1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại một số tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2013

7 177 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 528,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá công tác lập kế hoạch và tổ chức triển khai các hoạt động của ngành y tế địa phương trong chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2013.

Trang 1

VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN TẠI MỘT SỐ TỈNH   KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG NĂM 2013 

Lê Hoàng Ninh*, Vũ Trọng Thiện * , Đặng Ngọc Chánh*, Nguyễn Trần Bảo Thanh*,  

Nguyễn Đỗ Quốc Thống *  

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một chương 

trình mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, không chỉ góp phần cải thiện điều kiện sống, nâng cao nhận thức của  người dân khu vực nông thôn mà còn góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đặc biệt 

là đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Nhằm tiếp tục cải thiện và nâng cao điều  kiện sống cho người dân nông thôn, ngày 31 tháng 3 năm 2012 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 

số 366/QĐ‐TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn  giai đoạn 2012 – 2015, với mục tiêu đến hết năm 2015 phấn đấu đạt 85% dân số nông thôn được sử dụng nước  hợp vệ sinh, trong đó 45% sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT; 65% số hộ gia đình nông thôn có nhà  tiêu hợp vệ sinh; 100% các trường mầm non và phổ thông, trạm y tế xã ở nông thôn đủ nước sạch, nhà tiêu hợp 

vệ sinh được quản lý và sử dụng tốt. 

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá công tác lập kế hoạch và tổ chức triển khai các hoạt động của ngành Y tế địa 

phương trong chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2013 

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu kết hợp với khảo sát thực tế. 

Kết quả nghiên cứu: Tất cả các tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia 

NS & VSMT NT giai đoạn 2012 – 2015, trong đó đại diện ngành y tế là phó Ban chỉ đạo của địa phương. Các  đơn vị đã triển khai thực hiện các hoạt động của hợp phần vệ sinh như xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh hộ gia  đình,  nhà tiêu hợp vệ  sinh  trạm  y tế xã, giám  sát  chất lượng  nước,  tập  huấn  nâng  cao  năng  lực và  công  tác  truyền thông. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh chưa đạt mục tiêu đề ra của Chương trình. Trong đó, 

tỷ lệ này ở tỉnh Trà Vinh là thấp nhất chỉ có 43,7%, kế đến là tỉnh Bạc Liêu (49,5%), tỉnh Cà Mau là 78,4%, tỉnh  Hậu Giang là 82,6%, tỉnh Kiên Giang là 83,3% và tỉnh Long An là 89,8%. Tất cả các tỉnh được giám sát có tỷ lệ 

hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh dưới 50%. Tỷ lệ các trạm y tế sử dụng nước sạch chưa đạt được mục  tiêu đề ra của chương trình. Tỷ lệ trạm y tế xã có nhà tiêu hợp vệ sinh là 85%, trong đó tỉnh Kiên Giang chưa rà  soát tình hình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh tại các trạm y tế. 

Kết luận: 100% các tỉnh được giám sát đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia 

NS & VSMT NT giai đoạn 2012 – 2015 và xây dựng kế hoạch của Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và 

vệ sinh môi trường nông thôn. Trong 6 tỉnh được giám sát, chỉ có tỉnh Long An đạt tỷ lệ hộ gia đình sử dụng  nước hợp vệ sinh theo mục tiêu của Chương trình NTP3.Tất cả các tỉnh được giám sát có tỷ lệ hộ gia đình sử  dụng nhà tiêu hợp vệ sinh dưới 65%. Tỷ lệ các trạm y tế xã nông thôn có nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh chưa  đạt được mục tiêu của Chương trình NTP3.  

Từ khóa: Chương trình NTP3, nước sạch và vệ sinh môi trường. 

Trang 2

EVALUATION OF IMPLEMENTING THE NATIONAL TARGET PROGRAM  

FOR CLEAN WATER AND RURAL ENVIRONMENTAL SANITATION  

IN SOME REGIONS OF THE MEKONG DELTA IN 2013 

Le Hoang Ninh, Vu Trong Thien, Dang Ngoc Chanh, Nguyen Tran Bao Thanh, Nguyen Do Quoc Thong 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 23 – 29 

Background: The national target program for clean water and rural environmental sanitation professes deep 

social and humanitarian values. This program not only contributes to the improvement of the living conditions  and  the  enhancement  of  people’s  awareness  in  rural  areas  but  also  contributes  an  important  part  to  the  socio‐ economic  development,  especially  for  poor  people,  ethnic  minorities  and  remote  groups.  With  the  purpose  of  continuing  to  improve  and  enhance  the  living  quality  of  the  rural  residents,  on  31  March  2012,  the  Prime  Minister  promulgated  the  Decision  No.  366/QD‐TTg  on  the  approval  of  National  Target  Program  for  Clean  Water and Environmental Sanitation in the Rural Areas in the 2012 – 2015 period. The Decision defines main  objectives of aiming to achieve by the year 2015 at least 85% of the rural population with sanitary water, in which  45%  having  access  to  clean  water  that  meets  standards  set  forth  in  QCVN  02:  2009/BYT;  65%  of  the  rural  households with sanitary toilet; 100% of the kindergartens and high schools, commune medical stations in the  rural areas with clean water and qualified sanitary toilets. 

Objectives: To evaluate the planning and organization of implementing activities of the local health system 

in the National Target Program for Clean Water and Environmental Sanitation in the Rural Areas in 2013. 

Method: This study was conducted by retrospective and actual survey. 

Results: All provinces have established the Leading Board for National Target Program for Clean Water and 

Rural Environmental Sanitation in the Rural Areas in the 2012 – 2015 period, in which, the Deputy Laeding  Board  is  the  representative  of  the  health  sector.  The  Agencies  have  carried  out  the  implementation  of  related  activities  such  as  the  construction  of  sanitary  toilets  for  households  and  commune  medical  stations,  the  supervision of water quality and training to enhance capability and communication. 

The  percentage  of  households  with  clean  water  did  not  achieve  the  proposed  target  of  the  Program.  For  example, this percentage of Tra Vinh Province is the lowest, reaching only 43.7%, followed by Bac Lieu (49.5%), 

Ca Mau Province (78.4%), Hau Giang Province (82.6%), Kien Giang Province (83.3%) and Long An Province  (89.9%). The proportion of households with sanitary toilet in all supervised provinces was under 50%. 

Moreover,  the  percentage  of  medical  stations  with  clean  water  did  not  achieve  the  proposed  target  of  the  Program. The percentage of the medical stations with sanitary toile was 85%, in which no data was collected from  Kien Giang province. 

Conclusion:  100%  of  the  provinces  supervised  have  established  the  Leading  Board  for  implementation  of 

National Target Program for Clean Water and Rural Environmental Sanitation in the Rural Areas in the 2012 – 

2015  period  and  carried  out  planning  procedures  for  the  national  target  program  of  clean  water  and  environmental  sanitation  in  the  rural  areas.  Of  06  supervised  provinces,  only  Long  An  Province  achieved  the  percentage of households with clean water in accordance with NTP3 Program. All the supervised provinces had  the percentage of households with sanitary toilet below 65%. The percentage of rural medical stations with clean  water and sanitary toilet did not achieve the target of NTP3 Program. 

Keyword: NTP3 Program, clean water and environmental sanitary 

Trang 3

Chương trình mục tiêu quốc  gia  Nước  sạch 

và Vệ sinh môi trường nông thôn là một chương 

trình  mang  tính  xã  hội  và  nhân  văn  sâu  sắc, 

không  chỉ  góp  phần  cải  thiện  điều  kiện  sống, 

nâng  cao  nhận  thức  của  người  dân  khu  vực 

nông  thôn  mà  còn  góp  phần  quan  trọng  trong 

phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đặc biệt là 

đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, 

vùng  sâu,  vùng  xa.  Vì  vậy,  từ  năm  2000,  Thủ 

tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc 

gia  Nước  sạch  và  Vệ  sinh  nông  thôn  với  mục 

tiêu đến năm 2020 tất cả cư dân nông thôn được 

sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với 

số lượng ít nhất 60 lít/người/ngày, sử dụng nhà 

tiêu  hợp  vệ  sinh  và  thực  hiện  vệ  sinh  cá  nhân, 

giữ  gìn  vệ  sinh  môi  trường  làng,  xã.  Trong  đó, 

Chương  trình  mục  tiêu  quốc  gia  Nước  sạch  và 

Vệ  sinh  môi  trường  nông  thôn  là  công  cụ  để 

thực  hiện  Chiến  lược  quốc  gia  đã  được  Chính 

phủ phê duyệt. Mục tiêu của Chương trình cũng 

là mục tiêu mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết 

với  cộng  đồng  quốc  tế  và  là  một  trong  những 

tiêu  chí  quan  trọng  của  Chương  trình  mục  tiêu 

quốc gia xây dựng nông thôn mới đến năm 2020. 

Trong thời gian qua, được sự quan tâm của 

Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo của các cấp chính 

quyền  ở địa  phương  và sự hưởng  ứng tích  cực 

của người dân, Chương trình mục tiêu quốc gia 

Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai 

đoạn II (2006 ‐ 2011) đã đạt được những kết quả 

đáng  kể.  Tuy  nhiên,  đến  cuối  năm  2011,  tỷ  lệ 

người dân sử dụng nước sạch chỉ đạt 78%, trong 

đó 37% được  sử  dụng nước  đạt tiêu  chuẩn  của 

Bộ Y tế; tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp 

vệ sinh đạt 55% còn thấp so với mục tiêu đặt ra 

của Chương trình(2, 5). 

Nhằm  tiếp  tục  cải  thiện  và  nâng  cao  điều 

kiện  sống  cho  người  dân  nông  thôn,  ngày  31 

tháng 3 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban 

hành  Quyết  định  số  366/QĐ‐TTg  về  việc  phê 

duyệt  Chương  trình  mục  tiêu  quốc  gia  Nước 

2012 – 2015 (NTP3)(4) với mục tiêu đến hết năm 

2015 phấn đấu đạt 85% dân số nông thôn được 

sử  dụng  nước  hợp  vệ  sinh,  trong  đó  45%  sử  dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT(1); 65% 

số  hộ  gia  đình  nông  thôn  có  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh(3); 100% các trường mầm non và phổ thông,  trạm y tế xã ở nông thôn đủ nước sạch, nhà tiêu  hợp vệ sinh được quản lý và sử dụng tốt. 

MỤC TIÊU: Đánh giá công tác lập kế hoạch 

và tổ chức triển khai các hoạt động của ngành y 

tế  địa  phương  trong  chương  trình  mục  tiêu  Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông 

thôn năm 2013  ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Y 

tế huyện và trạm y tế xã tại một số tỉnh khu vực  đồng bằng sông Cửu Long. 

Địa bàn nghiên cứu 

Thực hiện tại 6 tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu  Giang, Kiên Giang, Long An và Trà Vinh. 

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên  cứu  hồi  cứu  kết  hợp  với  khảo  sát  thực tế. 

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN  Tình hình triển khai thực hiện hợp phần vệ  sinh thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia  Nước  sạch  và  Vệ  sinh  môi  trường  nông  thôn năm 2013 

Bảng 1: Công tác thành lập Ban chỉ đạo thực hiện 

Chương trình NTP 2012 ‐ 2015 

Ban chỉ đạo Tuyến

tỉnh

Tuyến huyện/thị xã

Tuyến xã/phường

Trong năm 2013, tất cả các tỉnh đã thành lập 

Trang 4

trong đó đại diện ngành y tế là phó Ban chỉ đạo 

của địa phương. Bên cạnh đó, trong 6 tỉnh giám 

sát, chỉ có tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu Sở Y tế 

đã  ban  hành  quyết  định  thành  lập  Ban  chỉ  đạo 

thực  hiện  Chương  trình  mục  tiêu  quốc  gia  NS 

&VSMT NT của ngành y tế. Thành phần Ban chỉ 

đạo  gồm  có  lãnh  đạo  Sở  Y  tế  làm  trưởng  ban, 

lãnh đạo Trung tâm Y tế dự phòng làm phó ban 

và thành viên là đại diện của các trung tâm y tế 

tuyến huyện/thành phố.  

Kết  quả  giám  sát  cho  thấy,  tỷ  lệ  thành  lập 

Ban  chỉ  đạo  đối  với  tuyến  huyện/thị  xã, 

xã/phường  rất  thấp  (chỉ  16,67%).  Đa  phần  các 

địa  phương  thực  hiện  lồng  ghép  với  Ban  chăm 

sóc sức khỏe ban đầu tại địa phương. Tại các địa 

phương giám sát, Sở Y tế ban hành văn bản giao 

cho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh là đơn vị đầu 

mối  chịu  trách  nhiệm  thực  hiện  hợp  phần  vệ 

sinh  của  Chương  trình  mục  tiêu  quốc  gia  nước 

sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 

2012 – 2015. Riêng tại tỉnh Bạc Liêu, hợp phần vệ 

sinh do phòng Kế hoạch của Sở Y tế chịu trách 

nhiệm  thực  hiện,  Trung  tâm  YTDP  Bạc  Liêu  là 

đơn vị hỗ trợ, tư vấn kỹ thuật chuyên môn. 

Bảng 2: Các nội dung hoạt động của Chương trình 

NTP3 trong năm 2013 

Tỉnh

Dự án 2

(Xây

dựng

nhà

tiêu

HVS

HGĐ)

Dự án 3 (Nâng cao năng lực truyền thông và giám sát, đánh giá thực hiện Chương

trình)

Vốn đầu

tư (Xây dựng công trình nước sạch và nhà tiêu HVS trạm y tế)

Nâng cao năng lực

Truyền thông

Kiểm tra, đánh giá

Xây dựng

mô hình điểm

Hậu

Kiên

Ghi chú: (X): có thực hiện. 

Trong năm 2013, tùy theo kế hoạch và kinh  phí được phê duyệt, các tỉnh đã thực hiện các nội  dung  hoạt  động  của  ngành  Y  tế.  Đối  với  tỉnh  Hậu Giang, với nguồn vốn hạn hẹp do đó đơn vị  này  thực  hiện  tập  huấn  trang  bị  kiến  thức  về  nước sạch và vệ sinh môi trường cho cán bộ y tế.  Đối với tỉnh Trà Vinh, Trung tâm YTDP tỉnh tổ  chức  thực  hiện  công  tác  giám  sát  chất  lượng  nước tại một số trạm cấp nước tập trung và tập  huấn  kỹ  năng  truyền  thông  cho  cán  bộ  y  tế  và  cộng tác viên y tế. 

Các  đơn  vị  đã  triển  khai  thực  hiện  các  hoạt  động  của  hợp  phần  vệ  sinh  như  xây  dựng  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh  hộ  gia  đình,  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh trạm y tế xã, giám sát chất lượng nước, tập  huấn  nâng  cao  năng  lực  và  công  tác  truyền  thông.  Đặc  biệt,  các  tỉnh  đã  thí  điểm  xây  dựng 

mô hình mẫu tại cộng đồng về xây dựng và sử  dụng, bảo quản nhà tiêu hợp vệ sinh. 

Hiện  nay,  5/6  tỉnh  giám  sát  đã  hoàn  thành  thiết  kế  mẫu  mô  hình  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh  hộ  gia  đình  và  trình  Ủy  ban  Nhân  dân  tỉnh  phê  duyệt để triển khai xây dựng và hỗ trợ kinh phí  thực hiện cho các đối tượng thuộc diện ưu tiên  theo quy định của Chương trình, ngoại trừ tỉnh  Hậu  Giang  chưa  thực  hiện  thiết  kế  này.  Tùy  từng  địa  phương,  các  đơn  vị  sẽ  lựa  chọn  mô  hình nhà tiêu hợp vệ sinh phù hợp với đặc điểm  thổ  nhưỡng  và  khả  năng  tài  chính  của  người  dân. Đối với tỉnh Kiên Giang, tỉnh Long An, tỉnh  Bạc Liêu lựa chọn mô hình nhà tiêu tự hoại xây  bằng gạch, tỉnh  Trà  Vinh  chọn  nhà tiêu  tự hoại  bằng ống bi, tỉnh Cà Mau chọn mô hình nhà tiêu 

tự hoại xây bằng gạch, nhà tiêu tự hoại bằng ống 

bi và nhà tiêu thấm dội nước. Về mức kinh phí 

hỗ trợ đối với hộ gia đình nghèo xây dựng nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh,  đối  với  mô  hình  nhà  tiêu  tự  hoại  xây  bằng  gạch  từ  3.000.000  đến  4.000.000  đồng  (riêng  tỉnh  Long  An  mức  hỗ  trợ  là  2.000.000  đồng),  nhà  tiêu  tự  hoại  bằng  ống  bi  mức hỗ trợ từ 2.000.000 đến 3.900.000 đồng, nhà  tiêu thấm dội nước là 2.000.000 đồng.  

Trang 5

Hình 1: Tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh tại hộ gia đình 

Kết quả hình 1 cho thấy, 83,3% các tỉnh tỷ lệ 

hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh chưa đạt 

mục tiêu đề ra của Chương trình. Trong đó, tỷ lệ 

này ở tỉnh Trà Vinh là thấp nhất (chỉ có 43,7%), 

kế đến là tỉnh Bạc Liêu (49,5%), tỉnh Cà Mau là 

78,4%, tỉnh Hậu Giang là 82,6%, tỉnh Kiên Giang 

là 83,3%. Riêng tỉnh Long An tỷ lệ hộ gia đình sử 

dụng  nước  hợp  vệ  sinh  là  89,8%,  tỷ  lệ  này  cao 

hơn  mục  tiêu  của  Chương  trình  (85%).  Đối  với 

các  nguồn  nước  chính  sử  dụng  cho  ăn  uống, 

sinh hoạt, đa phần các hộ gia đình khu vực nông 

thôn sử dụng nguồn nước cung cấp từ trạm cấp 

nước (nước máy), nước giếng khoan. Một số địa 

phương như Trà Vinh và Kiên Giang, người dân 

còn sử dụng nước giếng đào để sinh hoạt hằng 

ngày.  Đối  với  nguồn  nước  mưa,  cũng  được 

người  dân  sử  dụng  nhưng  với  số  lượng  không 

nhiều do hạn chế về mặt trữ lượng. Bên cạnh đó, 

Trung tâm Y tế dự phòng các địa phương chưa 

thực hiện công tác giám sát chất lượng nước tại 

các hộ gia đình. 

 

Kết quả giám sát năm 2013 cho thấy, tỷ lệ các  trạm y tế sử dụng nước sạch chưa đạt được mục  tiêu đề ra của chương trình là 100% trạm y tế xã  được  sử  dụng  nước  sạch.  Đáng  chú  ý,  tại  tỉnh  Long An chỉ có 48,9% (93/190) các trạm y tế được 

sử dụng nước sạch. Riêng tỉnh Kiên Giang hiện  đang rà soát tình hình sử dụng nước sạch tại các  trạm y tế trên địa bàn toàn tỉnh.  

Thực trạng sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh tại  địa phương năm 2013 

Hình 3: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh 

Hầu  hết  các  tỉnh  được  giám  sát  có  tỷ  lệ  hộ  gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh dưới 65%.  Trong đó, có 3 tỉnh (Hậu Giang, Trà Vinh và Bạc  Liêu)  có  tỷ  lệ  dưới  30%,  2  tỉnh  có  tỷ  lệ  từ  30  –  50% là tỉnh Kiên Giang (32,9%) và tỉnh Cà Mau  (40,8%), tỉnh Long An có tỷ lệ là 53,9%. So sánh  với Báo cáo kết quả thực hiện hợp phần vệ sinh  của ngành y tế năm 2013 thì khu vực đồng bằng  sông Cửu Long có tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà 

Kiên 

Giang, 

32.9

Hậu 

Giang, 

92.6

Trà Vinh,  30.1

Long An,  48.9 Cà Mau, 

40.8 Bạc Liêu, 

29

Trang 6

tiêu  hợp  vệ sinh  là  thấp nhất  (chỉ  có 44%),  tính 

chung trên toàn quốc là 59,8%. 

Hình 4: Tỷ lệ trạm y tế có nhà tiêu hợp vệ sinh 

So sánh với mục tiêu của Chương trình NS & 

VSMT NT giai đoạn 3 (2012 – 2015) đó là tất cả 

các  trạm  y  tế  xã  có  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh,  được 

quản lý và sử dụng tốt thì tất cả các địa phương 

chưa  đạt  được  mục  tiêu  của  Chương  trình. 

Ngoại trừ tỉnh Kiên Giang chưa rà soát tình hình 

sử  dụng  nhà  tiêu hợp  vệ  sinh tại  các  trạm  y  tế. 

Đối  với  các  tỉnh  khác,  tỷ  lệ  này  hiện  đạt  trên 

85%.  Trạm  y  tế  xã  của  các  tỉnh  chưa  đạt  được 

mục  tiêu  do  một  số  nguyên  nhân:  nhà  tiêu  bị 

xuống cấp hay hư hỏng, một số trạm y tế đang 

xây dựng mới nên chưa có nhà tiêu và một số xã 

vừa mới được thành lập do đó trạm y tế xã chưa 

có  cơ  sở  hoạt  động  nên  nhà  tiêu  còn  sử  dụng 

trong tình trạng tạm bợ.  

Hoạt động tập huấn, truyền thông giáo dục 

sức khỏe 

Bảng 3: Hoạt động tập huấn và truyền thông năm 2013 

Stt Tỉnh

Phương pháp thực hiện

Tập huấn

Truyền thanh, truyền hình

Trực tiếp tại cộng đồng

Trong trường học

Hoạt  động  tập  huấn,  truyền  thông  về  nước 

sạch  và  vệ  sinh  môi  trường  đã  được  các  địa 

phương xây dựng kế hoạch thực hiện nhưng với  nguồn kinh phí được phân bổ năm 2013 còn hạn  hẹp  nên  các  đơn  vị  chỉ  chọn  một  số  hoạt  động  chính  để  thực  hiện  như  tập  huấn  hoặc  truyền  thông  trên  đài  truyền  hình/truyền  thanh  hoặc  truyền thông cộng đồng… 

Đối  với  hoạt  động  tập  huấn  nâng  cao  năng  lực, Trung tâm YTDP Kiên Giang tập huấn “Mô  hình  vệ  sinh  tổng  thể  do  cộng  đồng  làm  chủ  ‐  CLTS”  cho  cán  bộ  y  tế  tuyến  huyện,  xã  nhưng  chưa tổ chức triển khai kích hoạt tại cộng đồng.  Các đơn vị khác (Hậu Giang, Trà Vinh, Bạc Liêu) 

tổ chức các lớp tập huấn trang bị kiến thức nước  sạch,  kỹ  thuật  xây  dựng  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh,  giám  sát  chất  lượng  nước  cho  cán  bộ  thực  hiện  Chương trình. 

Hoạt  động  truyền  thông  thực  hiện  chưa  đồng đều tại các địa phương, chủ yếu tập trung  vào  các  đợt  cao  điểm,  phát  động/hưởng  ứng  phong  trào.  Một  số  địa  phương  như  tỉnh  Kiên  Giang, Cà Mau, Bạc Liêu có thực hiện xây dựng  những  bản  tin,  phóng  sự  để  truyền  thông  trên  đài  truyền  hình  tỉnh  và  các  đài  phát  thanh  huyện,  xã  nhưng  kinh  phí  dành  cho  hoạt  động  này  do  các  địa  phương  hỗ  trợ  thực  hiện.  Bên  cạnh  đó,  một  số  địa  phương  tổ  chức  cho  các  cộng tác viên y tế thực hiện truyền thông nhóm 

về  hướng  dẫn,  vận  động  người  dân  xây  dựng, 

sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh thông qua các buổi  họp dân tại địa bàn hoặc kết hợp vãng gia. Riêng  tỉnh Cà Mau trong năm 2013 đã tổ chức tập huấn  cho  10.000  giáo  viên,  học  sinh  tại  100  điểm  trường học về nước sạch và vệ sinh môi trường. 

KẾT LUẬN 

‐  100%  các tỉnh  được  giám  sát  đã thành  lập  Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình NS & VSMT 

NT  giai  đoạn  2012  –  2015,  trong  đó  đại  diện  ngành y tế là phó Ban chỉ đạo của địa phương.  Bên cạnh đó, tỷ lệ thành lập Ban chỉ đạo đối với  tuyến  huyện/thị  xã,  xã/phường  rất  thấp  (16,67%). 

‐ Năm 2013 các Trung tâm YTDP tuyến tỉnh 

đều  thực  hiện  xây  dựng  kế  hoạch  của  Chương 

Trang 7

trường  nông  thôn.  Về  kinh  phí  được  phân  bổ, 

50%  số  tỉnh  giám  sát  được  phân  bổ  kinh  phí 

không theo đúng kế hoạch phê duyệt đó là tỉnh 

Hậu Giang, tỉnh Long An và tỉnh Trà Vinh. 

‐  Có  5  tỉnh  tỷ  lệ  hộ  gia  đình  sử  dụng  nước 

hợp vệ sinh chưa đạt mục tiêu đề ra của Chương 

trình.  Riêng  tỉnh  Long  An  tỷ  lệ  hộ  gia  đình  sử 

dụng  nước  hợp  vệ  sinh  là  89,8%,  tỷ  lệ  này  cao 

hơn mục tiêu của Chương trình (85%).  

‐ Tỷ lệ trạm y tế sử dụng nước sạch còn thấp 

chưa đạt được mục tiêu đề ra của chương trình 

NTP3. 

‐ Hầu hết các tỉnh được giám sát năm 2013 có 

tỷ  lệ hộ  gia đình sử  dụng nhà tiêu  hợp  vệ  sinh 

dưới 50%. 

‐  85%  các  trạm  y  tế  xã  có  nhà  tiêu  hợp  vệ 

sinh,  được  quản  lý  và  sử  dụng  tốt.  Riêng  tỉnh 

Kiên Giang chưa rà soát tình hình sử dụng nhà 

tiêu hợp vệ sinh tại các trạm y tế xã.  

‐ Hoạt động tập huấn, truyền thông về nước 

sạch  và  vệ  sinh  môi  trường  đã  được  các  địa 

phương xây dựng kế hoạch thực hiện nhưng với 

nguồn kinh phí được phân bổ năm 2013 còn hạn 

hẹp  nên  các  đơn  vị  chỉ  chọn  một  số  hoạt  động 

chính  để  thực  hiện  như  tập  huấn  hoặc  truyền 

thông  trên  đài  truyền  hình/truyền  thanh  hoặc 

truyền thông cộng đồng. 

KIẾN NGHỊ 

‐ Ban chủ nhiệm Chương trình tuyến Trung 

ương cần phân bổ kinh phí thực hiện hợp phần 

vệ  sinh  theo  đúng  kế  hoạch  đã  được  cấp  thẩm 

quyền  phê  duyệt  và  phân  bổ  kinh  phí  từ  đầu 

năm  nhằm  đảm  bảo  tiến  độ  công  việc  và  đạt 

được  các  mục  tiêu  của  Chương  trình  đã  được 

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. 

‐ Các địa phương nhanh chóng thành lập tổ 

thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia nước 

sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 

2012  –  2015  của  ngành  y  tế  nhằm  tăng  cường 

công  tác  chỉ  đạo,  đôn  đốc  các  địa  phương  thực  hiện hợp phần vệ sinh 

‐ Các địa phương cần thực hiện phân nhóm  đối  tượng:  hộ  nghèo  và  cận  nghèo,  hộ  trung  bình, hộ khá và giàu, cán bộ nhà nước (giáo viên,  đảng  viên,  viên  chức,  quân  nhân),  việc  phân  nhóm đối tượng sẽ hữu ích cho việc tiếp cận đối  tượng.  Đối  với  nhóm  đối  tượng  là  cán  bộ  nhà  nước có thể tham mưu cho Ủy ban Nhân dân xã  hoặc gửi danh sách đến đơn vị công tác để đơn 

vị  có  thể  khuyến  khích,  khuyến  nghị  họ  xây  dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh.  

‐  Trung  tâm  YTDP  các  tỉnh  liên  hệ  với  các  ban/ngành  liên  quan  để  có  những  số  liệu  cần  thiết  về  công  tác  nước  sạch  và  vệ  sinh  môi  trường. Đồng thời, photo kết quả điều tra bộ chỉ 

số 14 chỉ tiêu theo dõi – đánh giá nước sạch và 

vệ sinh môi trường hằng năm gửi cho các Trung  tâm  Y  tế  huyện  để  địa  phương  làm  số  liệu  cơ  bản và xây dựng kế hoạch theo tình hình thực tế  hằng năm. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bộ  Y  tế  (2009).  Quy  chuẩn  kỹ  thuật  quốc  gia  về  chất  lượng  nước sinh hoạt. Số QCVN 02:2009/BYT. Hà Nội. Tr. 3. 

2 Bộ Y tế(2011). Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục  tiêu quốc gia NS&VSMT NT giai đoạn 2006 – 2010. Hà Nội.  Tr.2. 

3 Bộ Y tế (2011). Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu – điều  kiện  bảo  đảm  hợp  vệ  sinh.  số  QCVN  01:2011/BYT.  Hà  Nội.  Tr.4. 

4 Thủ tướng Chính phủ (2012). Quyết định số 366/QĐ‐TTg về  việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và 

Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2015. Hà Nội.  Tr.2. 

5 Viện  Y  tế  Công  cộng  TP.HCM  (2012).  Báo  cáo  giám  sát  Chương  trình  mục  tiêu  quốc  gia Nước  sạch  và  Vệ  sinh  môi  trường nông thôn năm 2012, thành phố Hồ Chí Minh, Tr.7. 

  Ngày nhận bài báo:       15/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   17/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014   

 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 06:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w