1. Trang chủ
  2. » Tất cả

skkn NỘP

11 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 100 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phương pháp dạy học hiện nay học sinh giữ vai trò trọng tâm, chủ động phát hiện kiến thức trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên Sinh học là một môn khoa học có phạm trù rộng lớn và có

Trang 1

SÁNG KINH NGHIỆM:

“CÁC GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH TÍCH CỰC TRONG HỌC TẬP BỘ MÔN SINH HỌC THÔNG QUA VIỆC CHUẨN BỊ VÀ SỬ

DỤNG MẪU VẬT”

PHẦN MỞ ĐẦU

I. Bối cảnh của giải pháp:

Trong thời đại công nghiệp hóa - hiện đại hóa vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề quan trọng và cấp bách Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa: Học sinh tự giác, chủ động tìm tỏi, phát hiện và giải quyết vấn đề và có ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kĩ năng thu nhận được Trong phương pháp dạy học hiện nay học sinh giữ vai trò trọng tâm, chủ động phát hiện kiến thức trên

cơ sở hướng dẫn của giáo viên

Sinh học là một môn khoa học có phạm trù rộng lớn và có tính thực nghiệm, nó không chỉ dừng lại ở việc quan sát, mô tả các sự vật hiện tượng sinh học xảy ra trong thiên nhiên mà còn tìm ra các giải thích, phân tích, so sánh, tổng hợp các yếu tố sinh học như thực vật, động vật, con người cũng như thấy được mối quan hệ giữa chúng với nhau

Ở chương trình Sinh học lớp 6 đã cung cấp khá phong phú các tư liệu như: Tranh ảnh, thí nghiệm, thông tin Tuy nhiên, qua từng năm tháng giảng dạy môn Sinh học 6 tôi thấy rằng việc chuẩn bị và sử dụng mẫu vật trong các bài dạy còn hạn chế nên chưa khai thác kiến thức hết thông qua mẫu vật, giáo viên ngại tìm kiếm chuẩn bị mẫu vật, học sinh chỉ quan sát tranh ảnh tĩnh thu nhỏ Mặt khác, vì là học sinh lớp 6 nên các em chưa quen với môi trường học mới đồng thời môn Sinh học là một môn học mới nên các em chưa biết thu thập các mẫu vật Từ đó một số học sinh không hứng thú với môn học dẫn đến chất lượng học tập của các em không đạt kết quả cao

Vận dụng phương pháp mới, trong dạy học nói chung và dạy học môn Sinh học nói riêng, không chỉ là lĩnh vực tìm hiểu của các nhà nghiên cứu sư phạm, mà mọi giáo viên không ngừng tự nghiên cứu, tìm tòi, vận dụng trong thực tiễn dạy học bộ môn, để giúp đào tạo ra những con người có năng lực, có tính sáng tạo và biết vận dụng kiến thức, kỹ năng vào cuộc sống, xã hội

II Lí do chọn giải pháp:

Trang 2

Môn Sinh học 6 nghiên cứu chủ yếu về thế giới thực vật, thế nhưng do đa số các học Sinh lớp 6 ít tiếp xúc, quan sát môi trường tự nhiên Do vậy, học sinh ít thấy được sự đa dạng của Giới thực vật trong

tự nhiên, cũng như đặc điểm đặc trưng của các loài thực vật khác nhau

Dù vậy, việc tìm hiểu, vận dụng, đổi mới phương pháp dạy và học là yêu cầu cần thiết để kích thích các em tích cực tự tìm hiểu, tự nghiên cứu và giúp các em nhận biết các loài thực vật trong tự nhiên, vận dụng tìm ra kiến thức mới của bài học Từ đó giúp các em tự tin trong học tập, hoạt động và đạt kết quả học tập cao hơn

Bên cạnh đó, việc tìm hiểu thực vật xung quanh, cũng giúp các em nhận thức rõ, để học tốt môn Sinh học, cần có sự quan sát tự nhiên một cách khoa học, kết hợp với kiến thức sách giáo khoa, sự hướng dẫn của giáo viên, cùng sự tích cực tham gia các hoạt động học tập Do đó tôi

chọn đề tài “Các giải pháp giúp học sinh tích cực hơn trong học tập bộ môn Sinh học 6 thông qua việc chuẩn bị và sử dụng mẫu vật”.

III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

- Môn Sinh học 6 và Sinh học cấp Trung học cơ sở nói chung

- Đối tượng: học sinh lớp 6

IV Mục đích nghiên cứu:

Yêu cầu của bộ môn Sinh học 6 cấp THCS là học sinh phải nắm được kiến thức cơ bản về sinh lý thực vật, đặc điểm chủ yếu của các dạng thực vật để phân biệt chúng trong tự nhiên, đồng thời biết phân loại thực vật, sắp xếp chúng theo trật tự nhất định

Ngoài ra các em còn phải biết lấy mẫu nghiên cứu như thế nào để không phá hoại cảnh quan môi trường mà vẫn thấy được sự đa dạng của thực vật và phát hiện được kiến thức cần nắm

PHẦN NỘI DUNG

I Thực trạng của giải pháp đã biết, đã có:

Môn sinh học lớp 6 chủ yếu tìm hiểu giới thực vật, các quá trình sinh lý ở thực vật

Sinh học là môn học nghiên cứu sinh vật trong tự nhiên, kiến thức sinh học vừa có ở kênh chữ, vừa có ở kênh hình và vật mẫu thật Do đó, dạy học sinh học không thể không có tranh ảnh, vật mẫu, thí nghiệm và thực hành Thực tế, khi học sinh học 6, các em có suy nghĩ đó là môn học bài, dễ dàng học thuộc lòng nhưng không phải như vậy Nếu các em không biết vận dụng, biết quan sát thực tiễn, vật mẫu, tranh, hình thì các

em không học tập tốt được

Mặt khác, học sinh cũng thường nhận dạng sai các loài thực vật trong tự nhiên, thậm chí cả ở những thực vật các em dùng hàng ngày, ví

Trang 3

dụ các em nhiều lần thấy củ khoai lang nhưng không biết cây khoai lang như thế nào Hoặc các em cho lá me có cách mọc đối trong khí đó chỉ các

lá chét của nó mới mọc đối, nhầm cây một lá mầm, cây hai lá mầm, cây

có hoa, cây không có hoa,

Đối với việc thực hiện yêu cầu của giáo viên, về chuẩn bị vật mẫu học tập, thì nhiều học sinh chuẩn bị vật mẫu cho có hay để được điểm cộng và không bị thầy cô nhắc nhở Các em lấy mẫu thật nhiều, nhưng không lưu ý đến yêu cầu cần thiết khi chuẩn bị mẫu để học Ví dụ yêu cầu quan sát rễ cây, nhưng các em chỉ chuẩn bị mẫu lá Học về các loại quả nhưng các em chỉ mang đến lớp các quả để ăn,

Đối với việc quan sát đồ dùng học tập: Các em có thói quen quan sát đồ dùng dạy học, tranh ảnh hay vật mẫu một cách qua loa, chiếu lệ Các em không tư duy, so sánh hay đối chiếu, không tự tìm tòi mà chỉ dựa vào thông tin sách giáo khoa, cứ cho rằng ngày nào các em cũng thấy chúng, nhưng không biết rằng giới tự nhiên, luôn chứa đựng những điều

kỳ thú cần các em khám phá như: Tại sao có màu sắc khác nhau ở các mặt của lá? Gân lá có đặc điểm gì? Cấu tạo trong thân cây non có gì khác thân cây gỗ già? Các bó mạch ở thân cây một lá mầm và hai lá mầm?

Đối với kỹ năng hoạt động nhóm: Các em chưa thật sự tích cực và

có kỹ năng hoạt động theo nhóm, chưa quen với việc tự mình làm chủ, tìm tòi, nghiên cứu kiến thức trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên

II Nội dung sáng kiến

1 Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề:

1.1 Biện pháp chung:

- Môn Sinh học nói chung và Sinh học 6 nói riêng, thì việc giáo viên sử dụng vật mẫu thật, tranh ảnh, mô hình, vừa có tác dụng trực quan hóa các nội dung kiến thức, vừa mang tính minh họa, vừa là nguồn cung cấp tri thức quan trọng cho học sinh và giúp học sinh tham gia tích cực hơn trong giờ học Học sinh sử dụng tốt các phương tiện trực quan,

là cơ sở để hình thành và rèn luyện các kỹ năng nghiên cứu khoa học cho các em, tạo điều kiện cần thiết cho học sinh khả năng tìm tòi, phát hiện kiến thức

- Để giúp học sinh khai thác tri thức sinh học, từ vật mẫu thật hay tranh ảnh trong sách giáo khoa, thì học sinh phải có kiến thức, kỹ năng về thu thập vật mẫu, nghiên cứu tranh ảnh, mô hình Biết quan sát, tìm và phát hiện ra kiến thức mới thông qua vật mẫu thật, tranh ảnh, mô hình

1.2 Biện pháp cụ thể:

Trang 4

Giáo viên cần khuyến khích, động viên, kích thích óc tìm tòi, quan sát, tạo hứng thú trong việc tìm kiến thức thông qua chuẩn bị vật mẫu thật, tranh ảnh hay tư liệu cho tiết học bằng cách:

- Giới thiệu chủ đề cho tiết học sắp tới Cung cấp cho các em các gợi ý cần thiết để các em vận dụng trong sưu tầm hoặc lựa chọn vật mẫu phù hợp bài học

- Nêu cụ thể một số loài thực vật cần tìm hiểu theo sách giáo khoa hoặc theo ý kiến cá nhân học sinh nhưng phù hợp chủ đề sắp học

- Yêu cầu các em nắm đặc điểm của mỗi loài qua quan sát thực tế, nghiên cứu sách giáo khoa, qua hoạt động nhóm và thông tin từ gia đình, bạn bè, tên các thực vật gọi theo địa phương, đặc điểm cơ bản của các dạng thân, kiểu rễ, có hay không có hoa, lá đơn hay kép, kiểu xếp lá,

- Giới thiệu hình ảnh hay tiêu bản vật mẫu mà giáo viên hoặc học sinh các năm học trước đã hoàn thành, để học sinh chủ động trong việc tìm hiểu thiên nhiên, nghiên cứu các loại thực vật

- Giờ học giáo viên chú ý tối đa tới việc sử dụng có hiệu quả các vật mẫu, các giáo cụ trực quan, đưa vật mẫu nào vào lúc nào để học sinh thấy được sự đóng góp của mình cho bài học và tạo sự hứng thú, sinh động trong giờ học và giúp các học sinh khác biết được về các kiến thức cơ bản thông qua các vật mẫu thật

- Học sinh sưu tầm, tìm được vật mẫu, làm được thí nghiệm

tốt phù hợp nội dung bài và có giá trị trực quan tốt, giáo viên cần

khen ngợi và động viên tinh thần tham gia tích cực trong giờ học

của học sinh hay nhóm bằng cách ghi điểm cộng Nhóm hay học

sinh chưa làm tốt có nhắc nhở, phê bình, giúp phát huy tính chủ

động tích cực của học sinh trong giờ học và học sinh tự tin hơn,

hứng thú hơn trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học sinh học

1.3 Ứng dụng biện pháp trong giảng dạy:

a)

Đ ối với việc chuẩn bị vật mẫu :

Ví dụ 1: Bài 9 “Các loại rễ, các miền của rễ” Học sinh cần chuẩn bị được vật mẫu thật hai loại rễ chính: rễ cọc và rễ chùm Để giúp học sinh chuẩn bị tốt, giáo viên cần yêu cầu cụ thể mẫu cây lúa, cây lục bình, cây chanh hay nhãn, bưởi con, có đủ rễ và đã rửa sạch, như thế các em sẽ

dễ quan sát và so sánh hai loại rễ giúp các em nắm đặc điểm và tên cây

có loại rễ đó

Cũng cần phân công học sinh gieo một số hạt đậu hay để củ hành nơi ẩm để quan sát các miền của rễ

Trang 5

Ví dụ2: Bài 1 “ Đặc điểm bên ngoài của lá” , các em cần chuẩn bị các loại lá có đủ ba dạng gân lá, có lá đơn, lá kép, có lá mọc cách, mọc đối, mọc vòng

Tuy nhiên khi lấy vật mẫu chú ý kích thước cây, cành phù hợp và có

ý thức bảo vệ thực vật, cảnh quan như lấy những cành cần tỉa thưa cho cây phát triển tốt giúp kích thích học sinh phát huy tính sáng tạo và óc quan sát tìm tòi

b) Việc sử dụng vật mẫu trong giờ học:

Trước hết hướng dẫn học sinh quan sát vật mẫu, đối chiếu ghi chú sách giáo khoa, tìm hiểu các kiến thức liên quan, thông qua các câu hỏi gợi ý hay lệnh sách giáo khoa, tiếp theo trình bày các ý kiến nhận xét cá nhân hay nhóm trên vật mẫu thật, tranh ảnh hay mô hình, thí nghiệm nhằm tìm ra và nắm chắc điểm chủ yếu của kiến thức cần đạt

Ví dụ : Bài 42 “Lớp Hai lá mầm, lớp Một lá mầm”

Phần chuẩn bị vật mẫu: sau bài 41, giáo viên hướng dẫn cụ thể việc chuẩn bị vật mẫu cho bài 42 Lưu ý học sinh lấy mẫu có đủ rễ, thân, lá, hoa, quả càng tốt Lấy mẫu các các cây mọc dại hoặc nhà trồng trên cơ sở tỉa thưa hay có thể xin từ nhà người quen hoặc lấy mẫu từ rau ăn mua ở chợ

Trong giờ học: giáo viên kiểm tra việc chuẩn bị mẫu, hướng dẫn các

em thực vật Hạt kín được chia làm hai lớp: lớp Hai lá mầm và lớp Một lá mầm Vậy thực vật trong hai lớp này khác nhau như thế nào? Để phân biệt chúng dựa trên các đặc điểm nào?

Trước hết cho học sinh dựa trên vật mẫu nhắc lại các kiến thức đã học về kiểu rễ, dạng thân, kiểu gân lá của một số thực vật các em mang đến lớp

Kết hợp giữa vật mẫu thật, kênh hình, kênh chữ sách giáo khoa, cho học sinh tìm các đặc điểm, phân biệt cây thuộc hai lớp trên theo nhóm và cho các đại diện nhóm, trình bày trên vật mẫu theo gợi ý của sách giáo khoa để biết các đặc điểm phân biệt cây Hai lá mầm và cây Một lá mầm theo kiểu rễ, gân lá, số cánh hoa,

Để giúp học sinh củng cố kiến thức đã học, giáo viên cho các em hoạt động độc lập hay nhóm để chia các vật mẫu vào hai nhóm cây Cũng

có thể thực hiện hoạt động này dưới dạng trò chơi tiếp sức, sau đó cho học sinh nêu lại kiến thức vừa ghi nhận trên vật mẫu đã chọn, các học sinh khác nhận xét, giáo viên ghi điểm nhóm làm tốt giúp học sinh hoạt động tích cực và ghi nhớ kiến thức cơ bản tốt hơn

Trang 6

Cho bài tập trắc nghiệm, bài tập dựa trên các vật mẫu được học sinh thu thập và bổ sung thêm các thực vật mà các em thường gặp nơi ở hay sân trường giúp học sinh biết được các cách phân biệt nhanh hai lớp dựa vào đặc điểm bên ngoài như dạng thân, gân lá, cánh hoa và cần kết hợp nhiều đặc điểm phân biệt, chứ không chỉ lấy riêng một đặc điểm nào do

sự đa dạng của thực vật Hạt kín

2 Những ưu, nhược điểm của giái pháp mới

2.1 Ưu điểm

Sử dụng mẫu vật là phương pháp dạy học trực quan, là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật Đồ dùng dạy học là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất kiến thức, là phương tiện có hiệu lực để hình thành các khái niệm, giúp học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội

Đồ dùng dạy học trong đó có việc sử dụng mẫu vật có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức môn học Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan Vì vậy, cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm, sử dụng mẫu vật còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của học sinh

- Giúp học sinh có ý thức chủ động trong việc tìm ra kiến thức mới

từ việc chuẩn bị vật mẫu học tập, đến kỹ năng nắm và vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống

- Bồi dưỡng năng lực tự học, say mê nghiên cứu khoa học, lòng yêu quí và bảo vệ tự nhiên, bảo vệ môi trường nhằm phục vụ tốt hơn cho đời sống

- Nâng cao chất lượng học tập bộ môn

2.1 Nhược điểm

Việc chuẩn bị và sử dụng mẫu vật đòi hỏi nhiều thời gian, giáo viên cần tính toán kĩ để phù hợp với thời lượng đã quy định

Nếu sử dụng mẫu vật không khéo sẽ làm phân tán chú ý của học sinh, dẫn đến học sinh không lĩnh hội được những nội dung chính của bài học

Khi sử dụng đồ dùng dạy học, đặc biệt là khi quan sát tranh ảnh, các phim điện ảnh, phim video, nếu giáo viên không định hướng cho học sinh quan sát sẽ dễ dẫn đến tình trạng học sinh sa đà vào những chi tiết nhỏ lẻ, không quan trọng

Trang 7

3 Đánh giá về sáng kiến được tạo ra

3.1 Tính mới

Trong giảng dạy môn Sinh học 6, qua hướng dẫn học sinh chuẩn bị vật mẫu, quan sát, nghiên cứu để học tập tốt môn học, bản thân nhận thấy

có kết quả khá tốt: đa số học sinh tích cực học tập, tìm tòi, nghiên cứu, nhận dạng đúng các loại thực vật, biết giải quyết tốt các vấn đề nêu ra khi

sử dụng vật mẫu, tích cực hơn với việc học tập, nghiên cứu bộ môn, kết quả học tập cũng khả quan hơn

Học sinh cảm thấy tự tin khi trình bày một vấn đề trước đám đông, thích thú hơn khi học có vật mẫu thật và tự tìm ra được các kiến thức cơ bản một cách chính xác

3.2 Hiệu quả áp dụng

- Qua vận dụng đề tài “Các giải pháp giúp học sinh tích cực hơn trong học tập môn Sinh học 6 thông qua việc chuẩn bị và sử dụng mẫu vật”, tôi nhận thấy năm học 2017 – 2018, kỹ năng quan sát, tìm và phát

hiện ra kiến thức mới “ẩn” trong vật mẫu thật, tranh ảnh, mô hình của học sinh có nhiều tiến bộ đáng kể:

+ Học sinh thực hiện thuần thục các thao tác và trình bày lưu loát, chính xác các kiến thức cần đạt trên tranh, mô hình hay vật mẫu thật + Học sinh biết tìm ra kiến thức chủ yếu qua phân tích các chi tiết của sự vật, hiện tượng xác lập mối quan hệ biện chứng, như từ đặc điểm

cụ thể vật mẫu, mô hình, tranh, khái quát được các kiến thức cơ bản cần học Từ đó khắc sâu được kiến thức hơn cho học sinh, giúp học sinh làm bài kiểm tra đạt hiệu quả cao

+ Tạo niềm say mê, tìm tòi ham thích học môn sinh học hơn và làm

cơ sở cho việc học tập tốt môn sinh học và nâng cao chất lượng bộ môn

* Kết quả của năm học 2016-2017 đối với khối 6 không chuẩn bị và

không sử dụng mẫu vật trong giảng dạy

Số h/

s

204 34 16,67 62 30,39 72 35,29 22 10,79 14 6,86

* Kết quả của năm học 2017-2018 đối với khối 6 có chuẩn bị và sử dụng

mẫu vật trong giảng dạy

Số h/

s

Trang 8

260 73 27,91 97 37,31 72 27,69 18 6,92

3.3 Khả năng áp dụng sáng kiến

- Qua thời gian áp dụng đề tài “Các giải pháp giúp học sinh tích cực hơn trong học tập môn Sinh học 6 thông qua việc chuẩn bị và sử dụng mẫu vật” Tôi nhận thấy đa số học sinh lớp 6 có nhiều tiến bộ trong học

tập, yêu thích học tập bộ môn, nhận dạng được các loài thực vật thường gặp và biết sắp xếp chúng theo đặc điểm đặc trưng từng loại

- Các em biết cách chuẩn bị vật mẫu, nghiên cứu các kiến thức cần tìm hiểu và giải quyết các bài tập trong sách giáo khoa chính xác Từ đó, các em tự bổ sung kiến thức cho mình và ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống Cũng như các em tự tin hơn trong học tập, nắm chắc hơn kiến thức cần đạt của bài học

Ngoài ra, đặc thù của môn Sinh học 6 nói riêng và sinh học nói chung là khoa học thực nghiệm và chủ yếu thông qua quan sát tranh ảnh, vật mẫu, thực hành, thí nghiệm để tìm ra kiến thức và vận dụng trong thực tế đời sống, nên việc nghiên cứu tính tích cực của học sinh trong việc chuẩn bị vật mẫu học tập sẽ góp phần nâng chất lượng môn sinh học ngày càng cao hơn

- Sáng kiến này được tôi áp dụng ở lớp 6 trường THCS Nguyễn Hiền năm học 2017-2018

- Lĩnh vực mà sáng kiến này có thể áp dụng là hoạt động dạy học trong lĩnh vực giáo dục

- Để áp dụng được đề tài này đòi hỏi cần có sự chuẩn bị của cả học sinh và giáo viên về các mẫu vật, đồ dùng dạy học liên quan đến nội dung bài học

- Sáng kiến này có thể áp dụng đối với tất cả các bài trong Sinh học

6 nói riêng và trong chương trình Sinh học bậc THCS nói chung có sử dụng đồ dùng dạy học cụ thể ở đây là mẫu vật

PHẦN KẾT LUẬN

I Những bài học kinh nghiệm.

Qua quá trình giảng dạy, vận dụng đề tài “Các giải pháp giúp học

sinh tích cực hơn trong học tập môn Sinh học 6 thông qua việc chuẩn bị

và sử dụng mẫu vật”, bản thân rút ra một số bài học kinh nghiệm như

sau:

- Với sự hướng dẫn của giáo viên học sinh tập trung vào bài học, chuẩn bị tốt các hoạt động về nhà, tranh ảnh, vật mẫu liên quan đến bài Cùng sự hướng dẫn của giáo viên và không khí thoải mái của lớp học, học sinh cảm thấy hứng thú, tự tin khi trình bày trước đám đông, nhất là

Trang 9

học sinh tìm được vật mẫu tốt, hiếm (dây tơ hồng, rễ cây bần, địa y hình cành, tầm gửi, …)

- Đa số bài trong chương trình Sinh học 6 đều có chuẩn bị vật mẫu: các loại rễ - các miền của rễ, rễ biến dạng, cấu tạo ngoài của thân, thân dài ra do đâu, cấu tạo ngoài của lá, …các em có thể giữ lại mẫu để làm tập bách thảo, chuẩn bị cho việc tìm hiểu thiên nhiên và thực hành cuối năm học

- Giáo viên cần luôn khuyến khích, động viên các em khi trình bày trước lớp, rèn kỹ năng vận dụng ngôn ngữ, biết sắp xếp hợp lí, khoa học các vật mẫu sưu tầm được, nắm bài và vận dụng tốt kiến thức vào bài mới cũng như trong đời sống một cách linh hoạt

- Giáo viên cần luôn cập nhật kiến thức, tự tìm tòi các tư liệu mới, nghiên cứu, ứng dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp, có tinh thần cầu tiến, học hỏi các kinh nghiệm từ đồng nghiệp và cần luôn kiên nhẫn trong việc hướng dẫn, giúp đỡ học sinh học tập

II Những kiến nghị, đề xuất

1 Đối với các cấp lãnh đạo

Tiếp tục duy trì các cuộc hội thảo chuyên đề về phương pháp dạy học có hiệu quả cao, để giáo viên các trường trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, nhằm ngày càng nâng cao chất lượng bộ môn

- Ban giám hiệu tiếp tục tạo điều kiện cho giáo viên tham gia sinh hoạt các chuyên đề mới

2 Đối với giáo viên:

- Bản thân người giáo viên phải luôn tích cực sáng tạo, tìm ra những phuơng pháp hay,thiết kế bài giảng với hình ảnh, màu sắc hợp lí, thu thập những mẫu vật hợp với nội dung bài dạy và có ở địa phương … để thu hút học sinh

Tôi xin cam kết không sao chép và vi phạm bản quyền

Xuân lộc,ngày 22 tháng 19 năm 2018

HỘI ĐỒNG CÔNG NHẬN TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

SÁNG KIẾN TẠI CƠ QUAN,

ĐƠN VỊ NƠI TÁC GIẢ

CÔNG TÁC

Trần Thị Hồng

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Sách giáo khoa Sinh học 6 – Nhà xuất bản giáo dục.

2 Sách giáo viên Sinh học 6 – Nhà xuất bản giáo dục.

3 Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III Môn Sinh học (2004 – 2007) – Nhà xuất bản giáo dục.

4 Mạng Internet

Ngày đăng: 09/09/2019, 20:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w