LỜI CAM ĐOANKhóa luận tốt nghiệp với đề tài: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO NGỮ VĂN 10 được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS.. Hiện nay, ngành giáo dục Việ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************
ĐẶNG THANH HIẾU
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO
DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO (NGỮ
VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************
ĐẶNG THANH HIẾU
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO
DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO (NGỮ
VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
TS PHẠM KIỀU ANH
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS PhạmKiều Anh, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình emnghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận Em cũng xin gửi lời cảm ơn chânthành tới đội ngũ giảng viên trong tổ Phương pháp – Khoa Ngữ Văn -Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện để giúp em trongthời gian em học tập và nghiên cứu
Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em mong quý thầy cô vàcác bạn đóng góp ý kiến, phản hồi, tiếp tục xây dựng đề tài để đề tài của emđược hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 05 năm 2019
Sinh viên thực hiện
ĐẶNG THANH HIẾU
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH
HỢP VÀO DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO (NGỮ VĂN 10) được hoàn
thành dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Kiều Anh Tôi xin cam đoan bản khóaluận tốt nghiệp này hoàn toàn là sản phẩm nghiên cứu của cá nhân Nếu sai tôixin chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 06 tháng 05 năm 2019
Sinh viên thực hiện
ĐẶNG THANH HIẾU
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Cấu trúc của khóa luận 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 8
1.1 Cơ sở lí luận về dạy học quan điểm tích hợp 8
1.1.1 Thế nào là tích hợp và dạy học tích hợp 8
1.1.2 Các hình thức tích hợp được thiết kế trong chương trình Ngữ văn hiện hành 9
1.1.3 Ý nghĩa của việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn 12
1.2 Cơ sở lý luận về văn bản quảng cáo 14
1.2.1 Khái niệm văn bản quảng cáo 14
1.2.2 Đặc điểm của văn bản quảng cáo 16
1.3 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học bài Viết quảng cáo theo quan điểm tích hợp ở trường THPT 20
1.3.1 Thực trạng dạy học bài Viết quảng cáo ở trường THPT 20
1.3.2 Điều tra, khảo sát thực trạng học bài Viết quảng cáo ở trường THPT 21
1.3.3 Đánh giá chung 21
CHƯƠNG 2 DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO (NGỮ VĂN 10) THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 22
2.1 Mục đích của việc học bài Viết quảng cáo trong chương trình Ngữ văn THPT 22
Trang 72.2 Nội dung dạy học bài Viết quảng cáo trong sách giáo khoa Ngữ văn
10 22
2.3 Những yêu cầu có tính nguyên tắc khi tổ chức dạy học bài Viết quảng cáo theo quan điểm tích hợp 24
2.3.1 Phù hợp với mục tiêu và thời lượng dạy học 24
2.3.2 Phù hợp với điều kiện thực tế 25
2.3.3 Phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh 25
2.4 Xác định những nội dung có thể tích hợp trong bài Viết quảng cáo 27
2.4.1 Tích hợp với văn bản thuyết minh khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về văn bản Viết quảng cáo 27
2.4.2 Tích hợp với kĩ năng sử dụng ngôn ngữ khi trình bày nội dung quảng cáo 27
2.4.3 Tích hợp mở rộng trong thực tế cuộc sống 28
2.5 Xác định thời điểm tích hợp khi dạy học bài Viết quảng cáo 29
2.5.1 Tích hợp khi tổ chức hoạt động tạo tâm thế 29
2.5.2 Tích hợp khi hướng dẫn học sinh tiếp nhận tri thức về cách viết quảng cáo 29
2.5.3 Tích hợp khi hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng viết quảng cáo 30
2.5.4 Tích hợp khi kiểm tra 30
2.6 Xác định một số phương pháp tích cực sử dụng khi dạy học bài Viết quảng cáo theo quan điểm tích hợp 30
2.6.1 Phương pháp vấn đáp 30
2.6.2 Phương pháp thảo luận nhóm 32
2.6.3 Phương pháp dạy học dự án 33
2.7 Định hướng tổ chức dạy học bài Viết quảng cáo theo quan điểm tích hợp
33 CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 37
3.1 Mục đích thực nghiệm 37
3.2 Đối tượng thực nghiệm 37
Trang 83.3 Địa bàn thực nghiệm 38
3.4 Thời gian thực nghiệm 38
3.5 Nội dung thực hiện 38
3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 44
KẾT LUẬN 46
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 50
Trang 9tế đồng nhất khẳng định: “giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy
kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem năng lực (compétence) là khái niệm “cơ sở” của khoa sư phạm tích hợp (pédagogie de l'intégration)” (Xavier Roegiers Phó Giám đốc văn phòng Công nghệ Giáo
dục và Đào tạo của Liên minh Châu Âu)
Nếu như dạy học tích hợp đã có từ rất lâu trên thế giới, thì ở Việt Namquan niệm này mới được xuất hiện từ thập niên 90 của thế kỉ XX Nhận thấytầm quan trọng của quan điểm giáo dục này, việc dạy và học trong các nhàtrường ở Việt Nam đã và đang tích cực áp dụng và triển khai thực hiện dạyhọc tích hợp Và theo đó, giáo dục Việt Nam đang đứng trước thách thức đổimới từ mục tiêu, nội dung và đặc biệt là phương pháp dạy học (PPDH) ở mọicấp học Hiện nay, ngành giáo dục Việt Nam - gắn với yêu cầu đổi mới toàn
diện giáo dục cũng nhấn mạnh:“Thay cho việc dạy học đang được thực hiện
theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa như hiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung
để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của nhà trường” (Công văn số:
5555/BGDĐT-GDTrH, hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới PPDH
Trang 10và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn củatrường trung học /trung tâm GDTX qua mạng) Như vậy, có thể nhận thấyquan điểm tích hợp đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và đặc biệt hơn là BộGiáo dục và Đào tạo đã trực tiếp thị sát quyết liệt Nhiều bài nghiên cứu,nhiều hội thảo khoa học được tổ chức nhằm tìm ra những cách thức vận dụng,
tổ chức vào từng khâu, từng nội dung, từng hoạt động giáo dục trong tất cảcác cấp học Không chỉ có vậy, cùng với định hướng đổi mới chương trìnhgiáo dục phổ thông sau 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhấn mạnh quanđiểm: tích hợp mạnh, sâu hơn các nội dung dạy học, gắn với quá trình phânhóa để đánh giá năng lực người học Có thể nói, tích hợp là quan điểm chỉ đạoquá trình đổi mới giáo dục hiện nay
Ngữ Văn là một trong số những môn học có khả năng tích hợp liên mônliên ngành thể hiện rõ tính ưu việt của quan điểm dạy học tích hợp, chính vìthế mà môn Ngữ Văn đã và đang trở thành tâm điểm của quan điểm dạy họctích hợp Điều đó bộc lộ rõ qua chương trình, sách giáo khoa bậc phổ thông.Tính tích hợp được thể hiện ở việc ba phần: đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt vàLàm văn được kết hợp với nhau tạo thành chỉnh thể Ngữ văn Trong đó, mỗiphân môn có những đặc trưng riêng song vẫn được hòa trộn vào nhau để tạonên một môn học có nội dung kiến thức tổng hợp Như vậy, việc dạy học từngphân môn vừa phải đảm bảo đặc trưng của từng phân môn, vừa đảm bảo đúngquan điểm chỉ đạo việc biên soạn sách giáo khoa – quan điểm tích hợp Làm
văn nói chung và bài Viết quảng cáo nói riêng có khả năng tích hợp được rất
nhiều nội dung Theo đó, việc tổ chức dạy học bài này có thể vận dụng quanđiểm tích hợp Hơn nữa, việc vận dụng tích hợp vào dạy học bài này giúp chogiáo viên (GV) có thể mở rộng một số kiến thức về kiểu văn bản có tần số sửdụng khá lớn trong đời sống xã hội, và cùng với đó, chủ thể học tập có thểtiếp nhận và tham gia học tập đầy đủ, chính xác để hình thành một số nănglực thiết yếu cho bản thân
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Vận dụng quan
điểm tích hợp vào dạy học bài Viết quảng cáo (Ngữ văn 10).
Trang 112 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Được hình thành và xuất hiện ở Liên xô (cũ) vào khoảng cuối thế kỉ thứXIX, tích hợp được nhắc tới bắt nguồn từ việc giải quyết mâu thuẫn giữalượng kiến thức vô hạn và thời gian học tập hữu hạn mà nền giáo dục Ngaphải mặt Trước những đòi hỏi giảm bớt áp lực học tập mà vẫn thu nhập đượcnhiều tri thức của nhân loại, các nhà giáo dục Nga đã dành thời gian hệ thống,nghiên cứu các tri thức được dạy trong nhà trường dành cho con em giới quýtộc, và họ đã nhận thấy khả năng kết hợp một số tri thức khoa học trong cácmôn học khác nhau trên cơ sở mối quan hệ giữa chúng Từ đó, tích hợp ra đời
và dần trở thành một quan điểm giáo dục hiện đại Có thể nói, sự ra đời của
nó thực sự hữu hiệu khi nó giúp cho nhiều quốc gia trên thế giới vừa đáp ứngđược mục tiêu giáo dục của quốc gia, vừa thỏa mãn được nhu cầu học ít, biếtnhiều từ phía gia đình và chính bản thân chủ thể học tập Cũng vì thế, tích hợpthực sự là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà giáo dục trong nước vàthế giới Có thể điểm lại những công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu vềtích hợp dưới đây:
Vào năm 1968, tại Bun - ga - ri, tổ chức giáo dục thế giới UNESCO đãkết hợp với Hội đồng liên quốc gia tổ chức hội nghị bàn về việc tích hợp việcgiảng dạy các khoa học Tại hội nghị này, các nhà giáo dục toàn cầu đã nàyđặt ra và lí giải các vấn đề mà giáo dục toàn cầu cần chú trọng là: việc phảidạy học tích hợp và thế nào là dạy học theo hướng tích hợp giữa các khoahọc Kế thừa những thành quả đã xác định được tại hội nghị đó, đến năm
1972, tổ chức UNESCO tiếp tục họp tại Paris đã đưa ra định nghĩa dạy họctích hợp các khoa học Có thể nói, hai hoạt động có tính toàn cầu này đã thực
sự đánh dấu sự thay đổi và khẳng định vị trí, nhiệm vụ và tác dụng của tíchhợp đối với nền giáo dục của tất cả các quốc gia trên thế giới
Ở Việt Nam, vào những năm của thập kỉ 1970, Cố Thủ tướng Phạm VănĐồng lần đầu nhắc tới tích hợp Tuy nhiên, trong bài viết của mình, Cố Thủtướng cho rằng nó là một trong những phương pháp dạy học hữu hiệu, có thểgiúp GV có thể giáo dục con người HS một cách toàn diện Tuy nhiên, sau đó,
Trang 12ở Việt Nam, người ta ít chú trọng tới vấn đề này Phải tới 1987, khi các nhà
giáo dục thiết kế môn học “Tìm hiểu tự nhiên – xã hội” để đưa vào giảng dạy
cho HS từ lớp 1 đến lớp 5 thì chương trình giáo dục Việt Nam mới bắt đầuchú ý tới quan điểm giáo dục tiên tiến này Khi chương trình, SGK Ngữ văn
ra đời, việc nghiên cứu về tích hợp ở Việt Nam được chú trọng hơn Khẳngđịnh tính tất yếu trong việc chọn tích hợp là quan điểm chỉ đạo chương trình
giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh: “Lấy quan điểm tích
hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy [2; tr.27] Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo” [2;
tr 40]
Năm 2002, để lý giải về tên sách giáo khoa được sử dụng khi dạy học Ngữvăn, tác giả Đỗ Ngọc Thống đã thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo việc xây dựngchương trình, sách giáo khoa cho môn học để lý giải về tên gọi Ngữ văn
Theo tác giả thì: “Việc lấy tên chung của cuốn sách là Ngữ văn không chỉ đơn
thuần là dồn ba phân môn lại thành một cuốn sách theo kiểu gộp lại mà chúng được xây dựng theo tinh thần tích hợp” [18]
Tiếp nối quan niệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khi đánh giá về tính tíchhợp trong dạy học Ngữ văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Hùng trong bài
“Tích hợp trong dạy học Ngữ văn” quan niệm tích hợp là “Phương hướng phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất các quá trình học tập của nhiều môn học cũng như các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn trong một môn Ngữ văn” Với cách nhìn nhận đó, tác giả đã nhấn mạnh vai trò của việc vận dụng
quan điểm giáo dục này vào quá trình dạy học Theo đó, vận dụng quan điểm
này sẽ:“giúp HS học tập thông minh, biết vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ
năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hoà (Harnonie),
Trang 13hợp lý (Algebra) trong tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại” [7; tr.15].
Ngay sau đó, năm 2007, tác giả Phan Cảnh Mậu tiếp tục nhấn mạnh:
“Tích hợp trở thành một nguyên lý nhưng cũng cần phải nhấn mạnh đến
nguyên tắc: tích hợp phải thích hợp Thích hợp ở đây là phải chú trọng đến
cơ sở và liều lượng trong nội dung tích hợp, đồng thời sử dụng các phương pháp triển khi hợp lý” [14; tr.11]
Có thể nói, sau một khoảng thời gian ngắn sử dụng chương trình giáodục phổ thông 2000, các nhà khoa học đã từng bước nêu ra bản chất, đặc điểmcũng như tác dụng của tích hợp đối với chương trình và quá trình dạy học ởphổ thông Tuy nhiên, đó mới chỉ là những nghiên cứu có tính chất nhỏ lẻ,
chưa khái quát Phải tới năm 2016, sự ra đời của cuốn Dạy học tích hợp phát
triển năng lực học sinh (Quyển 2) mới phần nào bao quát được tích hợp và
việc dạy học theo quan điểm này đối với các môn Khoa học xã hội Theo đó,trong công trình này, các tác giả đã xác định rõ tích hợp, các mức độ vàphương diện của tích hợp, những yêu cầu của dạy học tích hợp đối với cácmôn học thuộc lĩnh vực khoa học này Trên cơ sở đó, công trình cũng đã đánhgiá ý nghĩa của việc triển khai và ứng dụng quan điểm này vào thực tế dạyhọc đối với các môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội” [8]
Từ những khảo cứu trên đây, có thể khẳng định, cho đến nay, mặc dù cónhiều công trình nghiên cứu về tích hợp song lại chưa có công trình nào tập
trung xem xét việc tổ chức dạy học bài Viết quảng cáo (Ngữ văn 10) theo quan
điểm này Đó là gợi dẫn để chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm hướng tới một số mục đích xác định được những
cơ sở khoa học và những yêu cầu về kĩ năng cần thiết khi vận dụng quanđiểm tích hợp vào dạy học Làm văn nói chung và những nội dung tích hợp có
Trang 14liên quan Trên cơ sở đó, tìm ra những biện pháp, những cách thức lựa chọn
và thiết kế hoạt động dạy học phù hợp để hoạt động này đạt hiệu quả
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành được nội dung đề tài này, chúng tôi xác định phải thực hiệnnhững nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tổng hợp những tài liệu nghiên cứu để làm cơ sở lí luận khi giải quyết vàthực nghiệm đề tài
- Xác định những yêu cầu, nội dung, phương pháp và cách thức tích hợp
khi vận dụng vào bài Viết quảng cáo.
- Thiết kế giáo án, đề xuất cách tổ chức dạy học bài Viết quảng cáo theo
quan điểm tích hợp
- Tổ chức thực nghiệp sư phạm nhằm đánh giá mức độ hiệu quả chonhững đề xuất được nêu trong chương 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Gắn với tên đề tài, khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu là quan điểmtích hợp trong giáo dục và trong dạy học Ngữ văn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tương ứng với nội dung đề tài , chúng tôi chọn bài Viết quảng cáo
(Ngữ văn 10) làm phạm vi vận dụng khi triển khai các phương diện khác nhaucủa vấn đề nghiên cứu nhằm tạo ra tìm ra cách thức là tăng hiệu quả cho giờhọc Làm văn
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp hệ thống hóa tài liệu
Phương pháp (PP) được sử dụng nhằm hệ thống hóa các kiến thức lý luận
về tích hợp
5.2 Phương pháp khảo sát thực nghiệm
Trang 15Chúng tôi khảo sát thực tiễn dạy làm văn bằng cách phát phiếu khảo sátthăm dò ý kiến của GV và HS, dự giờ trực tiếp tại các giờ học Làm văn, qua
đó thống kê những số liệu và thông tin cần thiết về tình hình dạy Làm văn nói
chung và dạy bài Viết quảng cáo nói riêng.
5.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu
PP này sẽ được vận dụng để so sánh các ngữ liệu trong quá trình đốichiếu giữa việc dạy làm văn theo phương pháp truyền thống với dạy học theoquan điểm tích hợp để thấy rõ ưu điểm, nhược điểm của các PP Trong thựcnghiệm, chúng tôi cũng so sánh kết quả thu được ở lớp thực nghiệm với lớpđối chứng để đánh giá tính khả thi của giáo án thiết kế theo hướng tích hợp
6 Cấu trúc của khóa luận
Khóa luận có kết cấu gồm ba phần:
Mở đầu: Trình bày những vấn đề một cách khái quát về đề tài nghiên
cứu, lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên cứu,…
Nội dung: Đây là trọng tâm của khóa luận Phần này được triển khai thành
ba
chương là:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Dạy học bài Viết quảng cáo (Ngữ văn 10) theo quan điểm tích
hợp
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận về dạy học quan điểm tích hợp
Tại Đại hội XII, Đảng chỉ đạo việc đổi mới giáo dục phải theo đúng tinh
thần: “Chương trình mới chuyển sang cách tiếp cận năng lực, chú trọng đến
mục tiêu phát triển các phẩm chất của học sinh; không chỉ đòi hỏi học sinh nắm vững những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn chú trọng yêu cầu vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực hành, giải quyết các tình huống trong học tập và cuộc sống” Với chủ trương này, có thể nhận thấy, từ việc nghiên cứu
và đánh giá sự vận động biến đổi theo xu hướng toàn cầu hóa, việc đổi mớitoàn diện giáo dục sự điều chỉnh cách dạy và học không đơn thuần là bổ sungthêm kiến thức mà chủ yếu phải trang bị cho HS những kiến thức cơ bản, kĩnăng và năng lực đặc thù để biết vận dụng những điều học được vào thực tếcuộc sống Thêm nữa kiến thức giữa các cấp không phải là những mảng kiếnthức cô lập mà nó phải là những sự liên kết có logic Từ đó, Đảng đã chỉ rõnhiệm vụ phải vận dụng quan điểm tích hợp đổi mới giáo dục Như vậy, tíchhợp là một trong những quan điểm giáo dục phải được áp dụng vào quá trìnhdạy học ở tất cả các cấp học, bậc học của giáo dục phổ thông
1.1.1 Thế nào là tích hợp và dạy học tích hợp
Tích hợp là thuật ngữ bắt nguồn từ phương Tây Nó được thể hiện bằng
từ gốc Latin (integer) -“integration” với các nét nghĩa được dịch là “whole” (toàn bộ, toàn thể) Theo đó, hiểu một cách đơn giản thì thuật ngữ này có
nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhaunhằm bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động cho hệ thống ấy
Gắn với nét nghĩa gốc này, các tác giả trong cuốn Từ điển Tiếng Việt đưa ra quan niệm về nó như sau: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương
trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [15, tr.92] Theo mục đích
nghiên cứu phục vụ hoạt động giáo dục, Từ điển Giáo dục học lại xác định:
“Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập
Trang 17của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [16; Tr.233] Như vậy, cùng một vấn đề song có thể nhận thấy, do
mục đích nghiên cứu khác nhau nên mỗi người lại quan niệm khác nhau về
nó Và hiểu một cách đơn giản thì: Tích hợp là khả năng kết hợp lại có hệthống ở những mức độ khác nhau có thể ở trong hoặc ngoài bộ môn thànhmột nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ đồng nhất về cơ sở líluận và cơ sở thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phầncủa bộ môn đó Nhấn mạnh đặc điểm, mục đích và tác dụng của việc triểnkhai tích hợp vào chương trình, SGK Ngữ văn, GS Nguyễn Khắc Phi khẳng
định: “Tích hợp là một phương pháp hướng tới phối hợp một cách tối ưu các
quá trình học tập riêng rẽ, các môn học khác nhau theo những hình thức mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu
cụ thể khác nhau” [17; tr.47] Vừa đảm bảo tính ưu việt, vừa thể hiện được
những nội dung sẽ triển khai trong khóa luận, chúng tôi lựa chọn và sử dụngquan niệm về tích hợp của GS Nguyễn Khắc Phi làm căn cứ để triển khai nộidung nghiên cứu Quan niệm này giúp chúng tôi có sự định hướng rõ ràng vềviệc lựa chọn và thiết kế cho quan niệm dạy học hiện đại để từ đó liên kếtnhiều chuỗi kiến thức trong một khoảng thời gian ngắn mà vẫn đảm bảo mụcđích và yêu cầu giáo dục khi dạy học một nội dung cụ thể
1.1.2 Các hình thức tích hợp được thiết kế trong chương trình Ngữ văn hiện hành
Khi triển khai nội dung chương trình môn Ngữ văn, các nhà giáo dục đềukhẳng định đây là một môn học rất có lợi thế về vận dụng quan điểm tích hợp.Theo đó, việc triển khai quan điểm này vào sách giáo khoa Ngữ văn được thểhiện qua những hình thức cơ bản sau:
Trước tiên là hình thức tích hợp ngang Đây là hình thức liên kết trithức, kĩ năng giữa ba phân môn Đọc văn – Tiếng việt – Làm văn Nói mộtcách khác, tích hợp ngang là lấy tri thức tiếng Việt và Làm văn để đọc hiểu
một tác phẩm văn học và ngược lại Chẳng hạn: Khi dạy bài “Phong cách
ngôn ngữ chính luận” (Ngữ văn 11), để giúp HS tìm hiểu thế nào là ngôn ngữ
Trang 18chính luận và đặc trưng của phong cách ngôn ngữ chính luận Để lấy ngữ liệuphân tích đặc trưng của phong cách ngôn ngữ chính luận đó là trình bày, đánhgiá những sự kiện những vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng theomột quan điểm chính trị nhất định GV có thể trích một đoạn của tác phẩm
“Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh để tìm hiểu Mục đích của việc lấy
các ngữ liệu từ tác phẩm văn học phù hợp là tạo sự chính xác, phù hợp với nộidung kiến thức của Tiếng Việt để từ đó triển khai các nội dung dạy học Nhưvậy, gắn với đặc điểm của tích hợp ngang, có thể nhận thấy Đây là cơ sở vàcũng là tiền đề để thể hiện tích hợp một cách rõ ràng nhất, cùng với đó là giảiquyết các nhiệm vụ học tập trong môn Ngữ văn Việc triển khai hình thức tíchhợp này giúp HS có điều kiện rèn luyện tư duy logic, phát triển trí tuệ cho bảnthân, trên cơ sở đó, người học có sự thông hiểu tổng hợp về các đơn vị kiếnthức có quan hệ với nhau Không chỉ vậy, hình thức này còn cung cấp cho chủthể học tập có thể hình thành và tích lũy được vốn kinh nghiệm sống ở mứcđầy đủ nhất; cung cấp cho các em những công cụ và kỹ năng cần thiết choviệc học tập các môn học khác nhau Với bản chất của hình thức này, có thểkhái lược nó thành sơ đồ như sau:
Trang 19n th
vật+Hóathạch
hậu
(Trích theo: Tài liệu tập huấn về dạy học tích hợp đối với KHTN – Bộ
Giáo dục và Đào tạo)
Tiếp theo là tích hợp mở rộng, là tích hợp với những môn học khác hoặcnhững kiến thức bên ngoài đời sống, bên ngoài môn học như lịch sử, địa lí,văn hóa… trong giờ dạy học nhằm nâng cao hiệu quả của giờ dạy và sự tiếp
nhận tri thức của HS Ví dụ muốn tiếp nhận được tác phẩm “Tây Tiến” của
nhà thơ Quang Dũng, GV và HS cần huy động kiến thức ở nhiều lĩnh vực để
Trang 20tìm hiểu thấu đáo của bài thơ này Ở đó người đọc cần tiếp nhận được cácmảng lĩnh vực như hội họa, âm nhạc và tính tạo hình Cách Quang Dũng tạonên tính nhạc bởi những âm hưởng đặc biệt, những thanh trắc tạo cảm giáctrúc trắc, khó đọc kết hợp với những thanh bằng làm nhịp thư trầm xuống tạocảm giác thư thái nhẹ nhàng hay như những hình ảnh mang đậm chất hội họa
đó là những nét vẽ gân guốc giàu tính tạo hình
1.1.3 Ý nghĩa của việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học
Ngữ văn
1.1.3.1 Phát huy tính tích cực của người học
Dạy học tích hợp là một quan điểm sư phạm, ở đó người học cần huyđộng (mọi) nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp nhằm phát triểncác năng lực và phẩm chất cá nhân Theo đó, có thể khẳng định nó là mộtbiện pháp dạy học mới tích cực nhằm tác động tích cực tới người dạy và cảngười học Theo đó, GV không phải giảng lại những kiến thức đã được học,
mà thay vào đó, HS sẽ phải tự vận dụng những kiến thức đã được học để giảiquyết các nhiệm vụ học tập Điều đó dẫn đến một kết quả mới của quá trìnhdạy học tích cực hiện nay – đó là HS được hình thành hàng loạt các kĩ năngnhư: kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng suy nghĩ tư duy phê phán, kĩ năng giaotiếp hiệu quả, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin…Vì vậy, khi tiếp cận mộttình huống mới tương tự trong cuộc sống, các em có cơ hội đạt thành côngcao trong cách xử lí tình huống, giải quyết vấn đề Như vậy với cách học nàythì nó hoàn toàn phù hợp với xu thế hiện nay đó là lấy người học làm trungtâm, GV chỉ là người định hướng còn HS sẽ không ngừng tư duy sáng tạo đểgiải quyết các nhiệm vụ để qua đó hình thành những năng lực Qua các tiếthọc theo hình thức này, người học cảm thấy hứng thú học tập, bởi khi đó, chủthể học tập vừa được thể hiện trình độ nhận thức của bản thân, vừa được tăngcường vận dụng các kiến thức để giải quyết các tình huống, tự tìm tòi khámphá để tìm những tri thức khoa học mới Bản chất của quan điểm dạy học này
là một phương pháp dạy học lồng ghép, cụ thể môn Ngữ văn là chỉnh thểđược cấu thành bởi kiến thức của ba phân môn Cách triển khai như vậy
Trang 21hướng tới việc hạn chế sự trùng lặp các nội dung kiến thức khi dạy học,hướng tới nhiệm vụ rèn luyện các năng lực tư duy cho HS.
1.1.3.2 Nội dung bài học và kĩ năng được triển khai theo hệ thống
Các đơn vị kiến thức của môn Ngữ văn có liên kết với nhau, nói khác đi làchúng đều có mối quan hệ qua lại với nhau có thể hỗ trợ nhau trong quá trìnhgiảng dạy Đây là điều kiện lí tưởng cho việc thực hiện vận dụng quan điểmtích hợp vào trong dạy và học môn Ngữ văn nói chung Làm văn nói riêng.Điều đó được thể hiện rõ trong quá trình dạy học Cụ thể, khi hướng dẫn HSđọc hiểu một tác phẩm văn học, rõ ràng GV phải vận dụng tất cả những kiếnthức Tiếng Việt như biện pháp tu từ từ đó nắm bắt được nghệ thuật, nội dung
và cái đích cuối cùng là giải mã được tác phẩm Ngược lại ta lại vận dụngnhững kĩ năng để tạo lập ra văn bản, trong quá trình dạy tạo lập văn bản thìkiến thức của phần Văn sẽ là nguồn tài liệu phong phú da dạng và rất thực tếcho bài học Chính vì đó hệ thống nội dung kiến thức bài học và các kĩ năngđược sắp xếp bài bản, hợp lí và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tạo ra một hệthống gần như hoàn hảo Với bản chất của việc thiết kế các nội dung dạy học
có liên quan tới nhau, khi tiến hành dạy học theo quan điểm này, GV thựchiện theo trình tự sau:
Bước 1 Bước 2 Bước 3 Bước 4 Bước 5 Bước 6 Bước 7
T h i
X â y
Đ á n ti
ê
c
h
t ố
h o
c ô
T
đ i đ
ầ
đ
ề
c ủ
đ ộ
c ụ
c
h t
ì
tr ìn
D H
đ á
DH
q u h
u
g i
t rD H
Sơ đồ quy trình dạy học chủ đề tích hợp
Trang 221.1.3.3.Giờ học sinh động, linh hoạt bởi việc sử dụng các phương pháp, phương tiện hiện đại
Để có thể phát huy tính tích cực, chủ động của người học, trong quátrình dạy, GV phải sử dụng linh hoạt các PPDH hiện đại Theo đó giờ thực sựgiống như một môi trường để chủ thể học tập độc lập thể hiện bản thân
Đây là một yêu cầu thiết yếu đối với quá trình dạy học hiện nay Riêngvới môn Ngữ văn, dựa vào đặc trưng của từng phân môn mà người dạy lựachọn các phương pháp, phương tiện dạy học cho phù hợp Chẳng hạn: vớiphân môn đọc – hiểu, người dạy có thể cho HS trải nghiệm hình thức phânvai, sân khấu hóa hay áp dụng các chiến thuật đọc hiểu như đọc và ghi chúbên lề, cộng tác ghi chú…; với phân môn Tiếng Việt người dạy có thể tổ chứcgiờ học theo các phương pháp như: dạy học theo dự án, dạy học tương tác ;đặc biệt với phân môn Làm văn, với đặc thù là sẽ tích hợp nhiều với nhữngkiến thức về làm văn đã học mà ta có thể áp dụng các phương pháp như dạyhọc theo trạm, dạy học dự án, dạy học hợp đồng và bên cạnh đó là việc sửdụng các kỹ thuật dạy học hỗ trợ
1.2 Cơ sở lý luận về văn bản quảng cáo
1.2.1 Khái niệm văn bản quảng cáo
Ra đời từ nhu cầu phát triển kinh tế, quảng cáo từng bước đã khẳng định
sự tồn tại và tầm quan trọng của mình trong xã hội hiện đại Mới đầu, quảngcáo chỉ được thực hiện nhằm mục đích tạo ra những văn bản có mục đích giớithiệu các sản phẩm, các đồ dùng, vật dụng phục vụ cho cuộc sống thườngngày của con người Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh và mạnh nhưhiện nay, quảng cáo cũng đã có sự mở rộng phạm vi sử dụng của nó Cũngbởi khả năng thực hiện nhiệm vụ của bản thân trong phạm vi rộng nên khinghiên cứu về kiểu văn bản này, ở mỗi lĩnh vực khác nhau thì người ta lại đưa
ra một khái niệm khác để phù hợp với mỗi lĩnh vực
Theo Từ điển tiếng Việt thì: “Quảng cáo là một loại thông tin phải trả
tiền, có tính đơn phương, không dành cho ai, có vận dụng mọi biện pháp và
Trang 23phương tiện thông tin đại chúng nhằm hỗ trợ cho một sản phẩm, một nhãn hiệu, một xí nghiệp, một mục đích hoặc một tổ chức nào đó… được nêu danh trong quảng cáo” Cũng nghiên cứu về quảng cáo, Hiệp hội Quảng cáo Hoa
Kỳ (AAA) cho rằng: “Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin, trong đó nói
rõ ý đồ của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ của chủ quảng cáo, trên cơ sở có thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người khác”.
Theo đó, trong Luật Quảng cáo khẳng định: “Quảng cáo là việc sử dụng
các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân.”
Cho đến nay, quan niệm về hoạt động quảng cáo và văn bản quảng cáocòn nhiều điều chưa đồng nhất, song nhắc tới khái niệm này, các nhà quảngcáo, các tổ chức doanh nghiệp nói tới một kiểu văn bản trong đời sống hàngngày với một số biểu hiện như sau:
Xuất phát từ mục đích tạo lập, có thể nhận thấy, quảng cáo là thông tinhướng tới khách hàng và thường nhằm mục tiêu lợi nhuận
Gắn với đối thể tiếp nhận, có thể khẳng định kiểu văn bản này quảng cáokhông dành riêng cho một cá nhân cụ thể nào mà nó hướng tới số đông, tớitoàn xã hội toàn cầu
Hơn nữa, muốn truyền đạt nội dung được quảng bá, kiểu văn bản này đòihỏi phải có sự hỗ trợ của các phương tiện trung gian Đặc điểm này được coi
là một thế mạnh rất lớn của quảng cáo Cũng vì thế, khác với những kiểu vănbản được học khác, ngay từ chính những điều mà các em được nghe, đượcnhìn thấy trong cuộc sống hàng ngày, HS dễ dàng nhận thấy kiểu văn bản nàyđược truyền đạt với nhiều cách thức qua nhiều các phương tiện , nhờ đó cóthể tạo được mọi sự tác động tới nhiều đối tượng nhằm mang lại hiệu quảkinh tế to lớn
Trang 241.2.2 Đặc điểm của văn bản quảng cáo
Từ việc nghiên cứu mục đích tạo lập văn bản quảng cáo có thể nhậnthấy đó là một cách thức giao tiếp trong môi trường đặc biệt, nhằm phục vụnhu cầu của một nhóm người trong xã hội - các doanh nghiệp Cũng vì thế,căn cứ vào mục tiêu marketing của doanh nghiệp mà quảng cáo có những đặcđiểm như sau:
Đặc trưng giá trị hóa sản phẩm: Đặc trưng cơ bản nhất của các văn bản
quảng cáo chính là đối tượng được giới thiệu– các mặt hàng, các sản phẩmđược quảng bá để kinh doanh Và để thu hút được người tiếp nhận, rõ ràng,việc quảng cáo phải hướng tới các nhiệm vụ: tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn, khẳngđịnh sự uy tín, vị thế và hình ảnh của doanh nghiệp Vì thế, đây chính là đặcđiểm cơ bản và quan trọng của hoạt động quảng cáo Ví dụ: Để quảng cáo sảnphẩm sữa tươi TH True Milk thì nhà sản xuất, nhà kinh doanh cần phải quảngcáo và muốn sản phẩm đến tay người tiêu dùng thì việc quảng cáo cần phảihấp dẫn và lôi cuốn bằng cách lập những kênh quảng cáo riêng hoặc cho chạyquảng cáo trên những kênh truyền hình với nội dung ngắn gọn súc tích nhưngphải đảm bảo tính lôi cuốn hấp dẫn thông qua hình ảnh và video
Cung cấp thông tin về sản phẩm: Mục đích của hoạt động quảng cáo
giới thiệu để quảng bá những sản phẩm mới nhằm thu hút người tiếp nhận, từ
đó tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp Có thể nói,quảng cáo là con đường nhanh nhất, tiện nhất và hiệu quả nhất đi đến với mộtlực lượng tiếp nhận đông đảo nhất Vì thế, nó chính là công cụ hiệu quả nhất
mà các doanh nghiệp luôn suy nghĩ và thực hiện trong chiến lược giới thiệucác thông tin sản phẩm Đối với việc giới bất kì một sản phẩm nào, việc cungcấp các thông tin về nó là điều vô cùng cần thiết Bởi đó chính là cách nhàquảng cáo nêu được giá trị, tính năng, công dụng của đối tượng được quảng
bá, vừa khẳng định và giới thiệu một cách gián tiếp về doanh nghiệp Vì thếtrong quá trình tuyên truyền, một trong những nội dung không thể thiếu đượcchính là việc chia sẻ những hình ảnh, truyền đạt thông tin sản phẩm sẽ nằmtrong hoạt động của quảng cáo Mục đích cuối cùng của hoạt động này chính
Trang 25là tạo dựng niềm tin, thu hút khách hàng nhằm tăng thêm lợi nhuận Chẳnghạn, khi cung cấp thông tin về sản phẩm sữa TH True Milk thì nhà sản xuất
và nhà kinh doanh cung cấp những thông tin: nguồn gốc con giống, quá trìnhsản xuấ sữa và quá trình bảo quản
Cách thức sử dụng sản phẩm: Một trong những điều không thể thiếu là
khi giới thiệu sản phẩm, người giới thiệu buộc phải chia sẻ cho mọi ngườinắm được cách thức, công dụng của đối tượng được quảng cáo Đối vớinhững sản phẩm có cách sử dụng tương đối khó hoặc cần phải lưu ý một sốđộng tác kỹ thuật khi sử dụng… thì hoạt động này còn phải đảm bảo nhiệm
vụ là bản hướng dẫn chi tiết để khách hàng hiểu và lựa chọn sản phẩm Đóchính là một “chiêu” để các doanh nghiệp thực hiện nhằm nâng cao uy tín,tăng tính chính xác, đảm bảo, và vị thế của nhà sản xuất kinh doanh với kháchhàng tiêu dùng Ví dụ: Cũng với sản phẩm sữa TH True Milk thì khi quảngcáo nhà sản xuất, nhà kinh doanh cần đưa ra được thông tin cách thức sửdụng và công dụng của sản phẩm của mình Sữa tươi TH True Milk sạch chứagần như đầy đủ các nhóm vi chất thiết yếu cho cơ thể như: protein,carbohydrate, chất béo, vitamin và khoáng chất - đặc biệt là hàm lượng canxi,kẽm, magiê Bên cạnh nguồn dưỡng chất tự nhiên dồi dào sẵn có, sữa tươitiệt trùng TH True Milk công thức topkid còn được bổ sung bộ vi chất dinhdưỡng trong công thức topkid Theo đó, các dưỡng chất đều được tính toánkhoa học về hàm lượng và thành phần đảm bảo phù hợp với nhu cầu đặc biệtcủa trẻ Sản phẩm có tác dụng hỗ trợ phát triển trí não của trẻ nhờ bổ sungDHA, axit folic Đây đều là những vi chất quan trọng, tạo nền tảng cho sựphát triển trí não và thị giác, giúp trẻ phát triển toàn diện về trí lực
Sữa tươi tiệt trùng TH True Milk kết hợp nguồn lượng canxi có sẵn trong sữatươi organic và hàm lượng canxi, vitamin D bổ sung thêm Dưỡng chất nàygiúp trẻ tăng khả năng hấp thu canxi, phát triển chiều cao và củng cố hệxương chắc khỏe
Mở rộng mạng lưới phân phối: Quảng cáo là hoạt động gần cuối trong
chuỗi tạo và kinh doanh sản phẩm Mục đích của việc thực hiện hoạt động
Trang 26này chính là đáp ứng nhu cầu của nhà sản xuất, của doanh nghiệp - mục đíchlàm gia tăng lợi nhuận thông qua tuyên truyền, giới thiệu Nói một cách khác,quảng cáo chính là hoạt động có tính mở, thực hiện phía bên ngoài doanhnghiệp nhưng có vị trí quan trọng, giúp cho các doanh nghiệp thực hiện nhiệm
vụ kinh doanh xúc tiến kinh doanh nhằm triển khai và đẩy mạnh mạng lướibán hàng, tăng sản phẩm của mình ngoài xã hội Thông qua việc thực hiệnhoạt động này, các siêu thị đại lí, các nhà cung cấp sẽ biết đến sản phẩm và từ
đó, đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.Chẳng hạn, nhờ có quảng cáo, công ti bia Heiniken đã thực hiện chiến lược
mở rộng mạng lưới sản phẩm của mình đến tay người tiêu dùng trên toànquốc Theo đó, vào những dịp lễ tết, nhất là tết Nguyên đán, công ti này đã cónhững văn bản quảng cáo mới, lạ, hấp dẫn, tác động thẳng vào nhu cầu tiêuthụ dòng sản phẩm này của người dân Việt Nam
1.2.3 Một số yêu cầu của văn bản quảng cáo
Là kiểu văn bản được con người tạo lập nhằm thực hiện những mụcđích của bản thân trong cuộc sống hàng ngày, quảng cáo cũng được triển khaitheo đúng đặc trưng của văn bản - tính thống nhất về nội dung và trọn vẹn vềhình thức Tuy nhiên, do đặc thù tuyên truyền, giới thiệu và quảng bá sảnphẩm, nhằm đạt được nhu cầu về lợi nhuận, các văn bản quảng cáo còn phảiđảm bảo một số yêu cầu dưới đây:
Là một văn bản được thực hiện nhằm mục đích tuyên truyền, giới thiệuvăn bản quảng cáo cần đặc biệt chú trọng tới nội dung thông tin Thông tintrong văn bản quảng cáo bao giờ cũng là làm rõ đối tượng được giới thiệu, thểhiện tính trung thực, sự tôn trọng pháp luật và đảm bảo tính thẩm mĩ, phù hợpvới thuần phong mĩ tục của toàn xã hội Gắn với nhiệm vụ truyền thông rộngrãi, đưa đối tượng được quảng bá ra toàn xã hội, thậm chí là toàn thế giới nênmỗi văn bản quảng cáo phải thể hiện rõ đối tượng cần giới thiệu, cần thựchiện theo đúng tôn chỉ pháp luật quy định về cách quảng bá, và đặc biệt, nóphải đảm bảo đúng quy định về thuần phong mĩ tục văn hóa từng quốc gia.Cũng vì thế, khi xây dựng hệ thống pháp lí về quảng cáo, tuyên truyền, một
Trang 27trong những điều luật được chú trọng chính là tính pháp lí của nội dung vàhình thức quảng bá.
Tính đa dạng, sinh động và hấp dẫn: văn bản quảng cáo được trình bày,
thể hiện trong nhiều không gian, nhiều môi trường khác nhau nên một trongnhững điều cần đảm bảo chính là sự đa dạng trong hình thức thể hiện Nếuđược thực hiện trên các phương tiện công nghệ truyền hình, các văn bảnquảng cáo còn được thực hiện theo hướng sân khấu hóa, theo công nghệ hiệnđại nhằm tăng tính hấp dẫn, mới lạ và độc đáo cho từng sản phẩm Trong khi
đó, việc quảng cáo được thể hiện trên đài phát thanh thì việc sử dụng văn bảnviết kèm theo sự kết hợp của các giọng điệu thể hiện khác nhau để người nghe
có thể nắm được thông tin và cảm nhận cả sự hấp dẫn, thích thú khi được tiếpnhận sản phẩm Nếu việc quảng cáo được trình bày trên báo chí, cùng với vănbản viết là hệ thống hình ảnh minh họa nhằm tăng tính hấp dẫn cho đối tượngđược giới thiệu Tuy nhiên, do được thể hiện nhiều trên các phương tiện thôngtin đại chúng nên ngôn ngữ súc tích , dễ hiểu được bộc lộ về sắc thái, mangtính khẩu ngữ và phải sinh động hấp dẫn, lôi cuốn và luôn có sự mới mẻ Câuvăn của bài viết quảng cáo trước tiên phải ngắn gọn và có thể sử dụng đa dạngcác kiểu câu như: câu cầu khiến, câu trần thuật, câu cảm thán và câu hỏi; lờiđối đáp
Trang 281.3 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học bài Viết quảng cáo theo quan điểm
tích hợp ở trường THPT
Là một nội dung kiến thức mới trong chương trình Làm văn THPT, chođến hiện tại, việc triển khai nội dung này ở trường phổ thông còn nhiều điềuđáng suy nghĩ Gắn với mục đích nghiên cứu, chúng tôi tìm hiểu trọng tâm vàđánh giá thực trạng dạy bài học này ở một số phương diện:
1.3.1 Thực trạng dạy học bài Viết quảng cáo ở trường THPT
Để đánh giá được thực tế dạy học bài Viết quảng cáo cho HS lớp 10,
chúng tôi tiến hành điều tra khảo sát việc dạy học bài này tại trường THPTQuỳnh Côi- Thái Bình ở các lớp từ 10A3 đến 10A12
Thông qua việc dự giờ, xem vở học và vở bài tập của HS, chúng tôi
nhận thấy thực tế dạy học bài Viết quảng cáo phần nhiều vẫn được tiến hành
theo phương pháp truyền thống là GV dạy chủ yếu bằng cách thuyết trình, vàcòn tự quyết định quy trình dạy học cho HS Nội dung dạy học vẫn bám sátvới sách giáo khoa mà chưa có sự mở rộng hay thay đổi cách thức dạy học,
GV còn ít sử dụng các phương pháp, kĩ thuật hiện đại trong giờ học
Khi dạy học bài Viết quảng cáo, phần nhiều GV tại trường THPT
Quỳnh Côi dạy trong vòng 1 tiết (45 phút) Trong tiết học, GV cung cấpnhững kiến thức cơ bản theo đúng những nội dung trong sách giáo khoa cho
HS Một số GV đã chú trọng và cũng lấy những ngữ liệu bên ngoài về vănbản quảng cáo để hình thành kiến thức cho chủ thể học tập Tuy nhiên, dothời gian còn hạn chế nên qua một giờ học 45 phút, chúng tôi thấy việc truyềntải kiến thức và thực hành chưa thực sự đảm bảo cho mục tiêu của việc dạyhọc nội dung này Và theo đó, HS chủ yếu mới chỉ nhận biết và bước đầu hiểuđược khái niệm, tác dụng của kiểu văn bản này Kéo theo đó, việc HS độc lậptạo ra những văn bản quảng cáo chưa thực sự hiệu quả Như vậy chất lượnggiờ học không cao, chưa đáp ứng được mục tiêu bài học
Trang 291.3.2 Điều tra, khảo sát thực trạng học bài Viết quảng cáo ở trường THPT
Qua khảo sát thực trạng học bài Viết quảng cáo ở trường THPT Quỳnh
Côi – Thái Bình (Khối 10, từ lớp 10A2 đến 10A12), chúng tôi thấy phần lớn
HS ngồi lắng nghe GV giảng bài, truyền đạt kiến thức cơ bản và chăm chú ghichép Điều đó chứng tỏ trong giờ học thì HS chủ yếu bị thụ động về kiếnthức Trong quá trình học tập, chủ thể vẫn chưa năng động, sôi nổi và chưathật sự tích cực và hợp tác với GV để xây dựng và tìm hiểu nội dung của bài.Trong giờ chỉ có một số em HS tiêu biểu tham gia vào hoạt động học nhưphát biểu xây dựng bài, còn lại thì trật tự nhưng mất tập trung không chú ý vàphần lớn đều mong hết tiết Hơn nữa, cũng do sự eo hẹp về thời gian học tậpnên phần lớn HS hoạt động thụ động, không có thời gian nhiều để suy nghĩ,tìm hiểu, thu thập và xử lí tài liệu liên quan đến bài viết Do vậy kết quả họctập và thực hiện viết quảng cáo của đại đa số HS là chưa cao
1.3.3 Đánh giá chung
Từ việc quan sát, điều tra thực trạng dạy học ở trường phổ thông, có thể
nhận thấy hầu hết việc dạy học bài Viết quảng cáo ở nhiều trường THPT,
trong đó có trường THPT Quỳnh Côi chưa thực sự đạt hiệu quả Các hoạtđộng dạy học vẫn theo hình thức cũ mà chưa hề đổi mới phù hợp với xu thếđổi mới nội dung , phương pháp giảng dạy theo hướng hình thành năng lựcngười học Một số tiết giảng chỉ có thuần túy lí thuyết chưa áp dụng vào thực
tế cuộc sống, nếu có thì chưa chưa gắn liền với hoạt động học tập Chính vìvậy dẫn đến tính thực tiễn chưa cao, HS cảm thấy mệt mỏi, khó học khó nhớgây cảm giác nhàm chán và khó liên hệ vận dụng với kiến thức cuộc sống Vìthế HS chưa chủ động trong học tập và sự hợp tác với GV còn hạn chế Để
khắc phục nhữnng nhược điểm nêu trên, trong giảng dạy bài Viết quảng cáo
chúng tôi đề xuất cách thức vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học bài nàynhằm tạo hứng thú cho chủ thể học tập khi học bài và giúp các em có hứng
thú tham gia vào bài học Viết quảng cáo.