1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giai thoại về các tác gia văn học việt nam

115 557 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về vấn đề phân loại, trong bài viết Giai thoại - một thể loại văn học dân gian, tác giả Nguyễn Thị Bích Hà đã tạm chia giai thoại thành các bộ phận sau: - Giai thoại văn học - Giai thoạ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



HOÀNG THỊ LAN HƯƠNG

GIAI THOẠI VỀ CÁC TÁC GIA VĂN HỌC

VIỆT NAM

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hằng Phương

THÁI NGUYÊN - NĂM 2016

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: “Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam” là

do bản thân tôi thực hiện Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực Nếu sai

sự thật tôi xin chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Hằng Phương người thầy đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau Đại học, khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Viện Văn học đã giúp em hoàn thành khóa học

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã đọc và chỉ ra những thành công cũng như hạn chế của luận văn

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016

Tác giả

Hoàng Thị Lan Hương

Trang 4

iii

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Đóng góp của luận văn 7

8 Cấu trúc luận văn 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TẾ VÀ CÁC TIÊU CHÍ NHẬN DIỆN THỂ LOẠI 8

1.1 Giai thoại và các tiêu chí nhận diện thể loại 8

1.1.1 Khái niệm giai thoại 8

1.1.2 Các tiêu chí nhận diện thể loại 14

1.2 Vấn đề phân loại giai thoại 27

1.3 Thực tế lưu truyền giai thoại trong đời sống hiện nay 29

Chương 2 NỘI DUNG CỦA GIAI THOẠI VỀ CÁC TÁC GIA VĂN HỌC VIỆT NAM 34

2.1 Đả kích, châm biếm tầng lớp có chức sắc, địa vị trong xã hội phong kiến 34

2.2 Thể hiện tinh thần dân tộc, yêu nước, thương dân 42

2.3 Phác họa chân dung đời thường của các tác gia 53

Trang 5

iv

Chương 3 NGHỆ THUẬT CỦA GIAI THOẠI VỀ CÁC TÁC GIA VĂN

HỌC VIỆT NAM 65

3.1 Kết cấu, cốt truyện 65

3.2 Nhân vật 71

3.3 Một số biện pháp nghệ thuật 75

3.3.1 Chơi chữ 76

3.3.2 Phóng đại 83

3.3.3 Hư cấu 87

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 99

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, bên cạnh những thể loại lớn

đã hình thành, vận động và phát triển lâu đời như: thần thoại, truyền thuyết, truyện

cổ tích, ca dao, truyện cười,…giai thoại là một thể loại mới được quan tâm, chú ý qua không ít các công trình sưu tầm, tuyển chọn có giá trị trong thời gian gần đây Tuy nhiên, trên phương diện lý thuyết, thể loại này vẫn chưa được đào sâu, soi sáng một cách kì cùng Đó là chưa kể đến những ý kiến, quan điểm học thuật trái chiều nhau Tất cả những biểu hiện ấy khiến thể loại này chưa thể tồn tại trong trạng thái

rõ ràng nhất có thể Nhưng theo một số nhà nghiên cứu uy tín về văn học ở Việt Nam như Kiều Thu Hoạch, Trần Thanh Mại, Hoàng Ngọc Phách…thì giai thoại chính là một thể loại văn học dân gian độc lập, có vị trí riêng

Giá trị nội dung và những đặc sắc nghệ thuật của thể loại giai thoại đã được một số tác giả chỉ ra nhưng còn sơ sài và các tác giả chưa thực sự đi sâu vào phân tích và khẳng định đây là một trong những thể loại góp phần tạo nên diện mạo phong phú, đa dạng cho kho tàng văn học dân gian Điều này khiến cho ấn tượng về giai thoại trong lòng người đọc mờ nhạt đi nhiều so với thực tế tiếp nhận

1.2 Trong thời gian gần đây, việc giảng dạy văn học dân gian cho sinh viên

chuyên ngành văn học ở trường đại học, cao đẳng rất được quan tâm Ngoài những thể loại văn học dân gian đã quen thuộc như: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, vè, câu đố, ca dao, dân ca… thì việc đưa một thể loại còn mới mẻ vào học tập, nghiên cứu là rất cần thiết Nó góp phần mở thêm một hướng đi mới trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Bằng việc thực hiện luận văn, chúng tôi góp phần phục vụ kịp thời công tác giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành Ngữ văn tại Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Nguyên và đóng góp ít nhiều tư liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu về thể loại văn học này

Xuất phát từ nhận thức trên, luận văn đặt nhiệm vụ khảo sát, hệ thống lại những ý kiến đã nêu về giai thoại và đặc biệt chú trọng đi sâu nghiên cứu giá trị nội dung, nghệ thuật của một bộ phận giai thoại Với những lí do nêu trên,

Trang 7

chúng tôi lựa chọn đề tài “Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam” Từ đó,

luận văn góp một tiếng nói nhỏ vào việc nghiên cứu thể loại giai thoại và góp phần khắc phục một khoảng trống đáng tiếc trong đời sống nghiên cứu văn học

dân gian Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về vấn đề thể loại, giai thoại là đối tượng nghiên cứu khá mới mẻ của

văn học dân gian và cả văn học thành văn Tuy số lượng giai thoại khá phổ biến nhưng về lý thuyết thể loại nó còn ít được chú ý Các công trình nghiên cứu ban đầu mới quan tâm đến vấn đề định nghĩa tên gọi thể loại và các công trình có tính chất sưu tầm vẫn chiếm đa số

Học giả uyên bác người Nga V Japropp xem giai thoại như một tiểu loại của

cổ tích sinh hoạt: “Nói về cổ tích sinh hoạt hay truyện cổ tích hiện thực, cần phải đề

cập tới vấn đề giai thoại Theo ý chúng tôi, nó không phải là một loại hình riêng của

sáng tác dân gian, khác biệt với loại truyện cổ tích đoản thiên về con người” [40] Nghiên cứu kĩ càng hơn nữa những truyện cổ tích sinh hoạt về con người, thì có thể khẳng định được rằng trong folklore không có ranh giới giữa truyện cổ tích sinh hoạt về con người và truyện giai thoại Có chăng thì cũng “chỉ có thể xếp giai thoại thành một tiểu loại riêng trong truyện cổ tích sinh hoạt” [40]

Cùng quan điểm với V Ja Propp, Guxep cũng xem giai thoại như một thể loại văn học dân gian, nhưng ông tách hẳn nó ra khỏi cổ tích sinh hoạt và định nghĩa như sau: “Chúng tôi tách giai thoại ra khỏi cổ tích sinh hoạt và cổ tích trào phúng (loại này dĩ nhiên có thể mang những yếu tố giai thoại), vì nó có một số đặc điểm cho phép nó như một thể loại độc lập Chúng tôi gọi giai thoại là tác phẩm tự sự trào phúng hoặc hài hước, được xây dựng trên một tình tiết có sự tăng tiến đến điểm cao, biểu hiện rõ rệt và kết thúc bất ngờ” [40] Như vậy, nguyên nhân khiến Guxep tách giai thoại ra khỏi cổ tích là tính trào phúng và hài hước của nó Soi chiếu định nghĩa ấy vào tình hình giai thoại Việt Nam, có thể thấy, tác giả thiên về giai thoại trào phúng, hài hước với tính cách tiểu loại hơn là bản thân thể loại giai thoại trong hình hài của một thể loại độc lập

Theo nhà nghiên cứu Võ Phúc Châu, “ở Trung Quốc, thuật ngữ giai thoại xuất hiện ngay từ thời Đường - Tống nhưng chưa thấy ai luận bàn gì về thể loại Ở

Trang 8

Nga, những năm 60 của thế kỷ XX, lý thuyết giai thoại mới được giới folklore học quan tâm” [40] Còn ở Việt Nam, thuật ngữ này chỉ được chính thức sử dụng từ

1965, qua tập sách Giai thoại văn học Việt Nam của nhóm soạn giả Hoàng Ngọc

Phách, Kiều Thu Hoạch

Khi giới thiệu cuốn Giai thoại văn học, năm 1965 Trần Thanh Mại là người đầu tiên xác định vị trí của giai thoại Ông cho rằng: “… trừ một số cá biệt, nói chung thì giai thoại văn học không thuộc phạm vi văn học dân gian” [24, tr 7] Bởi

theo ông, hầu hết các mẩu chuyện giai thoại đó đều phải do “các nhà chữ nghĩa sáng

tác” [24, tr 7]

Năm 1988, nhà xuất bản Văn học đã giới thuyết khái niệm giai thoại văn học

khi tái bản cuốn Giai thoại văn học nói trên Nhưng cuốn sách chỉ nhấn mạnh khái

niệm giai thoại văn học và vị trí của nó trong văn học dân tộc như cầu nối giữa văn học dân gian - văn học viết mà hơi nhòe tính chất thể loại, không xác định nó là văn

học dân gian hay văn học bác học

Đến năm 1994, Vũ Ngọc Khánh trong cuốn Kho tàng giai thoại Việt Nam coi

giai thoại văn học như các tác phẩm văn học thế giới nhưng không phủ nhận rằng

nó có nguồn gốc bác học và đã được dân gian hóa

Trong cuốn Từ điển Văn học do nhà xuất bản Thế giới phát hành năm 2004,

các tác giả đã bước đầu định nghĩa giai thoại và cho rằng đây là một thể loại độc lập Tuy nhiên, bản thân định nghĩa về giai thoại mà cuốn từ điển nêu vẫn còn mâu

thuẫn khi nhấn mạnh “Nó thuộc văn chương bác học” [49, tr 220]

Cho đến nay, qua một số công trình nghiên cứu về folklore, bản chất của giai thoại, nhìn chung, đã được xác định Có thể kể đến một số công trình của các tác giả như: Kiều Thu Hoạch, Hoàng Ngọc Phách…

Nếu ở phương Tây, giai thoại là những mẩu chuyện thiên về trào phúng, hài hước

để đề cao tư duy duy lí; thì ở phương Đông, nội hàm đó có thể mở rộng sang cả những câu chuyện hết sức nghiêm túc về các nhân vật nổi tiếng được khúc xạ qua tình cảm yêu mến, ngưỡng mộ vô tận của cộng đồng - tức tư duy duy cảm Đó không chỉ là những câu chuyện dí dỏm, vui tươi mà còn là những câu chuyện đẹp Do đó, giai thoại Việt Nam nói riêng và giai thoại phương Đông nói chung, ngoài tính hài còn mang cả tính nghiêm

Trang 9

trang, cẩn trọng, hay thậm chí là những câu chuyện nhuốm màu bi ai Nói như Vũ Ngọc Khánh, đối với người phương Đông, giai thoại “là cuốn sổ biên niên của cuộc sống, là

người bạn thường xuyên của con người và của các sự kiện lịch sử xã hội” [19, tr 10]

Như vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề khái niệm thể loại văn học dân gian này và bước đầu, các nhà nghiên cứu đã đi đến khẳng định giai thoại là một thể loại văn học, tồn tại một cách độc lập với các thể loại văn học dân gian khác

và có giá trị riêng Song, việc đi vào tìm hiểu bản chất thể loại và những giá trị cụ thể của nó còn ít và chưa thực sự hệ thống

2.2 Về vấn đề phân loại, trong bài viết Giai thoại - một thể loại văn học dân gian, tác giả Nguyễn Thị Bích Hà đã tạm chia giai thoại thành các bộ phận sau:

- Giai thoại văn học

- Giai thoại danh nhân

- Giai thoại cười

Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Thị Bích Hà cũng khẳng định, cách chia này mới chỉ là “tạm thời, chưa thực sự nhất quán” [10] Tác giả cũng chưa đề cập đến việc phân tích giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của các bộ phận nói trên

Vũ Ngọc Khánh lại đề nghị “chia giai thoại làm ba nhóm: giai thoại văn học,

giai thoại lịch sử, giai thoại Folklore” [19, tr 34]

- Giai thoại văn học: là những câu chuyện hoàn toàn là chuyện sáng tạo và chuyện những người sáng tạo trong địa hạt văn chương học thuật

- Giai thoại lịch sử: là những câu chuyện khác liên quan với những sự kiện, những nhân vật hoạt động trong các chính trường, có liên hệ chặt chẽ với tiến trình tồn vong của đất nước

- Giai thoại folklore: là các mẩu chuyện về những tài năng thợ thêu, thợ chạm, những nghệ nhân, nghệ sĩ tuồng chèo, hội họa, điêu khắc, diễn xướng,… gây được những thú vị, bất ngờ; các mẩu chuyện làm nền cho những thành ngữ, phương ngôn, vẫn thường được nhân dân truyền tụng để biểu lộ niềm tin, tự hào về con người, quê hương, dòng họ,…

Trong Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 11: Giai thoại văn học Việt Nam, tác giả Kiều Thu Hoạch đã chỉ rõ về cách phân loại giai thoại thường thấy:

Trang 10

Giai thoại văn chương, Giai thoại văn nghệ, Giai thoại văn nghệ dân gian, Giai thoại làng Nho, Giai thoại phụ nữ, Giai thoại folklore, Giai thoại xứ Lạng, Giai thoại Thăng Long… Đây là cách phân loại, sắp xếp có phần tùy tiện, chưa có tiêu chí rõ ràng Chỉ có thể coi đó là sự phân loại tạm thời để công bố, chưa thể coi là sự phân loại khoa học Xem xét cụ thể, tác giả chia giai thoại thành hai tiểu loại: giai thoại lịch sử và giai thoại văn học Trong tiểu loại giai thoại văn học, tác giả đã sưu tầm

và giới thiệu 442 giai thoại, trong đó 358 giai thoại về tác gia văn học và 84 giai

thoại khuyết danh Tác giả cũng đã phác ra được một số nét cơ bản về nội dung tư

tưởng của thể loại giai thoại nói chung như: gây cười; châm biếm, đả kích những lố bịch, cái phi lí trong xã hội; phản ánh tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước… nhưng tác giả chưa có sự phân tích cụ thể, chi tiết

Trong cuốn Giai thoại văn học Việt Nam, Kiều Thu Hoạch cũng đã liệt kê

các giai thoại về các danh nhân: Đào Duy Từ, Nguyễn Văn Giai, Cao Bá Quát, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Quốc Trinh, Nhữ Bá Sĩ, Khương Công Phụ…

Qua việc tìm hiểu về những công trình nghiên cứu về thể loại giai thoại văn học, chúng tôi thấy, các tác giả, các nhà nghiên cứu mới chỉ tập trung chú ý tới việc khẳng định giai thoại là một thể loại văn học tồn tại độc lập và có giá trị riêng so với các thể loại văn học dân gian khác và sưu tầm những giai thoại lưu truyền trong dân gian Về vấn đề giá trị nội dung, nghệ thuật của thể loại này, các tác giả mới bước đầu đưa ra những nét cơ bản của thể loại nói chung mà chưa đi sâu vào tìm hiểu,

phân tích từng tiểu loại để có cái nhìn toàn diện hơn về giai thoại

Tiếp thu ý kiến của những nhà nghiên cứu đi trước, trong bối cảnh nghiên

cứu có ít nhiều thuận lợi, chúng tôi sẽ tập trung vào khảo sát bộ phận Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam Chúng tôi nhận thấy, đây là một hướng nghiên cứu

vừa có giá trị khoa học, vừa có tính thời sự, vừa có ý nghĩa thực tiễn,

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn đặt mục đích khảo sát giá trị nội dung và nghệ thuật của bộ phận

Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam, từ đó khẳng định đời sống thể loại, thấy

được những đóng góp của giai thoại vào diện mạo văn học dân gian Việt Nam

Trang 11

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chọn luận văn Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam, chúng tôi được

kế thừa thành tựu của những người đi trước, trên cơ sở đó góp một phần vào việc khẳng định vị trí của thể loại trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Chúng tôi bước đầu đặt ra cho mình những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Xác định khái niệm thuật ngữ giai thoại, cách phân loại, trình bày một số tiêu

chí nhận diện thể loại, chỉ ra đời sống của giai thoại trong xã hội hiện nay

- Hệ thống hóa bộ phận Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam Xác định giá

trị nội dung, nghệ thuật của bộ phận này và giá trị của nó đối với đời sống văn học, đời sống xã hội

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam

Phạm vi tư liệu nghiên cứu của luận văn là bộ phận Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam đã được sưu tầm Trong điều kiện và thời gian thực tế, chúng tôi

sẽ sưu tầm thêm các giai thoại về các tác gia trong đời sống dân gian

Luận văn chủ yếu đi vào tìm hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật của bộ phận

Giai thoại các tác gia văn học Việt Nam và bước đầu khảo sát các đặc trưng thể loại

của giai thoại

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng tổng hợp một số phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp thống kê: Dựa trên hệ thống tư liệu đã được các nhà nghiên cứu sưu tầm, biên soạn, luận văn thống kê giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam để tiện lợi cho việc soi sáng giá trị nội dung và nghệ thuật mà luận văn đã nêu

Phương pháp điền dã văn học: Ngoài những tư liệu đã được các nhà nghiên cứu sưu tầm và đã được xuất bản, chúng tôi còn sử dụng phương pháp điền dã văn học để gặp gỡ với những nhà văn, nhà thơ, những người trực tiếp liên quan đến các tác gia để khẳng định tính xác thực của các giai thoại và mở rộng phạm vi tư liệu nghiên cứu

Phương pháp phân tích - tổng hợp: Luận văn sử dụng phương pháp này để phân tích cụ thể các giai thoại Trên cơ sở đó, luận văn tổng hợp vấn đề, rút ra

Trang 12

những đánh giá, nhận xét về giá trị nội dung và nghệ thuật của bộ phận Giai thoại

về các tác gia văn học Việt Nam

Phương pháp so sánh: Luận văn cũng sử dụng phương pháp so sánh những

giai thoại cùng một đề tài, so sánh bộ phận Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam với các bộ phận giai thoại khác và những thể loại văn học dân gian gần gũi để

làm nổi bật giá trị nội dung, nghệ thuật của nó

Phương pháp phân tích văn bản văn học dân gian: để làm nổi bật lên giá trị nội dung cũng như các đặc sắc nghệ thuật của giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu văn hóa học liên ngành: Để nhìn nhận, đánh giá,

soi sáng bản chất thể loại giai thoại nói chung và bộ phận Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam nói riêng trong cái nhìn tổng thể, toàn diện với bối cảnh xã hội,

văn hóa, văn học

7 Đóng góp của luận văn

Từ việc tổng hợp, hệ thống lại các định nghĩa, cách phân loại giai thoại, chỉ

ra các tiêu chí nhận diện thể loại cũng như đời sống của giai thoại trong xã hội hiện

nay và đi vào phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của bộ phận Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam, luận văn góp phần tìm hiểu các bộ phận giai thoại khác

nói riêng và thể loại giai thoại nói chung

Qua đó, luận văn đóng góp vào việc khẳng định vị trí độc lập và giá trị đặc sắc của thể loại văn học dân gian này

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận, thực tế và các tiêu chí nhận diện thể loại

Chương 2: Nội dung của Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam

Chương 3: Nghệ thuật của Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam

Ngoài ra, luận văn còn có phần Phụ lục:

Phụ lục 1: Một số giai thoại về các tác gia tác giả luận văn sưu tầm Phụ lục 2: Bảng thống kê các tác gia và một số giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TẾ VÀ CÁC TIÊU CHÍ NHẬN DIỆN THỂ LOẠI 1.1 Giai thoại và các tiêu chí nhận diện thể loại

1.1.1 Khái niệm giai thoại

Giai thoại vốn là một thuật ngữ gốc Hán, giai có nghĩa là hay, đẹp, thoại là

câu chuyện kể Như vậy, giai thoại là câu chuyện kể hay, đẹp

Theo N.D.Tamarchenko, “giai thoại (“Anekdotos”, gốc Hy Lạp, có nghĩa là

“không công bố”) có hai nét nghĩa: Nét nghĩa thứ nhất: Câu chuyện lưu truyền rộng

rãi trong dân gian, thuật lại một cách ngôn lí thú, một cảnh độc đáo, hay một trang tiểu sử riêng tư của một nhân vật lịch sử Nét nghĩa thứ hai: Thể tự sự cỡ nhỏ nửa truyền miệng, bán văn học, đặc điểm nổi bật của nó là mô tả các nhân vật hành động một cách hàm súc, sơ lược, tập trung vào một tình huống được suy ngẫm lại, đánh giá lại bằng cách thay đổi hoàn toàn điểm nhìn (“point”, bước ngoặt, đột biến) Ở

cả phía đối tượng của sự kể (đời sống riêng tư của nhân vật lịch sử, tức là nhân vật quan phương, hoặc một trường hợp nào đó rút ra từ đời sống của những người bình thường), lẫn ở phía chức năng, tức là ở cả hai ý nghĩa của thuật ngữ, giai thoại là thể loại không chính thức: vì thế, truyện kể bao giờ cũng mang tính phi văn học, nó là thứ “văn học rỉ tai, bí mật” (E Kurganov), đòi hỏi người kể và người nghe phải có nhãn quan tương

đồng (J Hein) và sự “tâm đầu ý hợp”, tin tưởng lẫn nhau trong giao tiếp” [30]

Theo nghĩa thứ nhất, thuật ngữ có gốc gác từ cuốn Mật sử của Procopius

Caesarensis (một tác phẩm còn đang có nhiều tranh cãi, được viết vào những năm

550) và xưa kia, Từ điển tiếng Anh (1775) của Samuel Johnson từng giải thích với ý

nghĩa như vậy: “Giai thoại là câu chuyện chưa được công bố”, có nghĩa, đó là chuyện riêng tư của nhân vật quan phương Thời Pushkin, giai thoại cũng được hiểu như vậy Những câu chuyện về kì sự, vô thường của các nhân vật nổi tiếng do

chứng nhân kể lại theo kiểu như thế đầy ắp các Hồi kí giai đoạn thế kỉ XVIII – XX

Hiển nhiên là giai thoại có quan hệ đặc biệt với văn học, một mặt, từ hoạt động truyền miệng của nó, cũng như từ giác độ bản quyền mang tính tập thể Mặt khác, nhiều tuyển tập giai thoại hết sức nổi tiếng (ở Nga, từ thế kỉ XVIII) và được sử

Trang 14

dụng trong các văn bản văn học rộng rãi tới mức khiến chúng không còn là thể loại

dân gian thuần tuý Việc giai thoại thiên về lối kết cấu xâu chuỗi - hoặc là xoay

quanh các nhân vật nào đó, hoặc là những đặc điểm dân tộc nổi bật của các nhân vật hành động - nói lên tính tự sự của nó

Trong quá trình phát triển lịch sử, theo ý kiến chung, giai thoại có quan hệ mật thiết với truyện khôi hài, cổ tích sinh hoạt có nội dung trào lộng, ngụ ngôn, trào phúng và truyện cổ có kết cấu theo kiểu tăng cấp Truyện kể tăng cấp (thường dưới dạng giản lược) và điểm “point” kết thúc đã biến giai thoại thành nguồn cội của tiểu

thuyết - ở cả thời Phục hưng, lẫn sau này, trong sáng tác của A Chekhov (Cái chết của viên công chức), hay H Henry (The Cop and the Anthem)

Năm 1988, nhà xuất bản Văn học đã giới thuyết khái niệm giai thoại văn

học khi tái bản cuốn Giai thoại văn học nói trên Sách viết: “Giai thoại văn học

là những giai thoại riêng về các nhà văn, những nhân vật có tên tuổi trong xã hội hoặc đông đảo những người yêu thích thơ văn và sáng tác thơ văn nói chung Như vậy giai thoại văn học là một loại văn chương vừa có tính chất bác học lại vừa có tính chất truyền miệng mang trong cổt cách của nó nhiều nét dân

tộc độc đáo đầy sức hấp dẫn” [24, tr 5] Theo chúng tôi, giới thuyết này chỉ

nhấn mạnh khái niệm giai thoại văn học và vị trí của nó trong văn học dân tộc như cầu nối giữa văn học dân gian - văn học mà hơi nhòe tính chất thể loại, cũng không xác định nó là văn học dân gian hay văn học bác học

Năm 1994, Vũ Ngọc Khánh trong cuốn Kho tàng giai thoại Việt Nam lại

thiên về nhận định giai thoại thuộc văn học dân gian khi ông cho rằng: “… Những câu thơ, câu đối ở đây có vẻ giàu chữ nghĩa, điển tích như ở văn chương bác học, song điều bắt buộc là phải vận dụng theo phong cách dân gian, lấy chất liệu và cả biện pháp quen thuộc của ca dao, câu đố…tác phẩm văn học bác học được xem như tác phẩm dân gian và có thể sống trong quần chúng…” [18, tr 7] Như vậy, Vũ Ngọc Khánh coi giai thoại văn học như các tác phẩm văn học dân gian nhưng không phủ nhận rằng nó có nguồn gốc bác học và đã được dân gian hóa

Trong cuốn Từ điển Văn học do nhà xuất bản Thế giới phát hành năm 2004, giai thoại được định nghĩa như sau: “Một thể loại chuyện kể truyền miệng, lưu

Trang 15

truyền chủ yếu trong giới nhà văn và lớp công chúng ưa thích thơ văn, nhất là những người có hiểu biết Hán học và văn chương chữ Hán Thuật ngữ giai thoại được mượn từ Trung Hoa Mỗi giai thoại là một truyện kể ngắn gọn, lý thú, xoay quanh những nhân vật có thực, thường là những danh nhân… Giai thoại văn học thường không phân giới rõ rệt với truyền thuyết, truyền kỳ; có những mảng giai thoại xuất hiện thời kỳ sau lại gần với tiếu lâm Tuy vậy giai thoại vẫn mang tính độc lập như một thể loại độc đáo; nó thuộc về văn chương bác học, gắn với sinh hoạt văn học thành văn, nhưng lại tồn tại dưới dạng truyền miệng, tức là dạng thức

tồn tại của các truyện kể dân gian” [49, tr 119] Định nghĩa giai thoại trên có phần

mâu thuẫn Một mặt nó đã khẳng định “Giai thoại là một thể loại chuyện kể truyền miệng” (tức nó thuộc văn học dân gian), nhưng lại nêu thêm “Nó thuộc về văn chương bác học, gắn với sinh hoạt văn học thành văn” Như vậy, tác giả muốn coi giai thoại là một thể loại văn chương, điều mà Trần Thanh Mại đã có lần đề cập Tuy nhiên, bản thân tác giả mục từ này cũng chưa nhận thức rõ giai thoại thuộc văn học dân gian hay văn học thành văn, khi thì tác giả coi nó là “một thể loại của truyện kể truyền miệng” khi lại nhấn mạnh “Nó thuộc văn chương bác học”

Trong cuốn sách Văn học dân gian người Việt, góc nhìn thể loại ở bài Thể

loại giai thoại, Kiều Thu Hoạch cũng định nghĩa: “Giai thoại vốn là một thuật ngữ

gốc Hán, giai có nghĩa là hay, đẹp, thoại là câu chuyện kể Như vậy giai thoại là câu chuyện kể hay, đẹp… Tuy nhiên, giai thoại không phải là câu chuyện, mẩu chuyện

kể bình thường, mà đó phải là những câu chuyện hay, lý thú, gợi được những khoái cảm thẩm mĩ” [16, tr 18] Định nghĩa này của ông không khác các nhà nghiên cứu trước đây, song ông đã đưa ra nhiều phân tích, nhận xét có giá trị về giai thoại Theo Kiều Thu Hoạch thì những tài liệu sách báo có sưu tầm và giới thiệu giai thoại khá nhiều và rải rác khoảng từ những năm 30 đến 45 của thế kỉ trước, nhưng phải đến

năm 1965 mới có một cuốn sách sưu tầm giai thoại chính thức ra đời là cuốn Giai thoại văn học Việt Nam của Hoàng Ngọc Phách và Kiều Thu Hoạch

Từ những ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu, câu hỏi đặt ra là giai thoại có phải là một thể loại văn học dân gian hay không?

Trang 16

Văn học dân gian là những sáng tác folklore và đặc trưng của các sáng tác dân gian là:

là hoàn toàn chính xác Trong văn học dân gian Việt Nam, ca dao, tục ngữ chính là những câu có xen những từ Hán, điển cố Hán, thậm chí có những câu toàn chữ Hán Những câu như thế không thể xem là do người nông dân hoàn toàn không biết chữ Hán sáng tác Đó hẳn là những sáng tác của những anh đồ quê, những nho sĩ thủa hàn vi hoặc những lúc rảnh việc công Đó là một thực tế lịch sử - nét đặc thù của văn hóa, văn học dân gian truyền thống Việt Nam Còn về mặt lý luận, dường như giới nghiên cứu folklore hiện nay trên thế giới cũng không đồng tình với quan điểm một thời cho rằng sáng tác folklore chỉ là của người lao động, của người mù chữ Trần Quốc Vượng cũng đã từng dẫn một câu nói của một nhà nghiên cứu folklore người Pháp: “Cái gì không phải là chính thống thì là dân gian” Đúng như vậy, khi Nguyễn Trãi sáng tác một cách nghiêm túc những bài thơ chữ Hán, thơ Quốc âm bằng chữ Nôm thì đó là những tác phẩm chính thống, là văn chương bác học Nhưng khi ông sáng tác đùa chơi, hoặc người kể chuyện gán cho ông sáng tác đùa chơi bài “Hỏi cô bán chiếu” thì đó lại là sáng tác phi chính thống, nó không nghiêm túc, nó chính là dân gian Cũng vậy, khi Phan Bội Châu viết bài “Hải ngoại huyết

Trang 17

thư” thì đó là sáng tác bác học Nhưng lúc ông còn là chàng trai trẻ ở quê nhà, đi hát

ví phường vải, hát đáp lại bên gái câu hát:

“Các em là phận nữ nhi Một Đan Chu cũng đủ, hỏi mần chi những tám người?” [16, tr 68]

thì đó là câu hát đùa nghịch, không phải là sáng tác chính thống, quan phương, đó chính

là tác phẩm văn học dân gian Hoặc nữa, khi Bác Hồ sáng tác những bài thơ chữ Hán

trong Nhật kí trong tù thì đó là những sáng tác chính thống, thể hiện ý chí cách mạng của

Người Còn khi Bác làm thơ vui trả chữ nữ sĩ Hằng Phương:

“Cảm ơn bà biếu gói cam Nhận thì không đúng, từ làm sao đây

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai”

thì đó đã gần với ranh giới của văn học dân gian

Người sáng tác văn học, văn hóa dân gian trong những trường hợp này đều là những người biết chữ Vậy, với cách nhìn nhận này, rõ ràng, giai thoại là các sáng tác dân gian, là folklore, và đương nhiên, nó phải là một thể loại nằm trong loại hình

tự sự dân gian Chính vì vậy, Guxép đã coi giai thoại như một thể loại độc lập Trong phạm vi luận văn, chúng tôi đồng ý với nhận định này của Guxép

Một vấn đề nữa cần làm sáng tỏ là tính dị bản của giai thoại văn học Tuy phần lớn các giai thoại văn học cổ truyền đều đã được ghi chép trong các văn bản, song đây là thể loại vốn được sáng tác và lưu truyền bằng miệng, cho nên chúng ta

sẽ không lấy làm lạ khi thấy cùng một mẫu kể giai thoại, cùng một bài thơ hoặc câu đối, lại có nhiều dị bản khác nhau Thậm chí, có cả những trường hợp thơ hoặc câu đối, hoặc cốt truyện vốn ở trong kho tàng giai thoại Trung Quốc cũng được du nhập

và diễn biến thành giai thoại văn học Việt Nam

Dưới đây là khảo sát của chúng tôi ở một số dị bản trong kho tàng các giai thoại văn học quen thuộc

Sách Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Kí, Sài Gòn, 1866, kể chuyện về mối

quan hệ giữa ông Hoàng Hồng Bảo, anh cùng cha khác mẹ với Tự Đức nối ngôi

Trang 18

“Hồng Bảo âm mưu lật đổ, việc bại lộ, phải tự tử… Trong bữa tiệc ăn mừng nhân dẹp được loạn Hồng Bảo, vua Tự Đức đang nhai chẳng may cắn phải lưỡi, vua bèn bảo các quan cùng vịnh thơ “Răng cắn lưỡi” để mua vui

Bấy giờ, ông Nguyễn Đăng Hành làm bài thơ rằng:

Tớ sinh ngươi chửa ra đời Ngươi sinh sau tớ tớ thời làm anh Hôm nay ăn uống ngon lành Mối tình cốt nhục sao đành hại nhau

Tự Đức tức giận vì bị châm chọc chuyện Hồng Bảo, sai lôi tác giả bài thơ ra ngoài Ngọ Môn đánh cho ba chục roi, sau đó, để tỏ ra biết trọng nhân tài, vì thơ hay, lại truyền thưởng cho tác giả vàng bạc”

Đến sách Kho tàng giai thoại Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh (1994) lại theo sách Giai thoại làng Nho (1996) ghi nhân vật làm bài thơ đó là Nguyễn Hàm Ninh (1807

– 1867), thơ có sai biệt một đôi chỗ Cũng theo Vũ Ngọc Khánh, thì còn có một dị bản nữa, ở vùng Thừa Thiên, cho là Trần Văn Kỷ làm thơ nói về việc vua Quang Trung cũng phải cắn lưỡi, ám chỉ việc vây hãm thành Quy Nhơn của Nguyễn Nhạc

Cũng có thể kể thêm một dẫn chứng khác mà quá trình biến dị khá lí thú Đó

là giai thoại văn học về Trạng nguyên Nguyễn Hiền đời Trần Sách Chuyện khôi hài của Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn, 1882, ở chuyện Câu đối có chí khí kể rằng: “Ông

huyện kia đi dọc đường gặp một thằng con nít đi học về Thấy bộ mặt đứa bé sáng láng, bảnh lảnh mới kêu mà ra câu hỏi rằng:

Tự là chữ, cất giằng đầu, chữ tử là con, con nhà ai đó?

Đứa học trò chí khí đối lại liền:

Vu là chưng, cất ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa hỏi ta chi?

Ông huyện nghe biết đứa có chí lớn, bèn nói sau nó sẽ làm nên sự nghiệp

Mà thiệt như vậy chẳng sai”

Đến sách Đại Nam kỳ nhân liệt truyện, bản dịch của Tô Linh Thảo, Quảng Thịnh,

Hà Nội, 1930 và sách Văn đàn bảo giám thì nhân vật phiếm chỉ là đứa học trò, đã được

lịch sử hóa thành Trạng Hiền, đậu Trạng nguyên năm 12 tuổi, người đời Trần Thái Tông,

Trang 19

có quên quán cụ thể, làng Hà Dương, huyện Thượng Nguyên, phủ Thiên Trường, xứ Sơn Nam Hai câu có sai dị chút ít, không đáng kể

Cần phải nói thêm rằng, tính dị bản ở giai thoại không hoàn toàn giống như tính dị bản của một số thể loại khác như truyện cổ tích, hoặc truyện Nôm bình dân… Nếu như ở truyện cổ tích, truyện Nôm bình dân thường có những biến dị về tình tiết, cốt truyện để tạo nên dị bản/bản khác, thì ở giai thoại văn học hiếm thấy sự biến dị như thế Ở giai thoại văn học, thường vẫn là câu chuyện kể xung quanh câu đối ấy, bài thơ ấy nhưng lại được lịch sử hóa, địa phương hóa để gán ghép cho nhân vật này hoặc nhân vật khác mà thôi Như vậy, nếu theo lý thuyết folklore thì sự gán ghép ấy chưa hẳn đã tạo cho giai thoại văn học những dị bản/bản khác theo đúng nghĩa chặt chẽ của nó Tuy nhiên, theo tác giả Kiều Thu Hoạch thì tính dị bản ở đây

“có thể xem là đặc trưng của văn học dân gian” [16, tr 29]

Như vậy, với những lý luận và dẫn chứng trên đây, chúng tôi bước đầu khẳng định giai thoại có đầy đủ những đặc trưng của một thể loại văn học dân gian

Qua việc nghiên cứu, xem xét những ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu văn học dân gian, trong phạm vi luận văn, chúng tôi đồng ý với ý kiến của nhà

nghiên cứu Kiều Thu Hoạch trình bày trong cuốn Giai thoại văn học Việt Nam, Nhà

xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004: Giai thoại chính là một thể loại văn học dân gian Chúng tôi nhận thấy, giai thoại có đầy đủ những đặc trưng của văn học dân gian, nó có khả năng đứng độc lập thành một thể loại riêng

1.1.2 Các tiêu chí nhận diện thể loại

Giai thoại là các sáng tác folklore, là văn học dân gian mà các tác giả nước ngoài có người còn gọi rõ là giai thoại dân gian Đúng như luận điểm của Guxep, ở thể loại giai thoại, nhiều khi rất gần với các thể loại văn học dân gian khác như truyện cười, truyền thuyết… Ở Trung Quốc, người ta có thể dễ dàng tìm thấy những mẩu truyện giai thoại nằm rải rác trong những pho truyện cười được sưu tầm từ thời Tam Quốc cho tới tận cuối đời Thanh Ở ta, cũng có tình hình tương tự Có một số truyện cười nhằm chế giễu những nho sĩ làm thơ dở

mà hay khoe chữ, như loại thơ “con cóc” hoặc chế giễu những ông đồ dốt, như loại “Ai trồng cây đất bể Đông…” thì để vào truyện cười cũng được mà xếp

Trang 20

vào giai thoại cũng không sai Điều dễ thấy là những giai thoại văn học xung quanh bài thơ, câu đối khuyết danh hoặc những nhân vật phiếm chỉ thường có những nét gần gũi với thể loại truyện cười nhiều hơn Có lẽ cũng vì thế mà trước đây, nhiều nhà sưu tập truyện cười dân gian đã không quan tâm lắm đên

sự phân biệt này Như vậy, nếu đã khẳng định giai thoại là một thể loại văn học, có vị trí, chỗ đứng riêng thì nhất định chúng ta phải có hệ thống các tiêu chí rõ ràng, cụ thể để nhận diện nó

1.1.2.1 Quy mô tác phẩm ngắn gọn, tình huống lý thú, hấp dẫn

Giai thoại thường phải hết sức ngắn gọn Một giai thoại hấp dẫn cần phải có lời kể, lời thoại thật ngắn gọn Đây là yếu tố làm tăng kịch tính và độ căng cho câu

chuyện Theo khảo sát hơn 1000 giai thoại, chúng tôi thấy quy mô tác phẩm ngắn

gọn là đặc điểm của thể loại này Giai thoại ngắn nhất có quy mô vài chục từ, giai thoại dài nhất là vài chục trang kể về cuộc sống đời thường của các tác gia Chúng tôi mới chỉ xác định quy mô ngắn gọn là đặc điểm của giai thoại mà chưa khẳng định rằng đây là đặc trưng, bởi vì, bản thân các thể loại văn học dân gian khác cũng

có thể có đặc điểm này (như truyện cười, truyện ngụ ngôn), phải nhìn nhận khách

quan trong cái nhìn so sánh cụ thể

Các thể loại tự sự dân gian khác như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích… không có nhu cầu kể ngắn gọn như giai thoại Lấy ví dụ về thể loại truyền thuyết: Cốt truyện truyền thuyết lại xoay quanh nhiều nhân vật, thậm chí có truyện

có hai hệ thống nhân vật đối lập nhau như Truyện An Dương Vương: Một bên là An

Dương Vương, Mỵ Châu, thần Kim Quy; một bên là Triệu Đà, Trọng Thủy, con tinh Gà Trắng Kết cấu truyền thuyết có hai loại: loại cốt truyện đơn và loại cốt

truyện xâu chuỗi Chẳng hạn như Truyền thuyết về Lê Lợi gồm những chuỗi tập

trung nói về người anh hùng Lê Lợi Nó không chỉ có một mà là rất nhiều truyện Chính kết cấu và cốt truyện truyền thuyết đã khiến cho quy mô của thể loại này không thể ngắn gọn Hay như truyện cổ tích, quy mô của thể loại này cũng tương đối dài Truyện cổ tích thường được xây dựng theo một số sơ đồ chung nhất định

Cơ sở để xác lập sơ đồ kết cấu truyện cổ tích là những hành động của nhân vật chính Có thể phác thảo sơ đồ kết cấu của truyện cổ tích thần kì dân tộc Việt như

Trang 21

sau Phần đầu: nhân vật chính xuất hiện Phần giữa: cuộc phiêu lưu của nhân vật chính trong “thế giới cổ tích” Phần kết: Đổi đời hay là sự thay đổi số phận trong

“thế giới cổ tích” Như vậy, ở hai thể loại có vẻ “dài hơi” này của văn học dân gian,

chúng tôi thấy rõ sự khác biệt với giai thoại về quy mô tác phẩm

Tiếp tục so sánh với truyện ngụ ngôn và truyện cười - hai thể loại có quy mô tác phẩm tương đối ngắn Kết cấu của truyện ngụ ngôn chỉ nêu ra một hoàn cảnh, một tình huống, trong đó diễn ra một hành động của một hoặc một vài nhân vật, nhằm minh hoa cho một điều răn dạy nào đó Xung đột không có quá trình hình thành, nó chỉ diễn ra trong một hành động Đặc trưng này tạo nên kiểu kết cấu tiêu biểu một màn kịch của truyện ngụ ngôn Nó gần giống như quy tắc “tam duy nhất” của kịch cổ điển Theo La Phôngten, truyện ngụ ngôn gồm phần xác (câu chuyện)

và phần hồn (điều răn dạy) Có đôi khi điều răn dạy được diễn tả thành lời, tức là dựa theo quan niệm của La Phôngten thì phần “hồn” được “hiện ra” bên ngoài xác Như vậy, tuy quy mô truyện ngụ ngôn ngắn gọn nhưng rõ ràng không thể nhầm lẫn với giai thoại được, chỉ còn lại truyện cười là thể loại cần xem xét kĩ trong cái nhìn

so sánh với giai thoại

Như đã nói ở phần trên, giữa truyện cười và giai thoại có sự giao thoa nhưng không có nghĩa là không thể xóa ranh giới giữa chúng Cả hai thể loại đều có quy

mô tác phẩm ngắn gọn, có độ căng kịch tính Vậy, dựa vào đâu để phân biệt chúng? Một truyện cười sở dĩ được gọi là truyện cười là do tính gây cười tạo nên Một giai

thoại sở dĩ được gọi là giai thoại vì có tính lý thú Đương nhiên, nói như thế không

có nghĩa là tuyệt nhiên giai thoại không có tiếng cười mà đó là cái cười thầm, cười mỉm chứ không phải cười vang, cười sảng khoái, cười rộ như truyện cười Guxép nói tình huống lý thú chính là đặc trưng của giai thoại Hay nói cách khác, đó chính

là kịch tính, dẫn câu chuyện tới chỗ thắt nút, rồi bất ngờ mở nút, dẫn người nghe tới một khoái cảm thẩm mĩ cao độ, đầy hứng thú

Có thể lấy ví dụ cho đặc trưng này:

Sách Kho tàng giai thoại Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh có giai thoại như sau:

Trang 22

“Một buổi trưa hè, trời vừa tạnh mưa, Tú Xương đứng ngóng sang nhà đối diện, thấy cô Nghĩa nhà hàng xóm đang rửa dưa trong cái thau đồng , bất giác đọc lên mấy câu:

Ước gì ta hóa ra dưa

Để cho người tắm nước mưa chậu đồng

Ước gì ta hóa ra hồng

Để cho người bế, người bồng trên tay” [19, tr 46]

Phải thừa nhận bài thơ rất dí dỏm, rất hay Nhưng mấy lời trên chỉ có thể xem như một tiểu dẫn về hoàn cảnh sáng tác bài thơ, chứ chưa được xem là một giai thoại vì nó thiếu kịch tính Hơn nữa, thông thường, đã gọi là giai thoại thì phải có đối thoại, đặc trưng này sẽ nói thêm ở phần sau Ở đây mới chỉ thấy Tú Xương làm

thơ đùa chơi, mà chưa thấy cô hàng xóm đáp trả thế nào Do đó, mới chỉ có giai mà chưa có thoại

Bây giờ, hãy xem xét một giai thoại có chứa tình huống lý thú Đó là giai thoại “Nhờ râu mà thoát đòn”:

“Tiến sĩ Từ Ô về thăm quê Thanh Miện, Hải Dương Nghe nói Tri huyện Thanh Miện hách dịch lắm, ai đi qua cổng huyện cũng phải “hạ mã”, xuống ngựa, xuống cáng, không thì phải đánh đòn Ông nghè Từ Ô liền mượn một con bò cưỡi qua, nghênh ngang không chịu xuống Lính bắt ông vào trình quan huyện Ông khai

là thầy đồ già đi dạy học ở xa mới về nên không biết lệ, và lệ quan chỉ bắt xuống ngựa, chứ có bắt xuống bò đâu Quan huyện nghe nói trôi chảy, bèn bảo lẽ ra phải đánh đòn, nhưng nể cái bộ râu của ông - ý nói già cả, nên tha, tuy vậy phải đối một câu đối để tạ ơn Rồi hắn đọc một câu rằng:

- Huyện quan Thanh Miện kiến vô lễ nhi dục công

Nghĩa là: Quan huyện Thanh Miện thấy kẻ vô lễ nên muốn đánh

Ông nghè Từ Ô nghe tri huyện nói “nể bộ râu” liền ứng khẩu đối lại:

- Tiến sĩ Từ Ô hạnh hữu tu nhi đắc thoát

Nghĩa là: Tiến sĩ Từ Ô may nhờ có râu mà thoát đòn

Quan huyện nghe đối, biết đó là tướng công Trần Văn Trứ, đại thần ở trong triều, sợ toát mồ hôi, sụp lạy xin tha tội” [19, tr 168]

Trang 23

Câu đối thú vị ở chỗ “nhờ râu mà thoát đòn” Tình tiết câu chuyện giàu kịch tính, tạo được bất ngờ cho người nghe Một giai thoại văn học thế là khá trọn vẹn,

có giai và có thoại

Qua dẫn chứng ở trên, chúng tôi thấy, tính lý thú chính là linh hồn của giai thoại văn học Thiếu tính lý thú, câu chuyện không còn hấp dẫn người nghe nữa

Theo nhà nghiên cứu Lã Nguyên, giai thoại thiên về lối kết cấu xâu chuỗi -

hoặc là xoay quanh các nhân vật nào đó, hoặc là những đặc điểm dân tộc nổi bật của các nhân vật hành động - nói lên tính tự sự của nó Chức năng làm nổi bật tính hai mặt của tình huống truyện kể rốt cuộc quyết định toàn bộ tổ hợp đặc trưng thể

loại giai thoại, bao gồm cả tính hàm súc trong việc mô tả các sự kiện một cách khách

quan Thoạt đầu, nhân vật giai thoại được đặt ở vị thế bình thường, ai cũng biết rõ, về sau diễn ra sự thay đổi hoàn toàn trong việc tiếp nhận và đánh giá nó, tức là xuất hiện đột biến di chuyển về phía cái đặc biệt mới mẻ, khác lạ: điểm nhìn mới đối với tình huống ban đầu hoá ra hoàn toàn hợp qui luật Thời gian để nhân vật từ vị thế bình thường đến đột biến rất ngắn, chỉ trong một khoảnh khắc của lời nói Điều đó khiến cho câu chuyện trở nên bất ngờ, gây hứng thú với người nghe, người đọc

Như vậy, tiêu chí đầu tiên để nhận diện thể loại giai thoại chính là quy mô của các tác phẩm thuộc thể loại này ngắn gọn, tình huống thoại lý thú, hấp dẫn đưa người đọc đến điểm đột biến, khiến câu chuyện hấp dẫn, lý thú Chính yếu tố lý thú

này là cái thu hút người đọc, làm cho thể loại vừa có “giai”, vừa có “thoại”

1.1.2.2 Lời thoại giàu trí tuệ, dí dỏm

Giai thoại bắt buộc phải có lời thoại, tức có đối đáp giữa các nhân vật Không có lời thoại, câu chuyện dù thú vị đến đâu cũng không thể thành giai thoại Đặc điểm này có tính khu biệt giai thoại với các thể loại văn học dân gian khác Trong khi đó, không ít truyền thuyết, truyện cổ tích rất hấp dẫn mà chẳng cần có lời thoại nào Có giai thoại tần suất xuất hiện lời thoại chiếm phần lớn dung lượng chữ của cả giai thoại Chúng ta lấy một số ví dụ sau đây:

“Khoảng cuối đời Trần, có Bảng Nhãn Lê Hiến Phủ người làng Chính An, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương làm quan tới chức Đại học sĩ, là người rất trung thực, không sợ cường quyền

Trang 24

Tương truyền, khi Hồ Quý Ly đang chuyên quyền, thường ngày đến làm việc ở nhà chính sự đường vẫn ngồi trên một chiếc ghế đen Lê Hiến Phủ thấy vậy liền cự rằng:

- Nay ông dám ngồi ghế đen, rồi nữa ngai vàng ông cũng ngồi à?

Hồ Quý Ly gật gù đáp:

- Xin ông hãy đổi cái bụng dạ ấy đi

Hiến Phủ không hề sợ, cứng cỏi trả lời rằng:

- Bụng dạ trời sinh, sao có thể đổi được!

Đoạn ngâm mấy câu thơ rằng:

Ngã tâm phỉ thạch Bất khả chuyển giã Ngã tâm phỉ tịch Bất khả quyển giã

Nghĩa là:

Lòng ta chẳng phải hòn đá;

Không thể chuyển vần được!

Lòng ta chẳng phải chiếc chiếu, Không thể cuốn tròn được

Rồi lại nói: “Lòng ta như thế đấy”

Quý Ly nghe nói giận lắm nhưng vẫn lẳng lặng không nói gì cả

Sau đó, Hiến Phủ tâu với vua, vua càng tin dùng hơn và phong cho chức Hiến gián đại phu Ít lâu sau Hiến Phủ cùng với vua tìm cách trừ Quý Ly, sai một người môn khách giấu mũi nhọn trong tay áo để ám sát, song việc không thành, ông

bị Quý Ly đem giết

Trước khi hành hình, ông vẫn ung dung đọc bài thơ cảm khái, có câu rằng:

Thốn nhẫn trừ tàn thiên địa bạch Nhất tâm báo quốc quỷ thần tri

Tạm dịch thơ:

Tấc nhọn trừ gian trời đất biết Tấm lòng đền nước quỷ thần hay

Trang 25

Nhà vua nghe tin rất thương xót ông, ban cho cỗ áo quan bằng gỗ quý và truyền chôn cất chu đáo” [19, tr 211]

Giai thoại thường đề cao chất trí tuệ của lời thoại Một giai thoại được xem là hay cần phải có lời thoại hay, giàu chất trí tuệ (riêng ở giai thoại văn học, thủ pháp chơi chữ còn được xem là dấu hiệu đặc trưng của tiểu loại) Chính đặc trưng này giúp giai thoại đạt được tính lý thú

Lấy ví dụ về giai thoại “Ăn hai đấu học hai canh” sau để thấy rõ tính trí tuệ trong lời thoại:

“Lê Nại người đời Lê, quê ở làng Mộ Trạch, Hải Dương là học trò nghèo mà học giỏi, được thượng thư Vũ Quỳnh người đồng ấp thương mến, cho ở rể nuôi cho

ăn học Lúc đầu, Nại chẳng chịu học hành, mà cũng chẳng mó đến việc gì Vũ Quỳnh lấy làm lạ, liền đến hỏi ông bố Lê Nại thì đươc biết Nại ăn rất khỏe, chắc là ăn chưa

đủ no Vũ Quỳnh về nhà, sai dọn cơm riêng cho Nại ăn Cho ăn một đấu, học đến tối Cho ăn một đấu năm lẻ, học đến trống canh ba Cho ăn một đấu tám lẻ, học đến trông canh tư Sau định mức cho ăn hai đấu Từ đấy, Nại học thâu đêm suốt sáng Lúc bố

vợ thử tài học, bảo làm thơ Nại chẳng cần nghĩ, đọc ngay bài thơ vui rằng:

Mộ Trạch tiên sinh

Ăn khỏe nổi danh Mười tám bát cơm Mười hai bát canh

Đỗ đầu khoa bảng Tên trội quần anh Chứa vào càng lớn

Nở ra càng phình” [19, tr 143]

Trong thực tế, cũng có những người ăn khỏe như Lê Nại Rõ ràng, ở đây, tác giả dân gian đã khoa trương, khiến tình huống giai thoại thêm hấp dẫn, gây hứng thú cho người nghe Cách nói khoa trương ở đây đã tạo nên chất trí tuệ trong lời thoại Tình tiết ông bố vợ cho chàng rể ăn cũng mang tính chất hài hước, thú vị, giàu kịch tính Cho ăn một đấu học đến tối Rồi tăng dần, đến định mức hai đấu thì học thâu đêm suốt sáng

Trang 26

Giai thoại thường pha giọng dí dỏm, hài hước, phê phán Giọng điệu này gắn

bó chặt chẽ với nội dung phản ánh của nó Sở dĩ giai thoại có giọng kể này là vì lời thoại tác phẩm luôn có tính trí tuệ nên nếu người kể kể với giọng đều đều, không rõ ngữ điệu, thiếu dí dỏm sẽ mất đi cái lý thú, cái “thần” của câu chuyện Lấy ví dụ về giai thoại “Đầu nhà sư móm” sẽ rõ hơn về đặc điểm này

“Nhà sư nọ là người không có đạo hạnh, nhân dân không kính trọng Sư rụng hết răng cửa thành ra móm, lại nuôi một chú tiểu ngọng líu Thật là một tình huống hài hước không khác gì cảnh trong câu ca dao hài:

Chồng què lấy vợ kiễng chân Nuôi được thằng ở đứt gân cũng què

Nguyễn Khuyến đến thăm sư, làm đôi câu đối đùa:

Phất phất phóng phong phan, pháp pháp phi phù, phù phụng phật Căn căn canh cổ kệ, cao ca kỷ cứu, cứu cùng kinh

Nghĩa là:

Phất phới phóng phan bay, phù phép phá bùa, bùa phụng phật

Khề khà ca kệ cổ, nghêu ngao nghiền ngẫm, ngẫm ngầm kinh

Chỗ thú vị của câu đối là ở âm đọc, câu trên nghe có giọng phều phào của người móm, còn câu dưới nghe ngúc ngắc, cứng quèo như giọng của người ngọng

Sư biết Nguyễn Khuyến trêu chọc, cũng bực, nhưng vì câu đối tài tình quá, nên sư

tỏ ra hết sức kinh ngạc và kính phục, chỉ cười mà không trách cứ gì” [19, tr 230]

Ở các thể loại dân gian khác, như truyền thuyết, “truyền thuyết luôn mang giọng điệu trang trọng, thành kính, phù hợp với thái độ đánh giá lịch sử” [47, tr 95] Những từ ngữ sau đây thường hiện diện trong truyền thuyết nhưng không bao giờ thấy trong giai thoại: “để ghi nhớ tấm lòng nhân hậu…; để ghi nhớ câu chuyện thương tâm…; nhân dân trong vùng rất thương nhớ…; …nhưng tên tuổi ông được lưu danh muôn đời trong lịch sử, trên bia miệng…” Chúng tôi so sánh như vậy để thấy được rằng lời thoại, ngôn ngữ của giai thoại rất di dỏm, nó có những đặc trưng riêng biệt, có màu sắc riêng với các thể loại dân gian khác

Do đặc điểm của kết cấu giai thoại (kết cấu có dáng dấp một màn kịch), đối

thoại đóng vai trò quan trọng trong lời văn kể chuyện Có thể hình dung lời văn kể

Trang 27

chuyện gồm hai phần: phần đối thoại là “tiêu điểm” của hành động và diễn hóa hành động của nhân vật, còn phần còn lại của lời văn kể chuyện là những chỉ dẫn về hoàn cảnh và diễn hóa của hoàn cảnh Có thể nói, trong giai thoại, đối thoại lời nói

của nhân vật đóng vai trò chính trong việc thể hiện tính cách của nhân vật Do đó,

đây cũng là chỗ kết tinh những nét đặc sắc của ngôn ngữ giai thoại: tính chất giản dị

và tự nhiên, sinh động và sắc bén…trong đó, tất nhiên, nét nổi bật là tính chất hài hước, thú vị, lý thú, chắt lọc từ nguồn khẩu ngữ dân gian Điều này góp phần làm nổi bật tính trí tuệ của lời thoại

Ví dụ về thoại “Bảo một đằng, làm một nẻo” sau đây:

“Đó là khoảng năm 1908, trước tết Nguyên Đán mấy hôm Một học trò cũ đến thăm cụ Tam Nguyên Sau khi ân cần hỏi thăm gia đình, sức khoẻ, Cụ mới hỏi đến nghề nghiệp và công việc làm ăn Khách lễ phép thưa:

- Mười năm trước con đã có phúc đến ăn mày cửa thầy được ít chữ nghĩa Nhưng rồi thời thế đổi thay, vì sinh kế con phải xoay sang đường tân học Nay con đang làm thông sự tại tòa sứ một tỉnh miền trong

Cụ Tam lắng nghe chăm chú, khách tiếp:

- Thưa thầy, bấy lâu xa cách, nay được về nghỉ tết, con ghé thăm thầy Lòng thành, con có chút quà mọn biếu thầy gọi là chúc tết, xin Thầy nhận cho Anh ta đặt gói quà lên sập

- Anh lại có quà cho ta nữa ư? Cảm ơn anh, thầy xin

Cụ đưa tay rờ rẫm bên phải, không thấy Khách thưa:

- Thưa thầy bên này kia ạ!

Cụ đưa tay bên trái, lại cũng không thấy Khách đẩy gói quà tận tay cụ Bỗng

cụ bật cười, nói mà như đọc:

- Hay thật là hay đáo để! Bảo một đàng, quàng một nẻo!

Thầy trò cùng cười Nhưng bỗng nhiên người học trò im bặt, sượng sùng vì chợt hiểu, câu nói hồn nhiên kia không phải cụ chỉ có ý đùa về sự mù lòa, lẩm cẩm, mà còn hàm ý: Thầy dạy anh một đàng, nay anh quàng một nẻo, anh đi làm việc cho Tây Trầm ngâm một lát, Cụ tiếp, giọng xa xôi, buồn bã:

- Thôi thế thì thôi cũng được! Phi đằng nọ, tắc đằng kia!

Trang 28

Khách lặng người vì cảm động Anh ta hiểu nỗi lòng ngao ngán của thầy trước thế cuộc, cũng như thái độ khoan dung nhân hậu của thầy” [19, tr.233]

Chắc hẳn, anh học trò sẽ không bao giờ quên lời nói tự nhiên mà thành câu đối thâm trầm này:

- Hay thật là hay đáo để! Bảo một đàng, quàng một nẻo!

- Thôi thế thì thôi cũng được! Phi đằng nọ, tắc đằng kia!

Lời văn kể chuyện của thoại trên có mấy nét đáng chú ý:

Thứ nhất, lời kể đậm đà chất dân gian, chất khẩu ngữ Đặc điểm này khá gần gũi với truyện cười dân gian Để đả kích và răn dạy anh học trò, Nguyễn Khuyến đã không dài dòng mà dùng thành ngữ và cách nói đậm chất khẩu ngữ: “bảo một đàng, quàng một nẻo”, “phi đằng nọ, tắc đằng kía”, “thôi thế thì thôi”

Thứ hai, chỉ cần xâu chuỗi những từ ngữ đặc tả hành vi của nhân vật trong lời văn kể chuyện, cũng đủ thấy hiện lên sống động không chỉ một tình huống lý thú mà cả diễn hóa của nó: thầy dạy trò điều hay, lẽ phải nhưng trò lại làm ngược lại những đạo đức ấy - đi làm việc cho Tây, trò về thăm thầy - thầy răn dạy, trò sượng sùng

Ở phần này, chúng tôi xác định, lời thoại trí tuệ, dí dỏm là một trong những tiêu chí nhận diện thể loại giai thoại Tiêu chí này có liên quan chặt chẽ đến nội dung, nghệ thuật cũng như nhân vật chính của giai thoại Những nội dung này sẽ làm rõ hơn ở phần sau của luận văn

1.1.2.3 Đời thường hóa nhân vật

Giai thoại chỉ tập trung kể chuyện sinh hoạt đời thường, chuyện “thâm cung

bí sử” của những nhân vật vốn nổi tiếng Một giai thoại, dù đã có tình huống lý thú, lời thoại lý thú nhưng nếu được gán vào một nhân vật nổi tiếng thì tính lý thú của

nó càng tăng thêm bội phần Không ít giai thoại văn học đã được lịch sử hóa, có lẽ cũng từ quan niệm này Còn đó, giai thoại về các hoàng tử con vua Gia Long: Nguyễn Phúc Phổ ngổ ngáo, Nguyễn Phúc Đài tham lam, Nguyễn Phúc Quân xấc xược … Rồi chuyện các đại thần: tướng Lê Văn Quân chết rồi vẫn bị đánh 100 gậy,

Trang 29

Tả quân Lê Văn Duyệt bị san mộ, Tham tri Nguyễn Tri Phương bị vua nghiêm phê,

Tiến sĩ Phan Thanh Giản bảy lần bị trách phạt…

Riêng tiêu chí này, chúng tôi so sánh nhân vật giai thoại với nhân vật truyền thuyết để thấy rõ sự khác biệt Sở dĩ chúng tôi lựa chọn truyền thuyết vì đây là thể loại cũng kể về những nhân vật có thật trong lịch sử, song khác với xu hướng miêu

tả hoàn toàn trái ngược Trong truyền thuyết, ngoài những anh hùng dân tộc như Trương Định, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân … tác phẩm

có thể chỉ kể về những người xuất thân bình thường hoặc vô danh Đơn cử, đó là chuyện mười tám nghĩa binh phò Trương Định, chuyện ông lực điền Phòng Biểu - tướng tài của Thiên Hộ Dương, chuyện Bà Điều, Bà Đỏ - nghĩa quân thân tín của Nguyễn Trung Trực, chuyện tướng cướp hoàn lương Sáu Hải - người đánh mõ trung

thành của Thủ Khoa Huân… Điều này, với giai thoại là hiếm thấy

Về cách miêu tả, giai thoại thường đưa cuộc đời nhân vật đi từ chỗ bí ẩn trở

về gần gũi với mọi người Nó có xu hướng kéo nhân vật xuống đời thường Lấy ví

dụ những giai thoại về cuộc đời Từ Dũ - bậc mẫu nghi thiên hạ những lời nói, việc làm hàng ngày lại bình dị, rất đời thường

Chuyện kể rằng, từ lúc vào cung làm vợ hoàng tử Miên Tông rồi sau này trở thành hoàng quý phi của vua Thiệu Trị, hay lúc là Từ Dũ Thái hậu, bà Từ Dũ vẫn luôn là người sống giản dị, khiêm tốn, kính trên nhường dưới cho dù luôn được vua sủng ái, cuộc sống đầy đủ Điều khiến bà bất bình nhất là sự ăn chơi vô độ, xa hoa, phung phí Bà vẫn thường dạy các cung phi trong hậu cung: Tất cả những gì chúng

ta được hưởng đều là mồ hôi của dân Nếu lãng phí đã không ích gì mà lại đáng tiếc, sao bằng lưu lại để triều đình dùng cho việc nước Nói là làm, tất cả những gấm vóc, châu ngọc, lụa là được ban tặng, bà đều giao nộp vào kho, tuyệt nhiên không dùng đến Bà chỉ có vài bộ xiêm y để thay đi thay lại Có lần vua Tự Đức đến thăm, thấy xiêm áo mẹ mặc vải đã sờn, liền ngỏ ý may cho bà áo mới, nhưng bà kiên quyết chối từ Hoàng Thái hậu Từ Dũ tiết kiệm đến nỗi chính các cung nữ hầu cận bà cũng phải kinh ngạc Bà quan niệm hạt gạo là hạt ngọc trời ban nên không bao giờ được phép lãng phí Có lần thấy cung nữ ở cung Gia Thọ đổ cơm nguội

Trang 30

xuống dưới rãnh nước, bà bắt nhặt lên, đem rửa thật sạch rồi đem hấp lại và đích thân ăn chỗ cơm đó trước sự hổ thẹn của xung quanh Thời vua Thiệu Trị còn sống,

có lần vào cung thăm bà, vua thấy bà dùng chiếc quạt nan tre đã sờn rách, chiếc bát

ăn cơm bà dùng cũng có vết rạn, vua bèn sai người đổi cái khác nhưng bà không cho Bà nói: Đổi cái mới để lâu nó cũng cũ đi, vậy thì cứ để lại cái cũ Ngay cả những cây nến trong hậu cung cháy hết, còn lại mẩu thừa, cung nữ thường vứt đi,

Từ Dũ Thái hậu cũng bắt gom lại để dành, dồn vào nấu thành cây nến khác Bà thường nói với các cung nữ: Ta tự thấy không làm gì có ích cho nước nhà, sao lại cậy thế là mẹ vua để ăn tiêu xa xỉ Một sợi tơ, một hạt hạo đều là máu mỡ của dân, tuyệt không được coi thường mà hoang phí? Sinh thời, làm việc gì, tiêu đồng tiền gì

dù là nhỏ nhất, Từ Dũ Thái hậu cũng nghĩ đến dân Dịp lễ mừng thọ bà, bà thường lấy lý do nhân dân còn nghèo, thiên tai mất mùa, đói ăn mà từ chối lời đề nghị tổ chức mừng thọ của vua Là người yêu nước thương dân, Từ Dũ Thái hậu đã đứng ra xin vua miễn thuế cho dân Nhân dân biết ơn đã làm một bài vè dài 700 câu để ca ngợi tấm lòng nhân đức của Từ Dũ Thái hậu

Hay như Nguyễn Trãi - một danh nhân văn hóa, một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử dân tộc Ông đã được lịch sử, truyền thuyết ca ngợi, tôn thờ nhưng những mẩu giai thoại về cuộc đời ông đã giúp người đọc hình dung ra một Nguyễn Trãi cũng bình dân, đời thường như bao người dân khác, cũng có ái, ố, hỉ, nộ, yêu

ghét… Giai thoại “Câu thơ nên nghĩa” dưới đây giúp chúng ta phần nào thấy

được chân dung ấy:

“Sau kháng chiến Bình Ngô Một buổi chiều từ triều trở về, qua Hồ Tây trời xâm xẩm, Nguyễn Trãi gặp một cô gái đi bán chiếu rong Rung động trước vẻ đẹp tuyệt trần của cô gái, tâm hồn thi sĩ bỗng nhiên lên tiếng:

Nàng ở đâu ta bán chiếu rong?

Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?

Xuân thu chừng độ bao nhiêu tuổi

Đã có chồng chưa, được mấy con?

Người con gái nhìn thẳng vào vị đại thần, tình tứ đung đưa cặp mắt lá răm:

Trang 31

Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon Nỗi chi ông hỏi hết hay còn?

Xuân xanh vừa độ trăng tròn lẻ

Chồng còn chưa có, hỏi chi con?

Nguyễn Trãi thấy đối đáp trôi chảy, trong lòng xốn xang Hỏi tên biết nàng là Thị Lộ, quê làng chiếu Hải Triều, Thái Bình, mới đem về cưới làm vợ Vua Thái Tông cảm vì sắc, phục vì tài hay chữ, phong là Nữ học sĩ, thường thư-ờng cho vào nơi cung cấm, dạy các cung phi Nguyễn Thị Lộ là người vợ tâm đắc nhất của Nguyễn Trãi” [19, tr 156]

Ngược lại, truyền thuyết đưa nhân vật đi từ chỗ bình thường hóa thành thiêng liêng, bất tử Nó theo xu hướng nâng nhân vật lên ngưỡng đề cao, tôn thờ Điều này hoàn toàn ngược lại với giai thoại Đó chính là điểm khu biệt cho thể loại này với truyền thuyết Ví dụ, chuyện ông Dương Văn Hạnh, phó xã trưởng đất Lý Nhơn, vì giấu tung tích Trương Định mà bị chặt đầu nên nhân dân tôn thành Ông thần không đầu; chuyện Bà Bầy, vì ủng hộ nghĩa quân Thiên Hộ Dương mà bị giặc bắt tra tấn, hãm hiếp đến chết nên được nhân dân thương tiếc, lấy tên bà đặt cho một vàm sông

- vàm Bà Bầy …

“Giai thoại luôn gắn với không gian, thời gian sinh hoạt đời thường, hàng ngày Còn truyền thuyết luôn gắn với không gian thiêng, thời gian thiêng, liên quan đến vận mệnh nhân vật và dân tộc Trong truyền thuyết, cho dù một vàm sông, con rạch bình thường cũng gắn liền với công đức, sự hy sinh dũng liệt của những người yêu nước (vàm Hổ Cứ, vàm Bà Bầy, rạch Nàng Hai, Vũng Linh,…)” [47, tr 95] Các tình tiết, sự kiện, cho dù gần với sinh hoạt đời thường cũng gắn liền với một thời khắc lịch sử nào đó, có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc đời nhân vật lịch sử

So sánh như vậy để thấy rõ rằng cùng viết về một đối tượng là nhân vật có thật trong lịch sử nhưng ở những thể loại khác nhau thì hướng khai thác cũng khác nhau Nếu như truyền thuyết hướng vào cái phi thường của nhân vật thì giai thoại lại đi sâu vào cái đời thường Một thể loại khiến người đọc, người nghe có thái độ ngưỡng vọng, ngợi ca, còn một thể loại lại nhằm mục đích giúp người đọc biết xoay quanh cuộc sống sinh hoạt, tình cảm, đời tư của chính những con người phi thường

Trang 32

ấy Xu hướng đời thường hóa nhân vật kéo nhân vân vật đến với độc giả gần gũi hơn, cung cấp một cái nhìn toàn diện, đầy đủ về nhân vật

Ở đây, chúng tôi bước đầu xác định các tiêu chí để nhận diện thể loại giai thoại Theo chúng tôi, phải có sự tổng hợp, liên kết các tiêu chí trên với nhau thì mới có cái nhìn toàn diện, chính xác cao về việc nhận diện thể loại giai thoại

1.2 Vấn đề phân loại giai thoại

Về cơ bản, văn học dân gian có thể phân loại thành 3 loại: loại tự sự, loại trữ tình và kịch Vậy, giai thoại được xếp vào loại nào trong đó?

Giai thoại là đối tượng nghiên cứu khá mới mẻ của văn học dân gian và cả văn học thành văn Tuy được một bộ phận nghiên cứu công nhận là một thể loại nhưng lý thuyết về nó còn ít được chú ý

Về vấn đề phân loại giai thoại, Guxép đã nhận xét: “Các tiểu loại giai thoại chưa được phân hóa rõ rệt” Qua quá trình sưu tầm giai thoại ở nước ta từ trước đến nay, chúng tôi thấy tình trạng tương tự Mặc dù, người ta có thể phân loại giai thoại thành nhiều chủng loại khác nhau: Giai thoại văn chương, Giai thoại văn nghệ, Giai thoại văn nghệ dân gian, Giai thoại làng Nho, Giai thoại phụ nữ, Giai thoại folklore, Giai thoại xứ Lạng, Giai thoại Thăng Long… Nhưng thực ra, đó chỉ là sự sắp xếp, phân loại có phần tùy tiện, chưa có tiêu chí rõ ràng Chỉ có thể coi đó là sự phân loại tạm thời, để công bố, chưa thể coi đó là sự phân loại khoa học

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bích Hà trên cơ sở tìm hiểu các giai thoại qua một

số tư liệu đã được chính thức xuất bản, đã chia giai thoại thành các bộ phận sau:

- Giai thoại văn học

- Giai thoại danh nhân

- Giai thoại cười

Giai thoại văn học được hiểu là những mẩu chuyện về các nhà văn, hoặc những người yêu thích thơ văn và sáng tác thơ văn.Nó khiến ta hiểu các nhà văn hoặc các sáng tác văn chương của họ một cách đầy đủ và sâu sắc hơn Chẳng hạn những mẩu chuyển về Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu…

Trang 33

Giai thoại danh nhân là những mẩu chuyện kể xung quanh những nhân vật nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, khiến cho ta hiểu họ một cách sinh động

và giàu nhân văn hơn Chẳng hạn, chuyện kể Nguyễn Hiền, Lê Quý Đôn, Lương Thế Vinh, Lê Hữu Trác…

Giai thoại cười là những mẩu chuyện xoay quanh một nhân vật chuyên gây cười Từ đó thể hiện trí tuệ dân gian và tính chất xã hội của truyện Những truyện này giống truyện tiếu lâm ở một số tình tiết gây cười, nhưng khác tiếu lâm ở chỗ nó

có một nhân vật trung tâm, đây đồng thời là nhân vật gây cười chứ không phải là đối tượng của tiếng cười Trong khi ở truyện tiếu lâm thì nhân vật gây cười đồng thời chính là đối tượng của tiếng cười Truyện Trạng Quỳnh, Xiển Ngộ, Bác Ba Phi…thuộc loại truyện này Tuy nhiên, nhà nghiên cứu cũng chỉ rõ, cách chia này mới chỉ là tạm thời

Vũ Ngọc Khánh, người đã từng sưu tầm, biên soạn nhiều chủng loại giai

thoại và đã công bố cả một bộ Kho tàng giai thoại Việt Nam đồ sộ cũng tỏ ra có

những băn khoăn trong việc phân loại giai thoại Theo ông, “thu thập kho tàng giai

thoại cũng gặp một số khó khăn trong sự phân biệt tính chất” [19, tr.12] Bởi vì giữa

các tiểu loại có sự giao thoa, xen kẽ lẫn nhau Chẳng hạn như các danh nhân như Lương Thế Vinh, Lê Quý Đôn…cũng đồng thời là những người có tài văn chương, thơ phú Xếp những thoại xung quanh các vị ấy vào loại nào cũng khó Hay như giai thoại đi sứ, nên xem nó là giai thoại lịch sử hay giai thoại văn chương? Đúng ra thì việc đi sứ thuộc hiện tượng lịch sử nhưng hầu hết các cuộc giao thiệp đều xoay quanh những chuyện đối đáp thử tài, mà hay nhất vẫn là những tác phẩm văn học Trường hợp kể chuyện đi sứ dồi dào nhất có lẽ là trường hợp của Mạc Đĩnh Chi thì toàn câu đối và câu đối

Nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch xếp giai thoại vào loại tự sự dân gian và chia thành hai tiểu loại Đó là: giai thoại văn học và giai thoại lịch sử Trong từng tiểu loại, lại có thể chia thành các nhóm nhỏ

- Giai thoại văn học có thể chia thành:

+ Nhóm Giai thoại về các tác gia

+ Nhóm Giai thoại về các sáng tác văn học khuyết danh, vô danh

Trang 34

- Giai thoại lịch sử có thể có các nhóm:

+ Nhóm Giai thoại về các danh nhân lịch sử, danh nhân văn hóa

+ Nhóm Giai thoại đi sứ

Tuy nhiên, xem xét từ các tư liệu cụ thể thì lý thú nhất, hay nhất và nhiều nhất

về số lượng vẫn là các giai thoại văn học Còn giai thoại lịch sử vừa “không mấy hấp dẫn” (Kiều Thu Hoạch), lại không nhiều về số lượng (trừ nhóm giai thoại đi sứ - thực

ra những thoại hay, lý thú đều là những thoại gắn với nhiều câu thơ văn)

Như vậy, có rất nhiều ý kiến khác nhau về việc phân loại giai thoại Mỗi nhà nghiên cứu đều có những quan điểm hết sức hợp lý khi phân chia và mỗi cách lại có những ưu điểm riêng Khi tiến hành khảo sát và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy ý kiến của nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch khá hợp lý Trong phạm vi luận văn, chúng tôi lựa chọn theo cách phân loại này để tiến hành khảo sát một bộ phận nhỏ trong đó

1.3 Thực tế lưu truyền giai thoại trong đời sống hiện nay

Trong loại hình tự sự dân gian ở nước ta, thể loại giai thoại mặc dù đã được chú ý qua không ít các công trình sưu tầm, tuyển chọn có giá trị trong thời gian gần đây, tuy nhiên, trên phương diện lý thuyết, thể loại này vẫn chưa được đào sâu, soi sáng một cách kì cùng Đó là chưa kể đến những ý kiến, quan điểm học thuật trái chiều nhau Tất cả những biểu hiện ấy khiến giai thoại chưa thể tồn tại trong trạng thái rõ ràng nhất có thể

Đó là vấn đề nghiên cứu lý thuyết, còn trong đời sống hiện nay, giai thoại có sức sống như thế nào?

Thực tế cho thấy nhu cầu nói và được người khác nghe nói là không thể thiếu đối với mỗi người trong giao tiếp Giai thoại là những câu chuyện hay, hấp dẫn, lý thú được kể truyền miệng Trong đời sống hiện nay, các giai thoại có sức sống của riêng nó, khiến nó không hề bị thui chột mà ngày càng phong phú, đặc sắc hơn Mỗi giới, mỗi ngành nghề lại có những thoại của riêng mình và được truyền tai nhau Chẳng hạn như giới nghệ sĩ hiện nay vẫn kể cho nhau nghe những câu chuyện “bất hủ” về thủy tổ của nghề hay về các nghệ sĩ có tên tuổi trong nghề Ví dụ như thoại

Trang 35

về tổ nghề sân khấu: Ở xã Điện Minh (Điện Bàn, Quảng Nam) Nơi đây có một làng tên Xướng An, mà theo chiết tự có nghĩa là “nơi yên ổn của giới xướng ca vô loài”, gồm cả ca kỹ, ăn xin… Chuyện kể rằng, dân làng này vào Nam cùng thời với Đào Duy Từ (1572 - 1634), người đã “vượt biên” vào Đàng trong năm Ất Dậu (1627), là một ông tổ của sân khấu Hàng năm, vào dịp cúng thành hoàng, dân làng Xướng An

đi qua các làng kế cận để xin đồ ăn thức uống về làm lễ vật, ấy là cách nhắc nhớ truyền thống ca kỹ, ăn xin của mình, dù làng bây giờ đã khá giả Riêng dịp rằm tháng 8 này, người ta kể rằng vẫn có nghệ sĩ hát tuồng đến đây cúng tổ; vào đêm khuya, thi thoảng vẫn có người cúng len lén, họ phải che giấu thân phận vì chẳng muốn người khác biết đến công việc của mình Theo nhiều cao niên trong làng, nghệ sĩ, ăn xin…cùng tổ nghề với nhau, cùng phận bên lề xã hội, nghèo hèn như nhau…nên phải bình đẳng với nhau, không phân biệt cao thấp, coi nhau như một nhà Qua năm tháng, dù nếp cũ vẫn được giữ, nhưng quan niệm về tổ nghề sân khấu thì có những biến cải và bổ túc Ngoài những vị thuộc về “cửu huyền thất tổ”, có tính tương truyền, mỗi ngành lại truy tôn thêm tổ nghề, thường là nghệ sĩ khai sinh hoặc vĩ đại Ví dụ Phạm Thị Trân là tổ nghề hát chèo; ông Làng, Liêm Thu Tâm, Đào Duy Từ, Đào Tấn… tổ hát tuồng; Trần Quốc Đĩnh tổ hát xẩm; Tống Hữu Định, Cao Văn Lầu… tổ hát cải lương

Không chỉ như vậy, các thoại này còn được nâng lên thành một nét văn hóa tâm linh Giới nghệ sĩ còn truyền nhau nhiều trường hợp vì không kính trọng tổ nghề mà thân bại danh liệt Gần như hậu trường sân khấu hát bội, cải lương, kịch nói nào cũng có một bàn thờ tổ, với vài tượng thờ nhỏ…

Hay như các giai thoại lịch sử thì vẫn có một vị trí, một sức sống mãnh liệt trong lòng nhân dân Bên cạnh các truyền thuyết, các di tích, đền chùa miếu mạo, người ta vẫn kể cho nhau nghe các thoại xung quanh cuộc đời và sự nghiệp của các nhân vật lịch sử khiến cho người nghe có ấn tượng không thể phai mờ về chiến công của họ Ví dụ như giai thoại “Cây thị ăn thề” kể về Lê Lợi: “Trong một lần đánh nhau với giặc Minh, bị giặc ráo riết truy lùng, Lê Lợi đã liền chạy vào ẩn mình trong hốc cây Lúc bấy giờ, giặc Minh cho chó săn và lính đuổi theo, vừa đến gốc thị, quân địch đoán chắc Lê Lợi đang ẩn nấp ở đó nên binh lính đã dùng gươm giáo

Trang 36

xỉa liên tục vào cây Lê Lợi đã lựa tránh những mũi giáo đâm chạm vào mình thì bỗng nhiên có con cáo từ trên cây thị xuất hiện và chạy ra ngoài, trong bóng tối giặc nhầm tưởng là có người chạy nên đã cho chó và lính đuổi theo Nhờ vậy mà Lê Lợi

đã có thể trốn thoát Tại đây, ông gặp nghĩa quân Cốc Sơn do Nguyễn Tuấn Thiện lãnh đạo nhân dân trong vùng đứng lên chống giặc Minh Ngay từ lần đầu gặp gỡ, hai người đã có cùng chung chí hướng, tiếng nói chung, quyết định kết hợp lực lượng cùng giết ngựa trắng uống máu, cắt tóc ăn thề, kết nghĩa tình anh em ngay dưới gốc cây thị cổ thụ này

Kể từ đó, người dân trong vùng gọi đây là “cây thị ăn thề” hay “gốc thị sử tích” Bốn câu thơ vẫn được người dân lưu truyền để ghi nhớ giai thoại này:

Cắt tóc, giết ngựa trắng Dưới gốc thị thề nguyền Nguyện đồng tâm đồng chí Phá giặc xây cơ đồ”

Giai thoại này được truyền từ người này sang người khác, từ đời này sang đời khác Cứ thế, 700 năm đã trôi qua những gần như không một ai ở khu vực này

là không biết đến, không tự hào về câu chuyện và người anh hùng của dân tộc

Có thể nói, mặc dù chưa được đào sâu, soi sáng một cách kì cùng về vấn đề thể loại nhưng giai thoại vẫn tồn tại trong đời sống với sức sống rất mãnh liệt

Trong quá trình sưu tầm, điền dã, tìm tư liệu phục vụ cho luận văn, chúng tôi được tiếp xúc với một số nhân vật, có nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, có các sinh viên đại học, học viên cao học… Khi được hỏi về các giai thoại xung quanh các nhà thơ, nhà văn, các danh nhân nổi tiếng mà họ biết thì điều đầu tiên chúng tôi nhận thấy là thái độ thích thú của họ khi kể về các câu chuyện mà họ được chứng kiến, được biết, được nghe Sinh viên Nguyễn Thị Hòa (K52, khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm

Hà Nội) cho biết: “Ở trên lớp, khi được nghe các thầy cô kể về giai thoại xung quanh các tác gia văn học, các bạn sinh viên rất hào hứng Những câu chuyện đó giúp chúng tôi hiểu thêm về các nhà văn, nhà thơ và làm cho bài học hay hơn, chúng tôi nhớ bài lâu hơn Khi về nhà, các bạn còn kể lại, bình luận cho nhau nghe

về các giai thoại ấy” Còn với các giáo viên phổ thông, việc sưu tầm giai thoại xung

Trang 37

quanh bài giảng của mình sẽ “giúp bài giảng hay hơn, học sinh hứng thú hơn, đạt hiệu quả dạy học tốt hơn” (Cô giáo Vũ Thị Thùy Linh, Trần Thị Tuyết - Trường Trung học phổ thông Gang Thép, Thái Nguyên chia sẻ) Thậm chí, đối với các giáo viên dạy các môn khoa học tự nhiên thì giai thoại về các nhà toán học, hóa học, vật

lý cũng được “tận dụng” để làm cho bài giảng của mình thêm hấp dẫn, sinh động

Ngay cả đối với các nhà văn, nhà thơ, khi được hỏi về các câu chuyện về chính mình thì họ cũng rất vui vẻ kể lại Thoại đó có thể có thật, có thể do ai đó “hư cấu” Điều quan trọng mà chúng tôi muốn khẳng định ở đây là: Trong đời sống hiện nay, giai thoại có một đời sống rất phong phú Nó không hề bị mất đi cùng với thời gian mà vẫn tồn tại trong lòng dân gian với sức sống mãnh liệt Đó chính là tín hiệu đáng mừng cho nền văn học Việt Nam nói chung và văn học dân gian nói riêng

* Tiểu kết

Giai thoại là đối tượng còn khá mới mẻ của các nhà nghiên cứu văn học Có rất nhiều ý kiến trái chiều nhau về loại hình này Có người không công nhận nó là một thể loại văn học có chỗ đứng độc lập, riêng biệt Có người lại đi vào khẳng định

vị trí của thể loại này Ngay cả vấn đề xác định, phân loại các tiểu loại của giai thoại cũng xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau Tuy nhiên, với mong muốn đi sâu vào khám phá những phong phú, đặc sắc của một bộ phận văn học khá độc đáo trong kho tàng văn học dân tộc, chúng tôi đồng ý với ý kiến của một số nhà nghiên cứu như Kiều Thu Hoạch, Hoàng Ngọc Phách, Trần Thanh Mại…khẳng định giai thoại là một thể loại văn học dân gian Chúng tôi cũng bước đầu xác định một số tiêu chí để nhận diện thể loại này, đó là: quy mô tác phẩm ngắn gọn, tình huống truyện lý thú, hấp dẫn; lời thoại giàu tính trí tuệ, dí dỏm; nhân vật được đời thường hóa Việc nhận diện thể loại giai thoại cũng không căn cứ vào một tiêu chí cụ thể nào mà phải xem xét trong sự tổng hòa các tiêu chí mà chúng tôi đã trình bày ở trên Khi trình bày về các tiêu chí nhận diện thể loại, chúng tôi cũng đi so sánh các tiêu chí đó với một số thể loại văn học dân gian khác để có cái nhìn khách quan, chính xác

Có rất nhiều giai thoại thuộc các lĩnh vực khác nhau: lịch sử, xã hội, văn nghệ - văn học…nên việc phân loại giai thoại cũng gặp không ít khó khăn Trong các công trình nghiên cứu khác nhau, một số nhà nghiên cứu đã có cách phân loại

Trang 38

của riêng mình Mỗi cách phân loại đều dựa trên những cơ sở lý luận riêng Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng nhận định rằng những cách phân chia đó mới chỉ là tạm thời, chưa thực sự chính xác Trong phạm vi luận văn, chúng tôi lựa chọn cách phân loại của nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch làm cơ sở để tiến hành đi sâu vào

phân tích một tiểu loại nhỏ: Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam

Mặc dù vấn đề nghiên cứu thể loại giai thoại còn nhiều ý kiến trái chiều nhau nhưng đời sống dân gian của thể loại này rất phong phú Trong quá trình làm luận văn, chúng tôi nhận thấy giai thoại tồn tại ở nhiều lĩnh vực và được lưu truyền ở nhiều người, nhiều nơi Việc lưu truyền và thái độ tiếp nhận của mọi người với các thoại cũng khá tích cực

Hy vọng rằng những vấn đề lý luận và thực tế mà chúng tôi đề cập ở chương

1 của luận văn sẽ giúp người đọc, người nghiên cứu có được cái nhìn toàn diện hơn

về thể loại văn học lý thú này Đó cũng chính là cơ sở để chúng tôi tiếp tục đi vào chương 2 và chương 3 của luận văn - tìm hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật của một

bộ phận giai thoại cụ thể: Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam

Trang 39

Chương 2 NỘI DUNG CỦA GIAI THOẠI VỀ CÁC TÁC GIA

VĂN HỌC VIỆT NAM

Theo tác giả Kiều Thu Hoạch, giai thoại văn học chia thành hai bộ phận: giai thoại về các tác gia, các nhân vật có tên tuổi lai lịch cụ thể và giai thoại xung quanh các nhân vật vô danh, phiếm chỉ, như kiểu thầy đồ, anh học trò, cô hàng nước, ông quan… Trong phạm vi chương 2 của luận văn, chúng tôi tiến hành tìm hiểu và

khảo sát giá trị nội dung của bộ phận Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam

2.1 Đả kích, châm biếm tầng lớp có chức sắc, địa vị trong xã hội phong kiến

Trong lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam có những giai đoạn khủng hoảng trầm trọng, mục nát đến gốc rễ Bối cảnh đó đã xuất hiện không ít bọn quan lại, nho

sĩ dốt, nhờ có đồng tiền mà trở thành quan Điều đó khiến không ít nhà văn, nhà thơ chân chính phải đau đớn, xót xa Giai thoại về một số tác gia văn học Việt Nam đã làm rõ hình ảnh tầng lớp có chức sắc, địa vị trong xã hội đương thời Bộ mặt thật của chúng được các tác gia, bằng tài năng của mình, phơi bày một cách vừa khéo léo vừa chân thực Qua đó, hiện lên trong mỗi giai thoại không chỉ là bản chất thực

sự của mỗi cá nhân đối tượng bị châm biếm, đả kích mà còn là cả một tầng lớp, một

bộ phận trong xã hội rối ren, mục ruỗng

Tiêu biểu phải kể đến các giai thoại xung quanh nữ sĩ Hồ Xuân Hương Bà sống vào giai đoạn cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, nữ thi sĩ lớn lên trong giai đoạn đất nước có những bất ổn về chính trị và xã hội - thời kỳ cuộc nổi dậy Tây Sơn và một cuộc nội chiến kéo dài ba thập kỷ dẫn tới Nguyễn Ánh đoạt được chính quyền

và bắt đầu triều đại nhà Nguyễn Chính những thay đổi này cùng với tư tưởng

"trọng nam khinh nữ" thời phong kiến đã có ảnh hưởng lớn tới đề tài sáng tác của

Hồ Xuân Hương Bà là người phụ nữ có tài, một hiện tượng đặc biệt trong thơ ca thời kì trung đại Những giai thoại xung quanh bà nhằm đả kích chế độ đương thời

và phê phán những thói hư tật xấu của những kẻ đạo đức giả, gồm cả các nhà sư và những thầy đồ dốt Hãy đọc thoại “Mảnh tình xẻ đôi” dưới đây: “Hồ Xuân Hương vốn nổi tiếng tài hoa, lại hay bày ra các cuộc xướng hoạ văn thơ ở trong nhà để làm vui, nên khách khứa thường lui tới nhà bà rất đông Trong số đó những khách yêu

Trang 40

chuộng văn chương mà đến thì cũng có; song hạng khách vô công rỗi nghề vì tò mò

mà đến, hoặc vì sĩ diện hão mà đến cũng không phải là hiếm Một hôm, có một công tử con quan, học hành thì dốt nát nhưng áo quần lúc nào cũng bảnh bao đến chơi nhà Xuân Hương Xuân Hương lúc ấy đang bận ở nhà trong, vả cũng đã biết

đó là một anh chàng tầm thường không muốn tiếp, bèn cho cô Nhài ra mời trầu; cơi trầu có quả cau bổ đôi kèm theo mảnh giấy đề hai câu thơ như sau:

Mảnh tình ví xẻ làm đôi được, Mảnh để trong nhà, mảnh đệ ra!

Chàng công tử xem thơ xong, chừng liệu sức mình không đối chọi nổi, bỏ cả trầu không dám ăn, lặng lẽ chuồn về luôn

Nhưng được mấy hôm, không hiểu tiếc rẻ như thế nào, người ta lại thấy chàng công tử ấy dẫn xác đến

Lần này, Xuân Hương lại sai cô Nhài bưng cơi trầu ra mời Chàng công tử giơ tay định nhót miếng trầu ăn, chẳng ngờ lại thấy có mảnh giấy với bài thơ tứ tuyệt rằng:

Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi, Này của Xuân Hương đã quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại, Đừng xanh như lá, bạc như vôi!

Chàng công tử đọc đi đọc lại mãi, mà vẫn chẳng hiểu ý tứ thế nào Sau nghĩ

kỹ mấy chữ “Này của Xuân Hương đã quệt rồi” cảm thấy lờ mờ rằng mình bị xỏ, nhưng lại lúng túng mãi chẳng biết đường hoạ

Thế là lần thứ hai, chàng công tử tốt mã ấy lại đành bỏ trầu, chuồn thẳng Nghe đâu, từ đấy cậu cả không còn dám lai vãng tới cửa nhà Xuân Hương nữa” [16, tr 259]

Đối tượng bị châm biếm ở đây có thể là một cậu công tử con quan, nhà giàu nhưng dốt nát Cậu công tử trên không “tự lượng sức mình” mà tìm đến nữ sĩ họ

Hồ Câu chuyện chỉ có lời thơ của Xuân Hương mà không hề có một câu nào của cậu ta Hạng người như thế không thiếu trong xã hội đương thời Với cá tính và tài năng của mình, nữ sĩ họ Hồ đã đả kích thành công hạng người đó

Ngày đăng: 25/06/2017, 17:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Hồng An (2013), Giai thoại anh hùng đất Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai thoại anh hùng đất Việt
Tác giả: Vũ Hồng An
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2013
2. Lại Nguyên Ân (1995), Từ điển văn học Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1995
3. Ngô Vĩnh Bình (1991), Thanh Tịnh qua giai thoại, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Tịnh qua giai thoại
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1991
4. Bùi Hạnh Cẩn (1995), Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán, chữ Nôm và giai thoại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán, chữ Nôm và giai thoại
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1995
5. Lê Dân (2015), Văn học dân gian cái hay, vẻ đẹp, Nxb Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian cái hay, vẻ đẹp
Tác giả: Lê Dân
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2015
6. Lê Tiến Dũng (2009), Nhà văn và phong cách, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và phong cách
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
7. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
8. Cao Huy Đỉnh (2007), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2007
9. Phan Huy Đông (2013), Giai thoại về Tổ nội – Tổ ngoại của đại thi hào Nguyễn Du, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai thoại về Tổ nội – Tổ ngoại của đại thi hào Nguyễn Du
Tác giả: Phan Huy Đông
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2013
10. Nguyễn Thị Bích Hà (2013), Giai thoại - một thể loại văn học dân gian, <http://nguvan.hnue.edu.vn/Nghiencuu/Vanhocdangian/>, xem 12/9/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai thoại - một thể loại văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hà
Năm: 2013
11. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử (2001), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
12. Phan Thư Hiền (2008), Giai thoại Nguyễn Công Trứ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai thoại Nguyễn Công Trứ
Tác giả: Phan Thư Hiền
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2008
13. Phan Thư Hiền, Phan Hồng Lam (2011), Giai thoại về các bậc tiền nhân mê hát ca trù và những đào nương lưu danh sử sách, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai thoại về các bậc tiền nhân mê hát ca trù và những đào nương lưu danh sử sách
Tác giả: Phan Thư Hiền, Phan Hồng Lam
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2011
14. Hoàng Ngọc Hiến (1992), Năm bài giảng về thể loại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm bài giảng về thể loại
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1992
15. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (2007), Từ điển văn học, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2007
16. Kiều Thu Hoạch (2004), Tổng tập văn học dân gian Việt Nam, tập 11: Giai thoại văn học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
17. Kiều Thu Hoạch (chủ biên) (2014), Giai thoại văn học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, quý III, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai thoại văn học Việt Nam
Tác giả: Kiều Thu Hoạch (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2014
18. Vũ Ngọc Khánh (1999), Tiếp cận kho tàng folklore Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận kho tàng folklore Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1999
19. Vũ Ngọc Khánh (2011), Kho tàng giai thoại Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng giai thoại Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2011
20. Tường Khang (2010), Giai thoại dân gian Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai thoại dân gian Việt Nam
Tác giả: Tường Khang
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THỐNG KÊ CÁC TÁC GIA VÀ MỘT SỐ GIAI THOẠI VỀ CÁC - Giai thoại về các tác gia văn học việt nam
BẢNG THỐNG KÊ CÁC TÁC GIA VÀ MỘT SỐ GIAI THOẠI VỀ CÁC (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w