1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn ỨNG DỤNG CNTT TRONG GIẢNG dạy PHÂN môn THƯỜNG THỨC mĩ THUẬT ở TIỂU học

29 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 4,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy Mĩ thuật trong trường tiểu học không phải là đào tạo HS trở thành họa sĩ mà là giúp các em biết cách cảm nhận cái đẹp của cuộc sống,của những tác phẩm nghệ thuật và biết cách tự tạo

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC& ĐÀO TẠO HUYỆN TIÊN YÊN

TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN TIÊN YÊN

-*** -MỘT SỐ KINH NGHIỆM

ỨNG DỤNG CNTT TRONG GIẢNG DẠY

PHÂN MÔN THƯỜNG THỨC MĨ THUẬT Ở TIỂU HỌC

Giáo viên : Lê Quang Hà Giảng dạy : Mĩ Thuật

Năm học 2008- 2009

Trang 3

cả mọi lĩnh vực của cuộc sống như: Ăn : Cần đẹp ! Mặc : Cần đẹp ! Ở : Cũng cần

Trang 4

Con người của thời đại mới là con người phải có đủ: Tri thức, đạo đức, sức

khỏe và thẩm mĩ, là một con người thì không thể khô khan, bàng quang trước cái đẹp

muôn màu của cuộc sống Dạy Mĩ thuật trong trường tiểu học không phải là đào tạo

HS trở thành họa sĩ mà là giúp các em biết cách cảm nhận cái đẹp của cuộc sống,của những tác phẩm nghệ thuật và biết cách tự tạo ra cái đẹp cho bản thân mình, chocuộc sống

2) Cơ sở thực tiễn.

Việc đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng phần mềm vào giảng dạy đãđược các tiên tiến trên thế giới đã áp dụng từ rất lâu Xong Việt Nam cũng đã ápdụng ở những năm gần đây, nhưng mới chỉ dừng lại ở các trường Đại học, cấp III vàmột số trường cấp I- Cấp II ở thành phố và bước đầu đã đặt chân về tới nông thôn

Lý giải về vấn đề trên, các chuyên gia của Hiệp hội Nghe nhìn Quốc tế chobiết: Nguyên nhân chủ yếu là do cả giáo viên và học sinh không tận dụng được tối

đa hiệu quả chức năng thị giác và thính giác Họ đã nghiên cứu tại nhiều lớp học ởcác nước Châu Âu và cho biết: nếu chỉ nghe, học sinh chỉ tiếp nhận và lưu giữ được

10 – 13% nội dung thông tin; từ 20 – 40% nếu chỉ nhìn, nhưng sẽ đạt tới 60 – 80%nếu kết hợp cả hai chức năng trên Ngoài ra nếu các em biết kết hợp giữa nghe, nhìn

và thảo luận, trao đổi với giáo viên thì hiệu quả học tập sẽ cao hơn rất nhiều

Vậy làm thế nào để giúp cho học sinh có thể hiểu và tiếp thu bài giảng mộtcách có hiệu quả nhất? Giải pháp tốt nhất hiện nay là phải đưa các thiết bị máy tính,các phần mềm ứng dụng, trình chiếu để áp dụng và hỗ trợ vào bài giảng thực tế, với

sự hỗ trợ của các thiết bị phần mềm, máy tính, giáo viên dễ dàng làm cho bài giảngchở nên sinh động, thú vị bằng việc đưa vào đó những âm thanh, hình ảnh, màu sắc

… như ý muốn Học sinh có thể tiếp thu bài giảng một cách hết sức trực quan, sinhđộng

I.2 Mục đích nghiên cứu:

Môn Mĩ thuật trong trường tiểu học có 5 phân môn là: Phân môn vẽ tranh,phân môn vẽ trang trí, phân môn vẽ theo mẫu, phân môn tập nặn tạo dáng và phânmôn TTMT Ngoài phân môn TTMT giúp HS có thể “thuởng thức”, “cảm nhận” cáihay cái đẹp của các tác phẩm nghệ thuật thì 4 phân môn còn lại chủ yếu giúp các em

Trang 5

lĩnh hội kiến thức mĩ thuật cơ bản thông qua rèn luyện kĩ năng thực hành Chính vìvậy mà với Phân môn TTMT có một số GV rất “ngại” khi dạy phân môn này vìkhông biết phải nói gì, phân tích gì, dạy gì để hết 35 phút của tiết học Truyền đạtkiến thức như thế nào tới HS để vẫn đảm bảo tính vừa sức mà vẫn đạt mục tiêu đề racủa bài học Vì những lý do đó tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu.

I.3: Thời gian - địa điểm:

I.3.1: Thời gian: Năm học 2008 – 2009

I.3.2: Địa điểm: Trường tiểu học thị trấn Tiên Yên

I.3.3: Phạm vi đề tài: phân môn “ TTMT “

I.3.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu:

Ứng dụng công nghệ thông tin vào phân môn “ Thường thức mĩ thuật “ tạitrường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên

I.3.3.2: Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Học sinh trường tiểu học Thị Trấn

từ lớp 1 đến lớp 5

II NỘI DUNG:

II.1 Chương 1: Ứng dụng công nghệ thông tin vào phân môn “ Thường thức

mĩ thuật “ tại trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên

II.1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

Trong những năm gần đây về nhu cầu đòi hỏi về lượng kiến thức của HS rấtlớn, chính vì thế trong giáo dục cần có sự đổi mới về phương pháp dạy - học Đổimới như thế nào, đổi mới ra làm sao? Đây mới là vấn đề mấu chốt

Áp dụng CNTT vào giảng dạy các môn học trong bậc tiểu học nói chung, vàomôn Mĩ thuật nói riêng, đặc biệt trong phân môn " Thường thức mĩ thuật " là mộtchủ đề rất mới Suất phát từ thực tế trong giảng dạy tôi đã mạnh dạn đưa ra một sốkinh nghiệm " Ứng dụng công nghệ thông tin vào phân môn " Thường thức mĩ thuật

"

II.1.2 Cơ sở lí luận

Sự phát triển của khoa học kĩ thuật hiện đại đòi hỏi một số đổi mới cao độ vềphương pháp dạy và học, để nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin, đồng thời xây

Trang 6

dựng những con người sáng tạo làm chủ khoa học kĩ thuật, đây cũng là đòi hỏi cótính chiến lược của xã hội trong nhiệm vụ đào tạo những con người mới, nhữngngười vừa có phẩm chất đạo đức, vừa có năng lực chuyên môn

Hiện nay công nghệ khoa học kĩ thuật không ngừng phát triển khiến cho giáodục bắt buộc phải đổi mới chính mình và còn phải tiến xa hơn nữa cho phù hợp với

sự phát triển của đất nước của nhân loại Vì vậy giáo dục giữ vai trò đặc biệt quantrọng trong sự phát triển, là nền tảng vững chắc cho sự đi lên của một đất nước

II.2: Chương 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu

II.2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Phương pháp dạy học “Truyền thống” chưa thể đáp ứng được những đòi hỏinặng nề và cấp bách nói trên Với những cố gắng cao nhất của nó phương pháp

“Truyền thống” chỉ có thể làm được nhiệm vụ chủ yếu là truyền thụ kiến thức vàkiểm tra sự tiếp thu theo con đường tái hiện, học sinh hoàn toàn thụ động Ngay cảbài giảng chú ý kích thích trí tuệ của học sinh cũng vẫn nằm trong khuôn khổ của lốihọc cũ Giáo viên khơi gợi tư duy học sinh cũng chỉ nhằm mục đích truyền thụ đượctốt hơn khối lượng kiến thức cần truyền thụ, và việc tìm ra phương pháp dạy họcmới phù hợp với lứa tuổi, với tâm sinh lý của học sinh và áp dụng trong bài giảngluôn được những người thầy, cô rất quan tâm

Vậy làm sao để HS hứng thú với tiết học TTMT? Làm sao để HS khôngcảm thấy tiết học này khô khan và nhàm chán? Đó chính là sự chuẩn bị, nghiên cứuchu đáo của GV, là sự vận dụng linh hoạt các PPDH là sự sử dụng PTDH một cáchhợp lí và hiệu quả Một trong những PTDH có thể phát huy được hiệu quả tronggiảng dạy phân môn TTMT chính là sử dụng CNTT thông qua những Bản trình diễnđiện tử hay còn gọi là “Giáo án điện tử”

+/ Nhiệm vụ về lý luận

Môn học mĩ thuật là môn học của thị giác, HS cảm nhận cái đẹp về hình thể

và màu sắc thông qua con mắt của mình Chính vì vậy với CNTT với các phần mềm

đa dạng có thể giúp cho người GV phóng to được những hình ảnh trong bài Phântích, nhận xét được từng hình ảnh, chi tiết trong tác phẩm qua đó nêu bật được chủ

đề, ý nghĩa của tác phẩm, thu hút lôi cuốn HS vào tiết học Ngoài ra với nhiều tính

Trang 7

năng đa dạng mà người GV có thể vận dụng linh hoạt vào từng nội dung bài cụ thểđể đạt hiệu quả tốt nhất cho tiết dạy của mình.

+/ Nhiệm vụ về thực tiễn

Môn học mĩ thuật lấy giáo dục thẩm mĩ làm mục tiêu, với những bài TTMThọc sinh sẽ phải cảm nhận các tác phẩm nghệ thuật một cách dần dần và lâu dài Vìvới trình độ hiểu biết của các em thì chưa thể cảm nhận được hết cái hay, cái đẹp củamột tác phẩm một điều mà ngay cả còn khó đối với cả người lớn Vì vậy, giáo dụcthẩm mĩ cũng phải dần dần, HS phải cảm nhận từ cái đơn giản nhất như hình ảnh,màu sắc đến những cái sâu sắc hơn như bố cục, chủ đề, ý tưởng do đó gợi cảm hứngngay từ lúc đầu của bài học rất quan trọng nó quyết định sự thành công của cả giờhọc, vì mĩ thuật là môn học mang tính cảm xúc nhiều hơn là kĩ thuật Do vậy dựa vào

sự hỗ trợ của CNTT mà GV có thể xây dựng những hoạt động khơi gợi cảm hứngcho HS bằng những bức tranh, đoạn phim hay bản nhạc

II.2.2 Các nội dung cụ thể trong đề tài

Nội dung 1: Mục tiêu của phân môn “ TTMT “

Với đặc trưng riêng biệt của từng phân môn nhưng hiệu quả chung cũng làđều hướng tới cái đẹp Phân môn vẽ trang trí cung cấp cho HS kiến thức về cách sắpxếp các họa tiết, và nguyên tắc vẽ màu Qua đó HS hiểu được vẻ đẹp của các họatiết, vẻ đẹp của sự cân đối, sự đa dạng của màu sắc và hiểu được ý nghĩa của trangtrí trong cuộc sống

Phân môn vẽ theo mẫu tuy không đòi hỏi bắt buộc HS phải vẽ đúng hoàntoàn theo mẫu về hình dáng, tỉ lệ, màu sắc nhưng qua đó cũng rèn cho HS kĩ năngquan sát và làm việc một cách khoa học: Từ tổng thể tới chi tiết, từ đơn giản tớiphức tạp Ngoài ra còn rèn cho HS thấy được cái đẹp của sự sắp xếp bố cục cân đốihợp lí trong khuôn khổ giấy

Phân môn vẽ tranh với đề tài phong phú đa dạng gây cho HS nhiều hứng thú.Đây là phân môn giúp HS có thể diễn tả được một nội dung, chủ đề thông qua cáchsắp xếp các hình ảnh chính, phụ và cách sử dụng màu sắc làm nổi bật chủ đề củatranh

Trang 8

Phân môn tập nặn tạo dáng rèn luyện cho HS khả năng làm việc với hìnhkhối, phát huy tính sáng tạo của HS về cách nghĩ cách nhìn để biến những vật dụngđơn giản như vỏ hộp, vải thành những món đồ chơi mang tính thẩm mĩ phù hợp vớilứa tuổi của HS Ngoài ra môn nặn còn giúp các em rèn luyện khả năng tạo hình qua

đó các em thấy được vẻ đẹp của các tác phẩm điêu khắc

Phân môn TTMT là phân môn mang tổng hòa kiến thức của các phân mônkhác trong môn Mĩ thuật Dựa vào những kiến thức đã được học ở các phân mônnhư: Vẽ tranh, vẽ trang trí, vẽ theo mẫu, tập nặn tạo dáng mà HS có thể nhận xét sơlược về giá trị cũng như vẻ đẹp của một tác phẩm mĩ thuật TTMT là phân môn duynhất HS không phải làm bài tập thực hành mà đây là phân môn HS được tìm hiểu,nhận xét và thưởng thức vẻ đẹp của các tác phẩm mĩ thuật của thiếu nhi, của họa sĩ

và của dân tộc Qua đó HS biết yêu quý, trân trọng nền mĩ thuật của dân tộc và thếgiới Ngoài ra dựa trên những bài xem tranh, tìm hiểu nền mĩ thuật dân tộc HS có thểhọc tập được những cái hay, cái đẹp, cách sắp xếp hình ảnh, cách vẽ màu củng cốvào kiến thức về mĩ thuật cho HS khi làm bài tập thực hành hay khi nhận xét về mộttác phẩm nghệ thuật TTMT là thưởng thức những kiến thức mĩ thuật thông thường,đòi hỏi HS biết nhận xét, cảm nhận cái đẹp của tác phẩm nghệ thuật thông quađường nét, màu sắc, hình ảnh, hình khối, phong cách thể hiện tùy mức độ hiểu biếtcủa từng khối lớp mà yêu cầu đặt ra từ dễ đến khó Với lớp 1 chủ yếu là nhận xét vềhình ảnh và màu sắc Với lớp 5 đòi hỏi các em phải nêu được ý nghĩa của tác phẩm

và nêu được cảm nhận của mình đối với tác phẩm nghệ thuật Chính vì vậy, đòi hỏi

GV cũng như HS phải có tổng hòa kiến thức về mĩ thuật thì mới thấy được cái hay,cái đẹp của tác phẩm nghệ thuật

Nội dung 2: Nghiên cứu nội dung chương trình để áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.

Môn TTMT là bài tìm hiểu về các tác phẩm nghệ thuật nên cần phải cónhững tác phẩm nghệ thuật để HS có thể quan sát Các tác phẩm tuy đã có ở trongSKG nhưng GV nên in ra ở khổ lớn cho cả lớp có thể quan sát được để tập trung sựchú ý của tất cả HS Điều này rất khó thực hiện vì tranh in khổ lớn rất ít, còn nếu đi

in phóng to thì kinh phí cũng không nhỏ Hay khi muốn cho HS thấy được vẻ đẹp

Trang 9

của những chi tiết trong tác phẩm cũng khó có thể phóng to được chi tiết đó Mặtkhác với những tác phẩm GV muốn giới thiệu thêm cho HS thì cũng rất khó khăn vìtranh thường rất nhỏ nên rất khó quan sát do vậy không thấy được cái đẹp của tácphẩm.

Vì vậy để dạy một tiết TTMT thành công thì đòi hỏi người GV phải chuẩn bịrất nhiều đồ dùng, trực quan như tài liệu sưu tầm, tranh, ảnh, đồ vật Nếu đồ dùngchuẩn bị không đẹp sẽ làm mất hứng thú của HS dẫn đến tiết học không hiệu quả

Với lớp 4 và 5 các em có thêm SGK và được cung cấp lượng kiến thức nhấtđịnh trong bài nên cũng giúp các em trả lời và tiếp thu bài tốt hơn Còn với lớp 1,2,3thì các em chỉ có Vở tập vẽ với một vài bức tranh, ảnh vậy sẽ rất khó khi GV tổ chứccác hoạt động hết cho hết 35 phút mà vẫn mang lại hiệu quả cho bài học Do vậy đòihỏi GV phải sưu tầm thêm tranh, ảnh liên quan tới bài học để HS cùng tìm hiểu.Ngoài ra nếu lượng kiến thức cung cấp cho HS không đủ thì HS sẽ không hiểu đượcbài, không thấy được vẻ đẹp của tác phẩm, nhưng nếu GV cung cấp quá nhiều lượngkiến thức cho HS sẽ khiến cho các em mơ hồ và đôi khi không hiểu được kiến thức

GV vừa cung cấp Vậy thế nào là đủ và vừa đảm bảo tính vừa sức thì đỏi hỏi người

GV phải tổ chức các hoạt động hợp lí và phát huy hết hiệu quả của các phương tiệndạy học khi dạy phân môn này

Nội dung 3: Nâng cao giờ dạy trong phân môn” TTMT “

Như ta đã biết PPDH chính là cách thức, con đường truyền tải nội dung kiếnthức để đạt mục tiêu bài học

Vậy PPDH có đạt hiệu quả hay không đó chính là sự vận dụng linh hoạt, phụthuộc vào phương tiện điều kiện và hình thức triển khai quá trình dạy học

Trong hoạt động dạy - học khi tái hiện một đối tượng đến HS thì không phảilúc nào đối tượng đó cũng hiện ra trực tiếp trên lớp học Trong trường hợp đó PTDHtạo khả năng tái hiện chúng một cách gián tiếp thông qua hình vẽ, tranh ảnh, môhình, sơ đồ nhờ chúng tạo nên trong ý thức của HS những hình ảnh trực quan sinhđộng của đối tượng cần tìm hiểu

PTDH đóng vai trò như là nguồn thông tin và giải phóng giáo viên khỏi nhiềucông việc có tính chất thuần túy kĩ thuật trong tiết học, chẳng hạn như thông báo

Trang 10

thông tin, vẽ hình, kẻ bảng để GV có nhiều thời gian hơn cho công tác sáng tạotrong hoạt động với học sinh PTDH tạo khả năng vạch ra một cách sâu sắc hơn,trình bày rõ ràng, dễ hiểu, đơn giản hơn tài liệu học tập, gây hứng thú về học tập cho

HS, tạo điều kiện hình thành cho HS động cơ học tập đúng đắn

Qua đó ta nhận thấy ngoài vai trò chủ đạo của người GV thì PTDH đóng mộtvai trò không nhỏ trong quá trình dạy học Nó là phương tiện hỗ trợ truyền tải kiếnthức tới người học một cách nhanh nhất, sinh động nhất và hiệu quả nhất

PTDH hết sức đa dạng, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa học Trongnhà trường trước đây thường trang bị những phương tiện ít có tính kĩ thuật nên gọi là

đồ dùng dạy học rõ hơn nữa là đồ dùng dạy học trực quan Thực ra những phươngtiện kĩ thuật hiện đại cũng có tính trực quan, cũng là đồ dùng dạy học Vì vậy cáchphân loại cũng chỉ có tính quy ước mà thôi Dù là PTDH hiện đại hay đơn giản thìcũng phải tùy thuộc vào nội dung kiến thức, đặc trưng của phân môn và cách thức tổ

chức các hoạt động dạy và học Tuy nhiên trong các PTDH thì phưong tiện kĩ thuật

nghe - nhìn hiện đại luôn tỏ ra chiếm ưu thế hơn cả Vì đây là những phương tiện kĩthuật hiện đại nó có khả năng mô phỏng cụ thể và linh hoạt của những hiện tượng, sựvật, nó có thể hình tượng hóa những kiến thức mà GV muốn truyền tải đến học sinhmột cách sinh động và dễ hiểu nhất PTDH này vừa giúp HS có thể quan sát và vừanghe được trực tiếp thông tin cần truyền đạt tạo được hiệu quả cao trong giờ học

II.3.1 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu

Nhận thấy được những ứng dụng to lớn của CNTT là có thể hỗ trợ truyền tảihình ảnh, thông tin của sự vật một cách toàn diện nhất, hay cùng với những phầnmềm, chương trình dạy học đã góp một phần không nhỏ giúp người GV có thể truyềnđạt kiến thức tới HS nhanh hơn, chính xác và hệ thống hơn, tạo điều kiện cho HS vừatiếp thu kiến thức vừa tiếp cận với công nghệ kĩ thuật hiện đại Ngành Giáo dục đãkhuyến kích GV ứng dụng CNTT vào giảng dạy như một PTDH tối tân giúp truyềntải kiến thức đến HS một cách toàn diện và giảm bớt sự vất vả của giáo viên khi trìnhbày những kiến thức mang tính hình tượng cao

Trong rất nhiều phần mềm hỗ trợ dạy học thì phần mềm được sử dụng thôngdụng nhất trong dạy học là phần mềm trình chiếu PowerPoint của Microsoft

Trang 11

Một là, phần mềm này được tích hợp sẵn trong Microsoft Office thường càisẵn trong các máy vi tính nên không đòi hỏi phải cài đặt phức tạp.

Hai là, để sử dụng phần mềm này chỉ cần đòi hỏi người GV có kiến thức tinhọc cơ bản Các hiệu ứng đã có sẵn người giáo viên chỉ phải tích hợp các hiệu ứng đóvào bài giảng của mình chứ không cần người GV phải có ngôn ngữ lập trình phứctạp Do vậy phần mềm này rất dễ sử dụng và phù hợp với giảng dạy trong nhàtrường

Tuy là một PTDH kĩ thuật hiện đại xong không phải với tiết học nào ứngdụng cũng thành công Nhiều tiết học sử dụng công cụ trình chiếu PowerPoint rấthấp dẫn, nhưng hiệu quả sư phạm không cao, học sinh chỉ theo dõi các hình ảnhchiếu trên màn hình, chưa kết hợp ghi chép vở hay không tập trung vào tiếp thu bài,

và tất nhiên không có các hoạt động học tập cá nhân

Trong toàn bộ chương trình, không phải bất cứ bài học nào cũng phải ứngdụng CNTT Trong trường hợp bài học chỉ cần tới các thiết bị truyền thống thì dứtkhoát không sử dụng CNTT Việc sử dụng CNTT sẽ không chỉ tốn kém mà có khảnăng làm giảm chất lượng tiết dạy học Tiết học được lựa chọn phải có tình huốngdạy học ứng dụng CNTT hiệu quả Sử dụng CNTT để thực hiện việc trình diễn bàidạy trong cả tiết học mà thôi Tuy vậy, dựa vào thiết kế trình diễn này, GV có thể tổchức các hoạt động dạy học được thiết kế từng bước hợp lý trong một cấu trúc chặtchẽ, trong đó sử dụng các công cụ đa phương tiện (multimedia) bao gồm văn bản,hình ảnh, âm thanh, phim minh họa để chuyển tải tri thức và điều khiển người học.Khi lên lớp với “giáo án điện tử”, GV sẽ thực hiện một bài giảng điện tử với toàn bộhoạt động giảng dạy đã được chương trình hóa một cách uyển chuyển, sinh động nhờ

sự hỗ trợ của các công cụ đa phương tiện đã được thiết kế trong “giáo án điện tử”.Như vậy, giáo án điện tử là được coi là phần quan trọng thể hiện kịch bản của tiếthọc Giáo án điện tử hay bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau của một hoạtđộng cụ thể, đó là: thực hiện dạy - học với sự hỗ trợ của máy tính ở mức độ dạy họcđồng loạt

Trang 12

Bài giảng điện tử: là bài giảng có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin mà

trong đó toàn bộ hoạt động dạy học được chương trình hóa thông qua môi trường

Trong môi trường multimedia, thông tin được truyền dưới các dạng: văn bản

(text), đồ hoạ (graphics), hoạt ảnh (animation), ảnh chụp (image), âm thanh (audio) vàphim video (video clip)

Giáo án điện tử: là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của

giáo viên khi thực hiện một bài giảng điện tử Toàn bộ hoạt động dạy học đó đã đượcmultimedia hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấutrúc của bài học

Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy trước khi bài

dạy học được tiến hành

Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây

dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một

hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử.

*/ Yêu cầu của một bài giảng điện tử:

Trang 13

*/ Thiết kế bài giảng điện tử:

*/

Bước 1 : Xác định mục tiêu bài học

- Học xong bài thì học sinh sẽ đạt được gì về?

- Kiến thức

- Kỹ năng

- Thái độ

*/ Bước 2: Xác định trọng tâm và kiến thức cơ bản

- Cần bám sát vào chương trình dạy học và sách giáo khoa bộ môn

- Cần phải đọc thêm tài liệu, sách báo tham khảo để mở rộng hiểu biết về vấn

đề cần giảng dạy và tạo khả năng chọn đúng kiến thức cơ bản

- Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy học có thể gắn với việc sắp xếp lạicấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các hợp phần kiến thức của bài, từ

đó rõ thêm các trọng tâm, trọng điểm của bài

*/ Bước 3: Xây dựng kịch bản dạy học (chương trình hóa tiến trình dạy học)

- Xác định cấu trúc của kịch bản

- Chi tiết hóa cấu trúc của kịch bản

- Xác định các bước của quá trình dạy học

- Xác định quá trình tương tác giữa thầy, trò và các đối tượng khác(phim, ảnh,text) – hoạt động của thầy, trò và công cụ hỗ trợ

- Xác định các câu hỏi, phản hồi trong các hoạt động

- Hình dung(lắp ghép) thành tiến trình dạy học

*/ Bước 4: Xác định tư liệu cho các hoạt động

- Phim (video), ảnh (image), hoạt cảnh (animation)

- Tìm kiếm tư liệu

- Xử lý tư liệu

- Phân phối tư liệu co mỗi hoạt động

*/ Bước 5: Lựa chọn phần mềm công cụ và số hóa kịch bản dạy học

Trang 14

- Lựa chọn phần mềm công cụ thích hợp

- Cài đặt(số hóa) nội dung

- Tạo hiệu ứng trong các tương tác

II.3.2.1: Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Qua quá trình giảng dạy ở trường Tiểu học Thị Trấn tôi thấy các em rất yêuthích học môn Mĩ thuật và đặc biệt là đối với phân môn TTMT Và tôi có đặt một sốcâu hỏi với các em: Tại sao em thích học Mĩ thuật? Đặc biệt yêu thích phân mônTTMT; Tôi nhân được câu trả lời từ các em: “ Nhìn vào các bức tranh làm cho đầu

óc bớt căng thẳng, và chúng em được bay bổng với trí tưởng tượng của mình vềcuộc sống xung quanh, về cách nghĩ, cách nhìn của các bạn thiếu nhi, các cô, cácbác họa sĩ nổi tiếng thông qua các tác phẩm được xem” Tôi tiếp tục đặt ra một sốcâu hỏi cho các em như sau: Em còn chưa hài lòng và thoả đáng ở phần nào đối vớiphân môn TTMT? Tôi nhận được câu trả lời rất chân tình của các em: “ Các bứctranh của chúng em quan sát còn quá nhỏ, có nhiều những bức tranh chúng em chỉđược nghe qua sự giới thiệu của thầy mà không được quan sát trực tiếp cho nênchúng em chưa phát huy được hết khả năng quan sát để bình luận cho bức tranh."

II.3.2.2: Thực trạng và đánh giá thực trạng

- Nguyên nhân của thực trạng

a/ Về phía học sinh:

Tôi đưa ra một câu hỏi đến với các em: Môn Mĩ thuật có tác dụng như thế nàotrong cuộc sống của các em? Các em trả lời: “Nó đem lại cho chúng em về cách

Ngày đăng: 13/02/2017, 00:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w