MônToán giúp HS có nhận thức về mối quan hệ số lượng và hình dạng khônggian, thời gian thực hiện từ đó giúp các em có phương pháp nhận thức một sốmặt của thế giới xung quanh và hoạt động
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGÔ THỊ THU HÀ
DẠY HỌC CÁC BIỂU THỨC
TOÁN HỌC Ở TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Toán và phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======
NGÔ THỊ THU HÀ
DẠY HỌC CÁC BIỂU THỨC
TOÁN HỌC Ở TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Toán và phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS NGUYỄN NĂNG TÂM
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bảnthân, em còn nhận được sự động viên, hưỡng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầygiáo Nguyễn Năng Tâm và những ý kiến đóng góp của các thầy cô trong tổphương pháp
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến các thầy, cô giáotrong khoa Giáo dục Tiểu học đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập Đặcbiệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo của thầy Nguyễn Năng Tâm đã giúp em hoànthành khóa luận này
Do thời gian có hạn, năng lực còn hạn chế, mức độ nghiên cứu chưa sâu,khóa luận này còn có hạn chế nhất định Em rất mong sự góp ý chân thành từcác thầy cô giáo và các bạn đọc
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Ngô Thị Thu Hà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Hoàn thành đề tài “Dạy học các biểu thức toán học cho HS Tiểu học” làquá trình tự tìm hiểu, tự nghiên cứu của bản thân em dưới sự giúp đỡ củagiảng viên hướng dẫn và tham khảo các tài liệu có liên quan
Em xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng em, đề tài khôngtrùng với đề tài của tác giả khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Ngô Thị Thu Hà
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Giả thiết khoa học 3
8 Cấu trúc khóa luận 3
NỘI DUNG 4
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC CÁC BIỂU THỨC TOÁN HỌC Ở TIỂU HỌC 4
1.1 Lí luận dạy học 4
1.1.1 Hoạt động học 4
1.1.2 Hoạt động dạy 5
1.1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học 6
1.1.4 Sự phát triển tư duy toán học của HS Tiểu học 6
1.2 Đặc điểm nhận thức của HS 10
1.3 Đặc điểm tư duy của HS 11
1.4 Khái niệm về biểu thức 14
1.4.1 Biểu thức 14
1.4.2 Biểu thức số 14
1.4.3 Biểu thức chữ 15
1.5 Giới thiệu biểu thức ở Tiểu học 17
1.5.1 Giới thiệu biểu thức số 17
Trang 71.5.2 Giới thiệu biểu thức chứa chữ 18
1.6 Mục tiêu dạy học các biểu thức toán học ở Tiểu học 19
1.6.1 Mục tiêu chung 19
1.6.2 Mục tiêu theo từng lớp 19
1.7 Nội dung dạy học các biểu thức toán học ở Tiểu học 20
1.7.1 Nội dung dạy học các biểu thức toán học ở lớp 1 21
1.7.2 Nội dung dạy học các biểu thức toán học ở lớp 2 21
1.7.3 Nội dung dạy học các biểu thức toán học ở lớp 3 21
1.7.4 Nội dung dạy học các biểu thức toán học ở lớp 4 21
1.7.5 Nội dung dạy học các biểu thức toán học ở lớp 5 22
Chương II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC BIỂU THỨC TOÁN HỌC Ở TIỂU HỌC 23
2.1 Một số thông tin về việc dạy và học các biểu thức toán học ở Tiểu học 23
2.2 Dạy học các biểu thức toán học ở Tiểu học 23
2.2.1 Dạy học biểu thức số 24
2.2.2 Dạy học biểu thức chữ 26
2.2.3 Tính giá trị của biểu thức 28
2.2.3.1 Tính giá trị của biểu thức số 28
2.2.3.2 Tính giá trị của biểu thức chữ 29
2.2.3.3 Những sai lầm khi tính giá trị biểu thức 30
2.2.4 So sánh các biểu thức 31
2.2.5 Vận dụng tính chất của phép tính để tính giá trị biểu thức 31
2.3 Thiết kế một số giáo án dạy học biểu thức cho HS ở Tiểu học 32
2.3.1 Ví dụ 1 32
2.3.2 Ví dụ 2 38
2.3.3 Ví dụ 3 42
2.3.4 Ví dụ 4 47
Trang 8Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52
3.1 Mục đích tiến hành thực nghiệm 52
3.2 Quá trình thực nghiệm 52
KẾT LUẬN 55
DANH MỤC TÀI LIỆU 56
Trang 9ai cũng biết Chính vì vậy, dạy học Tiểu học bằng mọi cách phải giúp các em
có cơ sở để học tốt các cấp học tiếp theo
Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vịtrí rất quan trọng vì:
Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trongcuộc sống hàng ngày, cần thiết đối với người lao động, cần thiết cho các mônhọc khác ở Tiểu học, cần thiết cho việc học toán ở các giai đoạn sau MônToán giúp HS có nhận thức về mối quan hệ số lượng và hình dạng khônggian, thời gian thực hiện từ đó giúp các em có phương pháp nhận thức một sốmặt của thế giới xung quanh và hoạt động có hiệu quả trong cuộc sống Ngoài
ra còn góp phần hình thành và rèn luyện ở HS phương pháp suy nghĩ, phươngpháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thôngminh cho HS, suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo và chủ động Môn Toán cũng gópphần hình thành và bồi dưỡng các phẩm chất cần cù, cẩn thận, làm việc có kếhoạch, có ý chí vượt khó,… cho HS Những thao tác tư duy có thể rèn luyêncho HS thông qua môn Toán bao gồm phân tích, tổng hợp, so sánh, tương tự,khái quát hóa, trừu tương hóa, cụ thể hóa, đặc biệt hóa
Mục tiêu dạy học môn Toán ở Tiểu học cơ bản là cung cấp cho HS cơ sởban đầu về số học, đo đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình học, giải toán
có lời văn và đặc biệt là đại số được xem là một trong năm nội dung chính của
Trang 10môn Toán ở Tiểu học Dạy học các yếu tố đại số nhằm mục đích làm cho việcdạy học có hiệu quả hơn, tạo điều kiện nâng cao một bước trình độ tư duytrừu tượng, năng lực khái quát hóa của HS HS Tiểu học ban đầu được làmquen với các yếu tố đại số thông qua các biểu thức số, các biểu thức chữ, giátrị của biểu thức, các bất đẳng thức và phương trình đơn giản.
Đặc biệt, nội dung các biểu thức toán học là mảng kiến thức quan trọng
trong mảng số học nói riêng và môn Toán nói chung Thông qua mảng kiếnthức này, HS có kĩ năng đọc, viết, so sánh tập hợp số tự nhiên, số hữu tỉ vàthực hành các phép toán cộng, trừ, nhân, chia trên 2 tập số đó Các mảng kiếnthức còn lại đều được xây dựng xoay quanh mảng kiến thức trọng tâm này vìvậy để dạy học tốt thì cần phải thực hiện tốt việc dạy học các biểu thức toánhọc ở Tiểu học, làm tiền đề, cơ sở để dạy học tốt các mảng kiến thức khác.Theo từng lớp, kiến thức ngày một nâng cao hơn, rèn luyện tư duy của trẻ,tăng dần trình độ Tuy nhiên, trên thực tế việc dạy học các biểu thức toán học
ở Tiểu học lại chưa đạt hiệu quả cao Nguyên nhân do đây là mảng kiến thứckhó và trừu tượng, HS rất dễ bị nhầm lẫn khi thực hiện, trong khi tư duy củacác em còn mang tính cụ thể, trực quan cộng với việc phương pháp dạy họccủa một số GV còn chưa phù hợp
Do đó em quyết tâm tìm tòi, nghiên cứu về đề tài “Dạy học các biểu thức
toán học ở Tiểu học”.
Trang 112 Mục đích nghiên cứu
học tập, giảng dạy kiến thức về biểu thức toán hoc ở Tiểu học đểthiết kế một số giáo án nhằm nâng cao hiêu quả dạy học nội dungbiểu thức toán học ở Tiểu học
3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Biểu thức toán ở Tiểu học
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Phạm vi nghiên cứu: Các biểu thức toán học ở Tiểu học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu nội dung dạy học biểu thức số học ở Tiểu học
- Tìm hiểu phương pháp dạy học các biểu thức số ở Tiểu học
- Thiết kế một số giáo án dạy học các biểu thức số học ở Tiểu học
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống
7 Giả thiết khoa học
- Nếu dạy học tốt các biêu thức toán học ở Tiểu học thì sẽ nâng caođược chất lượng dạy học các nội dung toán học khác ở Tiểu học
8 Cấu trúc khóa luận
Trang 12NỘI DUNG Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC CÁC BIỂU THỨC
TOÁN HỌC Ở TIỂU HỌC 1.1 Lí luận dạy học
1.1.1 Hoạt động học (Xem [13])
- Hoạt động học là hoạt động của HS (hay người học) trong quá trìnhngười học hướng tới mục đích là chiễm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng,phương pháp nào đó Như vậy, chỉ những hoạt động nhằm hướng tới mụcđích chiễm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng hay phương pháp nào đó mớiđược gọi là hoạt động học
Có nhiều cách học khác nhau:
+ Học nhờ trải nghiệm (Học một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống): Cáchhọc này giúp cho con người tích lũy được những hiểu biết, vốn sống và kinhnghiệm nhất định Tuy nhiên chỉ đưa lại cho con người những tri thức tiềnkhoa học có tính chất ngẫu nhiên, rời rạc và không hệ thống, chỉ lĩnh hội đượcnhững gì liên quan trực tiếp với nhu cầu, hứng thú, các nhiệm vụ trước mắt
Ví dụ: Một nhóm trẻ em nhi đồng chơi đồ hàng Hoạt động của nhóm trẻlúc này là vui chơi, giải trí Mục đích khi vui chơi là tìm sự vui vẻ Thông quahoạt động chơi đồ hàng, các em có thể biết được kiến thức về số học đơngiản, giá trị, một số đại lượng phổ biến như tiền tệ, khối lượng, độ dài, thông qua hoạt động mua bán trao đổi đơn giản giữa đám trẻ Nhưng cái họcđược này không phải là mục đích được định trước khi trẻ chơi đồ hàng
+ Học theo phương pháp nhà trường (gọi là hoạt động học): Hoạt độngnày được tổ chức tự giác từ nhà nước và xã hội, được thực hiện trong trườnghọc theo: mục tiêu, kế hoạch năm học, nội dung và chương trình học, phươngpháp dạy và phương pháp học Theo phương pháp này, HS phát biểu tronggiờ học, GV giảng bài trên lớp
Trang 13Ví dụ: Bài “Hình tam giác” – Toán 1
Mục tiêu của bài là: Giúp HS nhận ra và nêu đúng tên hình tam giác,bước đầu nhận ra hình tam giác từ các vật thật
Bài dạy được thực hiện ở tuần 16 học kì I của năm học
GV sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp với đặcđiểm, điều kiện của HS nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
+ Ngoài ra còn có hoạt động học theo phương pháp tự học, học nhóm:Theo các phương pháp học tập này, HS là chủ thể nghiên cứu, tìm kiếm, thuthập thông tin, tài liệu ở các nguồn khác nhau từ đó tự rút ra tri thức cho bảnthân
Như vậy dù ở hình thức nào thì kết quả đều là người học đạt được tri thức,hiểu biết cần thiết cho bản thân Trong phạm vi nghiên cứu này, ta đi sâu vàohoạt động học theo phương pháp nhà trường
Hoạt động học của HS được tiến hành dưới sự tổ chức có dụng ý sư phạmcuả GV trong một môi trường dạy học với thời gian và địa điểm cụ thể nhằmgiúp HS đạt được mục tiêu dạy học Mục tiêu của hoạt động học là những trithức, kĩ năng, phương pháp nảy sinh và giải quyết nhiệm vụ học tập cụ thể
1.1.2 Hoạt động dạy
- Chủ thể của hoạt động dạy là GV, khách thể của hoạt động dạy là HS
- Hoạt động dạy là hoạt động của GV tổ chức cho HS chiếm lĩnh tri thức,hình thành kĩ năng, phương pháp nào đó Hoạt động dạy bao gồm ít nhất làcác hoạt động thành phần: phân tích, xác định các hoạt động tương thích vớinội dung dạy học; tổ chức cho HS thực hiện hoạt động một cách tích cực, chủđộng và sáng tạo
Trang 141.1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học
- Quá trình dạy học là quá trình hoạt động phối hợp tương tác giữa GV
và HS được tổ chức có mục đích có kế hoạch; dưới sự chỉ đạo của GV, HS tựgiác tích cực và tự lực hoàn thành các nhiệm vụ dạy học
- Quá trình dạy học gồm hoạt động dạy và hoạt động học Hai hoạt độngnày có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại với nhau và tạothành một hệ thống hoàn chỉnh Nếu tách riêng hoạt động học ra thì HS và tàiliệu học tập cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo thành hoàn chỉnhnhưng nó tồn tại với tư cách là hệ thống nhỏ nằm trong hệ thống lớn dạy vàhọc
- Hoạt động dạy của GV giữ vai trò chỉ đạo (Tổ chức, lãnh đạo, điềukhiển, điều chỉnh hoạt động học); hoạt động học giữ vai trò tự giác, tích cực
và tự lực (Tự giác tham gia vào hoạt động học; tích cực tư duy, tích cực suynghĩ, tích cực tìm tòi,…; tích cực hoàn thành các nhiệm vụ dạy học khôngtrông chờ vào bạn, không trông chờ vào thầy)
1.1.4 Sự phát triển tư duy toán học của HS Tiểu học (Xem[12], [14])
- Tư duy là một quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất,những mối liên hệ có tính quy luật giữa sự vật, hiện tượng trong thế giớikhách quan mà trước đó ta chưa biết hoặc biết chưa đầy đủ Tư duy của conngười mang bản chất xã hội, nó chịu sự chi phối của bản chất nhu cầu xã hội.Con người chủ yếu dùng ngôn ngữ để nhận thức vấn đề, tiến hành các thaotác trí tuệ và để biểu đạt các kết quả tư duy Tư duy là hạt nhân của hoạt độngtrí não, kỹ năng này bắt đầu phát triển từ giai đoạn ấu thơ Khi trẻ trong độtuổi tiểu học, khả năng tư duy đã phát triển, trẻ đã có ý thức, ghi nhớ, tư duy,tổng hợp, phát tán và đánh giá đối với các tranh vẽ, ký hiệu, ngữ nghĩa vàhành vi…
- HS Tiểu học có 3 loại tư duy: trực quan hành động, trực quan hình ảnh,
Trang 15tư duy trừu tượng Để tiếp thu khái niệm, HS phải tiến hành các thao tác tưduy: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa.
+ Phân tích: Là dùng trí óc phân tích đối tượng nhận thức thành các bộphận, những thuộc tính riêng biệt trong đối tượng từ đó nhận thức đối tượngsâu sắc hơn
Ví dụ: x + 3 = 7
Thì 7 là tổng 3 là số hạng đã biết Muốn tìm số hạng chưa biết x thì ta
lấy tổng trừ đi số hạng đã biết
+ Tổng hợp: Là dùng trí óc kết hợp các thành phần đã được tách ra quaphân tích và khôi phục lại cái toàn thể dựa trên những liên hệ thuộc về bảnchất đã được khám phá nhờ phân tích
Hai thao tác phân tích và tổng hợp là trái ngược nhau nhưng chúng thốngnhất trong một quá trình Phân tích là cơ sở của tổng hợp, tổng hợp được tiếnhành trên cơ sở phân tích
+ So sánh: Là dùng trí óc để xác định sự giống nhau, khác nhau giữa các
sự vật, hiện tượng Muốn so sánh các sự vật, hiện tượng HS phải phân tíchcác dấu hiệu, các thuộc tính của chúng, từ đó đối chiếu từng thuộc tính, từngdấu hiệu một Sau đó tổng hợp và đưa ra kết luận
+ Trừu tượng hóa: Thao tác trí óc mà chủ thể bỏ qua những dấu hiệukhông bản chất của sự vật, hiện tượng, tách ra những dấu hiệu bản chất để trởthành đối tượng tư duy
- Tư duy của HS chia thành 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 (Lớp 1, lớp 2, lớp 3): Tư duy trực quan hành động chiếm
ưu thế
Trẻ học chủ yếu bằng phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu dựa trêncác đối tượng hoặc những hình ảnh trục quan Những khái quát của trẻ về sựvật, hiện tượng ở giai đoạn này chủ yếu dựa vào những dấu hiệu cụ thể nằm
Trang 16trên bề mặt của đối tượng hoặc những dấu hiệu thuộc công dụng và chứcnăng Ở giai đoạn này, tư duy còn chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố tổng thể,
tư duy phân tích ban đầu hình thành nhưng còn yếu
Ví dụ: Khi học phép cộng, HS phải thao tác thêm với các que tính hoặc đồvật
Phân tích và tổng hợp phát triển không đồng đều khi HS học các môn
Ví dụ: Khi HS làm bài tập toán, các em dễ bị lôi cuốn vào các từ như
“thêm vào”, “bớt đi” hoặc “kém”… tách khỏi dấu hiệu chung của bài tập,
từ đó dẫn đến kết quả sai lầm
Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành tổng thể bằng tính thuậnnghịch giúp HS có kĩ năng nhận thức cái bất biến (không thay đổi khi biến đổixuôi, ngược) và khái niệm bảo toàn số lượng (số lượng không thay đổi khi sắpxếp) Từ đó, trong tư duy của HS có một bước tiến quan trọng là phân biệtđược định tính và định lượng Đó cũng là điều kiện ban đầu để hình thànhkhái niệm “số” ở HS ban đầu Tiểu học và HS nhận thức được tính quy luật
Ví dụ: Nếu a>b thì b<a
Sau đó, nếu a>b và b>c thì có a>c
Từ đó HS nhận thức được quan hệ thứ tự bằng quan hệ “>”, “<”, có khảnăng phân biệt được hệ thống này với hệ thống khác
Ví dụ: HS biết phép toán trừ là phép toán ngược của phép toán cộng, phépchia là phép toán ngược của phép toán nhân
HS biết sắp xếp thứ tự các số theo chiều tăng dần hoặc giảm dần
Suy luận của các em còn mang tính chủ quan và gắn liền với kinh nghiệmthực tế, khó chấp nhận giả thuyết không thực
Ví dụ: HS khó chấp nhận giả định 1con chó có 3 chân thì 2 con chó có 6chân
Khái quát hóa còn mang tính trực tiếp dựa vào thuộc tính bề ngoài của đối
Trang 17Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau bằng tính thuận nghịch.
Khái quát hóa mang tính khái quát, HS biết dựa vào các dấu hiệu bản chấtcủa đối tượng để khái quát
HS xác lập được các mối quan hệ từ nguyên nhân đến kết quả tốt hơn làxác lập mối quan hệ từ kết quả đến nguyên nhân Bởi vì khi suy luận từnguyên nhân đến kết quả, mối quan hệ trực tiếp được xác lập Ngược lại, khisuy luận từ kết quả ra nguyên nhân, mối liên hệ trực tiếp không được xác lập
do một kết quả có thể có nhiều nguyên nhân
Ví dụ: HS biết a 0 = 0 nhưng rất khó khăn khi giải a b = 0 để có
a = 0 hoặc b = 0
Đến cuối giai đoạn 2, tư duy trừu tượng bắt đầu hình thành Theo lýthuyết phát triển trí tuệ của Piaget, thì đây được gọi là giai đoạn “vận dụngnăng lực tư duy cụ thể (concrete operational stage) với hai đặc điểm nổi bật làtrẻ am hiểu nguyên lý bảo tồn và khái niệm nghịch đảo Tuy nhiên năng lực tưduy của trẻ còn bị hạn chế bởi sự ràng buộc với những thực tại vật chất cụ thể
Trang 18Tư duy trừu tượng phát triển còn non yếu.
Ví dụ: Bản chất của phép cộng là gộp hai bộ phận là tư duy trừu tượng
1.2 Đặc điểm nhận thức của HS (Xem [12], [14])
- Tri giác:
Là quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bênngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giácquan của chúng ta
Tri giác của HS Tiểu học vẫn mang tính không chủ định Trong quá trìnhtri giác trẻ thường tập trung vào chi tiết cụ thể, nổi bật của đối tượng để đánggiá toàn bộ sự vật, hiện tượng ấy Cho nên khi đọc bài khóa, xem tranh,… trẻthường bị bỏ sót các chi tiết mà không tiếp nhận một cách hoàn chỉnh
Tri giác của HS Tiểu học có tính xúc cảm Trẻ nhận ra ở các đối tượngkhông phải là những dấu hiệu cơ bản, bản chất mà là những gì trực tiếp gâycho trẻ xúc cảm, đó là những chuyển động, màu sắc, mới lạ, hấp dẫn,… Vì trigiác của HS Tiểu học phụ thuộc vào đặc điểm của chính đối tượng Cái trựcquan, cái rực rỡ, cái sinh động được tri giác rõ ràng hơn những hình ảnhtượng trưng và sơ lược
Ví dụ: HS dễ nhầm phép nhân thành phép cộng và ngược lại
Tri giác của HS Tiểu học còn mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết nên ítphân hóa Quá trình tri giác chỉ dừng lại ở việc nhận biết và gọi tên đối tượngchứ không đi sâu vào từng chi tiết, bộ phận của nó Vì thế trẻ khó phân biệtmột cách chính xác các đối tượng giống nhau
Ví dụ: Số 6- số 9, chứ “ít”- chữ “tí”,…
Đối với HS Tiểu học, tri giác sự vật có nghĩa là phải làm một cái gì đó với
sự vật, như cầm nắm, sờ mó,…
Tri giác không gian và thời gian của HS Tiểu học còn hạn chế
Ví dụ: Các em khó hình dung “ngày xưa”, “thế kỉ”
Trang 19Tri giác của HS Tiểu học phát triển trong quá trình học tập Sự phát triểnnày diễn ra theo hướng ngày càng chính xác hơn, đầy đủ hơn, phân hóa rõràng hơn, có chọn lọc hơn Vì vậy HS các lớp cuối Tiểu học đã biết tìm ra cácdấu hiệu đặc trưng của đối tượng, biết phân biệt sắc thái của các chi tiết để điđến phân tích Tổng hợp và tìm ra mối liên hệ giữa chúng.
Trong sự phát triển tri giác của HS Tiểu học, vai trò của người GV vôcùng to lớn Họ không chỉ là người dạy trẻ kĩ năng nhìn mà còn hướng hưỡngdẫn các em xem xét; không chỉ dạy trẻ nghe mà còn dạy trẻ biết lắng nghe;không chỉ dạy trẻ nhận biết đối tượng mà còn dạy trẻ phát hiện ra nhữngthuộc tính và bản chất của đối tượng
1.3 Đặc điểm tư duy của HS (Xem [12], [14])
- Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiệntượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa từng biết
Tư duy của HS Tiểu học có sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể sang tínhtrừu tượng, khái quát Tư duy của HS các lớp đầu Tiểu học là tư duy cụ thểdựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng Còn tư duy HS các lớp cuốiTiểu học đã thoát ra khỏi tính chất trực tiếp của tri giác và mang dần tính trừutượng, khái quát
Nhóm HS ở giai đoạn đầu Tiểu học, thao tác phân tích và tổng hợp còn sơđẳng Trẻ thường chỉ tách ra một cách riêng lẻ từng bộ phận, từng thuộc tínhcủa đối tượng khi phân tích, hoặc chỉ công lại một cách đơn giản các bộ phận,các thuộc tính để làm nên cái toàn thể khi tổng hợp
Nhóm HS ở giai đoạn cuối Tiểu học có thể phân tích đối tượng mà khôngcần đến những hành động thực tiễn đối với đối tượng đó Các em có khả năngphân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dướidạng ngôn ngữ và sắp xếp chúng vào một hệ thống nhất định
Trang 20HS Tiểu học đã biết so sánh nhưng thao tác này vẫn chưa được hình thànhmột cách đầy đủ HS cuối Tiểu học thực hiện thao tác so sánh tốt hơn so với
HS đầu Tiểu học
Trừu tượng hóa và khái quát hóa là những thao tác khó đối với HS Tiểuhọc
Ví dụ: HS đầu Tiểu học dễ cho con “ếnh” và con “nhái” là một
Về phán đoán và suy luận, trẻ lớp đầu Tiểu học chỉ phán đoán một chiều,dựa theo một dấu hiệu duy nhất nên phán đoán của các em mang tính khẳngđịnh Khi suy luận các em chỉ dựa trên những tài liệu trực quan cụ thể nên rấtkhó khăn khi phải chấp nhận giả thuyết “Nếu” cũng như xác định và hiểu mốiquan hệ nhân quả Đến các lớp cuối Tiểu học, trẻ đã biết dựa vào nhiều dấuhiệu cả bản chất lẫn không bản chất để phán đoán nên phán đoán có tính giảđịnh
Trong lĩnh hội khái niệm, trẻ thường liệt kê tất cả những gì thấy được ởđối tượng để tạo nên định nghĩa về nó
Như vây tư duy của HS Tiểu học đi từ cụ thể đến trừu tượng Những thaotác logic đầu tiên thay thế dần cho tính trực giác, cho phép trẻ có khả năngsuy luận và nhận thức thế giới một cách khách quan hơn trong những giới hạn
cụ thể Những đặc điểm này chỉ mang tính chất tương đối bởi nó là kết quảcủa trình độ dạy học ở trường Tiểu học
Trang 21cách đúng đắn và đầy đủ hiện thực khách quan trên cơ sở những tri thứctương ứng.
- Trí nhớ:
Trí nhớ là quá trình tâm lí phản ánh những kinh nghiệm đã có của cá nhândưới hình thức biểu tượng bằng cách ghi nhớ, giữ gìn và làm xuất hiện lạinhững điều mà con người đã trải qua
Ở HS Tiểu học, tính không chủ định vẫn chiếm ưu thế cả trong ghi nhớlẫn tái hiện, nhất là ở các lớp đầu Tiểu học Các em có khả năng ghi nhớ máymóc Ghi nhớ chủ yếu dựa vào việc học thuộc lòng từng câu từng chữ tài liệucần nhớ mà không cần có sự sắp xếp, sửa đổi lại những gì vừa mới khắc vàotrí nhớ
Dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập, trí nhớ chủ định, trí nhớ ý nghĩa,trí nhớ từ ngữ- logic được xuất hiện, phát triển và cùng với trí nhớ không chủđịnh, trí nhớ máy móc, trí nhớ trực quan- hình tượng Chúng giữ vai trò quantrọng trong hoạt động học tập của HS Tiểu học
- Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ tiếng nói để giao tiếp,
để truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội- lịch sử hoặc kế hoạch hóa hoạtđộng của mình
Ngôn ngữ của HS Tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từvựng Hình thức mới của ngôn ngữ- ngôn ngữ viết được hình thành và pháttriển mạnh Ngôn ngữ viết của trẻ nghèo hơn so với ngôn ngữ nói Bởi vì trẻrất khó chuyển ngôn ngữ bên trong vào hình thức viết Khả năng nắm nghĩacủa từ còn thấp nên khi viết trẻ còn dùng từ sai
- Chú ý:
Chú ý là sự tập trung ý thức vào một hay một nhóm sự vật, hiện tượng, đểđịnh hướng hoạt động, bảo đảm điều kiện thần kinh- tâm lí cần thiết cho hoạt
Trang 22động tiến hành hiệu quả.
HS Tiểu học chú ý không chủ định phát triển mạnh và chiếm ưu thế Trẻluôn bị hấp dẫn thu hút bởi những gì mới mẻ, khác lạ,… mà không cần bất kì
sự nỗ lực nào của ý chí Sự chú ý không chủ định của trẻ càng ngày càng trởnên đặc biệt tập trung và bền vững khi tài liệu học tập có tính trực quan, sinhđộng hoặc khơi gợi ở trẻ những rung cảm tích cực
Chú ý của HS Tiểu học kém bền vững nhất là đối với HS đầu Tiểu học(lớp 1, lớp 2) Ở giai đoạn sau (lớp 3, lớp 4, lớp 5) khả năng chú ý của trẻ pháttriển hơn
1.4 Khái niệm về biểu thức (Xem [2], [7], [11])
Trang 23Ví dụ: Tìm x biết:
x + 4 = 16 Giải: x + 4 = 16
x = 16 – 4
x = 12
- Các chứ trong biểu thức chứa chữ cũng có thể đại diện không phải chomột số xác định mà đại diện cho một giá trị tùy ý trong một tập hợp số nào
đó Điều đó có nghĩa là giá trị của chữ có thể biến đổi tự do trong một tập hợp
số nào đó, khi đó chữ này được gọi là biến số Khi ta cho biến số vào một giátrị xác định (lấy trong tập hợp số đó) thì biểu thức chứa chữ số sẽ có một giátrị xác định tương ứng
Ví dụ:
a + 7
- Phương trình đơn giản:
+ Nói đến phương trình có thể hiểu đó là hai biểu thức chứa chữ (ở hai vế
Trang 24hoặc chỉ ở một vế) được xét trong mối quan hệ “bằng nhau” (được nối vớinhau bở dấu “=”), ta phải tìm giá trị của chữ sao cho mối quan hệ đó đượcthực hiện Khi đó các chữ trong biểu thức là các ẩn số, việc tìm các ẩn sốđược gọi là giải phương trình tìm nghiệm Như vậy khái niệm phương trìnhbao hàm trong nó là khái niệm hàm số Hàm só là tư tưởng của phương trình
mà nội dung của nó là việc giải, kĩ thuật giải phương trình
+ Ở Tiểu học trong chương trình hiện hành không dùng thuật ngữ
“phương trình” mà các bài tập “giải phương trình” thường được nêu dưới cáchình thức sau:
Điền số thích hợp vào ô trống (để tìm một thành phần chưa biết củaphép tính):
Ví dụ: Tìm một số biết rằng khi bớt số đó đi 2, sau đó chia cho 6, đượcbao nhiêu cộng với 2, cuối cùng nhân với 4 được kết quả bằng 20
Lời giải Gọi số cần tìm là x.
Trang 25Khi bớt đi 2 ta được số: x – 2
Khi chia cho 6 ta được số: (x – 2) : 6
Khi cộng với 2 ta được số: (x – 2) : 6 + 2
ví dụ, bài tập cụ thể trong các bài học
1.5 Giới thiệu biểu thức ở Tiểu học (Xem [4], [7])
1.5.1 Giới thiệu biểu thức số
- Khi học về thuật ngữ chỉ các thành phần phép tính và kết quả của phéptính cũng đồng thời giới thiệu biểu thức: tổng, hiệu, tích, thương của hai số
Trang 26- Viết biểu thức: Thứ tự viết lần lượt từ trái sang phải, hết một số rồi đếndấu phép tính, rồi viết số tiếp theo, cứ như thế cho đến số cuối cùng Nếu biểuthức có dấu ngoặc thì phải ghi đủ cặp (mở và đóng ngoặc).
- Đọc biểu thức:
+ Nếu biểu thức chỉ có 1 phép tính thì đọc như sau, Ví dụ:
đọc là: Tổng của 14 và 7đọc là: Hiệu của 21 và 8đọc là: Tích của 5 và 21đọc là: Thương của 153 và 3
+ Nếu biểu thức có nhiều dấu phép tính thì có thể đọc theo thứ tự từ tráisang phải (như cách viết biểu thức), Ví dụ:
đọc là: 12 chia 3 nhân 8 trừ 11( ) ( ) đọc là: Mở ngoặc 4 nhân 3 đóng ngoặc trừ mở ngoặc
21 chia 7 đóng ngoặc
( ) đọc là: Mở ngoặc 12 trừ 3 đóng ngoặc nhân
8 cộng
11; 12 trừ 3 tất cả nhân 8 cộng 11; hiệu của 12 trừ 3 nhân 8 cộng 11
1.5.2 Giới thiệu biểu thức chứa chữ
- Ở lớp 4 (chương trình hiện hành) dạy học biểu thức chữ theo 3 mức độ:biểu thức chứa một chữ, biểu thức chứa hai chữ, biểu thức chứa ba chữ
- Viết biểu thức và đọc biểu thức: giống như biểu thức số Viết lần lượt
Trang 27từ trái sang phải cho đến số (hoặc chữ) cuối cùng của biểu thức Đọc theo haitrường hợp có một dấu phép tính và nhiều dấu phép tính.
Tuy nhiên cần lưu ý đến trật tự cách đọc và viết biểu thức chứa chữ đặcbiệt đối với phép trừ và phép chia
Ví dụ: Hiệu của a và 21 thì phải viết là (không được viết );
thương của 32 và a phải viết là (không được viết )
1.6 Mục tiêu dạy học các biểu thức toán học ở Tiểu học (Xem [4], [7])
- Ngoài ra môn Toán góp phần hình thành và rèn luyện phẩm chất cácđạo đức của người lao động trong xã hội hiện đại
1.6.2 Mục tiêu theo từng lớp
Mục tiêu dạy học các biểu thức toán học ở lớp 1
- HS biết tính giá trị biểu thức số có đến 2 phép tính cộng, trừ trongphạm vi 10 và 100
- HS tính được giá trị của biểu số có đến 2 phép tính cộng, trừ trongphạm vi 10 và 100
Mục tiêu dạy học các biểu thức toán học ở lớp 2
- HS biết tính giá trị biểu thức số có đến hai dấu phép tính trong phạm vi
Trang 28100 và 1000; biết giải bài tập dạng tìm x.
- HS tính được trị biểu thức số có đến hai dấu phép tính trong phạm vi
100 và 1000, giải được bài tập dạng tìm x.
Mục tiêu dạy học các biểu thức toán học ở lớp 3
- HS biết thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức số có đến 3 dấu
phép tính, có hoặc không có dấu ngoặc Biết giải bài tập dạng: “Tìm x biết:
a : x = b (với a, b là số trong phạm vi đã học)”.
- HS tính được giá trị của biểu thức số có đến 3 dấu phép tính, có hoặc
không có dấu ngoặc Giải được bài tập dạng: “Tìm x biết: a : x = b (với a, b là
số trong phạm vi đã học)”
Mục tiêu dạy học các biểu thức toán học ở lớp 4
- HS biết cách tính giá trị các biểu thức chứa chữ dạng đơn giản Biếttính giá trị của biểu thức số có đến 4 dấu phép tính, tính giá trị của các biểuthức có không quá 3 dấu phép tính với các phân số đơn giản (mẫu số chungcủa kết quả tính có không quá 2 chữ số) Biết cách giải các bài tập dạng: “Tìm
Mục tiêu dạy học các biểu thức toán học ở lớp 5
- Tiếp tục học các nội dung về biểu thức với thành phần là phân số,
số thập phân, tỉ số phần trăm,…
1.7 Nội dung dạy học các biểu thức toán học ở Tiểu học (Xem [4], [5])
Ở Tiểu học, nội dung biểu thức được xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 5 Cụthể:
Trang 291.7.1 Nội dung dạy học các biểu thức toán học ở lớp 1
- Tính giá trị biểu thức số có đến hai dấu phép tính cộng, trừ
- Giải bài tập dạng: “Tìm x biết: a + x = b, x – a = b, a – x = b (với a, b là
các số có đến 2 chữ số)” bằng sử dụng mối quan hệ giữa thành phần và kếtquả của phép tính
Các số đến 1000 Phép cộng và phép trừ trong phạm vi 1000
- Tính giá trị của biểu thức số có đến 2 dấu phép tính cộng, trừ, không códấu ngoặc
Phép nhân và phép chia:
- Tính giá trị của biểu thức số có đến 2 dấu phép tính cộng, trừ hoặc
nhân, chia Giải bài tập dạng: “Tìm x biết: a x = b; x : a = b ( với a là số có
1 chữ số, khác 0; b là số có 2 chữ số)”
1.7.3 Nội dung dạy học các biểu thức toán học ở lớp 3
Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000
- Làm quen với biểu thức số và giá trị biểu thức
- Giới thiệu thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức số có đến 2dấu phép tính, có hoặc không có dấu ngoặc
- Giải bài tập dạng:
“Tìm x biết:
a : x = b (với a, b là số trong phạm vi đã học)”.
Trang 30 Giới thiệu các số trong phạm vi 100 000 Gới thiệu hàng nghìn, hàng vạn, hàng chục vạn.
- Tính giá trị của biểu thức số có đến 3 dấu phép tính, có hoặc không códấu ngoặc
1.7.4 Nội dung dạy học các biểu thức toán học ở lớp 4
1.7.5 Nội dung dạy học các biểu thức toán học ở lớp 5
Ôn tập về phân số: Bổ sung về phân số thập phân, hỗn số; các bài toán
về tỉ lệ thuận, tỉ lệ nghịch
Số thập phân Các phép tính về số thập phân
Trang 31Chương II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC BIỂU
THỨC TOÁN HỌC Ở TIỂU HỌC 2.1 Một số thông tin về việc dạy và học các biểu thức toán học ở Tiểu học
- Không giống như các nội dung toán học khác biểu thức là một phần
nhỏ trong yếu tố số học Biểu thức được dạy song song với các phần khác củayếu tố số học như số tự nhiên,… do đó không có sự tách bạch, rõ ràng Đểphù hợp với đặc điểm tư duy của HS Tiểu học, biểu thức được đưa vào dạycho HS đồng thời với các mảng kiến thức số học khác thông qua các ví dụ vàcác bài tập thực hành Biểu thức được giới thiệu thông qua các ví dụ trong bàihọc, không có khái niệm rõ ràng, chính xác, khoa học như ở giai đoạn sau(giai đoạn THCS) Tuy nhiên ở giai đoạn Tiểu học, HS vẫn được tiếp cận vàlàm quen với biểu thức, biết tính giá trị của biểu thức, làm nền tảng để tìmhiểu sâu hơn về biểu thức (đặc biệt là phương trình, bất phương trình) ở giaiđoạn tiếp theo
- Thông qua hệ thống các bài tập Tính nhanh, Tìm x, Tìm giá trị chưa biết,… các thao tác tư duy của các em trở nên linh hoạt hơn, tốc độ cải thiện
tối đa, phát huy khả năng tư duy trừu tượng, giúp các em học tốt các mảngkiến thức khác của toán học
2.2 Dạy học các biểu thức toán học ở Tiểu học (Xem [7], [8], [9], [11])
- HS Tiểu học bước đầu được làm quen với biểu thức để:
+ Biết đọc, biết viết các biểu thức đơn giản (tổng, hiệu, tích, thương).+ Nắm chắc thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức số có hoặckhông có dấu ngoặc đơn và tính đúng giá trị các biểu thức số đơngiản
- Góp phần củng cố, hỗ trợ cho việc học các phép tính số học, chuẩn bịcho việc học các đẳng thức, bất đẳng thức, phương trình,…ở Tiểu học; chuẩn
bị cho việc học đại số ở bậc học trên
Trang 322.2.1 Dạy học biểu thức số
Việc dạy các biểu thức số thường được thực hiện theo hai giai đoạn
Giai đoạn 1: Dạy các biểu thức đơn giản (tổng, hiệu, tích, thương
của hai số)
- Ở giai đoạn này HS biết thêm rằng: Mỗi dấu phép tính có 2 ý nghĩa đó
là nó chỉ phép tính cần thực hiện và nó còn giúp cho việc biểu thị một biểuthức
Khi nói “tổng của 2 và 5” thì ta biết ngay đây là tổng (biểu thức tổng),
và ta cũng hiểu được “tổng của 2 và 5” cũng là giá trị của biểu thức
2 + 5
- Sau khi giới thiệu các kí hiệu, để giúp HS nắm được ý nghĩa mới củacác kí hiệu và thuật ngữ, nên chú ý cho HS làm các bài tập dạng như sau:+ Hãy viết tổng của các số 3 và 5
Giai đoạn 2: Dạy các biểu thức số dạng phức tạp
Ở giai đoạn này HS được học các quy tắc về thứ tự thực hiện các phép tính trong các biểu thức toán học