Babanxki, PPDH là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục
và phát triển trong quá trình dạy học Theo tác giả M.Danilop và M.Seatkin trong
cuốn “Lí luận dạy học trường trung học” quan niệm: “PPDH đòi hỏi có sự tương
Trang 21tác tất yếu của thầy và trò Trong quá trình đó, thầy tổ chức sự tác động của trò
đến đối tượng nghiên cứu, mà kết quả là trò lĩnh hội được nội dung trí dục” [5;
tr.67] Với cách hiểu này, PPDH chính là hoạt động tương tác giữa thầy và trò trong hoạt động truyền thụ tri thức
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “PPDH là cách thức làm việc của thầy và của trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực để đạt tới mục đích dạy học” [30, tr.23] Quan niệm này của tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã chỉ ra được nội hàm của khái niệm PPDH được hiểu là sự thống nhất của mối quan hệ giữa hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học Cách thức hoạt động này bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể
PPDH có nhiều bình diện và phương diện khác nhau, nó luôn phải đổi mới
để đáp ứng những đòi hỏi của hoạt động dạy và học ở mỗi giai đoạn lịch sử PPDH có các dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau:
- Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò nhằm đạt mục đích đề ra, kích thích, xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động
- PPDH nhằm đạt mục đích dạy học, thực hiện thống nhất chức năng đào tạo - giáo dục; thống nhất của logic nội dung dạy học và tâm lý nhận thức trong hoạt động dạy học
- PPDH có mặt bên trong và mặt bên ngoài, có mặt khách quan và mặt chủ quan
Căn cứ vào những đặc trưng trên khẳng định: PPDH là con đường để đạt tới mục tiêu dạy học và giáo dục PPDH không phải là một thực thể độc lập, tồn tại vì mục đích tự thân mà chỉ là hình thức vận động của một hoạt động đặc thù:
hoạt động dạy học Do đó, theo chúng tôi PPDH là những hình thức và cách
thức hoạt động của người dạy và người học nhằm thực hiện một nội dung dạy học đã được xác định
Trang 221.2.1.2 Khái niệm PPTT và PPTQ
* Phương pháp thuyết trình
Thuyết trình là một trong những PPDH xuất hiện từ rất sớm với nhiều tên gọi khác nhau như: phương pháp dùng lời, phương pháp diễn giảng Hiện nay trong dạy học PPTT vẫn được sử dụng phổ biến, áp dụng để chuyển tải một khối lượng kiến thức lớn đến người học
Có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về PPTT Tác giả Phan Trọng Ngọ: “PPTT là phương pháp mà giáo viên sử dụng ngôn ngữ để cung cấp cho người học hệ thống thông tin về nội dung học tập Người học tiếp thu hệ thống thông tin đó từ người dạy và xử lý chúng tuỳ theo chủ thể người học và yêu cầu của người dạy học” [25; tr.187]
Tác giả Nguyễn Văn Cư cho rằng: “Thuyết trình là phương pháp giáo viên
sử dụng lời nói để trình bày, giải thích nội dung bài học một cách có hệ thống logic, theo chủ đích nhất định, nhờ vậy người học sẽ tiếp thu bài học một cách
có ý thức” [3; tr.58]
Trong cuốn “Lí luận dạy học GDCD ở trường phổ thông” tác giả Vũ Đình Bảy (chủ biên) quan niệm: “PPTT là PPDH trong đó người giáo viên dùng lời nói sinh động, biểu cảm, thuyết phục để truyền thụ tri thức môn GDCD cho học sinh theo chủ đích nhất định, nhờ đó học sinh tiếp thu bài giảng một cách có hệ thống” [1; tr.86]
Các quan điểm trên đây đều xác định PPTT là PPDH mà giáo viên sử dụng lời nói để truyền đạt tri thức đến người học một cách có chủ đích Có thể hiểu
một cách khái quát: PPTT là PPDH mà giáo viên sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ, điệu
bộ để truyền đạt nội dung tri thức môn học cho người học nhằm thực hiện được nhiệm vụ dạy học
* Phương pháp trực quan
Trực quan trong dạy học là một nguyên tắc lý luận dạy học mà theo nguyên tắc này thì dạy học phải dựa trên những hình ảnh cụ thể được học sinh trực tiếp tri giác Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm PPTQ
Trang 23Trực quan là PPDH trong đó giáo viên sử dụng các phương tiện tác động trực tiếp đến cơ quan cảm giác của học sinh giúp các em tiếp thu tri thức của bài học một cách nhẹ nhàng, sinh động và hiệu quả [1, tr.91]
PPTQ được sử dụng rộng rãi trong tất cả các môn học vì nó phù hợp với tâm lý nhận thức của người học, làm cho bài giảng sinh động, phong phú, hấp dẫn đối với người học
Cơ sở lý luận của PPTQ xuất phát từ lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác
- Lênin: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng nhận thức chân lý khách quan
Dưới góc độ tâm lý học, trong sự lĩnh hội của học sinh, tri thức càng trừu tượng thì nguyên tắc trực quan càng trở nên có ý nghĩa Dạy học trực quan là phương tiện hữu ích để phát triển tư duy trừu tượng cho người học
Như vậy, có thể khái quát lại PPTQ được hiểu là PPDH sử dụng những
phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy học nhằm mục đích minh họa,
bổ sung làm phong phú, sinh động thêm cho kiến thức bài giảng
Trang 24Trong giảng dạy Bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng ở Trung tâm BDCT huyện, hình thức kể chuyện chiếm tỷ lệ không nhiều, chủ yếu được giảng viên sử dụng để minh họa cho các nội dung liên quan đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam; về Hồ Chí Minh- người lãnh đạo, sáng lập và rèn Đảng Cộng sản Việt Nam; về tấm gương những người cộng sản kiên trung hay những đảng viên ưu tú…
Thuyết trình giảng giải
Giảng giải là một hình thức của PPTT, trong đó giảng viên dùng lời nói với những luận cứ, số liệu để giải thích, chứng minh, giúp người học hiểu các khái niệm, nguyên lý, quy luật và sự vận dụng chúng trong hoạt động thực tiễn của học viên Thông thường, giảng viên thường sử dụng giảng giải đối với các nội dung tri thức mới Tuy nhiên để việc giảng giải có hiệu quả giảng viên nên kết hợp với các PPDH tích cực như PPTQ để giúp cho giờ học trở nên sinh động, cuốn hút đối với học viên
Trong giảng dạy bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng, giảng viên thường sử dụng giảng giải để giảng các nội dung tri thức mới và khó như bài 1: Khái quát sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Giảng viên giảng giải để học viên hiểu được sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt đối với cách mạng Việt Nam Hay ở bài 2: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá
độ lên chủ nghĩa xã hội Giảng viên phải sử dụng các ngôn ngữ khoa học để giảng giải cặn kẽ cho học viên hiểu về khái niệm cương lĩnh, nội dung Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thuyết trình diễn giảng
Diễn giảng là một hình thức của PPTT, trong đó giảng viên sử dụng ngôn ngữ để truyền thụ đến học viên một khối lượng tri thức lớn theo một hệ thống logic chặt chẽ với thời gian tương đối dài Thường giảng viên sử dụng diễn giảng cho các nội dung tri thức phức tạp, khó, trừu tượng và mang tính khái quát Trong diễn giảng, giảng viên cần đặt ra các câu hỏi để kích thích tư duy sáng tạo của người học, tạo sự chú ý, tập trung của người nghe
Trang 25Dạy học chương trình bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng, diễn giảng thường được giảng viên sử dụng ở nội dung của bài 2: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội hay bài 3: Nội dung cơ bản Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam Ở những bài này có nhiều nội dung mang tính khái quát nhưng lại mang tính thiết thực với học viên Vì thế, để thu hút người học tạo sự tập trung, chú ý cho học viên vào bài giảng, giảng viên có thể sử dụng hình thức diễn giảng kết hợp các PPDH khác trong đó có PPTQ Nếu giảng viên
sử dụng một số mô hình trực quan gắn với các đơn vị kiến thức cụ thể của bài sẽ làm cho phần diễn giảng của giảng viên trở nên hiệu quả hơn
Thuyết trình mô tả, phân tích
Trong quá trình thuyết trình giảng viên có thể kết hợp với việc trình chiếu các sơ đồ, mô hình hoặc lược đồ đối với các vấn đề khó, trừu tượng Việc kết hợp giữa lời giảng, thuyết minh, phân tích đi kèm với các sơ đồ, lược đồ hay biểu
đồ, tranh ảnh… sẽ giúp học viên dễ nắm bắt vấn đề, hiểu vấn đề một cách tường minh, có hệ thống Nếu các sơ đồ, biểu đồ hay tranh ảnh đưa ra không có lời mô
tả hay phân tích giải thích cặn kẽ của giảng viên thì học viên khó có thể hiểu được cặn kẽ vấn đề của bài học Chính vì lẽ đó, giảng viên nên có sự kết hợp giữa lời giảng đi liền với các hình ảnh trực quan, sơ đồ, lược đồ tóm tắt các nội dung chính của bài học
Trong chương trình bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng, giảng viên có thể sử dụng thuyết trình mô tả cho nội dung bài 4: Học tập và làm theo
tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hoặc một số nội dung của bài 5: Phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Các hình thức của PPTQ
Sử dụng PPTQ trong dạy học cũng có nhiều hình thức khác nhau, qua nghiên cứu các tài liệu giáo dục, theo chúng tôi có các hình thức cơ bản sau đây của PPTQ:
Trang 26Sử dụng tranh ảnh - sơ đồ - bản đồ - biểu đồ - số liệu thống kê
Việc sử dụng sơ đồ - lược đồ - bản đồ khoa học trong quá trình dạy học có tác dụng rất lớn Nó góp phần vào việc hình thành, phát triển, củng cố tri thức và
tư duy của người học Chính vì thế, giảng viên phải tìm tòi, suy nghĩ để xây dựng các sơ đồ, biểu đồ mang tính logic khách quan phản ánh được mối quan hệ giữa các tri thức cần cung cấp đến học viên Thông qua đó, giúp học viên nắm vững được tri thức cơ bản nhất, khái quát nhất
Tranh, ảnh là những hình ảnh trực quan gây ấn tượng sâu sắc, nếu giảng viên sử dụng đúng lúc, đúng chỗ sẽ giúp học viên tiếp thu bài tốt Trong điều kiện hiện nay, đối với chương trình Bồi dưỡng LLCT ở Trung tâm bồi dưỡng Chính trị huyện chưa có bộ sưu tập tranh, ảnh riêng cho bộ môn, giảng viên có thể kết hợp sử dụng các tranh, ảnh thông qua việc chụp sau khi quan sát thực tế hoặc sử dụng các tranh ảnh đã được kiểm định trên các phương tiện truyền thông nhưng cần có chú thích nguồn rõ ràng
Sử dụng phương tiện nghe nhìn
Trong dạy học hiện nay, việc giảng viên sử dụng trực quan qua màn ảnh, đèn chiếu, đèn hình hoặc máy vi tính hiện đại sẽ giúp cho bài giảng trở nên sinh động, hấp dẫn đối với học viên
Phương tiện nghe nhìn hỗ trợ cho giảng viên ở trên lớp như làm chức năng trực quan và chức năng điều khiển, đồng thời nâng cao, thúc đẩy việc học của học viên Trong dạy học, máy tính sử dụng có thể giải quyết được các nhiệm vụ
cơ bản của quá trình dạy học như: truyền thụ kiến thức, phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng thực hành, ôn tập, kiểm tra, đánh giá Các khả năng đó có được
là nhờ vào các chức năng: lưu trữ, xử lí và cung cấp thông tin, minh hoạ trực quan hóa bằng mô phỏng Phương tiện dạy học cũng được sử dụng có hiệu quả cho việc tự học của mỗi cá nhân, nhóm thông qua mạng Internet, sách giáo khoa điện tử (E- book), học tập điện tử (E - leanning), video
Trang 27Đặc biệt có thể ứng dụng phần mềm MS Power Point để soạn giảng điện
tử theo hướng phát huy cao độ những khả năng đồ họa máy vi tính Trong các giáo án điện tử, người soạn có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau để phục vụ cho tiến trình bài giảng như: biểu đồ, đồ thị, bảng biểu, hình ảnh, phim, lời thuyết minh , có thể xem giáo án điện tử là những bài trình diễn minh họa góp phần đắc lực đối với bài giảng bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng thêm sinh động và khoa học hơn
Thông qua tham quan thực tế
Trong dạy học sử dụng hình thức tham quan thực tế môn học là hình thức
TQ sinh động nhất vì học viên được mắt thấy, tai nghe, được vận dụng các kiến
thức lý luận trong thực tiễn đời sống xã hội
Trong chương trình bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng, giảng viên có thể tổ chức cho học viên tham quan các Khu di tích lịch sử, bảo tàng, các nhân tố điển hình của địa phương nhằm giáo dục truyền thống cách mạng, lý tưởng động cơ phấn đấu vào Đảng cho các quần chúng ưu tú… Việc tổ chức tham quan nhằm giúp học viên nâng cao nhận thức về nội dung chương trình học tập, gắn lý luận với thực tiễn; tăng khả năng vận dụng vào công việc, lao động
và sinh sống
Cũng giống như các PPDH khác, PPTT hay PPTQ đều không phải là một phương pháp vạn năng, cho nên trong dạy học đặc biệt trong chương trình Bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng, giảng viên nên sử dụng kết hợp PPTT với TQ để bài giảng trở nên hấp dẫn với học viên, hiệu quả của chương trình bồi
dưỡng đạt được mục tiêu đề ra
1.2.1.4 Vai trò của PPTT và TQ trong dạy học chương trình Bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng
- Vai trò của PPTT
Chương trình Bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng có phạm vi kiến thức rộng, mang tính khái quát Việc giảng dạy nhằm thực hiện các mục tiêu sau đây:
Trang 28Mục tiêu về kiến thức: Cung cấp cho học viên một số kiến thức cơ bản
khái lược về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; những nội dung cơ bản của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; nắm được nội dung cơ bản của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam; nội dung và giải pháp để đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phương hướng phấn đấu để trở thành đảng viên Đảng Cộng sản
Việt Nam
Mục tiêu về giáo dục: Giáo dục cho học viên xây dựng được lý tưởng,
động cơ vào Đảng đúng đắn, tích cực rèn luyện và phấn đấu để trở thành đảng
viên của Đảng Cộng sản Việt Nam
Mục tiêu phát triển: Rèn luyện tư duy logic - lịch sử, rèn luyện và phát
triển các thao tác tư duy khoa học; phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tương
hoá Đặc biệt phát triển năng lực thực hành cho học viên
Để thực hiện được mục tiêu trên của chương trình Bồi dưỡng, đòi hỏi giảng viên phải rất linh hoạt, tìm ra các phương pháp rèn luyện tư duy, liên hệ với thực tiễn để học viên có thể vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn Vì thế, việc giảng viên sử dụng PPTT vẫn là PPDH có ưu thế, giữ vai trò chủ đạo, được sử dụng thường xuyên nhất, xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của phương pháp này đối với việc thực hiện các mục tiêu của chương trình bồi dưỡng
LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng
Mặt khác, nội dung chương trình bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng phải đảm bảo tính kế thừa Kết cấu chương trình đã thể hiện rất rõ điều này: Từ lý luận rồi mới đến nghiệp vụ Tri thức trước là cơ sở - tiền đề cho tri thức sau, tri thức sau bổ sung, củng cố cho tri thức trước PPTT cho phép giảng viên có được mối liên hệ với những tri thức cũ, chọn lọc những tri thức cần kế thừa, để trong thời gian ngắn nhất có thể cung cấp cho học viên
một lượng tri thức lớn
Trang 29Qua thuyết trình, toàn bộ nhân cách người giảng viên được thể hiện trong bài giảng và tác động trực tiếp đến người học, điều đó khiến thuyết trình trở thành con đường quan trọng để hình thành nhân cách của người học Bằng thuyết trình, giảng viên giúp học viên cập nhật những thông tin, kể cả những vấn đề không có hoặc chưa kịp có trong tài liệu; tổng hợp nhiều nguồn tư liệu khác nhau thành một hệ thống logic, giúp học viên tiếp cận một cách có hiệu quả hơn Với những nguyên nhân cơ bản trên, thuyết trình là một phương pháp không thể thiếu mà giảng viên thường xuyên sử dụng trong quá trình bồi dưỡng LLCT cho đối tượng
kết nạp Đảng
- Vai trò của PPTQ
Việc truyền thụ và lĩnh hội tri thức bằng PPTQ của giảng viên và học viên
bắt nguồn từ lý luận nhận thức của triết học duy vật biện chứng Điểm xuất phát
của mọi quá trình nhận thức đều bắt nguồn từ thực tiễn Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc, động lực, là mục tiêu của nhận thức và còn là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận
thức, kiểm tra chân lí
Trong giảng dạy việc giảng viên sử dụng tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, số liệu thống kê, phương tiện nghe nhìn, tham quan thực tế có tác động rất lớn, sâu sắc đến quá trình nhận thức của học viên Quá trình này diễn ra liên tục, là sự thống nhất của hai giai đoạn nhận thức, trong đó nhận thức cảm tính phản ánh thế giới
khách quan đầy đủ, toàn diện, tạo cơ hội vững chắc cho nhận thức lý tính
Trong nhận thức, vai trò và sự kết hợp của các giác quan thông qua cảm giác, tri giác, biểu tượng sẽ giúp học viên tiếp nhận thông tin với hiệu quả cao Điều này có ý nghĩa là học viên sẽ tiếp thu tốt hơn nếu vừa học, vừa nghe thuyết trình, vừa quan sát các hình thức trực quan mà người dạy sử dụng kết hợp trong mỗi bài giảng Bởi các hành động thực tiễn hay hành động trí óc của người học không chỉ được hình thành bằng cách hướng dẫn trực tiếp mà còn bằng việc người học được quan sát và lĩnh hội Đây là phương thức học tập có hiệu quả đối
Trang 30Bởi những người theo học ở các lớp Bồi dưỡng có trình độ nhận thức, lứa tuổi, ngành nghề khác nhau Do đó, việc giảng viên sử dụng kết hợp các PPDH khác nhau trong đó có PPTQ sẽ giúp học viên dễ dàng tiếp cận được các nội dung tri
thức trừu tượng, mang tính khái quát cao
Giảng viên khi sử dụng PPTQ trong dạy học chương trình bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng càng sử dụng các phương tiện tranh ảnh, sơ
đồ minh họa, tham quan thực tế gần với kiến thức cần giảng dạy và gắn bó mật thiết với đời sống sẽ càng giúp cho học viên mở rộng, đào sâu sự hiểu biết, phát huy năng lực nhận thức khoa học Vì vậy, giảng viên sử dụng tốt PPTQ là quá trình hình thành, củng cố con đường nhận thức biện chứng cho học viên, giúp
họ phát triển tư duy logic, khoa học, phương pháp nhận thức, nghiên cứu và cải
tạo thực tiễn
1.2.1.5 Một số ưu điểm và nhược điểm của PPTT và TQ
Bất cứ PPDH nào cũng có ưu và nhược điểm, đối với PPTT và TQ khi sử dụng có những ưu, nhược điểm nhất định Người giảng viên khi sử dụng biết kết hợp hai PPDH này cùng với các PPDH khác trong từng nội dung giảng dạy cụ thể sẽ đem lại những thành công nhất định Qua thực tiễn dạy học của bản thân cùng với việc nghiên cứu tài liệu tham khảo của các nhà giáo dục và tham khảo
ý kiến của các đồng nghiệp, chúng tôi đưa ra một số đánh giá về ưu nhược điểm của PPTT và TQ sau đây:
- Ưu diểm và nhược điểm của PPTT
Ưu điểm
Thứ nhất, trong thời gian định lượng, giảng viên chủ động truyền đạt đầy
đủ, hiệu quả nội dung tri thức lớn, trừu tượng khái quát cao một cách lưu loát, hấp dẫn, hợp logic mà các phương pháp khác khó thực hiện Giảng viên cũng chủ động phân phối được thời gian cho từng đơn vị kiến thức Trong một thời gian ngắn, giảng viên có thể truyền thụ được một khối lượng lớn tri đến với số
lượng nhiều học viên
Trang 31Thứ hai, cung cấp cho người học những thông tin cập nhật nhất so với tài
liệu học tập Bởi vì lượng thông tin trong tài liệu - giáo trình thường có xu hướng lạc hậu hơn so với thực tiễn phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội chuyển biến nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu Điều này khẳng định những thông tin người giảng viên cung cấp phải thường xuyên cập nhật, điều chỉnh bổ sung mới đáp ứng mục tiêu - nhiệm vụ
giáo dục - đào tạo
Thứ ba, PPTT kích thích hoạt động học, giáo dục niềm tin, tình cảm của
người học Qua thuyết trình giảng viên tiếp xúc, giao lưu trực tiếp với học viên, những ngữ điệu, âm thanh, cường độ, sự biểu cảm, làm việc nghiêm túc, say mê của giảng viên có tác động, lôi cuốn sự tập trung chú ý, phát triển trí nhớ, óc tưởng tượng trong quá trình học tập của học viên Nhờ vậy, hiệu quả bài giảng thuyết trình không chỉ dừng lại ở việc giảng viên truyền thụ tri thức bài học mà còn giúp học viên đón nhận được tình cảm cao đẹp, tư tưởng nhân văn - nhân
đạo, lý tưởng sống, động cơ phấn đấu đúng đắn…
Thứ tư, sử dụng PPTT, giảng viên còn giúp cho học viên có phương pháp
nhận thức, tổng hợp cấu trúc tài liệu học tập; hướng dẫn học viên phương pháp tự học, tự rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, phát triển tư duy tổng hợp
Thứ năm, sử dụng PPTT giảng viên không phải mất nhiều thời gian thiết
kế giáo án, chuẩn bị các phương tiện dạy học đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin và các thiết bị dạy học hiện đại Không tốn kém về chi phí để chuẩn bị cho một buổi lên lớp
Nhược điểm
Thứ nhất, do lối truyền thụ một chiều nghiêng nhiều về phía giảng viên
nên giảng viên gặp khó khăn trong việc tiếp thu thông tin phản hồi từ phía người học Việc đánh giá của giảng viên đối với kết quả học tập của học viên sẽ gặp nhiều hạn chế
Thứ hai, khả năng lưu giữ thông tin của người học thấp Học viên dễ bị
đẩy vào thế thụ động trong quá trình tiếp thu tri thức, không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Trang 32Thứ ba, phương pháp dùng chung cho cả lớp nên tính cá thể hoá thấp, hạn chế
tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học, biến người học thành những người nghe thuần tuý không cần phải tư duy Sự tương tác giữa giảng viên và học viên, giữa học viên với học viên bị hạn chế, bài học thường đơn điệu, nhàm chán
Thứ tư, thời gian thu hút, duy trì sự chú ý của người học vào nội dung bài
học thấp Việc rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo cho người học không được quan tâm đúng mức
Tóm lại, trong hệ thống các PPDH, PPTT có những ưu điểm và nhược điểm từ phía bản thân nó Nhưng ưu thế nổi bật của PPTT trong dạy học nói chung và trong bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng nói riêng đã đem lại những kết quả nhất định Cho dù lý luận và PPDH đã có bước chuyển biến rất lớn trong thời đại ngày nay, song trong giảng dạy LLCT, PPTT vẫn giữ vị trí quan trọng hàng đầu Vấn đề quan trọng được đặt ra đối với người giảng viên khi sử dụng PPTT trong dạy học phải xác định được những điều kiện sử dụng, đổi mới phương pháp này theo hướng tích cực hơn, hiện đại hơn để đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
- Ưu điểm và nhược điểm của PPTQ
Ưu điểm
Thứ nhất, PPTQ sử dụng hợp lý sẽ giúp cho tri thức của bài học trở nên
sinh động, kích thích được hứng thú và phát huy được tính tích cực trong quá
trình lĩnh hội tri thức của người học
Thứ hai, sử dụng PPTQ giảng viên sẽ thường xuyên thu nhận được thông
tin phản hồi từ phía học viên, giúp giảng viên làm chủ được buổi học
Thứ ba, PPDH trực quan giúp học viên huy động sự tham gia của nhiều
giác quan, kết hợp với lời nói của giảng viên sẽ tạo điều kiện để học viên dễ hiểu,
dễ nhớ, nhớ lâu, hiểu sâu, tạo sự hứng thú, hấp dẫn đối với nội dung học tập; phát triển năng lực chú ý, năng lực quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ
của học viên
Trang 33Thứ tư, sử dụng PPTQ bằng các biểu đồ, sơ đồ tóm tắt kiến thức nội dung
bài học một cách khoa học, dễ hiểu sẽ giúp học viên nắm được tri thức một cách
khái quát, hệ thống
Nhược điểm
Thứ nhất, khi sử dụng PPTQ bằng hình ảnh minh họa, sơ đồ, biểu đồ, bài
thực tập, thực hành cần phải chính xác, đòi hỏi giảng viên phải chuẩn bị cẩn thận, tốn thời gian và công sức Giảng viên sẽ khó áp dụng khi thiếu điều kiện cần thiết Điều đấy có nghĩa khi sử dụng PPDH này giảng viên bị lệ thuộc nhiều vào
cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Thứ hai, khi sử dụng một cách lạm dụng dễ làm học viên phân tán chú ý,
thiếu tập trung vào các dấu hiệu cơ bản nhất của sự tiếp nhận tri thức, giờ học để trở thành một buổi triển lãm tranh ảnh hoặc xem phim Thậm chí còn hạn chế
phát triển năng lực tư duy trừu tượng của học viên
Như vậy, bên cạnh những hạn chế của PPTQ do bản thân nó quy định, chúng ta không thể phủ nhận giá trị minh họa, hỗ trợ rất lớn của PPDH này trong quá trình giảng viên thực hiện giờ giảng của mình Khi sử dụng PPTQ giảng viên buộc phải sử dụng các hình thức trực quan để minh họa kết hợp với giải thích, phân tích, tổng hợp, khái quát, kết luận bài học giúp học viên nhận thức đúng, hiểu đúng, đầy đủ, toàn diện, sâu sắc nội dung bài học Do đó, để phát huy được
ưu điểm của PPTQ khi dạy học chương trình bồi dưỡng LLCT cho đối tượng
Đảng, giảng viên cần sử dụng kết hợp với PPTT và một số PPDH tích cực khác
1.2.2 Mối quan hệ giữa PPTT và TQ theo hướng đổi mới PPDH
1.2.2.1 Các quan điểm về dạy học kết hợp PPTT với TQ
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kĩ thuật, công nghệ hiện đại, xu thế toàn cầu hóa đã và đang đặt ra những thời cơ, thách thức đối với nền giáo dục Việt Nam Để đáp ứng được yêu cầu cung cấp cho đất nước nguồn nhân lực chất lượng cao, vấn đề đặt ra là phải đào tạo ra những con người có bản lĩnh, năng động, sáng tạo, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước,
Trang 34có khả năng thích ứng với xu hướng phát triển của thời đại Bên cạnh việc đổi mới nội dung dạy học, đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề cấp thiết trong hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay Bởi vì, chỉ có đổi mới nội dung dạy học gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học mới tạo nên sự chuyển biến căn bản về
chất của quá trình dạy học
Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục đã chỉ rõ: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc [11, tr.23] Do đó, bên cạnh việc đổi mới nội dung
thì đổi mới PPDH là một vấn đề cấp bách được Đảng, Nhà nước và toàn ngành giáo dục quan tâm sâu sắc Trong dạy học các chuyên đề bồi dưỡng LLCT nói riêng và các học phần LLCT nói chung, việc kết hợp giữa PPTT và các PPDH tích cực là cần thiết Giảng viên nên sử dụng sự kết hợp giữa PPTT với TQ để tạo sự hứng thú cho người học khi phải tiếp nhận những tri thức mang tính trừu tượng và khái quát cao như LLCT
Mặt khác, xu hướng dạy học hiện hiện đại đang hướng tới việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Vì thế, giảng viên cần đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học phải có sự hợp tác, phối hợp giữa hoạt động dạy và hoạt động học Việc kết hợp giữa PPTT với TQ trong dạy học LLCT sẽ đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục, khắc phục được sự thụ động, một chiều của dạy, phát triển được sự linh hoạt, tư duy sáng tạo của người học
Việc đổi mới toàn diện quá trình giáo dục - đào tạo, trong đó có đổi mới PPDH đã được khẳng định ở nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước Nghị quyết Trung ương Đảng khoá VIII nêu rõ: Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện
Trang 35đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học Báo cáo văn kiện Đại hội X của Đảng nêu rõ: Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình nội dung, phương pháp dạy và học phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên
Trên thực tế giảng dạy không có giảng viên nào chỉ thuần tuý sử dụng một phương pháp mà thường tổng hợp nhiều PPDH để nâng cao tính chủ động cho người học Chính bởi lẽ đó, việc kết hợp PPTT và TQ vào dạy học chương trình bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng sẽ làm cho hai phương pháp này phong phú hơn cả về nội dung và hình thức bằng cách phát huy tối đa ưu điểm của hai phương pháp này, đồng thời khắc phục những mặt hạn chế của chúng, để đưa vào đó những yếu tố tích cực nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong quá trình dạy học
1.2.2.2 Nội dung kết hợp PPTT với TQ theo hướng đổi mới
Để bài giảng có tính thuyết phục, nâng cao hiệu quả trong dạy học chương trình bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng, giảng viên cần sử dụng nhiều PPDH khác nhau trong đó có thể sử dụng PPTT kết hợp với TQ
Xuất phát từ những thế mạnh vốn có của hai phương pháp này; căn cứ vào đặc điểm nội dung Bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng những kiến thức cơ bản về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, nội dung cơ bản của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Điều
lệ Đảng Cộng sản Việt Nam; việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phương hướng phấn đấu để trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam được kết cấu chặt chẽ, logic trong mối quan hệ biện chứng, chuyển hoá lẫn nhau, cùng vận động phát triển Do đó, việc xác định những điều kiện sử dụng nhuần nhuyễn - linh hoạt, có hiệu quả hai phương pháp này là nhiệm
vụ quan trọng trong đổi mới PPDH
Trang 36trợ, minh hoạ sinh động cho thuyết trình Khi sử dụng PPTQ người giảng viên phải thuyết minh, giảng giải, phân tích, tổng hợp, khái quát kết luận các vấn đề nội dung bài học Như vậy, thuyết trình sẽ phát huy một cách tích cực khi sử dụng kết hợp với PPTQ, đây cũng là lý do quan trọng làm cho thuyết trình thêm
hấp dẫn hiệu quả
Kết hợp PPTT với TQ theo hướng đổi mới PPDH không có nghĩa là gạt
bỏ, loại trừ, tuyệt đối hoá vai trò phương pháp này, xem nhẹ phương pháp kia Quan trọng và khéo léo của người giảng viên là phải biết kế thừa, phát huy, phát triển những nhân tố hợp lý, tích cực của hai PPDH này
Với quan điểm tiếp cận như vậy, chúng tôi xin đề xuất các hình thức dạy
học bằng kết hợp PPTT với TQ theo hướng đổi mới
- Kết hợp PPTT với TQ (sử dụng tranh ảnh - sơ đồ - biểu đồ - bản đồ- số
liệu thống kê)
- Kết hợp PPTT với TQ (sử dụng phương tiện công nghệ thông tin)
Cơ sở của việc kết hợp PPTT với PPTQ là dựa vào bản chất, vai trò, đặc điểm của chúng trong dạy học Sự kết hợp tốt hai phương pháp này dưới hai hình thức sẽ hỗ trợ, bổ sung cho nhau, hạn chế được những yếu điểm, đồng thời phát huy thế mạnh của bản thân hai phuơng pháp quy định Khi sử dụng PPTQ, giảng viên phải thuyết minh, giảng giải, phân tích, tổng hợp, khái quát, kết luận các vấn đề, quan điểm trong nội dung bài học, nó sẽ làm tăng hấp dẫn của bài thuyết trình, tạo nên sự chú ý, kích thích người học suy nghĩ, tìm tòi, phát huy tư duy
tích cực, sáng tạo và nhờ đó bài giảng trở nên sinh động, hấp dẫn hơn
Thứ nhất, kết hợp PPTT với TQ sử dụng tranh ảnh, sơ đồ, bảng biểu thống
kê gắn với nội dung bài giảng
Giảng viên sử dụng thuyết trình bằng lời giảng kết hợp minh họa tranh ảnh
phù hợp với nội dung bài giảng Tranh ảnh là những hình ảnh trực quan gây ấn
tượng sâu sắc, tạo ra sự tiếp thu tri thức nhẹ nhàng, xây dựng tư tưởng - tình cảm tốt đẹp về đất nước, con người Khi sử dụng tranh ảnh trong dạy học giảng viên cần lựa chọn hình ảnh phù hợp theo bài giảng sẽ là công cụ minh họa rất tốt để
Trang 37học viên hiểu sâu sắc hơn về những nội dung về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, về nội dung Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên CNXH hay tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Việc sử dụng tranh ảnh minh họa chứng minh, phù hợp sẽ kích thích phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và nhận
được nhiều thông tin phản hồi từ phía người học
Giảng viên còn có thể sử dụng sơ đồ dạy học, các bảng biểu để thuyết minh cho các nội dung bài giảng của mình như sơ đồ tóm tắt về hoàn cảnh ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam; nội dung tóm tắt những vấn đề cơ bản của Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội hay tổng hợp những nội dung cơ bản trong Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam…
Để xây dựng được sơ đồ, bảng biểu và thuyết minh nội dung sơ đồ, bảng biểu gắn với các kiến thức cần cung cấp đến cho học viên đòi hỏi giảng viên phải chuẩn bị công phu Tác dụng của sơ đồ, bảng biểu nhằm giúp ích người học nhận thức chi tiết nội dung bài giảng một cách sinh động Thuyết trình kết hợp sơ đồ trực quan được giảng viên sử dụng một cách linh hoạt tuỳ theo từng nội dung bài học cụ thể để mô tả, mô hình hóa đối tượng nhất định không chỉ một cách tĩnh ở một thời điểm nào đó mà trong sự phát triển, trong mối liên hệ lẫn nhau giữa những bộ phận và những sự vật, hiện tượng khác Nhờ chúng, dưới hình thức quy ước có thể vạch ra sự phát triển và mối liên hệ lẫn nhau giữa những nội dung
cơ bản trong từng bài học
Sơ đồ, bảng biểu có tác dụng rất lớn trong việc hình thành, phát triển, củng
cố tri thức và tư duy cho người học Sơ đồ, bảng biểu sẽ phát huy hiệu quả cao nếu giảng viên biết chọn lựa để tổng kết, so sánh, phân tích một bài, một phần, một chương nhằm giúp học viên hiểu rõ hơn vấn đề nêu ra
Như vậy, kết hợp PPTT với TQ sử dụng tranh ảnh, sơ đồ, bảng biểu, số liệu thống kê có giá trị khái quát hoá, hệ thống hoá, lĩnh hội, kiểm tra, đánh giá tri thức, giải quyết những vấn đề đặt ra cho nội dung bài giảng của giảng viên khi thực hiện quá trình dạy học
Trang 38phương tiện nghe nhìn
Ngày nay, tốc độ phát triển như vũ bão của các ngành khoa học kĩ thuật, đặc biệt là sự bùng nổ trong lĩnh vực công nghệ thông tin làm cho lượng tri thức nhân loại không ngừng tăng lên thì PPDH truyền thống không thể đáp ứng được nhu cầu đó Do vậy, đổi mới PPDH bằng việc sử dụng hiệu quả các phương tiện dạy học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin đang là một nhu cầu cấp bách trên phạm vi toàn thế giới
Những năm gần đây, do sự phát triển của KHCN đã xuất hiện những phương tiện có tính kỹ thụât cao, hiện đại Trong đó, phương tiện nghe nhìn chiếm vị trí quan trọng nhất, nó bao gồm: Radio - casset, video, máy thu hình - thu âm, máy quay phim, máy chiếu, máy vi tính, máy chiếu đa năng và các phần mềm hỗ trợ thiết kế bài giảng như: Phần mềm Microsoft Publisher, Power Point, Violet Sự xuất hiện của phương tiện nghe nhìn hiện đại với những tính năng mạnh mẽ làm cho quá trình dạy học có những thay đổi về chất thực sự Như vậy, phương tiện nghe nhìn là phương tiện dạy học hiện đại với những thiết bị có khả năng chứa đựng hoặc chuyển tải những thông tin về nội dung dạy học và điều khiển việc dạy và học
Đối với việc bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng để bài giảng của giảng viên có hiệu quả cao theo chúng tôi cần phải tăng cường sử dụng phương tiện nghe nhìn hiện đại trong quá trình dạy học Đây là xu hướng vận dộng tất yếu, là yêu cầu của đổi mới PPDH nói chung và đổi mới kết hợp PPTT với PPTQ nói riêng
Thực tế đã chứng minh hiệu quả, tác dụng, lợi ích việc sử dụng phương tiện nghe nhìn trong quá trình dạy học như các video về vai trò của Đảng Cộng sản trong việc lãnh đạo cách mạng Việt Nam; các clip về công cuộc đổi mới đất nước; những thước phim tư liệu về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh… sẽ giúp cho học viên rút ra được ý nghĩa của bài học, bồi dưỡng tình cảm cách mạng, lý tưởng cộng sản, giúp họ có động cơ phấn đấu vào Đảng đúng đắn Nhờ đó, giảng viên thực hiện được những bước ngoặt mới về chức năng mà
Trang 39trước đó khó thực hiện như: truyền thụ, kiến tạo tri thức, minh hoạ kiến thức, làm mẫu, minh hoạ, mô phỏng, so sánh, phân tích, tổng hơp kiến thức giúp học viên hiểu sâu, nhớ kỹ nội dung bài học; phát triển tư duy khoa học, rèn luyện
kĩ năng thực hành, quan sát, sử dụng công cụ, rèn luyện thái độ, ý thức, kích thích hứng thú học tập
Sử dụng tốt phương tiện nghe nhìn trong thuyết trình bài giảng sẽ tác động trực tiếp mạnh mẽ, ấn tượng sâu sắc tới các giác quan, làm phong phú quá trình tư duy, kích thích năng lực tư duy, óc tìm tòi sáng tạo, chủ động tích cực trong học tập - nghiên cứu môn học Do đó, khi sử dụng phương tiện nghe nhìn, giảng viên phải giảng giải, phân tích, tổng họp, khái quát, kết luận các vấn đề, quan điểm, tư tưởng Có như vậy, thuyết trình và trực quan sẽ đồng thời phát huy được thế mạnh và khắc phục được hạn chế, đơn điệu trong quá trình dạy học
1.2.2.3 Nguyên tắc kết hợp PPTT với PPTQ theo hướng đổi mới
Sử dụng kết hợp PPTT với TQ theo hướng đổi mới trong dạy học là việc giảng viên phải kế thừa, phát triển những nhân tố tích cực, đồng thời kết hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt giữa hai PPDH này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học viên trong học tập
Với quan điểm tiếp cận như vậy, kết hợp PPTT với TQ theo hướng đổi mới trong bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng cần tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, cần xác định rõ mục tiêu, trọng tâm của từng bài giảng.Điều
quan trọng hàng đầu của bài giảng chất lượng là phải xác định đúng mục tiêu, trọng tâm Mục tiêu là cái đích người dạy và người học cùng hướng tới; là cơ sở, nền tảng vững chắc để giảng viên lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện
dạy học và thiết kế bài giảng cho phù hợp
Sử dụng kết hợp PPTT với TQ theo hướng đổi mới cho phép giảng viên trực tiếp trình bày bài giảng một cách có hệ thống, logic, khoa học làm nổi bật những kiến thức trọng tâm, cơ bản của bài giảng Việc sử dụng một cách nhuần nhuyễn linh hoạt hai PPDH này, người giảng viên đóng vai trò trọng tài, dẫn dắt
Trang 40học viên tìm kiếm, khai thác, khám phá tri thức khoa học Điều này đòi hỏi giảng viên phải luôn dõi theo, bám sát, định hướng cho học viên giải quyết vấn đề học tập, đạt được mục tiêu, kiến thức trọng tâm cơ bản của bài giảng, tránh rơi vào những chi tiết vụn vặt, không cơ bản hay bị chi phối bởi những hình ảnh trực quan dẫn đến hiệu quả bài giảng không cao
Thứ hai, cần đảm bảo tính hệ thống, logic và tính khoa học của tri thức.Tri
thức của chương trình Bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng mang tính
hệ thống, tính khoa học sâu sắc, có quan hệ - liên kết chặt chẽ giữa việc tìm hiểu
về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng trong thời kì đổi mới đất nước; nội dung, phương hướng học tập và làm theo tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh, từ đó bồi dưỡng cho học viên phương hướng trở
thành đảng viên với động cơ đúng đắn
Tính khoa học của tri thức môn học là phải cung cấp đầy đủ, chính xác hệ thống tri thức cơ bản, thiết thực, phù hợp với thực tiễn cho người học Khi PPTT kết hợp với TQ theo hướng đổi mới, trước hết, giảng viên phải đảm bảo tính chính xác,
kế thừa chọn lọc, phát triển của tri thức môn học, tư duy dạy học, dù giảng viên có đưa ra nhiều tình huống, giới thiệu nhiều hình ảnh trực quan nhưng nếu học viên chưa hiểu được chính xác nội kiến thức bài học, tất yếu không thể có những vận dụng đúng đắn trong nhận thức và hành động của bản thân Bên cạnh đó, để đảm bảo tính khoa học, hệ thống của tri thức, các dữ liệu, sự kiện thực tiễn mà giảng viên đưa ra phải chính xác, chân thực, khoa học, có giá trị thuyết phục cao
Thứ ba, đưa người học vào tính huống có vấn đề để kích thích tính chủ động tích cực, sáng tạo của người học Nhược điểm cơ bản của PPTT trong dạy
học Bồi dưỡng LLCT cho đối tượng kết nạp Đảng viên là chưa thực sự phát huy tính tích cực, chủ động cho học viên trong học tập Hạn chế của PPTQ là khó áp dụng khi thiếu điều kiện cần thiết hoặc khi sử dụng nếu quá lạm dụng sẽ làm cho người học phân tán, thiếu tập trung, dẫn tới hạn chế phát triển năng lực tư duy
của người học
Vì vậy, nhiệm vụ của giảng viên khi giảng dạy phải khắc phục được yếu