Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá công tác lập kế hoạch và tổ chức triển khai các hoạt động của ngành y tế địa phương trong chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2013.
Trang 1VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN TẠI MỘT SỐ TỈNH KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG NĂM 2013
Lê Hoàng Ninh*, Vũ Trọng Thiện * , Đặng Ngọc Chánh*, Nguyễn Trần Bảo Thanh*,
Nguyễn Đỗ Quốc Thống *
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một chương
trình mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, không chỉ góp phần cải thiện điều kiện sống, nâng cao nhận thức của người dân khu vực nông thôn mà còn góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đặc biệt
là đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Nhằm tiếp tục cải thiện và nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn, ngày 31 tháng 3 năm 2012 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 366/QĐ‐TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2015, với mục tiêu đến hết năm 2015 phấn đấu đạt 85% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 45% sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT; 65% số hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh; 100% các trường mầm non và phổ thông, trạm y tế xã ở nông thôn đủ nước sạch, nhà tiêu hợp
vệ sinh được quản lý và sử dụng tốt.
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá công tác lập kế hoạch và tổ chức triển khai các hoạt động của ngành Y tế địa
phương trong chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2013
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu kết hợp với khảo sát thực tế.
Kết quả nghiên cứu: Tất cả các tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia
NS & VSMT NT giai đoạn 2012 – 2015, trong đó đại diện ngành y tế là phó Ban chỉ đạo của địa phương. Các đơn vị đã triển khai thực hiện các hoạt động của hợp phần vệ sinh như xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh hộ gia đình, nhà tiêu hợp vệ sinh trạm y tế xã, giám sát chất lượng nước, tập huấn nâng cao năng lực và công tác truyền thông. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh chưa đạt mục tiêu đề ra của Chương trình. Trong đó,
tỷ lệ này ở tỉnh Trà Vinh là thấp nhất chỉ có 43,7%, kế đến là tỉnh Bạc Liêu (49,5%), tỉnh Cà Mau là 78,4%, tỉnh Hậu Giang là 82,6%, tỉnh Kiên Giang là 83,3% và tỉnh Long An là 89,8%. Tất cả các tỉnh được giám sát có tỷ lệ
hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh dưới 50%. Tỷ lệ các trạm y tế sử dụng nước sạch chưa đạt được mục tiêu đề ra của chương trình. Tỷ lệ trạm y tế xã có nhà tiêu hợp vệ sinh là 85%, trong đó tỉnh Kiên Giang chưa rà soát tình hình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh tại các trạm y tế.
Kết luận: 100% các tỉnh được giám sát đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia
NS & VSMT NT giai đoạn 2012 – 2015 và xây dựng kế hoạch của Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và
vệ sinh môi trường nông thôn. Trong 6 tỉnh được giám sát, chỉ có tỉnh Long An đạt tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh theo mục tiêu của Chương trình NTP3.Tất cả các tỉnh được giám sát có tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh dưới 65%. Tỷ lệ các trạm y tế xã nông thôn có nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh chưa đạt được mục tiêu của Chương trình NTP3.
Từ khóa: Chương trình NTP3, nước sạch và vệ sinh môi trường.
Trang 2EVALUATION OF IMPLEMENTING THE NATIONAL TARGET PROGRAM
FOR CLEAN WATER AND RURAL ENVIRONMENTAL SANITATION
IN SOME REGIONS OF THE MEKONG DELTA IN 2013
Le Hoang Ninh, Vu Trong Thien, Dang Ngoc Chanh, Nguyen Tran Bao Thanh, Nguyen Do Quoc Thong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 23 – 29
Background: The national target program for clean water and rural environmental sanitation professes deep
social and humanitarian values. This program not only contributes to the improvement of the living conditions and the enhancement of people’s awareness in rural areas but also contributes an important part to the socio‐ economic development, especially for poor people, ethnic minorities and remote groups. With the purpose of continuing to improve and enhance the living quality of the rural residents, on 31 March 2012, the Prime Minister promulgated the Decision No. 366/QD‐TTg on the approval of National Target Program for Clean Water and Environmental Sanitation in the Rural Areas in the 2012 – 2015 period. The Decision defines main objectives of aiming to achieve by the year 2015 at least 85% of the rural population with sanitary water, in which 45% having access to clean water that meets standards set forth in QCVN 02: 2009/BYT; 65% of the rural households with sanitary toilet; 100% of the kindergartens and high schools, commune medical stations in the rural areas with clean water and qualified sanitary toilets.
Objectives: To evaluate the planning and organization of implementing activities of the local health system
in the National Target Program for Clean Water and Environmental Sanitation in the Rural Areas in 2013.
Method: This study was conducted by retrospective and actual survey.
Results: All provinces have established the Leading Board for National Target Program for Clean Water and
Rural Environmental Sanitation in the Rural Areas in the 2012 – 2015 period, in which, the Deputy Laeding Board is the representative of the health sector. The Agencies have carried out the implementation of related activities such as the construction of sanitary toilets for households and commune medical stations, the supervision of water quality and training to enhance capability and communication.
The percentage of households with clean water did not achieve the proposed target of the Program. For example, this percentage of Tra Vinh Province is the lowest, reaching only 43.7%, followed by Bac Lieu (49.5%),
Ca Mau Province (78.4%), Hau Giang Province (82.6%), Kien Giang Province (83.3%) and Long An Province (89.9%). The proportion of households with sanitary toilet in all supervised provinces was under 50%.
Moreover, the percentage of medical stations with clean water did not achieve the proposed target of the Program. The percentage of the medical stations with sanitary toile was 85%, in which no data was collected from Kien Giang province.
Conclusion: 100% of the provinces supervised have established the Leading Board for implementation of
National Target Program for Clean Water and Rural Environmental Sanitation in the Rural Areas in the 2012 –
2015 period and carried out planning procedures for the national target program of clean water and environmental sanitation in the rural areas. Of 06 supervised provinces, only Long An Province achieved the percentage of households with clean water in accordance with NTP3 Program. All the supervised provinces had the percentage of households with sanitary toilet below 65%. The percentage of rural medical stations with clean water and sanitary toilet did not achieve the target of NTP3 Program.
Keyword: NTP3 Program, clean water and environmental sanitary
Trang 3Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch
và Vệ sinh môi trường nông thôn là một chương
trình mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc,
không chỉ góp phần cải thiện điều kiện sống,
nâng cao nhận thức của người dân khu vực
nông thôn mà còn góp phần quan trọng trong
phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đặc biệt là
đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số,
vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, từ năm 2000, Thủ
tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc
gia Nước sạch và Vệ sinh nông thôn với mục
tiêu đến năm 2020 tất cả cư dân nông thôn được
sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với
số lượng ít nhất 60 lít/người/ngày, sử dụng nhà
tiêu hợp vệ sinh và thực hiện vệ sinh cá nhân,
giữ gìn vệ sinh môi trường làng, xã. Trong đó,
Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và
Vệ sinh môi trường nông thôn là công cụ để
thực hiện Chiến lược quốc gia đã được Chính
phủ phê duyệt. Mục tiêu của Chương trình cũng
là mục tiêu mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết
với cộng đồng quốc tế và là một trong những
tiêu chí quan trọng của Chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng nông thôn mới đến năm 2020.
Trong thời gian qua, được sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo của các cấp chính
quyền ở địa phương và sự hưởng ứng tích cực
của người dân, Chương trình mục tiêu quốc gia
Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai
đoạn II (2006 ‐ 2011) đã đạt được những kết quả
đáng kể. Tuy nhiên, đến cuối năm 2011, tỷ lệ
người dân sử dụng nước sạch chỉ đạt 78%, trong
đó 37% được sử dụng nước đạt tiêu chuẩn của
Bộ Y tế; tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp
vệ sinh đạt 55% còn thấp so với mục tiêu đặt ra
của Chương trình(2, 5).
Nhằm tiếp tục cải thiện và nâng cao điều
kiện sống cho người dân nông thôn, ngày 31
tháng 3 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 366/QĐ‐TTg về việc phê
duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Nước
2012 – 2015 (NTP3)(4) với mục tiêu đến hết năm
2015 phấn đấu đạt 85% dân số nông thôn được
sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 45% sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT(1); 65%
số hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh(3); 100% các trường mầm non và phổ thông, trạm y tế xã ở nông thôn đủ nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh được quản lý và sử dụng tốt.
MỤC TIÊU: Đánh giá công tác lập kế hoạch
và tổ chức triển khai các hoạt động của ngành y
tế địa phương trong chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông
thôn năm 2013 ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Y
tế huyện và trạm y tế xã tại một số tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Địa bàn nghiên cứu
Thực hiện tại 6 tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An và Trà Vinh.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu kết hợp với khảo sát thực tế.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Tình hình triển khai thực hiện hợp phần vệ sinh thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn năm 2013
Bảng 1: Công tác thành lập Ban chỉ đạo thực hiện
Chương trình NTP 2012 ‐ 2015
Ban chỉ đạo Tuyến
tỉnh
Tuyến huyện/thị xã
Tuyến xã/phường
Trong năm 2013, tất cả các tỉnh đã thành lập
Trang 4trong đó đại diện ngành y tế là phó Ban chỉ đạo
của địa phương. Bên cạnh đó, trong 6 tỉnh giám
sát, chỉ có tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu Sở Y tế
đã ban hành quyết định thành lập Ban chỉ đạo
thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia NS
&VSMT NT của ngành y tế. Thành phần Ban chỉ
đạo gồm có lãnh đạo Sở Y tế làm trưởng ban,
lãnh đạo Trung tâm Y tế dự phòng làm phó ban
và thành viên là đại diện của các trung tâm y tế
tuyến huyện/thành phố.
Kết quả giám sát cho thấy, tỷ lệ thành lập
Ban chỉ đạo đối với tuyến huyện/thị xã,
xã/phường rất thấp (chỉ 16,67%). Đa phần các
địa phương thực hiện lồng ghép với Ban chăm
sóc sức khỏe ban đầu tại địa phương. Tại các địa
phương giám sát, Sở Y tế ban hành văn bản giao
cho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh là đơn vị đầu
mối chịu trách nhiệm thực hiện hợp phần vệ
sinh của Chương trình mục tiêu quốc gia nước
sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn
2012 – 2015. Riêng tại tỉnh Bạc Liêu, hợp phần vệ
sinh do phòng Kế hoạch của Sở Y tế chịu trách
nhiệm thực hiện, Trung tâm YTDP Bạc Liêu là
đơn vị hỗ trợ, tư vấn kỹ thuật chuyên môn.
Bảng 2: Các nội dung hoạt động của Chương trình
NTP3 trong năm 2013
Tỉnh
Dự án 2
(Xây
dựng
nhà
tiêu
HVS
HGĐ)
Dự án 3 (Nâng cao năng lực truyền thông và giám sát, đánh giá thực hiện Chương
trình)
Vốn đầu
tư (Xây dựng công trình nước sạch và nhà tiêu HVS trạm y tế)
Nâng cao năng lực
Truyền thông
Kiểm tra, đánh giá
Xây dựng
mô hình điểm
Hậu
Kiên
Ghi chú: (X): có thực hiện.
Trong năm 2013, tùy theo kế hoạch và kinh phí được phê duyệt, các tỉnh đã thực hiện các nội dung hoạt động của ngành Y tế. Đối với tỉnh Hậu Giang, với nguồn vốn hạn hẹp do đó đơn vị này thực hiện tập huấn trang bị kiến thức về nước sạch và vệ sinh môi trường cho cán bộ y tế. Đối với tỉnh Trà Vinh, Trung tâm YTDP tỉnh tổ chức thực hiện công tác giám sát chất lượng nước tại một số trạm cấp nước tập trung và tập huấn kỹ năng truyền thông cho cán bộ y tế và cộng tác viên y tế.
Các đơn vị đã triển khai thực hiện các hoạt động của hợp phần vệ sinh như xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh hộ gia đình, nhà tiêu hợp vệ sinh trạm y tế xã, giám sát chất lượng nước, tập huấn nâng cao năng lực và công tác truyền thông. Đặc biệt, các tỉnh đã thí điểm xây dựng
mô hình mẫu tại cộng đồng về xây dựng và sử dụng, bảo quản nhà tiêu hợp vệ sinh.
Hiện nay, 5/6 tỉnh giám sát đã hoàn thành thiết kế mẫu mô hình nhà tiêu hợp vệ sinh hộ gia đình và trình Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt để triển khai xây dựng và hỗ trợ kinh phí thực hiện cho các đối tượng thuộc diện ưu tiên theo quy định của Chương trình, ngoại trừ tỉnh Hậu Giang chưa thực hiện thiết kế này. Tùy từng địa phương, các đơn vị sẽ lựa chọn mô hình nhà tiêu hợp vệ sinh phù hợp với đặc điểm thổ nhưỡng và khả năng tài chính của người dân. Đối với tỉnh Kiên Giang, tỉnh Long An, tỉnh Bạc Liêu lựa chọn mô hình nhà tiêu tự hoại xây bằng gạch, tỉnh Trà Vinh chọn nhà tiêu tự hoại bằng ống bi, tỉnh Cà Mau chọn mô hình nhà tiêu
tự hoại xây bằng gạch, nhà tiêu tự hoại bằng ống
bi và nhà tiêu thấm dội nước. Về mức kinh phí
hỗ trợ đối với hộ gia đình nghèo xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, đối với mô hình nhà tiêu tự hoại xây bằng gạch từ 3.000.000 đến 4.000.000 đồng (riêng tỉnh Long An mức hỗ trợ là 2.000.000 đồng), nhà tiêu tự hoại bằng ống bi mức hỗ trợ từ 2.000.000 đến 3.900.000 đồng, nhà tiêu thấm dội nước là 2.000.000 đồng.
Trang 5Hình 1: Tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh tại hộ gia đình
Kết quả hình 1 cho thấy, 83,3% các tỉnh tỷ lệ
hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh chưa đạt
mục tiêu đề ra của Chương trình. Trong đó, tỷ lệ
này ở tỉnh Trà Vinh là thấp nhất (chỉ có 43,7%),
kế đến là tỉnh Bạc Liêu (49,5%), tỉnh Cà Mau là
78,4%, tỉnh Hậu Giang là 82,6%, tỉnh Kiên Giang
là 83,3%. Riêng tỉnh Long An tỷ lệ hộ gia đình sử
dụng nước hợp vệ sinh là 89,8%, tỷ lệ này cao
hơn mục tiêu của Chương trình (85%). Đối với
các nguồn nước chính sử dụng cho ăn uống,
sinh hoạt, đa phần các hộ gia đình khu vực nông
thôn sử dụng nguồn nước cung cấp từ trạm cấp
nước (nước máy), nước giếng khoan. Một số địa
phương như Trà Vinh và Kiên Giang, người dân
còn sử dụng nước giếng đào để sinh hoạt hằng
ngày. Đối với nguồn nước mưa, cũng được
người dân sử dụng nhưng với số lượng không
nhiều do hạn chế về mặt trữ lượng. Bên cạnh đó,
Trung tâm Y tế dự phòng các địa phương chưa
thực hiện công tác giám sát chất lượng nước tại
các hộ gia đình.
Kết quả giám sát năm 2013 cho thấy, tỷ lệ các trạm y tế sử dụng nước sạch chưa đạt được mục tiêu đề ra của chương trình là 100% trạm y tế xã được sử dụng nước sạch. Đáng chú ý, tại tỉnh Long An chỉ có 48,9% (93/190) các trạm y tế được
sử dụng nước sạch. Riêng tỉnh Kiên Giang hiện đang rà soát tình hình sử dụng nước sạch tại các trạm y tế trên địa bàn toàn tỉnh.
Thực trạng sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh tại địa phương năm 2013
Hình 3: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh
Hầu hết các tỉnh được giám sát có tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh dưới 65%. Trong đó, có 3 tỉnh (Hậu Giang, Trà Vinh và Bạc Liêu) có tỷ lệ dưới 30%, 2 tỉnh có tỷ lệ từ 30 – 50% là tỉnh Kiên Giang (32,9%) và tỉnh Cà Mau (40,8%), tỉnh Long An có tỷ lệ là 53,9%. So sánh với Báo cáo kết quả thực hiện hợp phần vệ sinh của ngành y tế năm 2013 thì khu vực đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà
Kiên
Giang,
32.9
Hậu
Giang,
92.6
Trà Vinh, 30.1
Long An, 48.9 Cà Mau,
40.8 Bạc Liêu,
29
Trang 6tiêu hợp vệ sinh là thấp nhất (chỉ có 44%), tính
chung trên toàn quốc là 59,8%.
Hình 4: Tỷ lệ trạm y tế có nhà tiêu hợp vệ sinh
So sánh với mục tiêu của Chương trình NS &
VSMT NT giai đoạn 3 (2012 – 2015) đó là tất cả
các trạm y tế xã có nhà tiêu hợp vệ sinh, được
quản lý và sử dụng tốt thì tất cả các địa phương
chưa đạt được mục tiêu của Chương trình.
Ngoại trừ tỉnh Kiên Giang chưa rà soát tình hình
sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh tại các trạm y tế.
Đối với các tỉnh khác, tỷ lệ này hiện đạt trên
85%. Trạm y tế xã của các tỉnh chưa đạt được
mục tiêu do một số nguyên nhân: nhà tiêu bị
xuống cấp hay hư hỏng, một số trạm y tế đang
xây dựng mới nên chưa có nhà tiêu và một số xã
vừa mới được thành lập do đó trạm y tế xã chưa
có cơ sở hoạt động nên nhà tiêu còn sử dụng
trong tình trạng tạm bợ.
Hoạt động tập huấn, truyền thông giáo dục
sức khỏe
Bảng 3: Hoạt động tập huấn và truyền thông năm 2013
Stt Tỉnh
Phương pháp thực hiện
Tập huấn
Truyền thanh, truyền hình
Trực tiếp tại cộng đồng
Trong trường học
Hoạt động tập huấn, truyền thông về nước
sạch và vệ sinh môi trường đã được các địa
phương xây dựng kế hoạch thực hiện nhưng với nguồn kinh phí được phân bổ năm 2013 còn hạn hẹp nên các đơn vị chỉ chọn một số hoạt động chính để thực hiện như tập huấn hoặc truyền thông trên đài truyền hình/truyền thanh hoặc truyền thông cộng đồng…
Đối với hoạt động tập huấn nâng cao năng lực, Trung tâm YTDP Kiên Giang tập huấn “Mô hình vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ ‐ CLTS” cho cán bộ y tế tuyến huyện, xã nhưng chưa tổ chức triển khai kích hoạt tại cộng đồng. Các đơn vị khác (Hậu Giang, Trà Vinh, Bạc Liêu)
tổ chức các lớp tập huấn trang bị kiến thức nước sạch, kỹ thuật xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, giám sát chất lượng nước cho cán bộ thực hiện Chương trình.
Hoạt động truyền thông thực hiện chưa đồng đều tại các địa phương, chủ yếu tập trung vào các đợt cao điểm, phát động/hưởng ứng phong trào. Một số địa phương như tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu có thực hiện xây dựng những bản tin, phóng sự để truyền thông trên đài truyền hình tỉnh và các đài phát thanh huyện, xã nhưng kinh phí dành cho hoạt động này do các địa phương hỗ trợ thực hiện. Bên cạnh đó, một số địa phương tổ chức cho các cộng tác viên y tế thực hiện truyền thông nhóm
về hướng dẫn, vận động người dân xây dựng,
sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh thông qua các buổi họp dân tại địa bàn hoặc kết hợp vãng gia. Riêng tỉnh Cà Mau trong năm 2013 đã tổ chức tập huấn cho 10.000 giáo viên, học sinh tại 100 điểm trường học về nước sạch và vệ sinh môi trường.
KẾT LUẬN
‐ 100% các tỉnh được giám sát đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình NS & VSMT
NT giai đoạn 2012 – 2015, trong đó đại diện ngành y tế là phó Ban chỉ đạo của địa phương. Bên cạnh đó, tỷ lệ thành lập Ban chỉ đạo đối với tuyến huyện/thị xã, xã/phường rất thấp (16,67%).
‐ Năm 2013 các Trung tâm YTDP tuyến tỉnh
đều thực hiện xây dựng kế hoạch của Chương
Trang 7trường nông thôn. Về kinh phí được phân bổ,
50% số tỉnh giám sát được phân bổ kinh phí
không theo đúng kế hoạch phê duyệt đó là tỉnh
Hậu Giang, tỉnh Long An và tỉnh Trà Vinh.
‐ Có 5 tỉnh tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước
hợp vệ sinh chưa đạt mục tiêu đề ra của Chương
trình. Riêng tỉnh Long An tỷ lệ hộ gia đình sử
dụng nước hợp vệ sinh là 89,8%, tỷ lệ này cao
hơn mục tiêu của Chương trình (85%).
‐ Tỷ lệ trạm y tế sử dụng nước sạch còn thấp
chưa đạt được mục tiêu đề ra của chương trình
NTP3.
‐ Hầu hết các tỉnh được giám sát năm 2013 có
tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh
dưới 50%.
‐ 85% các trạm y tế xã có nhà tiêu hợp vệ
sinh, được quản lý và sử dụng tốt. Riêng tỉnh
Kiên Giang chưa rà soát tình hình sử dụng nhà
tiêu hợp vệ sinh tại các trạm y tế xã.
‐ Hoạt động tập huấn, truyền thông về nước
sạch và vệ sinh môi trường đã được các địa
phương xây dựng kế hoạch thực hiện nhưng với
nguồn kinh phí được phân bổ năm 2013 còn hạn
hẹp nên các đơn vị chỉ chọn một số hoạt động
chính để thực hiện như tập huấn hoặc truyền
thông trên đài truyền hình/truyền thanh hoặc
truyền thông cộng đồng.
KIẾN NGHỊ
‐ Ban chủ nhiệm Chương trình tuyến Trung
ương cần phân bổ kinh phí thực hiện hợp phần
vệ sinh theo đúng kế hoạch đã được cấp thẩm
quyền phê duyệt và phân bổ kinh phí từ đầu
năm nhằm đảm bảo tiến độ công việc và đạt
được các mục tiêu của Chương trình đã được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
‐ Các địa phương nhanh chóng thành lập tổ
thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia nước
sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn
2012 – 2015 của ngành y tế nhằm tăng cường
công tác chỉ đạo, đôn đốc các địa phương thực hiện hợp phần vệ sinh
‐ Các địa phương cần thực hiện phân nhóm đối tượng: hộ nghèo và cận nghèo, hộ trung bình, hộ khá và giàu, cán bộ nhà nước (giáo viên, đảng viên, viên chức, quân nhân), việc phân nhóm đối tượng sẽ hữu ích cho việc tiếp cận đối tượng. Đối với nhóm đối tượng là cán bộ nhà nước có thể tham mưu cho Ủy ban Nhân dân xã hoặc gửi danh sách đến đơn vị công tác để đơn
vị có thể khuyến khích, khuyến nghị họ xây dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh.
‐ Trung tâm YTDP các tỉnh liên hệ với các ban/ngành liên quan để có những số liệu cần thiết về công tác nước sạch và vệ sinh môi trường. Đồng thời, photo kết quả điều tra bộ chỉ
số 14 chỉ tiêu theo dõi – đánh giá nước sạch và
vệ sinh môi trường hằng năm gửi cho các Trung tâm Y tế huyện để địa phương làm số liệu cơ bản và xây dựng kế hoạch theo tình hình thực tế hằng năm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2009). Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt. Số QCVN 02:2009/BYT. Hà Nội. Tr. 3.
2 Bộ Y tế(2011). Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia NS&VSMT NT giai đoạn 2006 – 2010. Hà Nội. Tr.2.
3 Bộ Y tế (2011). Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu – điều kiện bảo đảm hợp vệ sinh. số QCVN 01:2011/BYT. Hà Nội. Tr.4.
4 Thủ tướng Chính phủ (2012). Quyết định số 366/QĐ‐TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và
Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2015. Hà Nội. Tr.2.
5 Viện Y tế Công cộng TP.HCM (2012). Báo cáo giám sát Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn năm 2012, thành phố Hồ Chí Minh, Tr.7.
Ngày nhận bài báo: 15/5/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 17/6/2014 Ngày bài báo được đăng: 14/11/2014