1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Các tác giả văn 6

26 565 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Tác Giả Văn 6
Tác giả Tụ Hoài
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 567 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bìa sách “Đất rừng phương Nam” Trong tập tiểu luận - phê bình “Tiếng vọng những mùa qua” của Nguyễn Thị Thanh Xuân NXB Trẻ, 2004 nhận định về tác giả Đất rừng phương Nam: “Có mảnh đất si

Trang 1

Tô Hoài

T

Tô Hoài, tên khai sinh là Nguyễn Sen, sinh ngày 7 tháng 9 năm 1920 ở quê ngoại tại làng Nghĩa Đô, huyện

Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội) trong một gia đình thợ thủ công.

Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiều nghề để kiếm sống: dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn, và nhiều khi thất nghiệp.

Đến với văn chương rất sớm, ông nhanh chóng gây được sự chú ý, nhất là với truyện Dế Mèn phiêu lưu

ký dành cho trẻ em, sau này đã dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn

hóa cứu quốc Trong kháng chiến chống Pháp, ông chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn

có một số thành tựu quan trọng như Truyện Tây Bắc Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ về sau được đưa vào

sách giáo khoa và dựng thành phim.

Hòa bình năm 1954 ông trở về Hà Nội và có điều kiện tập trung vào sáng tác, mặc dù vẫn đảm nhiệm nhiều chức vụ lãnh đạo giới văn nghệ Tính đến nay, sau 64 năm lao động nghệ thuật, ông đã có hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác.

Các bút danh: Tô Hoài, Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Duy Phương, Hồng Hoa.

Từ 1945 - 1958: làm phóng viên rồi Chủ nhiệm báo Cứu quốc Việt Bắc

Từ 1957 - 1958 : Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam

Từ 1958 - 1980 : Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam

Từ 1986 - 1996 : Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội.

Trang 2

Ba người khác là tác phẩm gần đây nhất Tác phẩm này được viết xong năm 1992 nhưng đến 2006 mới

được phép in, nội dung viết về thời kỳ cải cách ruộng đất, đã gây tiếng vang lớn và có thể so sánh với “Dế Mèn phiêu lưu ký”.

Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký.

Giải thưởng văn chương:

· Giải nhất giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam cho tập “Truyện Tây Bắc”.

· Giải thưởng Hoa Sen của Hội Nhà văn Á Phi cho tác phẩm ”Miền Tây” (năm 1970)

Năm 1996, ông được Nhà nước Việt Nam phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).

(Nguồn: wikipedia)

Nhà văn Tô Hoài: Bơi giữa dòng đời ở tuổi 90

Cứ mỗi lần muốn đến thăm nhà văn Tô Hoài, tôi phải gọi điện cho một trong hai địa chỉ, hoặc ở phố Đoàn Nhữ Hài, hoặc ở nhà C3 Nghĩa Tân Khi biết cụ ở đâu là tôi xác định được tình trạng sức khỏe của cụ Nếu ở Nghĩa Tân có nghĩa sức khỏe của cụ bình thường ở mức "lai rai", nghĩa là vẫn chung sống với hai bệnh mạn tính: bệnh gút và bệnh tiểu đường týp 2 Còn những lần sức khỏe trục trặc đáng lo hơn như tim mạch, huyết áp cao thì cụ lại về Đoàn Nhữ Hài với cụ bà, gần Bệnh viện Hữu Nghị hoặc những bệnh viện có chuyên khoa giỏi.

Lần này đến đặt bài báo Tết, tôi được đến C3 Nghĩa Tân thăm cụ, nghĩa là có thể lợi dụng tình trạng sức khỏe ổn định của cụ để ngồi hầu chuyện cụ lâu hơn.

Hóa ra năm 2007 cho đến nay là thời điểm cụ có thể tạm tổng kết cuộc đời hoạt động cách mạng và văn học nhân kỷ niệm tròn tuổi 90 Đó là căn cứ vào tấm bảng mừng thọ của Thành ủy Hà Nội, còn theo tiểu sử văn học của cụ trong

Từ điển văn học thì cụ sinh ngày 7/9/1920 ở Nghĩa Đô Nhân dịp này cụ còn được Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, rồi Huân chương Độc lập hạng Nhất (Năm 1991, cụ đã được Giải thưởng Văn học nghệ thuật Hồ Chí Minh đợt I) Tôi hỏi:

- Thưa bác, cũng nên là dịp tổng kết về tác phẩm đã được xuất bản của bác?

Tô Hoài nở nụ cười hiền hậu:

- Thì chính tôi cũng không biết được chính xác: sách cho người lớn khoảng 150 cuốn, sách cho thiếu nhi khoảng 70 cuốn gì đấy! Với lại số đầu sách xuất bản lại không ứng vào số tác phẩm mình viết, có nhiều cuốn tái bản riêng, lại

có những cuốn tái bản in gồm cả mấy tác phẩm làm một đầu sách.

Trang 3

Tiện tay, cụ rút mấy cuốn đang đặt trên bàn làm ví dụ

Ba pho sách kỷ niệm Nghìn năm Thăng Long - Hà Nội

Thì ra, từ nay đến kỷ niệm Nghìn năm Thăng Long - Hà Nội 2010, cụ có đến 3 pho sách dày dặn gồm toàn những cuốn tái bản mà in gộp theo thể loại:

Cuốn thứ nhất, NXB Kim Đồng đang in ghép 3 tiểu thuyết lịch sử: Nhà Chử, Đảo Hoang và Chuyện nỏ thần,

khoảng hơn 700 trang, gợi người đọc nhớ đến vùng đất cổ Phong Châu, Cổ Loa với những truyền thuyết vừa mang tính huyền thoại vừa đậm màu sắc dân gian.

Cuốn thứ hai NXB Đà Nẵng đang in: Miếu Đồng Cổ gồm 62 truyện ngắn viết từ 40 năm trở lại đây, khoảng 700

trang, hầu hết là phản ảnh, ghi nhận cuộc sống ngoại thành Hà Nội mà nay đã thuộc địa phận Hà Nội mới.

Cuốn thứ ba in ghép 3 tiểu thuyết: Quê nhà, Quê người và Mười năm, 860 trang, có thể nói đó là bộ ba tiểu thuyết

cụ viết về cái làng thợ dệt ngoại ô Hà Nội: làng Nghĩa Đô, nơi cụ được sinh ra và lớn lên Quê nội thì ở làng Cát Động - Thanh Oai - Hà Đông, 20 tuổi cụ mới về quê nội Đọc chúng, ta sẽ hình dung được những năm sôi nổi của phong trào dân chủ và tiền khởi nghĩa cùng với những tư tưởng mới mẻ tràn đến với nhà văn trẻ đang hăng hái hoạt động Văn hóa cứu quốc (1943), viết báo bí mật, tuyên truyền cách mạng và đau xót chứng kiến nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu, càng thảm khốc với làng Nghĩa Đô của cụ chỉ cách Thụy Khuê bên kia con đường Bưởi mà Thụy Khuê được phát bông gạo, Nghĩa Đô là ngoại tỉnh (lúc đó thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông) thì gần như cả làng chết đói Nhắc đến cụm tác phẩm này và thời kỳ đó, cụ bảo:

- Ấy! Ở làng Vạn Phúc - thị xã Hà Đông, có cái bia đá ghi công các nhà hoạt động cách mạng tiền khởi nghĩa, có cả tên tôi Nhưng như vậy không có nghĩa là họ tin tưởng tuyệt đối ở anh nhà văn hay rắc rối này (cụ cười hóm hỉnh).

- Có lần mấy đồng chí Tỉnh ủy Hà Đông về Hội Văn nghệ 51 Trần Hưng Đạo để phản ứng với Hội về nhân vật Hai

Tâm trong tiểu thuyết Mười năm, một nữ cán bộ cách mạng xinh đẹp mà lại lẳng lơ Dân làng gặp tôi cũng phê bình:

"Làng chúng tôi không có kiểu cán bộ cách mạng lẳng lơ như vậy!".

Tô Hoài thủng thẳng với nụ cười hóm hỉnh thường trực, đôi mắt nheo lại càng tinh quái hơn:

- Ấy! Tự truyện và hồi ký đều ở 3 cuốn đó! Tác giả cũng phải được ký thác một chút vào nhân vật chứ! Cách mạng thì vẫn cách mạng! Lẳng lơ thì vẫn lẳng lơ! Cát bụi chân ai bị cấm, lại được ra, lại Chiều chiều Tôi hơi ngạc nhiên, khi Tô Hoài cho biết: nhân vật Hai Tâm là ký thác con người tác giả Tô Hoài.

Tôi nhớ đến nhận định về nhà văn Tô Hoài của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh: nhất là sau 1986, (Tô Hoài) mới thực

sự là Tô Hoài với Chiều chiều, Cát bụi chân ai, Ba người khác, Giấc mơ ông thợ dìu

Rồi trong Từ điển Văn học (bộ mới, 2004), mục từ Tô Hoài được ghi nhận: Tô Hoài biết dựng lên những mặt thật

và giả, mặt phải và trái, mặt tưởng chừng đúng mà lại sai và ngược lại, tưởng chừng sai mà lại đúng trong mỗi sự việc và con người sống giữa những năm ngổn ngang, phức tạp với bao nhiêu là chuyện suốt ba thập kỷ đằng đẵng ấy!" (Nguyễn Văn Long - Nguyễn Huệ Chi)

Cuốn sách bộ ba này gắn bó thật chặt chẽ với nội dung lịch sử cách mạng của thành phố.

Trang 4

Từ chuyện nhỏ đến… chuyện nhỏ

Vui chuyện, nhà văn ôn lại cả thời kỳ cụ làm Giám đốc NXB Văn học giai đoạn đầu tiên (2 Phó giám đốc Đoàn Giỏi

và Hoàng Cầm), cụ bị coi là hữu khuynh khi ứng tiền cho Nguyễn Bính để in lại Nước giếng thơi, ứng tiền cho nhà báo Trương Uyên (nhà báo sống trong Hà Nội tạm chiếm hay viết tản văn kiểu nhàn tản như Nguyễn Tuân) để ông này viết sách về Hà Nội Sau, ông Trương Uyên vẫn viết cho Hà Nội mới ký tên khác.

Nhà văn Tô Hoài nhiều năm làm Bí thư Đảng ủy Hội Nhà văn (trong khi Hà Huy Giáp làm Bí thư Đảng đoàn) cùng với thời kỳ đánh bạn với giới nhà văn trước cách mạng nên ông hiểu giới này từng người từ chân tơ kẽ tóc Khi tôi

kể, vì sưu tầm tư liệu viết về cụ Nam Sơn, đồng sáng lập Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương mà tôi được biết: nhà văn Nhất Linh tức Nguyễn Tường Tam đã đỗ đầu trong kỳ thi vào Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ngay

từ khóa đầu tiên, thì cụ bổ sung thêm: Đúng! Nguyễn Tường Tam còn ký tên Đông Sơn, minh họa cho các báo Phong Hóa, Ngày nay Cụ còn cho biết: Quang Dũng hồi lãng du ở Quảng Châu, họp ở Liễu Châu với cánh Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam (Việt Nam độc lập đồng minh hội) mê Nguyễn Tường Tam lắm! Sau thấy họ Nguyễn chỉ uống rượu khỏe, ông chán, về đến Hà Nội là bỏ hẳn đám này về Sơn Tây học trường võ bị của ta Khi tôi khen Phùng Cung sau khi được tự do, có tập thơ Xem đêm rất hay, nhờ vậy mà còn lại được tên tuổi Phùng Cung, chứ Con ngựa già chúa Trịnh thì người đọc quên ngay Cụ bổ sung: Không phải cậu ấy viết sau khi bị tù, mà ngay trước khi bị , Cung đã bảo tôi: Em sẽ viết cái Dạ ký Cứ thế, ông già tuổi 90 nhớ chuyện gì cũng rất thấu đáo, nhớ từng chi tiết

Tôi xuýt xoa nhìn những bộ sách tái bản và bản thảo dự kiến tái bản: "Trời! Có lẽ cụ chẳng cần viết gì nữa, chỉ tổ chức xếp sắp, tái bản những tác phẩm đã viết, hoặc làm các tuyển tập là đủ tiêu hết quãng thời gian còn lại ".

Cụ bảo: "Ấy chết! Còn sống còn phải viết chứ! Tôi đang định viết cuốn tiểu thuyết về thời bao cấp, lắm điều thú vị lắm! Tôi có 7 năm làm tổ trưởng dân phố ở Đoàn Nhữ Hài (1965 - 1972) mà!” Cụ chỉ vào một chồng tiểu thuyết dịch

mà đặt trên đầu là cuốn Đôn Kihôtê của Xécvăngtét, cuốn tiểu thuyết được một tổ chức quốc tế bình là cuốn sách hay nhất mọi thời đại Trước khi bắt tay vào cuốn đó, tôi phải nghiên cứu xem thiên hạ dùng những võ gì, hoặc để tránh người, hoặc để học người ”

Tôi nhớ có lần kể với cụ cuộc hội thảo văn ở Hải Phòng, có nhiều tác giả nói phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa không đủ để các nhà văn sáng tạo và dẫn chứng tác phẩm này, tác giả hoàn toàn

“bịa” ra truyện Nhà văn Tô Hoài cười: Ông Xécvăngtét có được Đôn Kihôtê cũng nhờ làm nghề thu thuế đi khắp đất nước, ông Cao Hành Kiện có Linh Sơn cũng nhờ chuyến về thăm vùng phía Bắc Trung Hoa Có ngồi một chỗ mà bịa được đâu! Hiện thực bao giờ chẳng là cái gốc của đời sống.

Rõ ràng là cả đời văn của Tô Hoài đều bám rất sát những chuyện đời thường Qua việc thường, người thường, chuyện vặt vãnh đời thường mà tìm ra cái lạ, cái mới của đời sống, của văn học Tự ông cũng luôn tạo điều kiện để

Trang 5

mình được dấn sâu thêm vào đời sống, làm cán bộ đường phố, làm cán bộ cải cách ruộng đất, hết tổng kết cải cách

ở Thái Bình, Thanh Hóa lại về làm đội phó phụ trách tòa án ở Hải Dương

Nay, cụ chọn căn buồng làm việc yên tĩnh, khi đóng cửa thì kín bưng như cái lô cốt, nhưng chỉ cần đẩy nhẹ cánh cửa sổ phía sau: bên ngoài đã là một con phố nhỏ, bên kia đường có cái quán nước, có mấy công nhân xây dựng lấm láp vôi vữa đang tranh luận sôi nổi Đúng là cụ vẫn đặt bàn viết giữa cuộc đời như Vương Trí Nhàn đã viết

ở Sài Gòn ông tá túc tại nhà một người bạn trên đường Võ Văn Tần Cho đến khi qua đời ở tuổi 65 (1989), ông vẫn chưa có một mái nhà riêng Đoàn Giỏi là con đẻ và là kết tinh của nền văn hoá phương Nam, ông

đã hiến trọn của cải vật chất và tinh thần của mình cho những người dân phương Nam khẳng khái khai phá, sáng tạo!

Để có được một miền đất phương Nam trù phú với những cánh đồng thẳng cánh cò bay, những cánh chim tung trời, tiếng vó ngựa reo vui trên đường làng, tiếng mái chèo trên sông nước… chúng ta không thể quên được công lao to lớn của ông cha ta hơn 300 năm về trước xuôi thuyền vô phương Nam đi mở đất – qua bao cuộc bể dâu, qua bao cuộc đổi thay, qua bao gian khổ hy sinh với một tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu quê hương mãnh liệt Không biết tự bao giờ những câu hò, điệu lý đã đi sâu và in đậm trong từng tấc đất, từng con người và từng mái nhà, từng rặng cây… để hôm nay chúng ta được kế thừa một tài sản âm nhạc vô giá mang đậm dấu ấn của miền sông nước, cái nôi của các ngón đờn tài tử cải lương Nhà văn Đoàn Giỏi và gia đình

Chúng ta gặp nhà văn Đoàn Giỏi ở rất nhiều nơi: trong trang sách giáo khoa, trong ngôi nhà dấu yêu nhỏ bé Nụ cười của ông vẫn còn tươi nguyên bên bàn thờ còn nghi ngút khói hương Chúng ta còn gặp ông bên cạnh các bạn văn một thời trong những tấm ảnh đã ngả màu, và cuối cùng là ở nghĩa trang nơi duy nhất mà ông không còn phải bận rộn với những tác phẩm văn học Dù bất cứ ở đâu, ông cũng được đồng nghiệp, bạn bè, độc giả thương mến Và ai từng tiếp xúc với ông đều có chung cảm giác: Nhớ nhà văn Đoàn Giỏi

Nhà văn biến miền quê riêng thành miền quê chung

Bìa sách “Đất rừng phương Nam”

Trong tập tiểu luận - phê bình “Tiếng vọng những mùa qua” của Nguyễn Thị Thanh Xuân (NXB Trẻ, 2004) nhận định về tác giả Đất rừng phương Nam: “Có mảnh đất sinh ra những nhà văn, và ngược lại, có nhà văn từ trang viết đã biến miền quê riêng của mình thành miền quê chung thân thuộc trong tâm tưởng bao người Với Đoàn Giỏi, tôi nghĩ rằng ông đã đón nhận được cái hạnh phúc đó Ông đã đem đến cho bạn đọc cả nước những hiểu biết và tình cảm về một vùng đất mà trước đó xa ngái, hoang sơ trong hình dung của mọi người Ông đã xây dựng những nhân vật lòng đầy nghĩa khí mà tinh tế và giàu chất văn hóa " (Đoàn Giỏi, đất và rừng phương Nam)

TS Phạm Văn Tình trong bài “Mái đình - nét đẹp trong hồn quê Việt Nam” viết: "Nhà văn Đoàn Giỏi, trong bài tùy bút “Măng tầm vông” đã có những dòng thật cảm động, mô tả tâm trạng của người con miền Nam tập kết ra Bắc, ngồi trên thuyền nhìn lại xóm làng của mình lần cuối: “Tôi đứng mãi trên boong, chờ đợi phút qua ngang nhà Làng tôi, xanh ngắt những tàu dừa, tàu chuối Mái đình cháy hơn một nửa, nhô ra giữa rặng cây Bờ tầm vông thấp thoáng, ngọn tầm vông hoe vàng trong ánh nắng một chiều thu"

“Mái đình cháy hơn một nửa" - vết tích của chiến tranh tàn phá, như một nỗi đau gieo giữa lòng nhà văn, một người con sắp tạm rời xa xứ sở Đấy là nỗi đau đau đáu của dân tộc bao nhiêu năm Đó là một mảnh

Trang 6

hồn quê, làm nên một nét đẹp của xóm làng Việt Nam, từ lâu đã in vào tâm khảm mỗi con người và toả sáng trong những áng thơ văn

Đoàn Giỏi

Tiểu sử

Đoàn Giỏi sinh ở quê tại thị xã Mỹ Tho, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc xã Tân Hiệp, huyện Châu Thành,

tỉnh Tiền Giang), trong một gia đình địa chủ Ông từng theo học tại trường Mỹ thuật Gia Định trong những năm 1939-1940 Khi Cách mạng tháng Tám thành công và toàn quốc kháng chiến

bùng nổ, gia đình ông đã tự nguyện hiến toàn bộ nhà cửa, ruộng đất cho chính quyền Việt Minh

Trong những năm Việt Nam chống Pháp, Đoàn Giỏi công tác trong ngành an ninh, rồi làm công tác thông tin, văn nghệ, từng giữ chức Phó trưởng Ty thông tin Rạch Giá (1949) Từ năm 1949 đến năm 1954, ông công tác tại Chi hội Văn nghệ Nam Bộ, viết bài cho tạp chí Lá Lúa, rồi tạp chí Văn nghệ Miền Nam

Sau 1954, ông tập kết ra Bắc, đến năm 1955 ông chuyển sang sáng tác và biên tập sách báo, công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, rồi Hội Văn nghệ Việt Nam Ông là ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa I, II, III Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam Đoàn Giỏi còn

có các bút danh khác: Nguyễn Hoài, Nguyễn Phú Lễ, Huyền Tư

Ngoài truyện, truyện ngắn, ký, Đoàn Giỏi còn sáng tác thơ Đất rừng phương Nam là truyện viết cho lứa tuổi thiếu nhi rất thành công và nổi tiếng của ông Truyện đã được dịch ra nhiều tiếng nước ngoài, tái bản nhiều lần, được dựng thành phim và in trong Tủ Sách Vàng của Nhà xuất bản Kim Đồng

Ông mất ngày 2 tháng 4 năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh ung thư Ngày 7 tháng 4 năm 2000, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đặt tên ông cho một phố thuộc Quận Tân Phú

Thành tựu nghệ thuật

Đoàn Giỏi là nhà văn đã biến đất rừng phương Nam trở thành thân thuộc, đáng yêu đối với độc giả, không chỉ là độc giả nhỏ tuổi Những trang văn của ông thấm đượm hơi thở của sông nước, rừng cây, những câu chuyện cả thực cả kỳ bí của thiên nhiên Nam bộ hoang sơ và truyền được hơi thở ấy cho độc giả Có được điều đó không những là nhờ tình yêu của ông đối với miền đất Nam

bộ quê hương mà còn ở óc quan sát tỷ mỷ, tinh tế, lối văn kể chuyện hấp dẫn trong tác phẩm của mình

Ngoài lề

Gia đình Đoàn Giỏi đã hiến toàn bộ nhà cửa, ruộng đất cho chính phủ và, trụ sở của Uỷ ban nhân

dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang hiện nay chính là nhà của gia đình ông Sau khi Việt nam

thống nhất năm 1975 Đoàn Giỏi đi lại rất nhiều giữa hai miền Nam, Bắc nhưng không có nhà riêng, khi ở Hà Nội ông thường ở Hội nhà văn Việt Nam và khi vào Nam ở nhờ nhà bạn bè

Trong giới văn học có kể về giai thoại Đoàn Giỏi viết "Đất rừng phương Nam" Tháng 2 năm

1957, Đoàn Giỏi nhận được đặt hàng của Hội văn nghệ Việt Nam viết một tác phẩm về thiếu nhi Nam Bộ, thời gian viết trong 4 tháng Tuy nhiên, mãi đến tháng 5, khi nhà văn Nguyễn Huy

Trang 7

Tưởng nhắc lại yêu cầu này và nhấn mạnh thời điểm ra đời của Nhà xuất bản Kim Đồng, Đoàn Giỏi mới bắt đầu chấp bút Chỉ trong một tháng, ông đã kịp hoàn tất tác phẩm đúng thời gian dự kiến Tác phẩm được xuất bản ngay thời điểm ra đời của Nhà xuất bản Kim Đồng và đã thành công vượt mức mong đợi "Đất rừng phương Nam" được tái bản rất nhiều lần và được dịch và xuất bản ở Liên Xô, Hungari, Trung Quốc, Đức, Cuba

Tương truyền, các nhà văn Nam Bộ tập kết, cùng cư trú tại nhà số 19 Tôn Đản, Hà Nội đã có câu đối giễu Đoàn Giỏi: "Ở Trung Quốc, có ông Tào Ngu mà giỏi; Ở Việt Nam có ông Đoàn Giỏi mà ngu" Tuy nhiên, đây chỉ là câu đối vui, không hàm ý chỉ trích mà ngầm so sánh Đoàn Giỏi có vị trí tương tự như nhà viết kịch Trung Quốc Tào Ngu

TẠ DUY ANH

Tiểu sử:

Tên thật: Tạ Viết Dũng.

Sinh năm: 1959

Nơi sinh: Chương Mỹ - Hà Tây.

Bút danh: Tạ Duy Anh, Lão Tạ, Bình Tâm.

Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết.

Nhà văn Tạ Duy Anh: “Cách dạy văn đang lạc hậu bậc nhất thế giới”

(TT&VH) - Ban đầu khi nghe chúng tôi “alô” xin được hỏi chuyện về văn chương nhà trường cũng như tác phẩm Bức tranh của em gái tôi, nhà văn Tạ Duy Anh “viện cớ” đã, đang “ở ẩn” nên không muốn nói gì thêm về văn chương, đặc biệt là văn chương trong nhà trường Nhưng rồi, đề tài giáo dục như hoặc đã chạm vào nỗi niềm của một con người tâm huyết, trách nhiệm với thế hệ tương lại của đất nước nên ông lại “lai rai với chúng tôi về những vấn đề ấy không biết chán!

Trang 8

Đang biến trẻ con thành những ông già!

Nhà văn Tạ Duy Anh tâm sự: “Sau khi viết khá nhiều cho trẻ con thì tôi nhận thấy một điều, ấy là thế giới trẻ con phức tạp vô cùng, nhưng cũng vô cùng công minh (hơn thế giới người lớn rất nhiều) Nó phán xét tất cả mọi thứ bằng trực quan nhạy cảm của nó, mà dường như trực quan ấy mất dần khi chúng thành người lớn Một đứa trẻ chỉ vài tháng tuổi có thể hớn hở với người này nhưng lại khóc thét lên với người khác Đó như là sự nhạy cảm trời đất ban tặng Vì vậy, không thể yêu giả vờ với trẻ Nó sẽ phản ứng rất chuẩn xác thậm chí làm cho chúng ta phát ngượng”.

Khi được hỏi về chất lượng của nền giáo dục nước mình hiện nay, ông thẳng thắn nói: “Khô cứng, áp đặt,

dù SGK hiện nay đã khắc phục được một vài nhược điểm, đang có xu hướng cho trẻ con tiếp cận với những giá trị mang tính nhân bản hơn và đã tiến gần hơn tới cái bản chất giáo dục - giáo dục về lòng thiện cho con người - đặt cơ sở để từ đó làm nảy sinh những tình cảm tốt đẹp hơn.

Chúng ta cũng nên biết và nên nhớ rằng tâm hồn đứa trẻ là nơi mọi thứ có thể sinh ra thì giáo dục ban đầu phải làm sao hạn chế tối đa sự nảy ra “những cái cây có hại”, mà cần tạo ra những cây đẹp, khu vườn đẹp Bạn sẽ rất buồn nếu như thấy một đứa trẻ bước ra khỏi lớp học với một bộ mặt buồn rầu, mệt mỏi, già nua

Tôi không nói giáo dục nước mình làm hại đến trẻ mà chỉ thấy rằng nền giáo dục hiện nay đang biến trẻ con thành những ông già sớm và những ông già khó tính, mất đi tính hồn nhiên và sớm nghi ngờ tương lai, thay thế giới mơ mộng thần tiên của trẻ bằng thế giới trần trụi mà nổi bật lên là những hành động vụ lợi của người lớn Khi trong cặp của trẻ bao gồm cả bảng cửu chương, những kiến thức lịch sử hào hùng của dân tộc, lẫn những tờ đơn viết sền sẵn của cô giáo để dạy thêm và tiền bạc…thì làm sao không khiến chúng trở nên nghi kỵ thế giới chung quanh, chống lại những điều đó bằng việc khẳng định mình và điều

đó rất nguy hiểm Nếu cứ như vậy mãi thì người ta sẽ không còn tin vào nền giáo dục quốc gia mà sẽ rút lui về giáo dục gia đình ”

Bắt hàng triệu học sinh hiểu như nhau về một tác phẩm

Nhà văn Tạ Duy Anh cho rằng cách dạy văn của Việt Nam xứng đáng xếp vào nhóm nước lạc hậu nhất thế giới, bắt hàng triệu người hiểu như nhau về một tác phẩm Hãy nghe ông giải thích: “Ngay cả triệu viên gạch cùng được làm ra từ một khuôn cũng khác nhau huống chi một triệu con người… Một đứa trẻ ở nông thôn đọc Chí Phèo chắc chắn sẽ có những cảm nhận khác với một đứa trẻ ở thành phố Làm sao giống nhau được! Vậy mà một tác phẩm văn chương bắt người ta hiểu giống nhau bằng cách ra những đáp án

Đó là một sự xúc phạm với tác giả nói riêng và sáng tạo nói chung! Một triệu người đọc phải là một triệu cảm nhận khác nhau bên cạnh những giá trị chung Mà những giá trị chung ấy là phần rất nhỏ thôi, đôi khi

có những ý nghĩ rất tinh vi mà có thể thay đổi được cả cuộc đời

Nhà văn Tạ Duy Anh qua nét hí họa của họa sĩ

Khoái

Trang 9

Một điểm nữa là, giáo dục của chúng ta lại khích lệ những đứa trẻ

học thuộc lòng Đó chưa phải là phương pháp hay, tốt mà cần

khích lệ học sinh khám phá, khuyến khích tính độc lập, sáng tạo

Trước khi tiễn chúng tôi ra về, nhà văn Tạ Duy anh “chốt” lại ý kiến của mình về việc tuyển chọn các tác phẩm văn học vào SGK: “Văn chương không thiếu tác phẩm hay để đưa vào SGK Bao giờ dám đưa những tác phẩm, chẳng hạn một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, tác phẩm của Bảo Ninh hoặc như

“Bước qua lời nguyền”(*) vào SGK dạy một cách đàng hoàng Tôi không tự “đề cử” cho tác phẩm của mình hay tự đề cao mình, nhưng đúng là có những tác phẩm rất hay, đáng in vào SGK đã, đang bị bỏ quên”

(*)“Bước qua lời nguyền” – tên một truyện ngắn của nhà văn Tạ Duy Anh.

Yên Khương (ghi)

Võ Quảng

Tiểu sử

Tên khai sinh: Võ Quảng, sinh ngày 1.3.1920 Quê ở Đại Hòa huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam Hiện nghỉ hưu ở Hà Nội Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam Trình độ Đại học Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1965)

* Võ Quảng tham gia cách mạng từ năm 1935, chính thức gia nhập tổ chức Thanh niên Dân chủ ở Huế năm 1939 làm tổ trưởng tổ Thanh niên Phản đế ở Huế Tháng 9 năm 1941 bị Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ Sau đó bị đưa đi quản thúc vô thời hạn ở xã Đại Hòa Năm 1945 làm ủy viên

Tư pháp thành phố Đà Nẵng Sau đó làm Phó Chủ tịch UB Kháng chiến hành chính Đà Nẵng Năm 1947 làm Hội thẩm chính trị (tức là Phó Chánh án) tòa án quân sự miền Nam Việt Nam Từ

1948 đến 1955 làm ủy viên Ban Thiếu niên Nhi đồng Trung ương, đồng thời lần lượt phụ trách Nhà xuất bản Kim Đồng và xưởng phim hoạt hình Năm 1971 về Hội Nhà văn Việt Nam, phụ trách Văn học thiếu nhi

* Tác phẩm đã xuất bản:

Cái Thăng (truyện, 1961);

Chỗ cây đa làng (1964);

Cái Mai (1967);

Những chiếc áo ấm (truyện, 1970);

Quê nội, Tảng sáng (truyện, 1973);

Bài học tốt (truyện, 1975);

Vượn hú (truyện, 1993);

kinh tuyến vĩ tuyến (truyện, 1995);

Gà mái hoa (thơ, 1957);

“Một nhà sư phạm thực sự thì phải biết cách truyền được đam mê, khao khát cho trẻ Trước đây tôi từng được học cô giáo như thế Về mặt kiến thức, có thể sau này tôi nhận ra ở cô quá nhiều khiếm khuyết nhưng quan trọng là cô đã tạo dựng được lòng tin trong lòng chúng tôi Những khi máy bay trên trời bay vù vù mà có cô giáo

ở cùng ở dưới hầm thì cảm giác rõ ràng là sẽ không có bất cứ điều gì xảy ra vì có cô bên cạnh Cô như một

“tấm chắn vĩ đại”, một vị thần hộ mệnh không bom đạn nào có thể vượt qua để chạm được vào chúng tôi Đó là sức mạnh của niềm tin” (tâm sự của nhà văn Tạ Duy Anh)

Trang 10

Thấy cái hoa nở (thơ, 1962);

Nắng sớm (thơ, 1965);

Anh Đom đóm (thơ, 1970);

Măng tre (thơ, 1972);

Quả đỏ (thơ, 1980);

ánh nắng sớm (thơ, 1993);

Sơn tinh thủy tinh,

Con 2 (kịch bản phim hoạt hình).

Ngoài ra còn một số biên soạn viết bằng tiếng Pháp

Khi giới thiệu quyển truyện “Quê nội” của Võ Quảng người ta bảo tôi: Đây là một loại Tôm Xoyơ

của Việt Nam Đã từ lâu tôi rất thích tác phẩm Tôm Xoyơ Nhưng sau khi làm quen với tác phẩm của Võ Quảng tôi cảm thấy mình còn thích các nhân vật Cục và Cù Lao hơn

Võ Quảng đã đặt câu chuyện xảy ra tại chính quê hương mình, ấy là làng Hoà Phước, tỉnh Quảng Nam, một tỉnh nằm giữa nước Việt Nam Ở đây các sự kiện nhỏ đặt liền nhau, khăng khít nhau tạo nên câu chuyện Câu chuyện bắt đầu sau Cách mạng tháng Tám, sau ngày lễ tuyên bố độc lập của nước Việt Nam năm 1945, một thời kì mà mãi đến nay vẫn còn để lại dấu tích trong nền văn học Việt Nam

Tác phẩm phản ánh tâm trạng phấn khởi có phần hơi ngây thơ của dân làng, lòng tin tưởng kì diệu của họ vào tương lai đất nước Tôi đã có dịp hỏi vài người từng sống trong thời kì ấy, khi họ còn trẻ Ở họ đều còn đọng lại một niềm thương nhớ thắm thiết

Bạn đọc người Pháp có thể tìm thấy gì qua các hình tượng ở đây? Có thể ở một số người sau bốn mươi năm, những nỗi đau xót nảy sinh từ cuộc chiến tranh ở Đông Dương chưa xoá hết được Trong truyện, người Pháp hiện diện như kẻ áp bức, như những kẻ thù Tác giả không nhào nặn lại lịch sử, nhưng ở đây trong mọi thể hiện đều có mức độ Có một tí gì mỉa mai nhẹ nhàng và thân ái trong khi tác giả nhắc lại bài diễn thuyết có phần khoa trương của một cán bộ cơ sở Nhưng chúng

ta không thể nào nhầm, vì đây không phải là những lời trống rỗng Chú Năm Mùi không hề thủ đoạn, không đầu cơ chính trị Chú đấu tranh cho cách mạng, chú hiểu rõ bà con trong làng xóm của mình Những lời nói của chú không phải là những câu châm ngôn sách vở, chú cũng không phải là kẻ khoe khoang Trái lại, trong nhiều trường hợp chú tỏ ra biết nhiều kinh nghiệm, có những hiểu biết sâu sắc về cuộc sống và con người Ngoài ra chú không phải không biết hóm hỉnh

Ở Việt Nam, Võ Quảng được công nhận là một trong những nhà văn ưu tú viết cho thiếu nhi Mặc

dù sự khan hiếm về giấy đã hạn chế gay gắt số lượng bản in, tác phẩm của Võ Quảng được tái bản nhiều lần và nhanh chóng được tiêu thụ

Trước kia trong thời kì thực dân Pháp đô hộ, ông hoạt động cách mạng chống Pháp Năm 1941 ông bị thực dân Pháp bắt giam Sau Cách mạng tháng Tám, ông phụ trách chính quyền Đà Nẵng, phụ trách việc xét xử ở các toà án miền Trung Từ năm 1957, ông chăm lo công việc giáo dục thiếu nhi bằng các phương tiện văn học nghệ thuật

Sự đồng cảm về ngôn ngữ có phần hạn chế nhưng bản dịch ít nhiều cũng gợi lên được phong cảnh, những công việc làm ăn hàng ngày ở một vùng quê Việt Nam Chúng ta hi vọng tài năng của tác giả trong việc sáng tạo những hình tượng văn học, trong việc tạo ra sự sống động của các nhân vật Không phải không được cảm nhận ở đây Làm sao người ta có thể quên được quang cảnh những ngọn đèn trôi dọc bờ rào của những người đi học lớp xoá nạn mù chữ trong đêm tối, quên được những con gà trống ở Hoà Phước, con trâu Bỉnh bước giữa ngàn sao, quên bà Hiến… Chúng ta hi vọng tính chất kín đáo rất mực tinh vi của những tình cảm bộc lộ trong câu văn được truyền qua bạn đọc Chú Hai Quân bị lí trưởng đánh đòn buộc phải bỏ làng ra đi Trước khi đi chú sửa lại tao nôi của đứa bé gái con chú Những lời từ biệt của Cục và Cù lao được thể hiện qua tiếng hát của các cô lái đò xuôi Hội An Lần chia tay thứ hai trái lại là một sự rứt ra đột ngột vào lúc bến đò Hoà Phước nhốn nháo giữa chiến tranh Và câu chuyện của Cục và Cù Lao cũng kết thúc ở đấy

Các độc giả phương Tây có lẽ sẽ ngạc nhiên trước bao nhiêu khía cạnh dân tộc của người Việt Nam Chẳng hạn sự say mê xem hát tuồng của dân làng và vai trò quan trọng của sân khấu trong đời sống của họ, cảnh chạy trốn chiến tranh hay chạy trốn đói nghèo kéo dài suốt lịch sử đất nước Việt Nam qua bao thế kỉ đã từng tạo nguồn cảm hứng cho bao nhiêu bài hát dân gian

Trang 11

Về phần tôi, tôi mong muốn trước hết được Cục và Cù Lao đưa lại cho chúng ta một sự hiểu biết nhiều hơn về một nước Việt Nam hầu như còn xa lạ đối với người Pháp.

1987

Võ Quảng - những điều kì lạ thú vị

Nhà văn trẻ Phong Điệp đã rất có lý khi nói rằng “cuộc đời ông (nhà thơ nhà văn Võ Quảng) là một cuộc đời

kỳ lạ đầy thú vị ” Từ ý kiến này, và cũng nhân ngày sinh nhật ông 1/3, chúng tôi xin thử nêu một vài điều thú

vị và kỳ lạ trong cuộc đời cũng như trong văn chương ông Điều thú vị đầu tiên là Võ Quảng gần như không làm thơ tình mà bạn đọc vẫn thích, ông là nghịch lý thú vị so với Xuân Diệu vốn được coi là ông hoàng tình trên thi đàn Việt Nam.

Sinh thời, Xuân Diệu nói với Võ Quảng “Chúng mình cùng đi đến nơi về đến chốn” Thơ vốn có cả vạn ngả đường, nhưng đều hướng về “chốn” Chân Thiện Mỹ và cả Võ Quảng cũng như Xuân Diệu đều là những tài thơ luôn tươi trẻ

Trong khi các nhà thơ khác lấy việc làm thơ cho người lớn là chính và thỉnh thoảng mới viết cho thiếu nhi như Huy

Cận có “Đôi bàn tay em”, Tú Mỡ có thơ ông cháu… Thì Võ Quảng lại dành phần lớn tâm huyết, tài năng và trái tim

cho thơ văn thiếu nhi và chỉ thỉnh thoảng ông mới viết cho người lớn Đó cũng là sự lạ độc đáo khác đời lắm nơi ông Thơ và tuổi thơ vốn là hai khái niệm gần nhau, tuổi thơ là giai đoạn đẹp và nên thơ nhất của đời người Thật thú vị khi Võ Quảng dâng hiến cả đời cho tuổi thơ và Thơ Cuộc đời ông vì vậy cũng đẹp như một bài thơ Võ Quảng thường sáng tác vào tinh mơ, khi trẻ còn đang ngủ với bao giấc mơ đẹp thì người thơ Võ Quảng đã dậy để biến mơ ước làm được thơ hay cho thiếu nhi thành hiện thực Làm thơ cho thiếu nhi cũng là giấc mơ thú vị và kỳ lạ trong đời ông.

Võ Quảng coi việc làm thơ cho trẻ là công việc giản dị Một việc bé nhỏ thôi nhưng cần thiết, làm thơ cho con trẻ là định vị cái đẹp thơ ca trong hồn trẻ, tạo nên tình yêu cái đẹp nơi con trẻ, góp phần hoàn thiện tâm hồn cho các em, giúp các em lớn lên và hoàn thiện chính mình Cái lạ ở đây là việc này được ông coi là nhỏ, nhưng sức nặng và tầm quan trọng của nó lại không hề nhỏ Đó cũng là cái thuật để ông có thể làm được việc lớn, việc khó Cái thuật đó nằm ở cách nhìn biết hoá giải cái lớn, cái khó, cái phức tạp thành cái đơn giản, khả thi, đồng thời biết luôn coi trọng

ý nghĩa của cái cái nhỏ trong nghệ thuật Mọi cái lớn đều bắt đầu từ những cái nhỏ Khởi đầu của nhà thơ lớn là một trẻ thơ Các tác phẩm văn chương lớn đều được hình thành từ những con chữ bé nhỏ Những bản giao hưởng lớn đều vang lên từ những nốt nhạc xinh xinh Những kiệt tác hội họa được hình thành tư vô vàn những vệt, những chấm màu nho nhỏ Đó là điều kỳ lạ thú vị trong cách nhìn và ứng xử khiêm nhường của ông

Cuộc đời Võ Quảng cũng là một cuộc đời không hề bình thường và đơn giản Ông sinh ra trong một giai đoạn lịch sử Việt Nam đầy sóng gió, nó buộc ông phải sớm gắn bó với hoạt động Cách mạng Đặc biệt trong đời mình Võ Quảng

đã làm hai cuộc phiêu lưu Cuộc phiêu lưu đầu tiên là bỏ con đường lãnh đạo đang hanh thông để chuyển sang làm văn học vì ông yêu văn học Cuộc phiêu lưu thứ hai là gác việc sáng tác cho người lớn cũng đang đầy hứa hẹn để chuyển sang viết cho thiếu nhi vì tình yêu con trẻ và cũng vì nhận ra sự thiếu vắng của văn học thiếu nhi, đặc biệt là thơ thiếu nhi trong văn học Việt Nam Hai cuộc phiêu lưu đều là vì tình yêu thơ văn và trẻ thơ, nó kỳ lạ không kém gì chuyện phiêu lưu mạo hiểm của phương Tây, nhưng lại cũng phảng phất bóng dáng của triết cổ phương Đông ở chỗ

đó là tình yêu hỉ xả vị kỷ rất gần với triết lý của đạo Phật Về ông nhà thơ Vũ Ngọc Bình viết “ Võ Quảng lành như

Phật/Khoẻ đôi tay văn thơ/”Măng tre” và “Quê nội”/Như thật mà như mơ” Từ truyện ngắn đầu tay của mình là “Cái lỗ cửa”, Võ Quảng đã rất thành công và được dịch sang tiếng Pháp, trong thơ người lớn ông cũng có không ít những

câu hay như “Tôi đi/Từ lúc tập ném con khăng ở sân đình/Cho đến lúac mài kiếm bạch đầu quân/Giữa lòng mẹ

hiền/Giữa những bàn tay mở ra như chớp chớp” (Tôi đi), nhưng thơ và văn cho tuổi thơ mới là khu vực mà ông

chuyên tâm sáng tạo nhất, tại đây ông có nhiều những câu thơ hay, những bài thơ hay, những trang văn hay, những truyện và tiểu thuyết hay Người duy mỹ và kỹ tính bậc nhất trong văn chương Vịệt Nam là nhà văn Nguyễn Tuân

viết: “Võ Quảng bắt đầu nói chuyện với độc giả bằng tập thơ “Măng tre”, thơ măng là những bài thơ đẹp như tranh

tĩnh vật Tranh vẽ những hình dáng tĩnh nhưng lại sống động, và Võ Quảng đã thổi vào đấy cái tâm hồn trong trắng của mình” Còn Nguyễn Huy Tưởng sau khi đọc truyện “Cái thăng” in lần đầu trên “Văn nghệ” vào năm 1956 thì từ

đấy đã nể trọng tài văn trẻ Võ Quảng kém ông tám tuổi

Đến nay, khi Việt Nam vào WTO với công cuộc mở cửa và hội nhập thế giới, thì kỳ lạ thay trước đó vào những năm

70 của thế kỷ trước, Võ Quảng đã có bài thơ “Mời vào” như tiếng gõ cửa đánh động về vấn đề này thông qua các

nhân vật đồng thoại Thật lạ từ lúc đó người thơ đã nghe được tiếng gõ cửa của tưởng lai, của một thời đại mở cửa

hội nhập tất yếu sẽ đến với dân tộc Việt Nam “Mời vào” là bài thơ dược trẻ em yêu thích và nổi tiếng nhất của Võ Quảng “-Côc, cốc, cốc!/-Ai gọi đó?/-Tôi là thỏ/-Nếu là Thỏ/Cho xem tai / -Cốc, cốc, cốc! /-Ai gọi đó?/-Tôi là Nai/-Nếu

là Nai/Cho xem gạc / -Côc, cốc, cốc!/-Ai gọi đó?/-Tôi là Vạc/-Nếu là Vạc/Cho xem chân / “-Côc, cốc, cốc!/-Ai gọi đó?/Tôi là Gió/-Nếu là Gió/Xin mời vào!/Kiễng chân cao/Trèo qua cửa/Cùng soạn sửa/Đón trăng lên/Quạt mát thêm/Hơi biển cả/Reo hoa lá/Đẩy buồm thuyền…/Đi khắp miền/Làm việc tốt!” Bài thơ vui, sinh động ngộ nghĩnh, nó

đã được các nhạc sĩ phổ nhạc, được trẻ dựng thành hoạt cảnh, thành trò chơi hàng ngày Với trẻ ở lửa tuổi nhỏ đó

là bài học nhận diện, phát hiện đặc thù của mỗi con vật, mỗi hiện tượng trong cuộc sống Với các em ở tuổi lớn hơn

đó là bài học về tình bạn, nhu cầu muôn thuở của con trẻ Còn với người lớn tiếng gõ cửa cốc cốc cốc là biểu tượng cho sự quảng giao tình bè bạn, của giao lưu cộng đồng, đó là tiếng của thời đại thế giới hội nhập mà Võ Quảng đã sớm cảm nhận và thể hiện trong thi phẩm của mình Còn với các nghệ sĩ, bài thơ lại mang hàm nghĩa khác, nó là khát vọng gõ cửa lâu đài nghệ thuật và cái quan trọng nhất là mỗi người bước vào đó phải có được một phong cách nghệ thuật riêng độc đáo… Đó cũng là điều thú vị hữu ích với các bạn văn thơ trẻ Chỉ qua tiếng gõ cửa giản dị đó, thật kỳ lạ ta chợt nhận ra biết bao ý nghĩa khác nhau, bất tận như cuộc sống luôn không ngừng biến đổi vậy Võ

Trang 12

Quảng đã đi trước thời đại, 10 năm sau khi bài thơ ra đời đất nước bước vào đối mới, hơn30 năm sau đất nước mở

cửa hội nhập Thi phẩm “Mời vào” kỳ lạ như bài đồng dao mang tính tiên tri trong một thời đại đầy biến động Cái

điều kỳ lạ đó thường xảy ra khi người nghệ sĩ biết nhìn bằng cái tâm trong sáng và trái tim yêu thương của mình

Tại Hội thơ 2009 lần đầu tiên thơ thiếu nhi góp mặt với chương trình “Thơ với thiếu nhi” tạo nên sự viên mãn và

tương lai mới cho thơ ca Việt Nam Tại đây thơ Võ Quảng được các các em đọc, các em hát và các em vẽ lên Trẻ

em hát và múa theo bài hát được phổ nhạc từ bài thơ “Mời vào” của ông, dưới sự lãnh đạo của họa sĩ Nguyễn Việt

Hoà lớp học mang tên Lớp vẽ Cốc! Cốc! Cốc! được thành lập và đã đem những bức tranh trẻ em vẽ trưng bày tại Hội thơ này như một họat động trong khuôn khổ ngày thơ Và thơ Võ Quảng thật hay khi nó là cái hồn cho tác phẩm của các họa sĩ nhí và tiếng thơ của Võ Quảng đã ngân lên những giai điệu kỳ lạ bằng đường nét và màu sắc thật hồn nhiên tươi mới Đó cũng là một tiếng thơ thật kỳ lạ và thú vị của Võ Quảng góp mặt tại Ngày thơ Việt Nam năm

2009 Võ Quảng đến với văn học ở tuổi 35 và với văn học thiếu nhi ông là tác giả vạn sự khởi đầu nan, là tác giả văn học thiếu nhi chuyên nghiệp dầu tiên của Việt Nam, người chuyên tâm viết cho thiếu nhi, dành cả đời viết cho thiếu nhi, viết hay và thành công ở cả thơ lẫn văn, ông viết cho thiếu nhi với tính chuyên nghiệp cao, có văn phong độc đáo Hình như trời đất trao gửi cho ông cái sứ mệnh xây dựng nên văn học thiếu nhi Việt Nam, Khi đã cao tuổi ông vẫn chuyên cần viết cho thiếu nhi và vẫn nhận được nhiều thư bạn đọc trẻ gửi tới

Cũng thật thú vị khi ngay trong lĩnh vực lý luận phê bình văn học thiếu nhi Võ Quảng cũng là người đầu tiên góp phần hình thành các quan niệm cơ bản đặc trưng cho văn học thiếu nhi Việt Nam như là chất trong sáng, tươi vui, hóm hỉnh, tính giáo dục, sự phù hợp theo đối tượng lứa tuổi… Ông có nhiều bài viết hay và chuyên sâu về việc làm thơ viết văn cho thiếu nhi, cũng như nhiều bài viết động viên khích lệ các tác giả trẻ viết cho thiếu nhi Đó là những đóng góp bước đầu định hình một nền văn học thiếu nhi Việt Nam thực sự chuyên nghiệp Có một điều cũng rất thú

vị là Võ Quảng còn là người đầu tiên, dưới cái tên Hoàng Huy, dịch kiệt tác Đông Kisốt (Đôn Kihôtê) của Xecvantet sang tiếng Việt cho các em từ năm 1959 Đó là bản dịch phóng tác hợp với thiếu nhi mà vẫn giữ được cái hồn và tiếng cười của nhà văn Tây Ban Nha thiên tài này Thật thú vị là người thơ Võ Quảng hiền lành ít nói, thậm chí sinh

thời ông còn tự coi mình là “chậm chạp, chậm tiến”, nhưng ông đã lặng lẽ làm được rất nhiều việc cho văn học

thiếu nhi và qua đó đóng góp cũng thật nhiều cho văn học Việt Nam

Một lần nữa xin nhắc lại phát hiện thú vị của nhà văn trẻ Phong Điệp “cuộc đời ông (nhà thơ nhà văn Võ Quảng) là

một cuộc đời kỳ lạ đầy thú vị” quả là rất đúng và các bạn văn trẻ, thơ trẻ, đặc biệt là các nhà lý luận phê bình trẻ sẽ

còn mãi tìm được nơi ông biết bao điều thú vị khác nữa Và trong thực tế hôm nay rõ ràng là đã hình thành một cõi thơ văn thiếu nhi sau ông, đó là nhu cầu của thời đại, đó là cả một không gian xiết bao rộng lớn và đầy triển vọng đang chờ đợi những cây bút trẻ tiếp nối.

(Sương Mai)

Nhà thơ Minh Huệ.

Sáng ngày 11/10, căn bệnh nặng đã đưa nhà thơ Minh Huệ, tác giả của bài thơ nổi

tiếng Đêm nay Bác không ngủ về cõi vĩnh hằng Nhà thơ Minh Huệ là người luôn sống mẫu mực, thẳng thắn và rất nguyên tắc.

Trong bài phát biểu của ông Lê Thái Sơn - Chủ tịch Hội Văn nghệ Nghệ An trên đài truyền hình Nghệ An, khi nói lời vĩnh biệt nhà thơ Minh Huệ tối 11/10, có câu: "Nhà thơ Minh Huệ là một người mẫu mực" Tiếp

đó là hình ảnh nhà thơ trên giường bệnh Quanh ông là lãnh đạo Hội và anh chị em văn nghệ sĩ đang đọc thơ cho ông nghe Ông không nói nên lời Ông đưa bàn tay xanh xao khẽ chùi nước mắt Đó là hình ảnh cuối cùng về nhà thơ Minh Huệ được ghi lại.

Nhà thơ Minh Huệ, tên khai sinh là Nguyễn Đức Thái Ông sinh ngày 3/10/1927, quê gốc Bến Thủy, thành phố Vinh Nơi ở hiện nay: phường Quang Trung, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam Tốt nghiệp đại học Văn Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957)

Minh Huệ tham gia Việt Minh (5/1945) và cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Nghệ An (8/1945) Hoạt động tuyên truyền, văn nghệ tuyên huấn, báo chí ở Nghệ An, khu ủy khu Bốn và một số nơi Hội trưởng Hội sáng tác Văn nghệ liên khu IV Trưởng Ban thơ, lý luận, phê bình; Văn học dịch Nhà xuất bản văn học

Ủy viên Ủy ban hành chính kiêm Trưởng ty Văn hóa Nghệ An Chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ Tĩnh Ủy viên

Trang 13

Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam (1984-1991).

Tác phẩm đã xuất bản: Tiếng hát quê hương (thơ, 1959); Đất chiến hào, (thơ, 1970); Mùa xanh đến (thơ,

1972); Đêm nay Bác không ngủ (thơ, 1985); Rừng xưa rừng nay (bút ký, 1962); Ngọn cờ Bến Thủy (truyện

ký, 1974-1979); Người mẹ và mùa xuân (truyện ký, 1981); Phút bi kịch cuối cùng (tiểu thuyết, 1990); Thưởng thức thơ viết về Bác Hồ (tiểu luận, 1992).

Các bút danh: Mai Quốc Minh, Nguyễn Thái

Giải thưởng văn học: Giải nhất Chi hội văn nghệ kháng chiến khu Bốn và Sở Thông tin tuyên truyền khu

Bốn 1954 (thơ Dòng máu Việt Hoa) Giải thưởng Nguyễn Du của Nghệ Tĩnh 1986 (tập thơ Đêm nay Bác không ngủ).

(Theo Việt Báo)

Tố Hữu

Tiểu sử

Tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920–2002) là một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng

Việt Nam Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Nam như ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng bộ trưởng Việt Nam

Ông sinh ngày 4 tháng 10 năm 1920, tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Cha ông là một nhà nho nghèo, không đỗ đạt và phải kiếm sống rất chật vật nhưng lại thích thơ, thích sưu tập ca dao tục ngữ Ông đã dạy Tố Hữu làm thơ cổ Mẹ ông cũng là con của một nhà nho, thuộc nhiều ca dao dân ca Huế và rất thương con Cha mẹ cùng quê hương Huế đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tố Hữu

Mẹ ông mất vào năm ông lên 12 tuổi Năm 13 tuổi, ông vào trường Quốc học (Huế) Tại đây, được trực tiếp tiếp xúc với tư tưởng của Karl Marx, Friedrich Engels, Vladimir Ilyich Lenin,

Maxim Gorky qua sách báo, kết hợp với sự vận động của các đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam bấy giờ (Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu), Nguyễn Kim Thành sớm tiếp cận với

lý tưởng cộng sản Ông gia nhập Đoàn thanh niên và được kết nạp vào Đảng Cộng sản năm 1938.Năm 1946, ông là bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa Cuối 1947, ông lên Việt Bắc làm công tác văn nghệ, tuyên huấn Từ đó, ông được giao những chức vụ quan trọng trong công tác văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo Đảng và nhà nước:

• 1948: Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam;

• 1963: Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam;

• Tại đại hội Đảng lần II (1951): Ủy viên dự khuyết Trung ương; 1955: Ủy viên chính thức;

• Tại đại hội Đảng lần III (1960): vào Ban Bí thư;

• Tại đại hội Đảng lần IV (1976): Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương, Phó Ban Nông nghiệp Trung ương;

• Từ 1980: Ủy viên chính thức Bộ Chính trị;

• 1981: Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, rồi Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng cho tới 1986 Ngoài ra ông còn là Bí thư Ban chấp hành Trung ương

Ngày đăng: 10/09/2013, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w