Phần Làm văn ở cấp THPT có khá nhiều nội dung tích hợp liên quan đến tóm tắt văn bản thuyết minh như: Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh; Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
2 KHOA NGỮ VĂN
**************
TRẦN KIỀU LINH
DẠY HỌC BÀI “TÓM TẮT VĂN BẢN THUYẾT MINH” (NGỮ VĂN 10) THEO
Trang 2HÀ NỘI, 2018
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
2 KHOA NGỮ VĂN
**************
TRẦN KIỀU LINH
DẠY HỌC BÀI “TÓM TẮT VĂN BẢN THUYẾT MINH” (NGỮ VĂN 10) THEO
Trang 4HÀ NỘI, 2018
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất với TS.PhạmKiều Anh, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình emnghiên cứu thực hiện đề tài Em cũng xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới các thầy
cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn – Khoa Ngữ Văn - Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội
2 đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em mong quý thầy cô vàcác bạn đóng góp ý kiến, tiếp tục xây dựng đề tài để đề tài em được hoàn thiệnhơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 04 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Trần Kiều Linh
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: Dạy học bài“Tóm tắt văn bản
thuyết minh”(Ngữ văn 10) theo quan đi ểm tích hợp được hoàn thành dưới sự
hướng dẫn của TS.Phạm Kiều Anh Tôi xin cam đoan khóa luận này là sảnphẩm nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng công bố Nếu sai tôi xin hoàntoàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 28 tháng 04 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Trần Kiều Linh
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài
1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Cấu trúc của khóa luận 5 NỘI DUNG
7 Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC
TIỄN 7 1.1 Cơ sở lí luận về dạy học quan điểm tích hợp 7 1.1.1 Quan niệm về tích hợp 7
1.1.2 Các hình thức của dạy học tích hợp 9 1.1.3 Ý nghĩa dạy học tích hợp
10 1.1.3.1 Phát huy tính tích cực của người học
10 1.1.3.2 Nội dung bài học và kĩ năng thực hiện theo hệ
thống 11 1.1.3.3 Tiết kiệm thời gian, hình thành đa dạng các kĩ năng
12
Trang 91.2.Văn bản thuyết minh và tóm tắt văn bản thuyết minh
14 1.2.1.Giới thiệu chung về “văn bản thuyết minh”
14 1.2.1.1.Khái niệm “văn bản thuyết minh”
14 1.2.1.2.Đặc điểm cơ bản của văn bản thuyết minh
14 1.2.2.Cách thức tóm tắt một văn bản thuyết minh
15 1.2.3 Những yêu cầu chung để tóm tắt văn bản thuyết minh
16
1.3 Cơ sở thực tiễn dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” theo quan
điểm tích hợp ở THPT
16 1.3.1 Thực trạng dạy bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”
16
Trang 101.3.1.1 Thuận lợi 16
1.3.1.2 Khó khăn 17
1.3.2 Thực trạng học 18
1.3.3 Nhận xét chung 18
Chương 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP DẠY HỌC BÀI “TÓM TẮT VĂN BẢN THUYẾT MINH” (SGK NGỮ VĂN 10) 19
2.1 Mục tiêu dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” 19
2.1.1 Về kiến thức 19
2.1.2 Về kĩ năng 19
2.1.3 Về thái độ 19
2.1.4 Về năng lực cần hình thành cho HS 19
2.2 Nội dung dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” trong SGK Ngữ
văn 10 20
2.2.1.Mục đích, yêu cầu của tóm tắt văn bản thuyết minh 20
2.2.2 Cách tóm tắt một văn bản thuyết minh 20
2.2.3 Luyện tập 21
2.3 Cách thức dạy học “Tóm tắt văn bản thuyết minh” theo quan điểm
tích hợp
21 2.3.1 Tích hợp qua hoạt động tạo tâm thế 21
2.3.2 Tích hợp khi hướng dẫn HS xác định mục đích, yêu cầu khi tóm tắt một
Trang 11văn bản thuyết minh 22
2.3.2.1 Tích hợp để kiểm tra kiến thức văn bản thuyết minh 22
2.3.2.2 Tích hợp khi kiểm tra kĩ năng tóm tắt văn bản đã học 22
2.3.3 Tích hợp khi hướng dẫn HS cách tóm tắt văn bản thuyết minh 24
2.3.3.1 Tích hợp đối với đọc hiểu văn bản thuyết minh 24
2.3.3.2 Tích hợp trong hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài 26
2.3.4 Tích hợp trong nội dung tiểu kết từng phần hay tổng kết sau giờ học 26
2.4 Xác định một số phương pháp sử dụng khi dạy học bài “Tóm tắt văn
bản thuyết minh” theo quan điểm tích hợp
28
Trang 122.4.1 Phương pháp vấn đáp 28
2.4.2 Phương pháp thảo luận nhóm 29
2.4.3 Phương pháp dự án 30
2.4.4 Phương pháp giao tiếp
31
2.5 Định hướng dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” theo quan
điểm tích
hợp 32 Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 35
3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 35
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 35
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 35
3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 35
3.3 Kế hoạch thực nghiệm 35
3.4 Nội dung thực nghiệm 36
3.5 Cách thức tiến hành thực nghiệm 45
3.6 Kết quả thực nghiệm 45
KẾT LUẬN 47
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM
KHẢO PHỤ LỤC
Trang 131 Lí do chọn đề
tài
MỞ ĐẦU
1.1 Tích hợp là một quan điểm dạy học hiện đại trong giáo dục hiện nay
Nó ra đời trước một thực tế về sự mâu thuẫn giữa kiến thức khoa học và thờigian học tập Tháng 9 –1968, Hội đồng liên quốc gia vềgiảng dạy khoa học,
với sự bảo trợ của UNESCO đã tổ chức tại Varna (Bungari) “Hội nghị tích hợp
việc giảng dạy các khoa học” Hội nghị này đặtra hai vấn đề: “Vì sao phải dạy học tích hợp các khoa học?” và “dạy học tíchhợp các khoa học là gì?” Đến
năm 1972, Hội nghị phối hợp với chươngtrình giáo dục của UNESCO họp tại
Paris đã đưa ra định nghĩa dạy học tíchhợp các khoa học.Cũng từ đó, tích hợp
trở thành xu thế giáo dục toàn cầu Nó vẫn tiếp tục phát huy tính ưu việt trongdạy học Dạy và học trong nhà trường đang đứng trước thách thức đổi mới từmục tiêu, nội dung và đặc biệt là phương pháp dạy học (PPDH) ở mọi cấphọc.Một nghiên cứu mới đây của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam về chươngtrình giáo dục phổ thông 20 nước cho thấy 100% các nước đều xây dựng chươngtrình theo hướng tích hợp.Tiêu biểu như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Úc,Pháp, Anh, Hoa Kì, Canada, Philippines…
Cũng theo hướng tích hợp các khoa học với công nghệ, gắn học vớihành, Xavier Roegiers (Phó Giám đốc văn phòng Công nghệ Giáo dục và
Đào tạo của Liên minh Châu Âu) cho rằng: “giáo dục nhà trường phải chuyển
từ đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem năng lực (compétence) là khái niệm “cơ sở” của khoa sư phạm tích hợp (pédagogie de l'intégration)” Theo đó, ở Việt Nam việc chỉ đạo xây dựng
chương trình cũng nhấn mạnh:“Thay cho việc dạy học đang được thực hiện
theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa như hiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của nhà trường.” (Công văn số:
5555/BGDĐT-GDTrH, Hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới PPDH và
Trang 14kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trườngtrung học/trung tâm GDTX qua mạng).Có thể nói, quan điểm tích hợp tronggiáo
Trang 15dục đã và đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước chú trọng, ngày càng pháttriển một cách toàn diện.
1.2 Dạy học tích hợp trên thế giới đã có từ rất lâu, nhưng ở Việt Nam mớixuất hiện từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây Đặc biệt, đến năm 2000,quan điểm tích hợp trở thành quan điểm chỉ đạoviệc biên soạn chương trình,SGK và các hoạt động dạy học ở bậc phổ thông Việc chuyển đổi SGK ởtrường phổ thông theo hướng tíchhợp là một yêu cầu tất yếu nhằm đáp ứngyêu cầu của xã hội, bắt nhịp với xu thế giáo dục toàn cầu.Không là ngoài lệ,Ngữ văn là môn học bắt buộc trong chương trình giáo dục từ THCS đếnTHPT Việc xây dựng và biên soạn nội dung chương trình cũng được thựchiện theo quan điểm đó
1.3 Làm văn nói chung và bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” nói riêng
tiềm
ẩn nhiều yếu tố có thể tích hợp Phần Làm văn ở cấp THPT có khá nhiều nội
dung tích hợp liên quan đến tóm tắt văn bản thuyết minh như: Tính chuẩn xác,
hấp dẫn của văn bản thuyết minh; Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh; Viết một số bài văn thuyết minh;… Điều đó thể hiện rõ quan điểm tích hợp trong
chương trình SGK mà Bộ đưa ra Những yếu tố đó không chỉ quan trọng giúpngười học có thể tạo lập văn bản mà còn tiếp nhận văn bản một cách chínhxác, đa dạng; không chỉ tích hợp trong Làm văn mà còn có thể tích hợp cảsang Đọc – hiểu và Tiếng Việt
Xuất phát từ tất cả vấn đề lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn đề
tài: Dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” (Ngữ văn 10)theo quan
điểm tích hợp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn
đề
Nhà nghiên cứu Xavier Roegiers trong cuốn “Khoa sư phạm tích hợp hay
làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường”(Đào Trọng Quang và
Nguyễn Ngọc Nhị dịch (1996)) đã đưa ra cái nhìn tổng quan về dạy học tíchhợp Trong cuốn sách này tác giả đã đưa ra định nghĩa và mục tiêu của khoa sưphạm tích hợp; ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với chương trình; ảnh
Trang 16hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với việc đánh giá những kiến thức HS đãlĩnh hội và ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với việc biên soạn sáchgiáo khoa.
Trang 17Ở Việt Nam, cho đến nay cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn
đề tích hợpvà tích hợp trong môn Ngữ văn.Tác giả Trương Dĩnh trong cuốn
“Thiết kế dạy học Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp”đã nêu lên những
phương diện tích hợp trong dạy học Ngữ văn THCS; năng lực tích hợp, kiểuvăn bản tích hợp, PP (phương pháp) tích hợp; mối quan hệ giữa tích hợp và tíchcực; tích hợp và hiệu quả dạy học tích hợp; tích hợp gắn liền với đời sống xãhội và cách triển khai các bài dạy cụ thể trong chương trình THCS theo địnhhướng tích hợp,
Cũng bàn về vấn đề tích hợp,GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong bài “Tích
hợp trong dạy học Ngữ văn” đăng trên tạp chí “Nghiên cứu giáo dục” (số 6, tháng 3 năm 2006) đã chỉ ra bản chất của tích hợp là “Phương hướng phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất các quá trình học tập của nhiều môn học cũng như các phân môn Văn, TiếngViệt, Làm văn trong một môn Ngữ văn” Trên cơ
sở đó, tác giả chỉ ra ý nghĩa của tích hợp “Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp
HS học tập thông minh, biết vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hoà (Harnonie), hợp lý (Algebra) trong tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại” [5, tr.15].
PGS.TS Đỗ Ngọc Thống đã đưa ra một hệ thống quan điểm về tích hợp và
việc dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp, giúp người đọc hiểu rõ “Việc lấy
tên chung của cuốn sách là Ngữ văn không chỉ đơn thuần là dồn ba phân môn lại thành một cuốn sách theo kiểu gộp lại (Combination) mà chúng được xây dựng theo tinh thần tích hợp (Integration)” Trong bài viết “Dạy học môn Ngữ văn theo nguyên tắc tích hợp”, tác giả chỉ ra biểu hiện của tích hợp là “Trong cuốn sách cả ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn cùng dựa trên một văn bản chung để khai thác, hình thành, rèn luyện các kiến thức và kỹ năng của mỗi phân môn” Từ đó, tác giả chỉ ra ưu điểm của nguyên tắc dạy họctích hợp
“Tích hợp thể hiện trong việc xây dựng cấu trúc SGK, trong quátrình tổ chức giờ dạy học, thay đổi cách soạn giáo án, cách kiểm tra đánh giáchất lượng học tập của HS” [tr.23].
Trang 18TS Nguyễn Văn Đường trong bài“Tích hợp trong dạy học Ngữ văn
bậc
THCS”(Tạp chí Giáo dục, 2002) cũng cung cấp đến một số cơ sở lý luận và
thực
Trang 19tiễn, bản chất của tích hợp và đề ra những phương hướng thực hiện tích hợptrong dạy học Ngữ văn, song mới chỉ dừng lại ở phạm vi ứng dụng cho THCS.Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau song vẫn chưa có công trình
nào bàn về việc dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”(Ngữ văn 10) theo
quan điểm tích hợp Đó là lí do chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên
cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu đề tài trên nhằm một số mục đích như sau:
- Xác lập những yêu cầu cần thiết khi tổ chức dạy học một bài Làm văntheo quan điểm tích hợp và những nội dung kiến thức có thể tích hợp khi dạyLàm văn
- Xác định được những nội dung có thể tích hợp khi tìm hiểu yêu cầu, mục đích
và cách thức tóm tắt văn bản thuyết
minh
- Thiết kế bài dạy “Tóm tắt văn bản thuyết minh” (Ngữ văn 10)theo quan
điểm tích hợp Từ đó tìm ra những kiến thức tóm tắt văn bản thuyết minh đểhoạt động dạy học đạt hiệu quả
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài, chúng tôi hướng tới các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tổng hợp các tài liệu nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lí luận khi giải quyếtđề
tài
- Xác định những yêu cầu cơ bản, những nội dung kiến thức và cách thức tích
hợp trong dạy học Làm văn qua bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”.
- Đề xuất cách tổ chức dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”theo
quan
điểm tích hợp
- Thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi của những đề xuất
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 204.1 Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm tích hợp trong giáo dục và trong dạy học Ngữ văn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 21Trong phạm vi khuôn khổ của một khóa luận, chúng tôi chỉ đi vào xem
xét và vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học bài “Tóm tắt văn bản
thuyết minh” trong SGK Ngữ văn 10, tập 2.
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp hệ thống hóa tài liệu
PP được sử dụng nhằm hệ thống hóa các kiến thức lý luận về tích hợp, về văn
bản thuyết minh và tóm tắt văn thuyết minh
5.2 Phương pháp khảo sát thực nghiệm
Chúng tôi khảo sát thực tế dạy làm văn bằng cách phát phiếu khảo sát thăm
dò ý kiến của GV và HS, thống kê những số liệu và thông tin cần thiết về tình
hình dạy làm văn nói chung và dạy bài“Tóm tắt văn bản thuyết minh” nói
riêng
5.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu
PP này sẽ được vận dụng để so sánh các ngữ liệu trong quá trình đối chiếugiữa việc dạy làm văn theo phương pháp truyền thống với dạy học theo quanđiểm tích hợp để thấy ưu, nhược của các PP Trong thực nghiệm, chúng tôicũng so sánh kết quả thu được ở lớp thực nghiệm với lớp đối chứng để đánh giátính khả thi của giáo án thiết kế theo hướng tích hợp
6 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đóng góp phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp dạy học Làm
văn nói chung và dạy bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” nói riêng để quá
trình dạy học Làm văn đạt hiệu quả nhất định
7 Cấu trúc của khóa luận
Khóa luận có kết cấu gồm ba phần:
Mở đầu: Phần này trình bày những vấn đề khái quát về đề tài nghiên cứu, lí
do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên cứu,…
Nội dung: đây là trọng tâm của khóa luận Phần này được triển khai thành ba
chương
là:
Chương 1: Những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của dạy học tích hợp
Trang 22Chương 2: Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học bài “Tóm tắt văn
bản thuyết minh” trong SGK Ngữ văn lớp 10, tập 2
Chương 3: Thực nghiệm
Kết luận
Trong phần kết luận chúng tôi tình bày những đóng góp c ủa khóa luận về mặt lí luận, thực tiễn và nêu những hướng triển khai tiếp của đề tài
Trang 23NỘI DUNG
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC
TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận về dạy học quan điểm tích hợp
Đổi mới PPDH đã và đang là vấn đề bức thiết của giáo dục hiện nay Tại Đại
hội XII, Đảng chủ trương “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Đảng đưa ra nhiệm vụ: “Chương trình mới chuyển sang cách tiếp cận năng lực, chú trọng
đến mục tiêu phát triển các phẩm chất của học sinh; không chỉ đòi hỏi học sinh nắm vững những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn chú trọng yêu cầu vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực hành, giải quyết các tình huống trong học tập
và cuộc sống” Chủ trương này đã thể hiện sự chỉ đạo của Đảng phải sử
dụngquan điểm tích hợp vào hoạt động dạy học Theo GS Đinh Quang Báo:
“Khi xây dựng chương trình giáo dục phổ thông, xu hướng chung của các nước trên thế giới hiện nay là tăng cường tích hợp, đặc biệt ở cấp tiểu học và THCS”.Trong cuốn Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Bộ giáo dục
và Đào tạo đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ
chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy”;“Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học,
từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trongchương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo” [1, tr.7].Với quan điểm chỉ đạo như trên, tích hợp là một
trong những quan điểm giáo dục được áp dụng vào hoạt động dạy học ở tất cả cáccấp học, bậc học của giáo dục phổ thông
1.1.1 Quan niệm về tích hợp
Tích hợp là một trong những quan điểm đã và đang được vận dụng khixây dựng chương trình, SGK, SGV và dạy học hiện nay tại giáo dục nước ta.Nhắc đến quan điểm tích hợp thì không ít nhà nghiên c ứu đã đưa ra các cáchhiểu khác nhau
Trang 24Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể” Có nghĩa là sự
phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệthống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống
ấy.Còn theoTừ điển Tiếng Việt thì“Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động,
chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [5, tr.92].
Từ điển Giáo dục học lại xác định: “Tích hợp là hành động liên kết các đối
tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [3, tr.233].
Như vậy, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ
thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn họckhác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựatrên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các mônhọc hoặc các hợp phần của bộ môn đó Theo đó, năm 2002, Bộ GD&ĐT khẳng
định: “sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong
thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc.” (1, tr 27) Nhấn mạnh hơn
tác dụng của quan điểm này, GS Nguyễn Khắc Phi (Tổng Chủ biên) nêu ra
quan niệm về tích hợp như sau: “Tích hợp là một phương pháp hướng tới phối
hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học khác nhau theo những hình thức mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau” [10, tr.47].
Các khái niệm, quan điểm trên đều nêu rõ mục đích tích hợp dạy học
tích hợp là hình thành và phát triển năng lực của người học Đồng thời cũng
xác định rõ, các thành phần tham gia tích hợp là loại tri thức hoặc các thành tốcủa quá trình dạy học
Quan điểm dạy học tích hợp kiến thức đã được nhiều nhà giáo dục ởnước ta nghiên cứu và nhận thấy ý nghĩa thiết thực của nó trong xã hội học
Trang 25tập hiện nay Trước xu hướng toàn cầu hóa, sự điều chỉnh cách dạy và họckhông đơn thuần là bổ
Trang 26sung thêm kiến thức mà chủ yếu phải trang bị cho HS những kiến thức cơbản, kĩ năng và năng lực tư duy sáng tạo để biết vận dụng những điều họcđược vào hoàn cảnh thiết thực của cuộc sống Bên cạnh đó, kiến thức các cấpkhông phải là mảng kiến thức rời rạc mà nó có sự liên kết và ngày càng mởrộng Chính vì vậy, khóa luận này, chúng tôi chọn và sử dụng quan niệm vềtích hợp của GS Nguyễn Khắc Phi là cơ sở triển khai nội dung nghiêncứu.Quan niệm này giúp chúng tôi có sự định hướng về việc lựa chọn vàthiết kế cho quan niệm dạy học hiện đại để từ đó liên kết nhiều chuỗi kiếnthức trong một khoảng thời gian ngắn mà vẫn đảm bảo mục đích và yêu c ầugiáo dục khi dạy học một nội dung cụ thể.
1.1.2 Các hình thức của dạy học tích
hợp
Môn Ngữ văn có nhiều điều kiện thuận lợi để vận dụng quan điểm tích hợp Muốn vận dụng quan điểm đó, người GV có thể vận dụng linh hoạt một số hình thứctích hợpsau:
Thứ nhất là tích hợp ngang: đây là tích hợp trong từng thời điểm của bài
học, từ kiến thức bài học của phân môn này liên hệ đến các phân môn kháchoặc liên hệ môn Ngữ văn với các môn học khác, với các lĩnh vực trong cuộcsống để làm nổi bật, đào sâu kiến thức, phát triển tư duy của HS.Đối với mônNgữ văn, tích hợp ngang là tích hợp giữa Đọc văn, tiếng Việt và Làm văntrong một bài học để giải quyết nhiệm vụ học tập Đơn thuần chúng ta có thểhiểu, lấy tri thức tiếng Việt và Làm văn để đọc hiểu một tác phẩm văn học; vàngược lại khi tìm hiểu tri thức tiếng Việt và Làm văn, GV có thể lấy ngữ liệu làmột tác phẩm văn học để triển khai nội dung bài học.Chẳng hạn: Khi dạy bài
“Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”(Ngữ văn
10, tập 2), để tìm hiểu thế nào là ngôn ngữ nghệ thuật và đặc trưng của phong
cách ngôn ngữ nghệ thuật, người dạy có thể lấy các ngữ liệu từ tác phẩm tự sự;thơ; sân khấu…phù hợp với nội dung kiến thức triển khai Để lấy ngữ liệu
phân tích đặc trưng thứ nhất của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là tính hình
Trang 27tượng, GV có thể trích bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương để tìm
hiểu
Thứ hai là tích hợp dọc: Là tích hợp một đơn vị kiến thức, kĩ năng mới
với những kiến thức, kĩ năng trước đó theo nguyên tắc đồng tâm Cụ thể là:Kiến thức của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức, kĩ năng của lớpdưới, cấp học
Trang 28dưới.Chẳng hạn: Để tiến hành tiết học “Thực hành về sử dụng một số kiểu
câu trong văn bản” (Ngữ văn 11, tập 1), GV phải tích hợp với kiến thức các
kiểu câu HS đã từng được học ở bậc Tiểu học và THCS như câu đơn, câughép, câu c ảm thán, câu trần thuật,…giúp hình thành văn bản Trên cơ sở đó,lên lớp 11, các em
được mở rộng học và vận dụng một số kiểu câu mới trong bài này để tạo lậpvăn bản đó là: câu bị động, câu có khởi ngữ, câu có trạng ngữ chỉ tìnhhuống.Điểm khác biệt của tích hợp dọc so với tích hợp ngang là ở chỗ tích hợpdọc thường mang tính chất “hướng nội” nội dung kiến thức về nhiều lĩnh vựckhác nhằm bổ sung và nâng cao, mở rộng
Tiếp theo đó là tích hợp mở rộng:Hiểu một cách khái quát, tích hợp mở rộng
là
tích hợp liên kết giữa môn Ngữ văn với các môn học khác (Lịch sử, Âm nhạc,Địa lí, Mĩ thuật, ) trong dạy học nhằm nâng cao hiệu qua giờ dạy và sự tiếp
nhận tri thức của HS.Muốn tiếp nhận đoạn trích tùy bút “Người lái đò sông
Đà”của Nguyễn Tuân (Ngữ văn 12, tập 1), GV và HS cần huy động kiến thức
ở nhiều lĩnh vực để tìm hiểu thấu đáo đoạn trích này Ở đó, bạn đọc cần tậptrung các mảng lĩnh vực như: Cách Nguyễn Tuân xây dựng miêu tả cảnh đá bờsông và trên sông, hình ảnh về sự hiểm nguy trong cảnh hút nước, cảnh thácnước dữ dội hay hình dáng của con sông Đà, đều là bước ông trải nghiệmtrên phương diện Hội họa; Thấu hiểu sự ngạo ngược của các trùng vi thạchtrận trên sông mà người lái đò phải vượt qua, đó là ông đang tiếp cận trênphương diện Quân sự; Ở góc độ Địa lí, Nguyễn Tuân đã xác định được vị trínằm và dòng chảy của con sông; Đặc biệt trên lĩnh vực nghệ thuật, tác giả đãphát huy cao độ tài nghệ của người nghệ sĩ trong việc miêu tả nét trữ tình, thơmộng và vẻ đẹp của người lái đò; Nghiên cứu đoạn trích trên từ nhiều góc độ
khác nhau giúp độc giả có cái nhìn sâu sắc, toàn diện và phong phú về “bức
tranh cảnh vật và con người”.
1.1.3.Ý nghĩa dạy học tích
hợp
Trang 291.1.3.1 Phát huy tính tích cực của người
học
Phát huy tính tích cực của HS tức hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực
Trang 30của người học HS phải là người thực hiện các nhiệm vụ học tập dựa trên sựđịnh hướng tổ chức của GV thông qua các PPDH hiện đại Để làm được điều đó,
GV cần bắt đầu từ những kiến thức, kĩ năng mà HS đã học, đã biết, giao thànhcác nhiệm vụ học tập rồi dẫn dắt chủ thể học tập khám phá, tìm tòi để mở ranhững kiến thức, kĩ năng mới Quá trình đó thể hiện bản chất của tích hợp
Chẳng hạn, khi hướng dẫn HS tìm hiểu bài “Luyện tập viết đoạn văn thuyết
minh”(Ngữ văn 10, tập 2), ở mục I (Đoạn văn thuyết minh): GV chỉ cầnhướng
dẫn HS củng cố lại những kiến thức đã học về đoạn văn thuyết minh, đặc điểmcủa đoạn văn thuyết minh, đồng thời, GV còn có thể mở rộng ra việc ứngdụng của văn bản thuyết minh trong cuộc sống của con người hiện nay.Nhưvậy, dạy học tích hợp sẽ tạo động lực để HS tích cực học tập, các em có thểphát huy trí thông minh, khả năngvận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng một cáchtoàn diện, hài hoà và hợp lí để giải quyết các tình huống mới mẻ, đa dạng trongcuộc sống hiện đại
1.1.3.2 Nội dung bài học và kĩ năng thực hiện theo hệ
thống
Vốn dĩ các đơn vị kiến thức môn Ngữ văn luôn có mối quan hệ khăngkhít, có thể hỗ trợ nhau trong quá trình dạy học Điều này tương đối thuận lợikhiến GV và HS có điều kiện giảng dạy và học tập theo hướng tích hợp Cụthể, để đọc hiểu một văn bản, chúng ta có thể sử dụng ngôn ngữ thuộc lĩnh vựctiếng Việt để giải mã tác phẩm và vận dụng kĩ năng viết làm văn để tạo lậpvăn bản Đồng thời, những kiến thức phần Văn sẽ là nguồn tư liệu phong phútrong quá trình dạy học tiếng Việt cũng như Làm văn Chính vì đó hệ thống nộidung kiến thức bài học và các kĩ năng
được sắp xếp bài bản, hợp lí và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Sự xuất hiệncác bài văn học sử và lí luận văn học là một sự “tính toán” mới của quan điểmtích hợp Những nội dung kiến thức về văn học sử và lí luận văn học chính làkiến thức bổ trợ cho việc đọc – hiểu văn bản và Làm văn.Như vậy, sự sắp xếpbài học trong SGK Ngữ văn hiện hành không chỉ đơn thuần là sắp xếp nội
Trang 31dung học tập mà ẩn sau đó làmột bài toán được xác lập khi triển khai biênsoạn chương trình theo quan điểm chỉ đạo.
Trang 321.1.3.3.Tiết kiệm thời gian, hình thành đa dạng các kĩ
năng
Dạy học dựa trên quan điểm tích hợp tất yếu khiến chúng ta tiết kiệmđược thời gian Bởi những kiến thức bị trùng lặp giữa ba phân môn nhỏ của mônNgữ văn đã được lồng ghép vào nhau Điều này vừa thể hiện rõ tính khoa học,vừa phát huy
được năng lực của HS GV không phải giảng nhiều, giảng lại những kiến thức
đã dạy mà thay vào đó, HS phải là người ghi nhớ những kiến thức đã học đểvận dụng linh hoạt vào những bài học khác Điều đó dẫn đến một kết quả mớicủa quá trình dạy học tích cực hiện nay – đó là HS được hình thành hàng loạtcác kĩ năng như: kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng ứngdụng và sử dụng công nghệ thông tin,…Vì vậy, khi tiếp cận một tình huống mớitương tự trong cuộc sống, các em có cơ hội đạt thành công cao trong cách xử lítình huống, giải quyết vấn đề Nó hoàn toàn phù hợp với xu hướng giáo dụcthời đại hiện nay – lấy người học làm trung tâm, GV chỉ là người định hướngcho các bước đi của bài học; ở đó GV là người giao việc, tổ chức còn ngườihọc luôn phải làm việc, suy nghĩ tích cực và sáng tạo
Trang 3350% Bằng cách quan sát
Xem phim, xem triển
lãm, quan sát thực tế
70% Bằng cách tiếp
Tham gia thảo luận
nhận tham gia90% Bằng cách
Làm một bài trình chiếu; Mô phỏng tình huống thực tế; Thực hiện sản phẩm có tính thực tiễn
thực hiện
Quan sát vào biểu đồ ta thấy rằng khi đọc, nghe, xem, quan sát (dongười khác thực hiện)được thực hiện riêng biệt thì HS tiếp thu được tươngđối ít, đó là hình thức học tập thụ động Ngược lại khi HS vừa tiếp cận dưới
hình thức “học đi đôi với hành”, sử dụng tích hợp tất cả các hoạt động trên một
cách linh hoạtthì khả năng tiếp thu chiếm tỉ lệ cao, hiệu quả Như vậy, tích hợpnhằm làm rõ cách người học vận dụng những kiến thức lĩnh hội được vàocuộc sống Nó cải thiện được những hạn chế của các PPDH truyền thống.Qua đó giúp các em trở thành những con người chủ động, sáng tạo và làm việctrách nhiệm Nói cách khác, quá trình dạy
Trang 34học tích hợp thực chất là quá trình HS chuyển hóa kiến thức một cách tự giác, sáng tạo thông qua sự tổ chức, hướng dẫn của GV.
1.2.Văn bản thuyết minh và tóm tắt văn bản thuyết minh
1.2.1.Giới thiệu chung về “văn bản thuyết minh”
1.2.1.1.Khái niệm “văn bản thuyết minh”
Thuyết minh là kiểu văn bản được triển khai trong chương trình Ngữ văn
từ THCS đến THPT SGK Ngữ văn 8định nghĩa kiểu văn bản này như sau:
“Văn thuyết minh là kiểu văn bản thường gặp trong mọi lĩnh vực của đời sống; có chức năng cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,… của các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng cách trình bày, giới thiệu, giải thích.” [11, tr.117].
1.2.1.2.Đặc điểm cơ bản của văn bản thuyết minh
Văn bản thuyết minh bao gồm các đặc điểm cơ bản sau đây:
Xét về mục đích biểu đạt, văn bản thuyết minh tập trung mục đích trìnhbày, giải thích nhằm cung cấp những thông tin, tri thức về các sự vật, hiệntượng trong thế giới khách quan
Về hình thức cấu trúc, một văn bản thuyết minh bao gồm ba phần: Phần
mở bài (Giới thiệu đối tượng cần thuyết minh); Phần thân bài (giới thiệu, trìnhbày cung cấp những thông tin liên quan đến đối tượng); Phần kết bài (Khẳngđịnh giá trị về đối tượng đó)
Xét về phương thức biểu đạt, văn bản thuyết minh sử dụng phương thứcbiểu đạt chính là thuyết minh Và để tăng tính hấp dẫn, thuyết phục ngườiđọc, khi tạo lập văn bản thuyết minh, người tạo lập có thể sử dụng một số yếu
tố lập luận khác như biểu cảm, miêu tả, tự sự và cả nghị luận.Văn bản dưới đây
là một trong những văn bản tiêu biểu cho thể loại văn thuyết minh:
KHỞI NGHĨA NÔNG VĂN
VÂN (1833 – 1835)
Trang 35Nông Văn Vân là tù trưởng dân tộc Tày, giữ chức tri châu Bảo Lạc (Cao Bằng) Không chịu nổi sự chèn ép của triều đình nhà Nguyễn, Nông Văn Vân cùng một số tù trưởng tập hợp dân chúng nổi dậy […]
Cuộc khởi nghĩa lan khắp miền núi Việt Bắc và một số làng người Mường,
người Việt ở trung du Nhà Nguyễn đã hai lần cử những đạo quân lớn kéo lên đàn áp, nhưng không hiệu quả Lần thứ ba (năm 1835), quân triều đình tấn công dữ dội từ nhiều phía và bao vây đót rừng Nông Văn Vân chết trong rừng Cuộc khởi nghĩa
bị dập tắt.
(Theo Lịch sử 7, tr.30, NXB Giáo dục)
Văn bản trên đã trình bày, giới thiệu, thuyết trình nhằm cung cấp tri thức
về mặt lịch sử - cụ thể đó là cuộc khởi nghĩa củaNông Văn Vân trong lịch sửdân tộc Đặc điểm đó khiến cho văn bản đảm bảo là một văn bản thuyết minh
1.2.2.Cách thức tóm tắt một văn bản thuyết minh
Tóm tắt văn bản thuyết minh là một kĩ năng quan trọng trong quá trìnhtiếp nhận văn bản Nó giúp con người có thể trình bày một cách ngắn gọn, kháiquát các nội dung cơ bản của văn bản Để tiến hành tóm tắt văn bản thuyếtminh, chúng ta cần thực hiện qua các bước sau:
Bước đầu tiên để tóm tắt văn bản thuyết minh ta cần xác định mục đích,yêu cầu tóm tắt Đối với văn bản thuyết minh, việc tóm tắt nhằm mục đíchhiểu và ghi nhớ những nội dung cơ bản của văn bản thuyết minh Đồng thờigiới thiệu với người khác về đối tượng thuyết minh hoặc về chính văn bảnthuyết minh đó Ngắn gọn; rành mạch, rõ ràng; sát với nội dung văn bản gốcchính là ba yêu cầu cơ bản nhất để tóm tắt hoàn chỉnh một văn bản thuyết minh
Đọc văn bản gốc để nắm vững đối tượng thuyết minh chính là bướckhông thể thiếu Độc giả cần suy ngẫm, quan sát văn bản trên nghiên cứu vềvấn đề gì? Vấn đề đó được triển khai ra sao?
Bước ba là xác định chủ đề, bố cục của văn bản gốcvà tóm lược các ý chính
Trang 36Viết văn bản tóm tắt chính là bước tiếp theo Sau hàng loạt giai đoạnchuẩn bị, người viết đã có thể dễ dàng viết thành văn bản tóm tắt dựa vàoviệc xác định đối tượng thuyết minh và những ý đã vạch trước.
Bước cuối cùng không thể thiếu đó là đọc lại và chỉnh sửađể hoàn thiện bài tóm tắt Có thể có rất nhiều bước khác nhau để tóm tắt một văn bản thuyết minh
nhưng tựu trung lại chúng ta cần trải qua năm bước cơ bản trên Có như vậy, ta mới hoàn thiện và đảm bảo yêu cầu của một bài tóm tắt văn bản thuyết minh
1.2.3.Những yêu cầu chung để tóm tắt văn bản thuyết minh
Yêu cầu đầu tiên của tóm tắt văn bản thuyết minh chính là nắm vững nộidung văn bản để từ đó tóm tắt được sát với nội dung văn bản gốc.Bên cạnh
đó, nắm và biết được những đặc trưng cơ bản của văn bản cũng là một trongnhững yêu cầu không thể thiếu để tóm tắt văn bản thuyết minh.Đặc biệt, đểtóm tắt văn bản thuyết minh thì chúng ta cần đáp ứng yêu cầu thứ ba đó là sắpxếp nội dung văn bản theo một trật tự tương ứng với văn bản gốc, nó phải đượctrình bày một cách rành mạch, ngắn gọn và rõ ràng
1.3 Cơ sở thực tiễn dạy học bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” theo quan
điểm
tích hợp ở THPT
1.3.1 Thực trạng dạy bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”
Để đánh giá thực trạng dạy của GV, chúng tôi đã tiến hành khảo sátthông qua việc dự giờ và phát phiếu thăm dò ý kiến đối với 10 GV và 80 HSTHPT (Bảng
1 – Phụ lục 1) Qua đó, chúng tôi đưa ra một số những thuận lợi và khó khăn dưới
Trang 37tích hợp của chương trình mà vẫn đầy đủ các tiết học, không bị dập khuôn bởiSGK Đồng thời cách sắp xếp chương trình có tính kế thừa liên tục cũng làđiều kiện thuận lợi để
Trang 38người GV có thể phát huy khả năng tích hợp, móc nối các bài dạy với nhau Đối
với bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” cũng vậy, ở đó người GV có thể thay
đổi bố trí các tiết dạy sao cho phù hợp Đặc biệt tiết dạy này lại có tính kế thừabởi các kiến thức ở tiết dạy trước Bài trước là kiến thức nền tảng, cơ bản; bàisau là sự mở rộng, nâng cao của kiến thức bài trước như: Bước sang chươngtrình học kỳ II, HS đã đến với một bài viết văn thuyết minh (bài viết số 4 –
làm ở nhà); sau đó các em được học “Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản
thuyết minh”, “Phương pháp thuyết minh”, “Viết bài làm văn số 5: Văn thuyết minh”, “Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh”, “Tóm tắt văn bản thuyết minh” Kết thúc phần văn thuyết minh, HS được thực hành viết bằng “bài làm văn số 6: Thuyết minh văn học” Cách sắp xếp bài học, lựa chọn kiến thức
như trênđã giúp GV, HS phát huy đúng tinh thần dạy học tích hợp
Thuận lợi trên kéo theo một thuận lợi mới trong dạy “Tóm tắt văn
tiết dạy “Tóm tắt văn bản thuyết minh”, bên cạnh một tiết theo phân phối
chương trình, bài này còn có thêm một tiết tự chọn bổ sung củng cố kiến thức
và thực hành Đồng thời, đây là một trong số những bài thuộc phần lí thuyết.Tuy nhiên nội dung lí thuyết chỉ chiếm phần nhỏ mà mục đích bài dạy trên làhướng tới việc HS biết cách tóm tắt văn bản thuyết minh Nói cách khác, HSphải biết vận dụng lí thuyết vào thực hành tóm tắt
1.3.1.2.Khó
khăn
Vận dụng quan điểm tích hợp là xu hướng mới trong chương trình Ngữvăn hiện nay Thế nhưng không phải lúc nào phương pháp này cũng trở thành
Trang 39trợ thủ đắc lực tạo hiệu quả cho giờ học Vốn dĩ Làm văn là phần mà GVcũng như HS thường dạy và học qua loa Vì vậy GV chưa chú trọng nhiềuvào việc thiết kế bài giảng tích hợp khiến bài dạy thiếu chiều sâu, không tạođược hứng thú bài học Mặt khác, môn Ngữ văn nói chung và Làm văn nóiriêng không còn được HS quan tâm,
Trang 40yêu thích như trước đây Yếu tố tâm lí của phụ huynh và HS đã coi trọng cácmôn tự nhiên hơn là các môn xã hội Do đó, Ngữ văn đang mất dần chỗ đứngtrong giáo dục, GV không còn nhiều tâm huyết với nghề.Ngoài ra, trong quátrình dạy học GV vận dụng chưa thực sự triệt để quan điểm tích hợp khiếncho tích hợp chỉ mang tính “hình thức”, gò ép.
Ngoài ra, chúng tôi còn đánh giá kết quả học tập của HS qua một bàikiểm tra cụ thể (Bảng 3 – Phụ lục 1)
1.3.3.Nhận xét
chung
Có thể nói, dạy học tích hợp trong bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”
vừa có những ưu điểm và những hạn chế nhất định Chúng ta cần phát huynhững điều thuận lợi và khắc phục một số những khó khăn như: cần hiểu đúnghơn về quy trình thực hiện dạy học theo quan điểm tích hợp; GV cần đầu tư
hơn cho bài giảng Làm văn nói chung và bài “Tóm tắt văn bản thuyết
minh”nói riêng;…
Đổi mới PPDH là một trong những bước hoạt động tích cực trong đổimới giáo dục hiện nay Mục đích của đổi mới là làm tăng cường hiệu quả giáodục, nâng cao hiệu quả học tập của HS Tuy nhiên, việc đổi mới PPDH phảixuất phát từ thực tế giáo dục, từ nhu cầu và đặc điểm nhận thức của người học
Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh” một