LỜI NÓI ĐẦUVùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng cực Nam của Việt Nam, hay còn gọi làvùng đồng bằng sông Mê Kông, vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc miền Tây Nam Bộ hoặc nói ngắn gọn là miền Tây
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN THỦ ĐỨC
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN VĂN BANH
SỔ TƯ LIỆU
ĐÔI NÉT VỀ ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng cực Nam của Việt Nam, hay còn gọi làvùng đồng bằng sông Mê Kông, vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc miền Tây Nam
Bộ hoặc nói ngắn gọn là miền Tây thì người dân Việt Nam cũng có thể hiểu được Miền Tây Nam Bộ gồm có 12 tỉnh (An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà
Mau, Đồng Tháp, Tiền Giang, Sóc Trăng, Long An, Hậu Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long) và 1 thành phố trực thuộc Trung ương (Cần Thơ).
Đồng Bằng Sông Cửu Long nổi tiếng với nhiều kênh rạch chằng chịt, sông
ngòi dày đặc Các con sông này nguồn nước dẫn chủ yếu là từ sông Cửu Long(Cửu Long giang), là tên gọi chung cho các phân lưu của sông Mê Kông chảytrên lãnh thổ của Việt Nam Từ Phnom Penh, sông Mê Kông chia thành 2nhánh: bên phải là sông Ba-thắc (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sôngHậu) và bên trái là Mê Kông (sang Việt Nam gọi là Tiền Giang hay sông Tiền),
cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam,dài chừng 220–250 km mỗi sông
Để hiểu rõ hơn về vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long bộ phận thư viên Biên soạn
sổ tư liệu Đồng Bằng Sông bao gồm 5 phần:
Trang 3PHẦN I:
VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Trang 5Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất màu mỡ ở phía Tây Nam ViệtNam, do phù sa sông Cửu Long bồi đắp, còn gọi là miền Tây Nam Bộ, hay gọitắt là miền Tây Diện tích khoảng 40.640,7 km2, chiếm khoảng 12,3% diện tích
cả nước Dân số năm 2007 là 17.524.000 người, chiếm khoảng 20,6% dân số cảnước
ĐBSCL là 1 trong 7 vùng kinh tế của Việt Nam, thế mạnh của vùng là sản xuấtnông nghiệp Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2007 đạt 48.754,7 tỷ đồng (theogiá so sánh năm 1994), dẫn đầu cả nước, chiếm 33,2% tổng giá trị sản xuấtnông nghiệp quốc gia Giá trị sản xuất công nghiệp toàn vùng năm 2007 đạt52.730,7 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 1994), chiếm khoảng 9,23% tổng giá trịsản xuất công nghiệp cả nước, sau Vùng Đông Nam Bộ và Vùng Đồng BằngSông Hồng
ĐBSCL là cái nôi của nền văn hoá Óc Eo phát triển rực rỡ vào những năm đầuCông nguyên Nền văn hoá này có phạm vi phân bố chủ yếu ở vùng trũng miềnTây sông Hậu gồm địa bàn các tỉnh thành: An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp,Cần Thơ, Bạc Liêu… và một phần đất Đông Nam Campuchia Xã hội Óc Eo làmột xã hội phát triển nhiều ngành nghề thủ công như nghề gốm, nghề luyệnđồng, luyện sắt, luyện thiếc, nghề kim hoàn Đặc biệt nông nghiệp và thươngnghiệp lúc này đã khá phát triển với một loạt chứng cứ như những công trìnhthủy lợi cổ, kênh rạch vừa tưới tiêu vừa là đường giao thông, sản phẩm thủcông, những đồng tiền kim loại, đồ trang sức, con dấu bằng đá quý, thủytinh nhiều sản phẩm có nguồn gốc ngoại nhập Nền văn hoá này còn để lạinhiều kiến trúc khác nhau như vết tích nhà sàn, những kiến trúc đồ sộ bằng gạch
đá lẫn lộn thể hiện trình độ cao trong kỹ thuật xây dựng Các nhà nghiên cứucho rằng nền văn hoá này là sản phẩm của một nhà nước cổ đại tồn tại từ thế kỷ
II đến thế kỷ VI ở Đông Nam Á, từng được sử Trung Quốc ghi chép nhiều lần,
đó là Vương quốc Phù Nam
Ngày nay, ĐBSCL được nhiều người biết đến với những cánh đồng cò bay
Trang 71.Điều kiện tự nhiên:
ĐBSCL nằm tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Vùng Đông Nam
Bộ (khu vực kinh tế năng động nhất Việt Nam), giáp giới với Campuchia, bamặt Đông, Nam và Tây có biển bao bọc Vị thế nằm trong khu vực có đườnggiao thông hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng, giữa Nam Á, Đông Á,Châu Úc và rất gần các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Singapore, Malaysia,Philippin, Indonesia
Trang 84 Nguồn nước
Nguồn nước trong vùng được lấy từ 2 nguồn chính là sông Mê Kông và nướcmưa Sông Mê Kông chảy qua ĐBSCL hàng năm đem lại lượng nước bình quânkhoảng 460 tỷ m3 và vận chuyển khoảng 150 - 200 triệu tấn phù sa ViệcĐBSCL hàng năm bị ngập lũ gần 50% diện tích từ 3 - 4 tháng tạo nên một đặcđiểm nổi bật của vùng, một mặt là hạn chế lớn đối với canh tác, trồng trọt vàgây nhiều khó khăn cho đời sống của dân cư, nhưng mặt khác cũng tạo nênnhững điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và bổ sung độphì nhiêu cho đất trồng trọt
Trang 9Một vấn đề đáng quan tâm là nguồn nước mặt ở ĐBSCL đang bị ô nhiễm Chấtlượng nguồn nước ngày càng xấu đi một cách nghiêm trọng Có nhiều nguyênnhân gây ô nhiễm như: sử dụng bừa bãi thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, nuôithủy sản thiếu quy hoạch hợp lý Nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệptrong vùng phần lớn chưa được xử lý thải trực tiếp ra sông Việc ô nhiễm nước
đã dẫn đến tình trạng ngày càng có nhiều vùng bị “khát nước” vào những thángmùa khô Không chỉ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp thiếu mà nước sinhhoạt cũng thiếu Tình trạng này đã và đang xảy ra từ vài năm gần đây ở ĐBSCL
và xem ra ngày càng trầm trọng
5 Đất đai
Vùng ĐBSCL được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những
kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thànhnhững giồng cát dọc theo bờ biển Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển
đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông, một sốgiồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích trũng thấp (như vùng Đồng ThápMười, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, Tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau)
Trang 10Trong số hơn 4 triệu ha đất đai của khu vực, đất phù sa chiếm khoảng 30% Đây
là nguồn tài nguyên chính để phát triển nông nghiệp Đất ở ĐBSCL ngoài việc
để sản xuất nông nghiệp tạo ra lương thực, còn được dùng để sản xuất vật liệuxây dựng mang lại hiệu quả cao Từ lâu, người dân ở đây đã làm nhà xây váchbằng tre, nứa, trát đất nhão, vữa vôi, vữa xi măng, xi măng rơm, trấu và về saunày làm bằng gạch nung Ngoài ra, ở nhiều tỉnh ĐBSCL rất dồi dào nguồn thanbùn dùng để làm chất đốt, như tại Cà Mau, chỉ đào sâu hơn 3 m là ta có thể lấyđất làm than, làm gạch ngói
Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, cơ cấu sử dụng đất tại thời điểm
01-01-2007 của vùng như sau: đất nông nghiệp 63,2% - đất lâm nghiệp 8,6% - đấtchuyên dùng 5,5% - đất ở 2,7% Trong những năm gần đây, đất nông nghiệpđang có xu thế giảm dần do quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá Nhiều khucông nghiệp, khu đô thị, khu du lịch - thể thao đang chiếm dần vị trí của cácđồng lúa Nông dân nhiều nơi trong khu vực không còn đất sản xuất trong khinhững vùng quy hoạch thì đang bị bỏ hoang, hay tốc độ triển khai rất chậm, dẫnđến tình trạng lãng phí đáng được báo động
Trang 116 Sinh vật
Mũi Cà MauDưới những ảnh hưởng của môi trường biển và sông, từ lâu ở ĐBSCL đã hìnhthành và phát triển các hệ sinh thái tự nhiên rất độc đáo Đó là hệ sinh thái rừngngập nước ngọt (Vườn quốc gia Tam Nông, rừng Trà Sư, vùng Đồng ThápMười), hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển (Vườn quốc gia U Minh Thượng,Vườn quốc Gia U Minh Hạ), hệ sinh thái nông nghiệp Đặc biệt, hệ sinh tháirừng ngập mặn ở các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh,Bến Tre có vai trò cực kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ cânbằng môi trường sinh thái toàn khu vực
Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2007, toàn vùng ĐBSCL có 320.900
ha rừng các loại, trong đó có 63.800 ha rừng tự nhiên và 257.100 ha rừng trồng,diện tích che phủ chưa đạt 10% diện tích đất tự nhiên Giá trị sản xuất lâmnghiệp năm 2007 đạt 1.005,2 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 1994) Rừng ngậpmặn (chiếm cứ trên các bãi bồi phù sa ven biển, lưu vực của cửa sông thông rabiển và các đầm trũng nội địa) chưa đến 100.000 ha, tập trung ở các tỉnh CàMau (58.285 ha), Bạc Liêu (4.142 ha), Sóc Trăng (2.943 ha), Trà Vinh (8.582ha), Bến Tre (7.153 ha), Kiên Giang (322 ha), Long An (400 ha)
Trang 12
Hệ thực vật rừng ngập mặn phổ biến ở vùng ven biển ĐBSCL là các loài mắmtrắng, đước, bần trắng, bần chua, vẹt tách, dà quánh, dà vôi, giá, cóc vàng, dừanước Theo số liệu của ngành lâm nghiệp, vùng ĐBSCL có 98 loài cây rừngngập mặn; ngoài ra ở các hệ sinh thái đất ngập nước có đến 36 loài thú, 182 loàichim, 34 loài bò sát và 6 loài lưỡng cư; vùng biển và ven biển có đến 260 loài
cá và thủy sản Những số liệu trên cho thấy tính đa dạng sinh học ở ĐBSCL
Trang 13PHẦN 3: DU LỊCH
Trang 14Mặc dù tiềm năng và tài nguyên đa dạng, đặc biệt thiên nhiên ưu đãi giúpĐBSCL có thể đón khách quanh năm, nhưng lâu nay ngành du lịch của ĐBSCLvẫn được xem là vùng trũng của cả nước Trong số gần 1,5 triệu khách quốc tếđến thành phố Hồ Chí Minh trong 6 tháng đầu năm 2008, chỉ có trên 110.000người đến Cần Thơ (so với 422.000 đến Huế, 315.000 đến Hội An) Điều nàycho thấy sức hút của du lịch ĐBSCL chưa đủ lớn đối với du khách nước ngoài.Trong những năm qua, nhiều cuộc hội thảo quốc tế đã được tổ chức để tìmhướng đi cho du lịch vùng Hầu hết các chuyên gia đều khẳng định “ĐBSCL cóthể được ví như một khu vườn địa đàng”, nhưng làm thế nào để vực dậy tiềmnăng du lịch của vùng vẫn là câu hỏi nhiều năm qua chưa có lời đáp.
Du lịch bằng xe đạpThực trạng yếu kém của ngành du lịch ĐBSCL đã được chỉ ra như: cách làm dulịch kiểu “mạnh ai nấy làm”, sản phẩm du lịch vùng sông nước Cửu Long cònkhá giống nhau Đi đâu cũng chỉ bắt gặp các tour tham quan chợ nổi trên sông,thăm vườn cây ăn trái, xem làng nghề truyền thống, nghe đờn ca tài tử Cáctour du lịch chủ yếu dựa vào địa danh sẵn có, thiếu sự liên hoàn giữa nhiều lĩnhvực như: sinh thái, nghiên cứu khoa học, tham quan làng quê, tìm hiểu văn hóa,lịch sử Nội dung chương trình đơn điệu, thực hiện hết năm này đến năm
Trang 15Du lịch An Giang
Mỗi năm cả vùng đồng bằng có rất nhiều lễ hội, nhưng hầu như không đượckhai thác ở khía cạnh du lịch Nếu lễ hội Vía Bà Chúa Xứ hay cúng Ông Bổnchỉ phù hợp cho khách hành hương, thì lễ hội Okombok hay đua bò ở Bảy Núituy hấp dẫn nhưng lại không có khán đài dành cho du khách, còn lễ Hạ Điền vàThượng Điền của cư dân nông nghiệp thì hầu như ít được nhắc tới
Trang 16được nhu cầu Mạng lưới giao thông cũng không đồng bộ Cả khu vực rộng lớn
mà chỉ có duy nhất một quốc lộ theo trục dọc, thiếu những tuyến đường ngang
đủ tiêu chuẩn nối các tỉnh thành trong vùng Du khách đến Cần Thơ buộc phải chọn giữa 2 tuyến Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau hoặc An Giang – Châu Đốc – Hà Tiên mà tuyến nào cũng mất thời gian đi nhiều hơn là được tham quan thưởng thức Khách sau khi thăm nhà công tử Bạc Liêu muốn qua thăm Hòn Phụ Tử phải vượt 300 km đường Bạc Liêu – Sóc Trăng – Cần Thơ – Kiên
Giang, thay vì nếu có đường ngang từ Bạc Liêu qua Rạch Giá chỉ có 100 km.Tình trạng ô nhiễm môi trường cũng đang là sự bất cập nổi cộm trong lĩnh vực
du lịch Chợ nổi Cái Răng (thành phố Cần Thơ) – điểm nhấn duy nhất cho các đoàn tham quan nước ngoài về Cần Thơ hiện nay, càng ngày càng ô nhiễm rác trầm trọng Nhiều hộ dân sống hai bên sông cứ vô tư vứt rác thải và đổ nước sinh hoạt xuống lòng sông Ngay cả những ghe thuyền buôn bán trên sông cũng
đổ rác trực tiếp xuống sông ngay trước mặt du khách, khiến cho chợ nổi cũng làbãi rác nổi
Nguồn nhân lực hoạt động trong ngành du lịch cũng kém chất lượng Theo thống kê của Viện Nghiên cứu phát triển du lịch thuộc Tổng cục Du lịch,
ĐBSCL hiện có không tới 50% cán bộ trong doanh nghiệp du lịch của Nhà nước được đào tạo qua trường lớp, còn khu vực tư nhân tỷ lệ này chỉ chiếm 30% Thiếu chuyên gia xây dựng sản phẩm du lịch mới, thiếu những hướng dẫn viên giỏi, thiếu nhân viên phục vụ chuyên nghiệp là những nguyên nhân khiến hầu hết các công ty du lịch lữ hành trong khu vực chưa đủ điều kiện và trình độ đón khách quốc tế trực tiếp từ các công ty nước ngoài, mà chủ yếu chỉ làm côngviệc “nối tour” cho các doanh nghiệp lữ hành lớn ở thành phố Hồ Chí Minh.Gần đây, ngành du lịch các tỉnh thành ĐBSCL đã có quan tâm đến quảng bá, xúc tiến du lịch Nhưng nhìn chung, sự quảng bá còn yếu ớt, rời rạc, chưa có sự phối hợp nên không thể tạo được sức hút, thành công Mặc dù năm 2008 được chọn là Năm Du lịch quốc gia "Miệt vườn sông nước Cửu Long" nhưng thực chất các tỉnh cũng chưa có hoạt động gì đáng kể để gây sự chú ý cho du khách Dường như khoản kinh phí hơn 20 tỷ đồng dành cho năm du lịch được Ban tổ chức dành hơn phân nửa cho bốn giờ khai mạc và bế mạc Thành thử trong năm
2008, từ tuyến điểm đến dịch vụ du lịch ở ĐBSCL, hầu như không có gì thay đổi so với trước
Trước tình hình đó, ngày 07-06-2008, các tỉnh, thành trong vùng ĐBSCL đã
Trang 18Ẩm thực là khái miệm chung nói về việc ăn và uống Văn hoá ẩm thực bao gồm
cả cách chế biến, bày biện và thưởng thức từng món ăn, thức uống, từ đơn giản,đạm bạc đến cầu kỳ mỹ vị Văn hoá ẩm thực vùng ĐBSCL mang nhiều nét củamột miền quê sông nước ĐBSCL đâu đâu cũng đất rộng sông dài, nơi nào cũng
có kênh rạch, ao hồ chằng chịt lắm cá nhiều tôm Không chỉ có sông, mà còn
có rừng, có biển, nguồn tài nguyên nông - lâm - thủy sản dồi dào
Do đặc điểm địa hình và sinh hoạt kinh tế, ĐBSCL đã định hình nền văn minhsông nước, ở đó nguồn lương thực - thực phẩm chính là lúa, cá và rau quả Vănhoá ẩm thực ĐBSCL, nhìn ở một phương diện nào đó, là kết quả của con ngườiứng xử trước môi trường tự nhiên Đó cũng chính là cách con người tận dụng vàcải tạo môi trường tự nhiên để làm phong phú cuộc sống của mình.Người dân ĐBSCL quan niệm về ăn uống như sau:
- Ăn để sống chứ không phải sống để ăn
- Ăn theo thuở ở theo thời
- Ăn coi nồi ngồi coi hướng
- Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm
Trang 19nhưng người ta có thể thay đổi khẩu vị bằng cách nấu với bông điên điển hay bông so đũa, hoặc thay cá lóc bằng cá linh
Chả thế mà có câu ca:
Canh chua điên điển cá linh,
Ăn chỉ một mình thì chẳng biết ngon.
ĐBSCL rộng lớn như vậy, mỗi một vùng lại có đặc sản riêng Ở đâu, người tacũng thích ứng được để có thể sống chan hoà với tự nhiên
Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng,
Về bưng ăn cá, về đồng ăn cua.
Hay:
Muốn ăn bông súng cá kho, Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm.
ĐBSCL là nơi chung sống của các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, Chăm Cho nên,
về phương diện văn hoá – tín ngưỡng, vùng đất này có sự pha trộn, giao thoalẫn nhau Tuy vậy, ở mỗi dân tộc, về một phương diện nào đó, đều lưu giữ lạinhững nét riêng của mình Mỗi dân tộc có một số món ăn đặc trưng Canh chua,
cá kho tộ, lẩu mắm là những món ăn đặc trưng của người Việt Bún nước lèo,bún mắm, canh xiêm lo là đặc trưng của người Khmer Người Hoa thì có cácmón: heo quay, vịt tiềm, vịt khìa, canh thuốc bắc, hột vịt muối Nhưng có thểnói sự phân chia chỉ mang tính chất lý thuyết, bởi trong thực tế, các món ăn nàykhông có giới hạn rõ ràng giữa các dân tộc Trong số các món ăn vừa kể trên,hầu hết người Hoa, người Việt, người Khmer ở Nam bộ đều ăn như nhau Trongcộng đồng người Việt, Khmer, Hoa cũng có một số khác biệt về khẩu vị trongcách chế biến thức ăn: người Hoa thích ăn thịt hơn ăn cá, ăn nhiều mỡ heo, ít ăncanh chua hơn canh mẳn, thích cá biển mặn chưng thịt; người Khmer thích ăncanh xiêm lo nêm mắm bò-hóc thay vì canh chua nhưng do quá trình cộng cưkéo dài từ đời này sang đời khác, mối giao lưu chung chạ càng khắng khít nhauhơn, nên các món ăn cũng dần dần chuyển hoá giống nhau Cả ba dân tộc này ở
Nam Bộ ngày nay hầu hết đều thích mắm, cá kho
Trang 20Cá bống kho tiêu
Nhiều món ăn của dân tộc này, sau khi qua tay dân tộc khác, lại trở nên độc đáo
và hấp dẫn hơn Bún nước lèo của người Khmer là một ví dụ Món này vốn làđặc trưng của người Khmer nhưng được cả người Việt và người Hoa ưa thích.Bún nước lèo được chế biến từ tôm, cá nấu nhừ, rồi rỉa bỏ hết xương, nêm vàonước lèo sả, ớt, củ ngải bún được giã nhuyễn, sau đó nêm mắm bò-hóc vào chođậm đà Ăn kèm với món này là các loại rau húng nhủi, húng quế, hẹ, bắpchuối Nhưng khi bún nước lèo này qua tay những thợ nấu người Việt thì cácnguyên liệu của nó không được giữ nguyên như cũ, mà nó đã được thêm bớtcho phù hợp với cái “gu” của mình: người Việt lại cho thêm tép bóc vỏ, thịt heoquay và một số loại rau khác Ngược lại món canh chua là đặc sản của ngườiViệt Người Việt nêm món này bằng me, chanh, hay khế để tạo vị chua Đến taycác phụ nữ Khmer, họ dùng lá giang - một loại lá phổ biến ở vùng Bảy Núi AnGiang để nêm vào, thì ngay cả người Việt ăn qua cũng thích Đến lượt ngườiHoa, khi họ thay nguyên liệu cá bằng thịt gà và kết hợp với lá giang của ngườiKhmer thì lại tạo thành một món ăn độc đáo mà ngay cả người Sài Gòn cũngchuộng