LỜI CẢM ƠNEm xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô trongKhoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo trường Tiểu học Tiến Thắng A MêLinh – Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
=== ===
TRẦN THỊ HƯƠNG
DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO
HỌC SINH LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM
TÍCH HỢP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học
TS PHẠM THỊ HÒA
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô trongKhoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo trường Tiểu học Tiến Thắng A (MêLinh – Hà Nội) đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình
thực hiện khóa luận với đề tài “Dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 theo quan điểm tích hợp” Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô
giáo TS.Phạm Thị Hòa đã chỉ bảo và giúp đỡ tận tình cho em hoàn thành khóaluận
Do thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức hạn chế, hơn nữa đây là bướcđầu em làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên khóa luận của emkhông tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của quýthầy cô và các bạn sinh viên để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiệnhơn Em xin chân thành cảm ơn
Hà nội, ngày 2 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Trần Thị Hương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả mà tôi đã trực tiếp tìm tòi, nghiên cứudưới sự hướng dẫn của cô giáo – TS Phạm Thị Hòa.Trong quá trình nghiêncứu, tôi đã sử dụng tài liệu của một số tác giả.Tuy nhiên đó chỉ là cơ sở để tôirút ra được những vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình
Khóa luận này là kết quả của cá nhân tôi, chưa được công bố ở bất kìmột nơi nào Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà nội, ngày 2 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Trần Thị Hương
Trang 4BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GD & ĐT Giáo dục và đào tạo
Nhà xuất bảnPhương pháp dạy học Trung học phổ thông Sách giáo khoa
Vở bài tậpTrang
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Kết cấu khóa luận 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Quan điểm tích hợp trong dạy học Luyện từ và câu 6
1.1.1.1 Khái niệm tích hợp 6
1.1.1.2 Bản chất của dạy học tích hợp 7
1.1.1.3 Mối quan hệ giữa quan điểm dạy học tích hợp và quan điểm dạy học tích cực 8
1.1.1.4 Thế nào là dạy học tích hợp trong phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học
9 1.1.1.5 Các hình thức tích hợp được thể hiện trong sách giáo khoa Tiếng Việt 10
1.1.1.6 Mục đích của việc dạy học theo quan điểm tích hợp 13
1.1.2 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi Tiểu học 13
1.1.2.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học 13
1.1.2.2 Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học 16
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1 Nội dung chương trình Luyện từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt 17
1.2.1.1 Nội dung luyện từ 17
Trang 71.2.1.2 Nội dung luyện câu 18
1.2.2 Thực tiễn dạy học Luyện từ và câu theo quan điểm tích hợp ở Tiểu học
19 1.2.2.1 Thực tiễn dạy học tích hợp dọc phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 tại trường Tiểu học Tiến Thắng A 20
1.2.2.2 Thực tiễn dạy học tích hợp ngang phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 tại trường Tiểu học Tiến Thắng A 21
1.3 Tiểu kết chương 1 23
Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP DỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 5 25
2.1 Hệ thống, nguyên tắc đảm bảo “tính hệ thống” của từ, câu trong dạy học Luyện từ và câu 25
2.1.1 Khái quát về hệ thống 25
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo “tính hệ thống” của từ, câu trong dạy học Luyện từ và câu 25
2.2 Các biện pháp dạy học tích hợp dọc trong phân môn Luyện từ và câu 27
2.2.1 Biện pháp phát hiện các kiến thức có mối quan hệ hệ thống trong khối lớp 5 27
2.2.1.1 Tích hợp nội bộ loạt bài quan hệ từ 27
2.2.1.2 Tích hợp nội bộ loạt bài câu ghép 28
2.2.1.3 Tích hợp bài quan hệ từ với bài nối các vế câu ghép 29
2.2.2 Biện pháp phát hiện kiến thức có mối quan hệ hệ thống trong khối lớp 5 với các khối lớp khác 29
2.2.2.1 Tích hợp dọc luyện tập kiến thức về từ loại 30
2.2.2.2 Tích hợp dọc luyện tập kiến thức mở rộng vốn từ 32
2.2.2.3 Tích hợp dọc luyện tập kiến thức về dấu câu 34
2.3 Tiểu kết chương 2 35
Trang 8CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP NGANG
PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 5 37
3.1 Biện pháp tích hợp phân môn Luyện từ và câu với Tập đọc 37
3.2 Biện pháp tích hợp phân môn Luyện từ và câu với Chính tả 39
3.3 Biện pháp tích hợp phân môn Luyện từ và câu với Tập làm văn
40 3.4 Biện pháp tích hợp phân môn Luyện từ và câu với Kể chuyện 42
3.5 Tiểu kết chương 3 44
KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 9Tiếng Việt là một môn học cần thiết cho tất cả các bậc học, khôngnhững chỉ cần thiết cho bậc Tiểu học, mà còn là nền tảng, là cơ sở học tốt cácbậc học trên Tiếng Việt là môn học quan trọng trong nhà trường phổ thông,
nó góp phần thực hiện những mục tiêu giáo dục đã đề ra trong việc đào tạocon người Việt Nam phát triển toàn diện Môn Tiếng Việt ở Tiểu học cónhững cơ sở để thực hiện tích hợp một cách thuận lợi bởi lẽ các phân môn củamôn học này đều được biên soạn xoay quanh các trục chủ điểm.Việc tích hợpcủa các phân môn Tiếng Việt ở các kiến thức và các kĩ năng nhằm phát huycác lợi thế của các phân môn, tiết kiệm thời gian học cũng như tránh bị trùnglặp giữa các nội dung Trong các phân môn của Tiếng Việt, Luyện từ và câu
có một vị trí đặc biệt Luyện từ và câu có nhiệm vụ hình thành và phát triểncho học sinh năng lực sử dụng từ và câu trong học tập cũng như trong giaotiếp Bên cạnh đó, còn có một nhiệm vụ cũng không kém phần quan trọng củaviệc rèn luyện về câu ở Tiểu nói chung là thông qua các hoạt động thực hành,củng cố, ôn tập giúp học sinh hệ thống hóa lại những kiến thức sơ giản về ngữpháp mà các em đã được tích lũy trong vốn sống của mình cũng như từ cácmôn học khác để từ đó dần hình thành các quy tắc dùng từ, đặt câu và tạo lậpvăn bản trong giao tiếp Vì vậy, việc tìm ra một phương pháp dạy học hiệuquả cao là mong muốn của tất cả các giáo viên
Trang 10Là một giáo viên tương lai, tôi muốn tìm ra một phương pháp dạy họchợp lí, làm cho giờ Luyện từ và câu trở nên hấp dẫn, thu hút được hứng thúhọc tập của các em thông qua việc khai thác mối quan hệ hệ thống giữa các
bài học và các phân môn của Tiếng Việt Vì vậy, tôi chọn đề tài “Dạy học
Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 theo quan điểm tích hợp” với mong
muốn đóng góp một phần công sức của mình vào việc tìm ra một phươngpháp dạy học hợp lí, có hiệu quả Đối với tôi, lựa chọn đề tài này để tích lũykiến thức, bước đầu là tiền đề cho việc nghiên cứu khoa học chuẩn bị cho quátrình giảng dạy sau này
2 Lịch sử vấn đề
Bàn về phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp có rất nhiều nhàkhoa học, nhà giáo dục đề cập đến vấn đề này ở những mức độ khác nhau
Có thể tạm chia các ý kiến thành hai hướng sau:
Hướng thứ nhất:bàn về vấn đề dạy học theo quan điểm tích hợp một cách khái quát, có tính chất định hướng.
- Trong tài liệu “Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo đổi mới”NXB Giáo dục - PGS.TS Nguyễn Trí đã chỉ rõ: việc dạy học theo hướng tíchhợp, hướng tích cực, hướng giao tiếp là những nhiệm vụ cấp thiết trong dạyhọc Tiếng Việt hiện nay[12]
- Trong “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên”- NXB Đại học sư phạm vàtrong các tài liệu “Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt” từ lớp 2 đến lớp 5 các tácgiả đã trình bày rất rõ quan điểm biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt theoquan điểm tích hợp là như thế nào Và cũng nêu đường hướng chỉ đạo hoạtđộng dạy học theo quan điểm tích hợp cho từng phân môn Ví dụ trong Hỏi
đáp Tiếng Việt 5 [20], tác giả Nguyễn Minh Thuyết đã chỉ rõ: “Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học hay một bài tập
Trang 11nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học”.
Nhìn chung các công trình kể trên đã đề cập đến một cách khái quátnhất những yêu cầu quan trọng của hoạt động dạy học tích hợp trong TiếngViệt
Hướng thứ hai bàn về hoạt động dạy học tích hợp ở từng phân môn
Đó là hướng nghiên cứu của một số khóa luận tốt nghiệp đại học như:
- Đỗ Thị Kim Oanh, Phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợptrong dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5, khóa luận tốt nghiệp, 2010
- Trần Thị Tâm - Đại học Sư phạm Hà Nội 2- Dạy học Luyện từ và câucho học sinh lớp 4 theo quan điểm tích hợp - Khóa luận tốt nghiệp, 2012
- Nguyễn Thị Thủy Tiên – Đại hoc sư phạm Hà Nội 2 – Dạy học luyện từ
và câu cho học sinh lớp 3 theo quan điểm tích hợp – Khóa luận tốt nghiệp, 2017
Như vậy, có nhiều khóa luận, luận văn nghiên cứu về quan điểm dạyhọc tích hợp Đặc biệt có hai khóa luận đã xem xét việc dạy học tích hợp ởphân môn Luyện từ và câu ở khối lớp 3 và 4 Tuy nhiên việc dạy học Luyện
từ và câu ở lớp 5 theo quan điểm tích hợp: tích hợp dọc kiến thức Luyện từ vàcâu giữa các khối lớp dưới và dạy học tích hợp ngang giữa phân môn Luyện
từ và câu với các phân môn khác của Tiếng Việt lớp 5 chưa thực sự đượcquan tâm nghiên cứu một cách cụ thể Vì vậy, đề tài của tôi sẽ đi vào khoảngtrống này
3 Mục đích nghiên cứu
Dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 theo quan điểm tích hợpnhằm mục đích nâng cao hiệu quả chất lượng dạy học, giúp cho học sinh cóhứng thú học tập phân môn Luyện từ và câu đồng thời rèn cho các em có thóiquen tư duy hệ thống khi học Luyện từ và câu nói riêng và Tiếng Việt nóichung
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 12Để thực hiện mục đích nêu trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụnghiên cứu sau
Trang 13- Hệ thống các vấn đề lí thuyết và thực tiễn có liên quan đến đề tài
- Tìm ra các biện pháp tích hợp dọc các kiến thức về từ và câu trongdạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5
- Tìm ra các biện pháp tích hợp ngang trong dạy học luyện từ và câuvới các phân môn khác cho học sinh lớp 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động dạy học Luyện từ vàcâu theo quan điểm tích hợp cho học sinh lớp 5
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp này được dùng để tổng hợp các vấn đề lí luận có liênquan đến đề tài
6.2 Phương pháp hệ thống
Kiến thức về từ và câu trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học đượcbiên soạn theo hướng đồng tâm, có mở rộng, nâng cao Kiến thức về từ và câugiữa các lớp có mối quan hệ hệ thống với nhau Đặc biệt phân môn Luyện từ
và câu ở lớp 5 chủ yếu là ôn tập các kiến thức mà học sinh đã học từ lớp 2 đếnlớp 3,4 Vì vậy phương pháp hệ thống được chúng tôi dùng chủ yếu để hệthống lại kiến thức cho các em ở biện pháp dạy học tích hợp dọc trong phânmôn Luyện từ và câu
Trang 146.3 Phương pháp khảo sát
Đây là phương pháp được dùng để khảo sát thực tiễn dạy học phân mônLuyện từ và câu ở khối lớp 5 trường Tiểu học Tiến Thắng A đã theo quanđiểm tích hợp như thế nào Khảo sát để có cơ sở thực tiễn đề xuất các biệnpháp dạy học tích hợp trong phân môn Luyện từ và câu thích hợp
7 Kết cấu khóa luận
Khóa luận có kết cấu ba phần
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
Phần nội dung bao gồm ba chương
Chương một: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương hai : Một số biện pháp dạy học tích hợp dọc phân môn Luyện
từ và câu cho học sinh lớp 5
Chương ba: Một số biện pháp dạy học tích hợp ngang phân môn Luyện
từ và câu cho học sinh lớp 5
Phần kết luận
Trang 15Trong phần mở đầu SGK Ngữ văn, NXB Giáo dục – 2003 do GS.Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên đã nêu: “Tích hợp là phương hướng nhằmphối hợp một cách tối ưu cao quá trình học tập riêng rẽ các môn học khácnhau theo các mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng các mục tiêu, mụcđích và những yêu cầu cụ thể khác nhau” [8]
TS Nguyễn Trọng Hoàn quan niệm: “Tích hợp là thuật ngữ mà nộihàm của nó chỉ hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác các giá trị của cáctri thức công cụ thuộc từng phân môn, trên cơ sở một văn bản có vai trò làkiến thức nguồn.”[3, 20]
TS Đỗ Ngọc Thống đưa ra quan điểm: “Tích hợp (theo cách hiểu trênthế giới hiện nay) là theo tinh thần ba phân môn hợp nhất lại “hòa trộn” trongnhau, học cái này thông qua cái kia và ngược lại”.[9,130]
Ngoài ra, còn có rất nhiều ý kiến của các tác giả, nhà nghiên cứu khácnữa, như: TS Nguyễn Văn Đường, GS.TS Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn HảiChâu… Nhìn chung các ý kiến đều thống nhất với khái niệm tích hợp đượcnêu trong chương trình dự thảo THPT năm 2002 của Bộ GD&ĐT: “Tích hợp
là sự phối hợp các tri thức gần gũi, có mối quan hệ mật thiết với nhau trong
Trang 16thực tiễn để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau tạo nhằmtạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc” [1,27]
1.1.1.2 Bản chất của dạy học tích hợp
Kế thừa và phát triển những thành tựu mà các lí thuyết về quá trình họctập và các trào lưu sư phạm của thế giới đã đạt được, sư phạm tích hợp đề cậpđến ba vấn đề lớn của nhà trường
Vấn đề thứ nhất: Cách thức học tập: học như thế nào? Sư phạm tích
hợp cho rằng học sinh cần học cách sử dụng kiến thức của mình vào tìnhhuống có ý nghĩa, tức là lĩnh hội các năng lực song song với lĩnh hội các kiếnthức đơn thuần
Tình huống có ý nghĩa đối với học sinh là những tình huống gần gũivới học sinh hoặc gần với tình huống mà học sinh sẽ gặp
Tình huống tích hợp là tình huống có ý nghĩa phức hợp, rất gần với cáctình huống tự nhiên mà học sinh sẽ gặp, trong đó có cả thông tin cốt yếu,thông tin gây nhiễu và vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học từ trước
Vấn đề thứ hai: Sư phạm tích hợp nhấn mạnh đồng thời việc phát triển
các mục tiêu học tập riêng lẻ, cần tích hợp trong quá trình học tập này trongtình huống có ý nghĩa đối với học sinh
Về các tình huống có vấn đề, đóng góp của sư phạm tích hợp là nhấnmạnh tính liên môn của tình huống có vấn đề Tình huống có vấn đề là tìnhhuống có ý nghĩa chứ không phải là cái cớ để học Giáo viên có vai trò tổchức các hoạt động học tập trong quá các tình huống có ý nghĩa đó
Về phương pháp dạy học phân hóa, sư phạm tích hợp chủ trương đa sốquá trình học tập là những quá trình học tập tập thể, đồng thời vẫn tạo điềukiện để mỗi học sinh phát triển nhịp độ của mình Sư phạm tích hợp cũng chủtrương giao nhiệm vụ cho học sinh thực hiện nhằm đào tạo các em thànhnhững người công dân có trách nhiệm, nhấn mạnh nhiều đến năng lực cần
Trang 17phát triển hơn là nhấn mạnh khâu tổ chức lớp Sư phạm tích hợp cố gắng giải quyết vấn đề: Làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường.
Vấn đề thứ ba: Sư phạm tích hợp đã đưa ra bốn quan điểm về vai trò
của mỗi môn học và tương tác giữa các môn học
Một là duy trì các môn học riêng
Hai là quan điểm đa môn: Chủ trương đề xuất những đề tài có thểnghiên cứu ở các môn học khác nhau, các môn học này vẫn được duy trì riêngrẽ
Ba là quan điểm liên môn: Chủ trương đề xuất chỉ có thể tiếp cận mộtcách hợp lý qua sự soi sáng của môn học
Bốn là quan điểm xuyên môn: Chủ trương chủ yếu phát triển kĩ năng
mà học sinh có thể sử dụng trong tất cả các tình huống Đó là các kĩnăngxuyên môn
Tuy vậy, nhu cầu xã hội hiện đại đòi hỏi phải hướng tới các quan điểmliên môn và xuyên môn Đó cũng là 2 quan điểm cơ bản của sư phạm tích hợp
1.1.1.3 Mối quan hệ giữa quan điểm dạy học tích hợp và quan điểm dạy học tích cực
Chương trình được xây theo quan điểm tích hợp trước hết dựa trênquan điểm giáo dục nhằm vào việc phát triển năng lực người học Tức làngười học có khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễncuộc sống, giải quyết các vấn đề do cuộc sống đề ra một cách chủ động, độclập, sáng tạo Như vậy, dạy học tích hợp giúp học sinh tích cực học tập và linhhoạt vận dụng các kiến thức lí thuyết vào thực hành
Dạy học theo quan điểm tích hợp tạo điều kiện để phát triển tri thức, kĩnăng tốt Theo quan điểm tích hợp, các quá trình học tập không tách rời cuộcsống hằng ngày mà được tiến hành trong mối liên hệ với các tình huống cụthể Xu hướng tích hợp nhằm rèn luyện tư duy tổng hợp cho học sinh Đócũng là con đường hình thành cho học sinh một cách nhìn nhận, khái quát vấn
Trang 18đề tổng hợp nhất, giúp học sinh thấy được các kiến thức lĩnh hội được cóquan hệ hữu cơ với nhau Từ đó tư duy của học sinh sẽ nâng lên một bướcphát triển mới Mối liên hệ giữa các kiến thức trong môn thì tích hợp là điềukiện đảm bảo cho học sinh khả năng tư duy có hiệu quả những kiến thức vànăng lực đã có để giải quyết có hiệu quả những tình huống có vấn đề mới xuấthiện, những khó khăn mà các em bất ngờ gặp phải trong cuộc sống.
Ngược lại, việc dạy học theo hướng biệt lập các môn học, các bộ phậncủa môn học dễ dẫn đến tư duy của học sinh theo hướng khép kín, nhìn nhậnvấn đề theo một chiều hướng nhất định, không đặt vấn đề có liên quan trongmột chỉnh thể thống nhất
Tuy có những ưu điểm vượt trội như trên song dạy học tích hợp cũng
có một vài nhược điểm mà chủ yếu là do nó còn mới mẻ, gây ra khó khăntrong việc ứng dụng vào dạy học cũng như việc hiểu không đầy đủ về xuhướng dạy học này Do đó, khi tiến hành dạy học tích hợp thì người thiết kế
kế hoạch giảng dạy phải có suy nghĩ về chương trình, về SGK đầy đủ, phải cócái nhìn tổng hợp, đúng mức nội dung, kĩ năng; có hiểu biết về các đánh giákết quả học tập của học sinh Đội ngũ giáo viên cần được chuẩn bị đầy đủ về
cả lí thuyết và kĩ năng giảng dạy để tổ chức, điều khiển hoạt động giảng dạyđáp ứng được nhu cầu về mục tiêu và nhiệm vụ đề ra
1.1.1.4 Thế nào là dạy học tích hợp trong phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Trong Hỏi đáp Tiếng Việt 5, NXBGD (2007), tác giả Nguyễn MinhThuyết đã chỉ rõ:
Theo quan điểm tích hợp , các phân môn trong môn Tiếng Việt nhưTập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn trước đây ít gắn
bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc;các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽvới nhau hơn trước Cụ thể, ngữ liệu dùng để dạy phân môn này cũng đồng
Trang 19thời được sử dụng dạy các phân môn khác, kiến thức và kĩ năng của phần họcnày được vận dụng để giải quyết nhiệm vụ ở phần học khác và các phân mônđều nhằm rèn luyện bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết cần hình thành ở họcsinh như mục tiêu của môn Tiếng Việt đã đề ra.
1.1.1.5 Các hình thức tích hợp được thể hiện trong sách giáo khoa
Chẳng hạn, trong tuần 2 SGK Tiếng Việt 3, tập 1 với chủ điểm Việt Nam – Tổ quốc em thì các bài tập đọc đều về quê hương, Tổ quốc Bài tập đọc đầu tiên là Nghìn năm văn hiến nói về truyền thống khoa cử lâu đời của Việt
Nam Đó là một bằng chứng về nền văn hiến của nước ta Bài tập đọc tiếp
Trang 20theo trong tuần là Sắc màu em yêu của Phạm Đình Ân nói lên tình cảm của
bạn nhỏ trong bài thơ với những sắc màu,những con người và sự vật xungquanh, qua đó thể hiện tình yêu của bạn với quê hương, đất nước
- Bài kể chuyện yêu cầu học sinh kể chuyện đã nghe, đã đọc Hãy kể một câu chuyện em đã nghe hay đã đọc về một anh hùng, danh nhân của nước ta
- Bài chính tả cũng tập trung vào chủ điểm Ở tiết học này, học sinh
nghe – viết Lương Ngọc Quyến , Lương Ngọc Quyến là một người con, một
chí sĩ yêu nước của dân tộc Việt Nam
- Tiết dạy luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ Tổ quốc (tiết 1), các bài tập
trong tiết học này đều xoay quanh chủ điểm
- Tiết tập làm văn Luyện tập tả cảnh (tiết 1) tiếp tục tô đậm nội dung
chủ điểm trong tuần
b Tích hợp dọc
Là tích hợp “ theo từng vấn đề”, tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩnăng mới với những kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắcđồng tâm Cụ thể là: kiến thức và kĩ năng của bài học sau, lớp trên, bậc trênbao hàm cả kiến thức và kĩ năng của bài học trước, lớp dưới, bậc học dướinhưng cao hơn và và sâu hơn kiến thức, kĩ năng của bài học trước, lớp dưới,bậc học dưới Chẳng hạn:
Về nội dung, ở cả ba lớp đầu cấp, toàn bộ các bài học đều được xây
dựng theo các chủ điểm Nhà trường, Gia đình, Xã hội và Thiên Nhiên Tuy
vậy, các chủ điểm được mở rộng và nâng cao dần ở mỗi lớp VD: Ở lớp 2, các
chủ điểm trên được chia nhỏ với các tên gọi như: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Cha mẹ, Anh em, Ông bà, Bạn trong nhà, Bốn mùa, Chim chóc, Muông thú, Sông biển, Cây cối, Bác Hồ, Nhân dân Đến lớp 3, các chủ điểm từ tuần 1 đến tuần 6 (Măng non, Mái ấm, Tới trường) tuy quen
thuộc nhưng đã được mở rộng và nâng cao một bậc so với lớp 2; các chủ
Trang 21điểm từ tuần 7 đến tuần 32 (Cộng đồng, Quê hương, Bắc – Trung – Nam, Anh
em một nhà, Thành thị - nông thôn, Bảo vệ Tổ quốc, Sáng tạo, Văn hóa – nghệ thuật, Lễ hội, Thể Thao, Ngôi ngà chung, Bầu trời và Mặt đất) thể hiện
những nội dung hoàn toàn mới so với lớp 2
Sang lớp 4, các chủ điểm phản ánh những phương diện khác nhau của con người, cụ thể là:
Lạc quan, yêu đời (Tình yêu cuộc sống)
+ Năng lực (Người ta là hoa đất)
+ Ước mơ (Trên đôi cánh ước mơ)
+ Yêu Tổ quốc (Việt Nam – Tổ quốc em)
+ Bảo vệ hòa bình, vun đăp tình hữu nghị giữa các dân tộc (Cánh chim hòa bình)
+ Sống hài hòa với thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên (Con người với thiên nhiên)
+ Bảo vệ môi tường (Giữ lấy màu xanh)
+ Chống bệnh tật, đói nghèo, lạc hậu (Vì hạnh phúc con người)
Trang 22+ Sống, làm việc theo pháp luật, xây dựng xã hội văn minh (Người công dân)
+ Bảo vệ an ninh, trật tự xã hội (Vì cuộc sống thanh bình)
+ Giữ gìn và phát huy bản sắc, truyền thống dân tộc (Nhớ nguồn)
+ Thực hiện bình đẳng nam nữ (Nam và nữ)
+ Thực hiện các quyền của trẻ em (Những chủ nhân tương lai)
1.1.1.6 Mục đích của việc dạy học theo quan điểm tích hợp
Quan điểm dạy học tích hợp được đề xướng nhằm mục đích:
Thứ nhất: Giải quyết một mâu thuẫn lớn trong giáo dục hiện nay là mâuthuẫn giữa khối lượng kiến thức ngày càng tăng do sự bùng nổ thông tin vớithời gian học tập và sức lực học tập có hạn của học sinh, từ đó làm tăngcường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học
Thứ hai : Làm cho người đọc nhận biết và ý thức được mối quan hệgiữa các nội dung học tập ở các môn học khác nhau và ở ngay trong một mônhọc Đó là mối quan hệ giữa các tri thức của các môn khoa học tự nhiên vàkhoa học xã hội nhân văn; giữa tri thức với kĩ năng, với năng lực cải tạo cuộcsống của người học ở ngay trong một môn học cụ thể
1.1.2 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi Tiểu học
1.1.2.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
a, Tri giác của học sinh Tiểu học
Cảm giác, tri giác là khâu đầu tiên của nhận thức cảm tính, nhưng cảmgiác chỉ đem lại những mặt tương đối rời rạc, chỉ có tri giác mới đạt tới nhậnthức của sự vật trực tiếp Do đó, tri giác quan trọng đối với nhận thức của trẻ.Đối với trẻ đầu bậc Tiểu học, tri giác còn mang tính đại thể toàn bội, ít đi sâu
và chi tiết, tuy nhiên trẻ cũng bắt đầu có khả năng phân tách dấu hiệu, chi tiếtnhỏ của một đối tượng nào đó.Tri giác của trẻ thường gắn với hành động và
Trang 23hoạt động thực tiễn.Trẻ phải cầm nắm, sờ mó thì tri giác sẽ tốt hơn.Tri giác vàđánh giá không gian, thời gian còn hạn chế.
Như vậy, trong dạy học ở trường Tiểu học, khi hướng dẫn học sinh trigiác đồ dùng dạy học, tri giác tài liệu học tập, giáo viên cần đề ra nhiệm vụthông qua các câu hỏi và hướng dẫn học sinh biện pháp tri giác để đạt đượcmục đích của bài dạy
b Chú ý của học sinh Tiểu học
Ở đầu tuổi Tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểmsoát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ địnhchiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đếnnhững môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiềutranh ảnh,…Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưathể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Ở cuối tuổi Tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú
ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự
nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một côngthức toán hay một bài hát dài,…Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiệngiới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian chophép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảngthời gian quy định Biết được điều này, giáo viên nên giao cho học sinhnhững công việc, bài tập hay tổ chức các hoạt động đòi hỏi sự chú ý và nêngiới hạn về mặt thời gian Điều này tạo sự tích cực, chủ động, sáng tạo chohọc sinh, giúp các em dễ dàng tiếp thu được những kiến thức trừu tượng, khóhiểu ở lớp 4 và 5
c.Trí nhớ của học sinh Tiểu học
Ở lứa tuổi Tiểu học, do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất vẫnchiếm ưu thế nên ở học sinh Tiểu học loại trí nhớ trực quan hình tượng vẫnchiếu ưu thế hơn so với trí nhớ từ ngữ - logic
Trang 24Giai đoạn lớp 1, 2, 3 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt vàchiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chứcviệc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biếtcách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.
Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăngcường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghinhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tậptrung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tìnhcảm hay hứng thú của các em
Xuất phát từ việc nắm vững đặc điểm về trí nhớ này của học sinh cuốibậc Tiểu học mà các tác giả biên soạn chương trình phân môn Luyện từ vàcâu đã biên soạn một số bài ôn tập, hệ thống lại kiến thức các em đã học từnhững khối lớp trước Biện pháp dạy học tích hợp dọc các kiến thức đang học
và đã học trước đòi hỏi học sinh phải huy động trí nhớ rất nhiều nhưng chắcchắn có khả năng thực hiện được
d Tư duy của học sinh Tiểu học
Tư duy của học sinh Tiểu học là quá trình mà các em hiểu được, phảnánh được bản chất của đối tượng, của các sự vật, hiện tượng được xem xétnghiên cứu trong quá trình học tập của mình
Tư duy của học sinh Tiểu học được chia làm hai giai đoạn :
Giai đoạn 1: Tư duy cụ thể vẫn tiếp tục hình thành và phát triển, tư duytrừu tượng bắt đầu hình thành Tư duy cụ thể được thể hiện rõ nhất ở lớp 1 vàlớp 2 nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức mới và tiến hành các thao tác với vậtthật hoặc các hình ảnh trực quan
Giai đoạn 2: Tư duy từu tượng bắt đầu chiếm ưu thế so với tư duy cụthể, nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằng các tiến hành cácthao tác tư duy với ngôn ngữ, với các loại kí hiệu quy tắc
Trang 25Các tác giả biên soạn chương trình SGK Tiếng Việt nắm được đặcđiểm về tư duy của học sinh tiểu học nên đã biên soạn chương trình phân mônLuyện từ và câu phù hợp với khả năng tư duy của học sinh Ở lớp 2, 3 SGKchỉ đưa ra những dấu hiệu hướng học sinh chú ý làm quen với khái niệm vàthường không nêu thuật ngữ (ví dụ: danh từ, động từ, tính từ, chủ ngữ, vịngữ), không hướng đến trình bày các nội dung lí thuyết Lên lớp 4, 5, các thaotác tư duy của học sinh như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa ….phát triển; lúc này, học sinh được học các bài lí thuyết về từ và câu (Ví dụ:danh từ, đại từ, quan hệ từ, câu ghép,….).
e Tưởng tượng của học sinh Tiểu học
Tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển tronghoạt động học và hoạt động khác Tưởng tượng của học sinh tiểu học pháttriển và ngày càng phong phú hơn song nhìn chung tưởng tượng của các emcòn tản mạn ít có tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản hay thayđổi hay chưa bền vững
Ở các lớp cuối bậc (lớp 4, lớp 5) tưởng tượng của các em gần với hiệnthực hơn, các em có khả năng nhào nặn, gọt dũa những hình tượng cũ để sángtạo ra hình tượng mới Có được điều này là những học sinh lớp 4, 5 đã biếtdựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình tượng mang tính khái quát hóa và trìutượng hơn Tưởng tượng của các em đã gắn liền với sự phát triển của tư duy
và ngôn ngữ
Đây là một điều kiện thuận lợi để giúp giáo viên dạy học tích hợp phânmôn Luyện từ và câu với các phân môn khác của Tiếng Việt Từ đó, giúp họcsinh có hứng thú với bài học hơn, các em tiếp thu kiến thức mới một cách chủđộng, tích cực hơn
1.1.2.2 Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp đặc biệt quan trọng Hầu hết họcsinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện
Trang 26ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoànthiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển màtrẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khámphá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảmtính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởngtượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữnói và ngôn ngữ viết của trẻ Mặt khác thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ
ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dụcphải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứngthú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học,truyện cổ tích, truyện tranh, báo nhi đồng,… đồng thời cũng có thể kể cho trẻnghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể chuyện, đọc thơ, viết báo, viết truyện,…Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng
1.2 Cơ sở thực tiễn
Để có cơ sở cho những đề nghị dạy Luyện từ và câu theo quan điểmtích hợp, trước hết tôi khảo sát nội dung môn học này ở khối lớp 5 và toàn bộbậc học, sau đó dự giờ của các giáo viên có kinh nghiệm xem thuận lợi và khókhăn của hoạt động dạy này như thế nào Trên cơ sở đó, tôi sẽ đưa ra nhữngbiện pháp cụ thể để hoạt động dạy học Luyện từ và câu ở lớp 5 theo hướngtích hợp tốt hơn
1.2.1 Nội dung chương trình Luyện từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt
1.2.1.1 Nội dung luyện từ
Trang 27- Các biện pháp tu từ: So sánh, nhân hóa (lớp 3).
- Cấu tạo của tiếng (Lớp 4)
- Các bộ phận của vần, cách đánh dấu thanh trên vần (Lớp 5)
- Từ đơn và từ phức; từ ghép và từ láy (Lớp 4)
- Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa (Lớp 5)
- Ôn tập về cấu tạo từ (Lớp 5)
- Từ loại: danh từ, động từ, tính từ (Lớp 4); đại từ, quan hệ từ (Lớp 5)
b, Về thực hành
- Lớp 2: Nội dung mở rộng vốn từ gắn với các chủ điểm: Em là họcsinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Ông bà, Cha mẹ, Anh em, Bạn trong nhà,Bốn mùa, Chim chóc, Muông thú, Sông biển, Cây cối, Bác Hồ, Nhân dân
- Lớp 3: Nội dung mở rộng vốn từ gắn với các chủ điểm: Măng non,Mái ấm, Tới trường, Cộng đồng, Quê hương, Bắc – Trung – Nam, Anh emmột nhà, Thành thị - Nông thôn, Bảo vệ Tổ quốc, Sáng tạo nghệ thuật, Lễ hội,Thể Thao, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất
- Lớp 4: Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ theo chủ điểm của từng đơn
vị học, cụ thể là: Nhân hậu – đoàn kết, Trung thực – Tự trọng, Ước mơ, Ý chí– Nghị lực, Đồ chơi – Trò chơi, Tài năng, Sức khỏe, Cái đẹp, Dũng cảm, Dulịch – Thám hiểm, Lạc quan – Yêu đời
- Lớp 5: Nội dung Mở rộng vốn từ gắn với các chủ điểm: Tổ quốc,Nhân dân, Hòa bình, Hữu nghị - Hợp tác, Thiên nhiên, Bảo vệ môi trường,Hạnh phúc, Công dân, Trật tự - An ninh, Truyền thống, Nam và nữ, Trẻ em,Quyền và bổn phận
1.2.1.2 Nội dung luyện câu
* Lớp 2
- Làm quen với ba kiểu câu trần thuật đơn(Ai là gì? Ai làm gì?Ai thếnào?) và một số thành phần khác trong câu
Trang 28- Tập dùng một số dấu câu (dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than vàdấu phẩy), trọng tâm là dấu chấm và dấu phẩy.
* Lớp 3
- Ôn tập về các kiểu câu đã học lớp 2: Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai thếnào? Các thành phần trong câu đã học đáp ứng các câu hỏi: Ai?, Là gì?, Làmgì?, Thế nào?, Ở đâu?, Bao giờ?, Như thế nào?, Bằng gì?, Vì sao?, Để làm gì?
- Ôn luyện về một số dấu câu cơ bản: Dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấmhỏi, dấu chấm than
* Lớp 4:
- Câu: Cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo, công dụng và cách sửdụng các kiểu câu: Câu hỏi, Câu kể, Câu khiến, Câu cảm, Thêm trạng ngữcho câu
- Dấu câu: Cung cấp kiến thức về công dụng và luyện tập sử dụng cácdấu câu: Dấu hai chấm, dấu chấm hỏi (học trong bài Câu hỏi và dấu chấmhỏi), Dấu gạch ngang
* Lớp 5:
- Câu: + Câu ghép và cách nối các vế câu ghép
+ Ôn tập vê dấu câu
- Văn bản: Liên kết các câu trong bài bằng cách lặp từ ngữ, liên kết cáccâu trong bài bằng cách thay thế từ ngữ, liên kết các câu trong bài bằng các từngữ nối
1.2.2 Thực tiễn dạy học Luyện từ và câu theo quan điểm tích hợp ở Tiểu học
Trong thời gian đi kiến tập, thực tập tại một số trường Tiểu học, tôi đãtiến hành khảo sát về thực trạng dạy - học phân môn Luyện từ và câu hiện naytheo quan điểm tích hợp Do điều kiện không cho phép, tôi chưa điều tra đượcrộng rãi ở tất cả các trường nhưng bước đầu đã có những đánh giá sơ lược vềkiến thức và kĩ năng cần tích hợp cho học sinh thông qua các tiết dạy dự giờ