NGUYỄN THỊ PHƯƠNG QUỲNH DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN “HAI ĐỨA TRẺ” CỦA THẠCH LAM NGỮ VĂN 11 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Trang 1NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
QUỲNH
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN
“HAI ĐỨA TRẺ” CỦA THẠCH LAM
(NGỮ VĂN 11) THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ
văn
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Khóa luận tốt
Nguyễn Thị Phương Quỳnh –
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn – trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ phương pháp
dạy học Ngữ văn và ThS Vũ Ngọc Doanh là người hướng dẫn trực tiếp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến cácthầy cô!
Hà Nội, tháng 04 năm
2017
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Phương
Quỳnh
Trang 3Nguyễn Thị Phương Quỳnh –
Khóa luận tốt
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trình bày trong khóa luận là kết
quả quá trình nghiên cứu của bản thân tôi Những nội dung này không
trùng khớp với kết quả nghiên cứu của người khác
Hà nội, tháng 04 năm 2017
Tác giả khóaluận
Nguyễn Thị Phương
Quỳnh
Trang 4Nguyễn Thị Phương Quỳnh –
Khóa luận tốt
DANH SÁCH MỤC VIẾT TẮT
Giáo viên: GV Học sinh: HS Phương pháp dạy học: PPDH Trung học phổ thông: THPT
Phó giáo sư – tiến sĩ:
PGS.TS Thạc sĩ:
ThS Nhà xuất bản: NXB Giáo sư – tiến sĩ:
GS.TS Sách giáo khoa:
SGK Biện pháp tư từ:
BPTT Hà Nội:
HN Giáo dục:
GD
Trang 5Nguyễn Thị Phương Quỳnh –
1 Lí do chọn đề tài
1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiêncứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng, phạm vi nghiêncứu 6
6 Phương pháp nghiêncứu 6
7 Bố cục khóa luận 6
NỘI DUNG
8Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
81.1 Một số vấn đề lí luận về dạy học tíchhợp 8
1.2.1 Mục tiêu của dạy học tích hợp 9 1.2.2 Các đặc trưng cơ bản của dạy học tích hợp
10
Trang 6Nguyễn Thị Phương Quỳnh –
Khóa luận tốt
1.2.3 Vận dụng quan điểm dạy học tích hợp
10
1.2.4 Một số biện pháp vận dụng dạy học tích hợp
111.3 Xác định cơ sở cho hoạt động đọc hiểu truyện ngắn Thach
Trang 7Nguyễn Thị Phương Quỳnh –
Khóa luận tốt
1.4.3 “Mỗi truyện ngắn là một bài thơ trữ tình đầy xót thương” 26
1.4.4 Truyện không có cốt truyện 28
Chương 2 XÂY DỰNG QUY TRÌNH DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM Ở TRƯỜNG THPTTHEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 31
2.1 Dạy đọc hiểu văn bản văn học nói chung 31
2.2 Dạy học đọc hiểu tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam theo quan điểm tích hợp 32
2.2.1 Tích hợp với kiến thức liên môn 32
2.2.2 Tích hợp trong nội bộ môn học 35
2.2.3 Tích hợp với đời sống thực tiễn 36
Chương 3 GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 38
KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8Nguyễn Thị Phương Quỳnh –
Gorxki đã từng khẳng định “văn học là nhân học”bởi văn học giống
như cái nôi nuôi dưỡng tình cảm con người, qua văn học con người nhìnthấy một phần bản thân mình trong đó, nhận thức được cái xấu, cái đẹp,
cái bi, cái hài để từ đó đi tới hoàn thiện chính mình “Văn học có ý nghĩa rất lớn, nó là gia sư của xã hội” (Vissarion Belinsky).
Văn học có tầm quan trọng đối với cuộc sống con người như vậy thìviệc giảng dạy văn học trong nhà trường càng được quan tâm sâu sắc.Thật vậy, từ xưa đến nay, việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường luônđược quan tâm đặt lên hàng đầu với các phương pháp giảng dạy phùhợp nhất cho môn học và đáp ứng sự phát triển của xã hội
Dạy học theo hướng tích hợp là một trong những nội dung trọng tâm
Bộ GD-ĐT yêu cầu trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trunghọc cơ sở năm học 2012-2013 Đây là quan điểm dạy học đang đượcquan tâm, nghiên cứu và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới trong đó cóViệt Nam Với mục tiêu lấy hoạt động học tập của học sinh làm trungtâm,giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn để học sinh chủ độngchiếm lĩnh tri thức Người giáo viên cần vận dụng kĩ năng, phươngpháp giảng dạy cùng kinh nghiệm của mình để dẫn dắt học sinh thamgia tích cực vào hoạt động học có hiệu quả, đạt mục tiêu kiến thức mônhọc
Trang 9Hơn nữa, hiện nay sách giáo khoa Ngữ văn bậc THPT đã có nhiều thayđổi, theo định hướng phát triển môn học Các phân môn Văn học – TiếngViệt
– Làm văn được hợp nhất thành môn học Ngữ văn trong một quyển sáchNgữ văn duy nhất mà trước đó là ba quyển riêng Đây là bước đánh dấu
sự chuyển đổi tích hợp kiến thức thành một thể thống nhất
Mặt khác, chương trình SGK mới, cách dạy hoc theo hướng tích cựcđòi hỏi giáo viên và học sinh ở mức độ cao hơn hẳn so với chương trìnhcũ.Thực trạng cho thấy, một số không ít giáo viên chưa hiểu đúng về dạyhọc tích hợp dẫn đến việc dạy học tích hợp ở phổ thông hiện nay còn lúngtúng cả về nhận thức và thực hành Giáo viên mặc dù đã có ý thức đổimới phương pháp dạy văn nhưng vệc thực hiện mới chỉ mang tính hìnhthức, chưa đem lại hiệu quả mong muốn Bên cạnh đó, một số giáo viênkhi dạy đọc văn lại chưa biết khai thác hết kiến thức liên môn và kiếnthức thực tế đời sống vào bài dạy làm cho hiệu quả dạy học chưa cao,chưa đáp ứng đúng mục tiêu mà quan điểm dạy học tích hợp đề ra
Chương trình Ngữ văn 11 – tập 1 – ban cơ bản là chương trình vớinhiều nội dung khó đối với cả giáo viên và học sinh trong quá trìnhchiếm lĩnh tri thức Đặc biệt là bộ phận văn xuôi giai đoạn 1930 – 1945với hai xu hướng lãng mạn và hiện thực có dung lượng dài đáng kể
Để làm rõ hơn quan điểm dạy học theo hướng tích hợp và giúp nhậnthức đầy đủ, chính xác về dạy học tích hợp, đi sâu phân tích được cáctác phẩm văn xuôi giai đoạn 1930 – 1945 thấy được những đặc sắc cũngnhư phát huy tối đa năng lực tự chiếm lĩnh kiến thức của học sinh, tôi
chọn đề tài : “Đọc hiểu truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam (Ngữ văn 11) theo quan
điểm tích hợp” với hi vọng đóng góp những điểm mới trong việc ứng
dụng
Trang 10quan điểm dạy học mới mẻnày.
Trang 112.Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử phát triển của khoa học nhân loại,các lĩnh vực khoahọc ngày càng phân hóa thì tính tích hợp lại càng chặt chẽ Bước sangthế kỉ XX, đã xuất hiện nhiều khoa học liên ngành, đa ngành Các khoahọc đã chuyển từ “phân tích – cấu trúc” sang tiếp cận “tổng hợp – hệthống” Sự thống nhất của tư duy phân tích và tổng hợp là cần thiết cho
sự phát triển nhận thức, đem lại cách nhận thức biện chứng trong mốiquan hệ giữa bộ phận với toàn thể Việc giảng dạy các khoa học trongnhà trường vì thế cũng phải phản ánh sự phát triển hiện đại của khoahọc, vượt ra khỏi tình trạng giảng dạy khoa học mang tính riêng rẽ Bởithế, tích hợp đã trở thành một trong những xu thế dạy học hiện đại đangđược quan tâm, nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trênthế giới trong đó có Việt Nam
Trên thế giới, dạy học tích hợp đã phát trển thành một trào lưu sưphạm theo mục tiêu, giải quyết các vấn đề, phân hóa, tương tác… Tràolưu sư phạm tích hợp xuất phát từ quan niệm quá trình học tập, trong đótoàn thể các quá trình góp phần hình thành năng lực ở HS Nó baogồm toàn bộ những nội dung, những hoạt động cần thực hiện và nhữngtình huống diễn ra các hoạt động Hay nói cách khác, chính là hình thành
ở HS kỹ năng thực hành và giải quyết vấn đề đòi hỏi có sự tích hợp
Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu và Hội đồng nghiên cứu trên thếgiới quan tâm tới lý thuyết về tích hợp như: Tháng 9 – 1968, Hội đồngliên quốc gia về giảng dạy khoa học, với sự bảo trợ của UNESCO tổchức tại Varna (Bumgari), hội nghị “tích hợp việc giảng dạy các khoa
học”, Hội nghị đưa ra hai vấn đề: “Vì sao phải dạy học tích hợp các khoa học?” và “Dạy học tích hợp các khoa học là gì?” Liên tiếp từ
1972 đến 1973 các định nghĩa và khái niệm về dạy học tích hợp đã được
Trang 12đưa ra và khẳng định giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạykiến thức sang phát triển năng lực ở HS Quan
Trang 13điểm tích hợp còn được thể hiện khá rõ trong nhiều công trình nghiêncứu cũng như SGK của một số nước như: Trung Quốc, Pháp, Malaixia,Đức… Tuy nhiên, ở mỗi nước lại có cách nhìn nhận và áp dụng riêng tùythuộc vào đặc điểm từng quốc gia, từng môn học mà vẫn đảm bảokhông đi lệch khỏi cốt lõi của nó.
Ở Việt Nam, việc giảng dạy tích hợp trong các môn học đã đượcthử nghiệm, áp dụng nhưng chưa thực sự phổ biến Các thông tin vềđổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp có trên các diễnđàn phương pháp dạy học tác phẩm văn chương và các tạp chí chuyênngành, một phần giúp cho quan điểm dạy học tích hợp gần gũi với mọingười hơn
Tác giả Đỗ Hữu Châu với bài: “Vai trò của giáo viên trong các phương pháp dạy học được lựa chọn” (Tạp chí Giáo dục số 99), đã đề
cập đến các phương pháp dạy học, đặc biệt đề cao vai trò của người giáoviên
GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong bài: “Tích hợp trong dạy học ngữ văn” (Tạp chí Giáo dục số 6-2006) đã chỉ ra tích hợp chính là một
phương hướng phối hợp các quá trình học tập của nhiều môn học đạt hiệuquả Ngoài ra, tác giả còn nêu rõ tích hợp trong môn ngữ văn là sự liênkết giữa ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm Văn
TS Hoàng Thị Tuyết trong bài: “Đào tạo – dạy học theo quan điểm tích hợp: chúng ta đang ơ đâu?”, bài viết đã đưa ra những quan niệm về
tích hợp, nêu lên được các cách tiếp cận khác nhau trong phương phápdạy học tích hợp đó là: tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và tích hợpxuyên môn với các mức độ tích hợp phù hợp
Nguyễn Trọng Hoàn với bài “Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữ văn” trong tạp chí Giáo dục số 22 – 2002 đã đề
cập đến tích hợp trong môn Ngữ văn trong quan điểm của mình Tuy
Trang 14trong bài viết, tác giả chưa đi sâu về sự tích hợp kiến thức theo chiềudọc Nhưng tác giả đã
Trang 15tập trung vào việc trình bày quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn trên cơ sở một số văn bản có vai trò là kiến thức nguồn phục vụ cho các phân
đề ra yêu cầu tích hợp là GV cần chú ý thực hiện việc dạy học tích hợp
trong bài dạy luyện tập: “Có thể yêu cầu HS nhắc lại khái niệm hoặc phát biểu các định nghĩa về hiện tượng ngôn ngữ có liên quan, rồi áp dụng vào phân tích, lĩnh hội và thực hành sử dụng, hoặc ngược lại”.
Tuy nhiên, định hướng nói trên vẫn chỉ ở mức khái quát
Trên đây là một số các bài viết, nghiên cứu về quan điểm tích hợptrong dạy học Có thể nói, tích hợp là quan điểm dạy học cần thiết được
áp dụng và phát huy trong các môn học đặc biệt là môn Ngữ văn Quadạy học theo quan
điểm tích hợp sẽ tận dụng tối đa các kiến thức trong và ngoài môn học,rèn luyện cho học sinh kĩ năng tiếp nhận kiến thức một cách thuần thục,sâu rộng qua việc liên kết giữa phân môn trong môn học và các bộ môn
có liên quan Đây là quan điểm dạy học hiện đại mang tính thiết thực cao,đáp ứng phù hợp mục tiêu dạy học phát triển năng lực cho HS
Để cụ thể hóa cho những định hướng mang tính khái quát trên,
việc nghiên cứu đề tài “Dạy học” nhằm vận dụng có hiệu quả phương
pháp dạy học theo quan điểm tích hợp vào dạy văn bản văn xuôi lãngmạn, giúp cho bài dạy thêm phong phú, giúp HS lĩnh hội kiến thức bàihọc đạt hiệu quả cao nhất Từ đó, thấy được vai trò và tầm quan trọng
Trang 16của PPDH theo quan điểm tích hợp trong bộ môn Ngữ văn nói riêng vàtrong chương trình Giáo dục nói chung.
Trang 173.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về quan điểm dạy học tích hợp nhằm đáp ứng nhu cầu dayhọc đổi mới, phù hợp với thực tiễn Nâng cao chất lượng dạy học pháttriển năng lực HS
Đề xuất phương pháp vận dụng một cách hiệu quả quan điểm tích hợp
văn bản Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam.
4.Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những cơ sở lí luận của việc dạy học đọc hiểu tác phẩmvăn học theo quan điểm tích hợp từ đó xây dựng quy trình đọc hiểu tác
phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam (SGK Ngữ Văn 11 tập 1, NXB GD)
5.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu là hoạt động dạy học đọc hiểu tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam trong chương trình Ngữ văn lớp 11 theo quan
điểm tích
hợp
- Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ
của Thạch Lam
6.Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu tổng hợp lí luận
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp hồi cứ tài liệu (chép, trích dẫn)
7.Bố cục khóa luận
Khóa luận được triển khai thành 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận
Phần nội dung của khóa luận được cấu trúc thành ba
chương: Chương 1 Những vấn đê lý luận chung
Chương 2 Xây dựng quy trình dạy học đọc hiểu truyện ngắn Thạch Lam ở
Trang 18trường THPT theo quan điểm tích hợpChương 3 Giáo án thực nghiệm
Trang 19NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1.1.Một số vấn đề lí luận về dạy học tích hợp
vụ chung nào đó”.
Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực.Trong lĩnh vực khoa học GD, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì khaisáng, dùng để chỉ một quan niệm GD toàn diện con người, chống lại hiệntượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối Tích hợp còn
có nghĩa là thành lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộctính trội của các loại hình nhà trường vốn có
1.1.2.Khái niệm dạy học tích hợp
Theo Xavier Rogier: “Sư phạm tích hợp là một quan điểm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS nhằm phục vụ co quá trình học trong tương lai, hoặc hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động”.
Dưới góc độ lí luận dạy học, dạy học tích hợp nhằm tạo ra cáctình huống liên kết tri thức các môn học nhằm phát triển các năng lực của
Trang 20HS Khi xây dựng các tình huống đòi hỏi vận dụng các kiến thức củaphân môn học
Trang 21hoặc của nhiều môn học, HS sẽ phát huy được năng lực, phát triển tưduy sáng tạo Dạy học tích hợp sẽ làm giảm trùng lặp nội dung dạy họccác môn học, đồng thời hiệu quả dạy học được nâng lên.
Các định nghĩa đã nêu rõ được mục đích của việc dạy học tích hợp làphát triển năng lưc của người học Đồng thời cũng nêu rõ các thànhphần tham gia tích hợp là loại tri thức hoặc các thành tố của quá trình dạyhọc
Như thế có thể định nghĩa dạy học tích hợp là “quá trình dạy học
mà ở đó các thành phần năng lực được tích hợp với nhau trên cơ sở các tình huống cụ thể trong đời sống để hình thành năng lực của người học”.
sau:
- Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập vớicuộc sống hằng ngày, vận dụng các kiến thức học được để xử lý các tìnhhuống cụ thể, những tình huống có ý nghĩa, hòa nhập thế giới học đườngvới cuộc sống
- Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Trong dạy học cần
có sự sàng lọc, lựa chọn các tri thức, kĩ năng được xem là quan trọng đốivới quá trình học tập, có ích trong cuộc sống hoặc là cơ sở cho quá trình
Trang 22học tập tiếp theo Từ đó cần nhấn mạnh chúng và đầu tư thời gian cũngnhư có giải pháp hợp lí.
- Dạy học tích hợp quan tâm đến việc sử dụng kiến thức trongtình huống, tạo ra các tình huống học tập cho HS vận dụng một cáchsáng tạo, tự
Trang 23lực để hình thành người lao động có năng lực, tự lập.
- Dạy học tích hợp còn giúp HS thiết lập mối quan hệ giữa cáckhái niệm đã học, giữa các khái niệm khác nhau của cùng một môn học,của những môn học khác nhau, đảm bảo cho mỗi HS khả năng huyđộng có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết
có hiệu quả các tình huống xuất hiện trong quá trình học tập và trongthực tiễn cuộc sống Khả năng đó của HS gọi là năng lực hay mục tiêutích hợp
Ngoài ra, dạy học theo quan điểm tích hợp còn giúp giải quyếtnhững mâu thuẩn đề ra trong quá trình dạy học, giúp cho việc học trởnên dễ dàng hơn
1.2.2.Các đặc trưng cơ bản của dạyhọc tích hợp
Tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa Dạy học tích hợpđặt toàn bộ các quá trình học tập vào một tình huống có ý nghĩa đối vớiHS
Tìm cách làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt, thôngqua các năng lực hình thành cho HS một mục tiêu tích hợp cho mỗinăm học (trong một môn học hay một nhóm các môn học)
Thường tìm sự soi sáng của nhiều môn học: sự đóng góp của mỗimôn học là thực sự xác đáng, cần lưu ý đến việc lựa chọn thông tin cầncung cấp cho HS tùy thuộc vào loại tình huống trong đó HS cần huyđộng kiến thức, tránh làm cho hs bị chìm trong khối lớn thông tin này ítnhiều có quan hệ với tình huống phải giải quyết
Sự cố gắng vượt lên trên các nội dung môn học, các nội dung chỉ đángchú ý khi chúng được huy động trong các tình huống
1.2.3.Vận dụng quan điểm dạy học tích hợp
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểmtích hợp trong GD và DH sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết
Trang 24những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đốivới HS so với
Trang 25việc các môn học, các mặt GD được thực hiện riêng rẽ Tích hợp là mộttrong những quan điểm GD nhằm nâng cao năng lực của người học,giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giảiquyết các, tình huống có ý nghĩa, các vấn đề của cuộc sống hiện đại.Nhiều nước trong khu vực Châu Á và trên thế giới đã thực hiện quanđiểm tích hợp trong DH và cho rằng quan điểm này đã đem lại hiệu quảnhất định.
Ở nước ta, vận dụng dạy học tích hợp vào thực tế dạy học còn khámới mẻ, nhất là chương trình và SGK đã được phân hóa sâu sắc, GVchưa được bồi dưỡng về dạy học tích hợp và thói quen dạy chỉ dựa vàoSGK đã in sâu trong mỗi GV Do đó, để vận dụng có hiệu quả dạy họctích hợp cần phải chú ý tới một số quan điểm sau:
Vận dụng dạy học tích hợp một cách có ý nghĩa: đòi hỏi phải lựachọn nội dung, tình huống có ý nghĩa với việc học tập của HS, phù hợpvới logic khoa học, không gượng ép GV phải nghiên cứu nội dung dạyhọc, xác định mục tiêu chung và mục tiêu của bài học
Không làm cho HS học tập quá tải: nghiên cứu, lựa chọn và định rõthời gian và mức độ cho hoạt động học tập, tránh vì hứng thú mà liên kếttri thức quá sâu, rộng sẽ dẫn đến quá tải học tập của HS, làm giảm hiệuquả dạy học
Vận dụng hợp lí các PPDH tích cực, các phương tiện dạy học để tạo
rahiệu quả tích hợp cao Vì bản thân các PPDH tích cực, các phương tiệndạy học hướng đến nâng cao chất lượng dạy học, mang thuộc tính tíchhợp các kiến thức, kỹ năng, cảm xúc nhận thức ở HS
Tăng cường khai thác mối quan hệ liên môn và kiên kết các kiến
thứctrong nội bộ môn học Định hướng này đã quan tâm tới tích hợp và phùhợp với dạy học tích hợp
Trang 261.2.4.Một số biện pháp vận dụng dạy học tích
hợp
Trong quá trình lên lớp GV có thể dạy học trên quan điểm tích hợp
theo
Trang 27nhiều cách khác nhau Việc lưa chọn cách thức nào là tùy thuộc vào nội dung cụ thể của từng phân môn và từng bài học Dưới đây là một số cách dạy học
được đưa ra để tham khảo phù hợp với định hướng đổi mới theo quan điểm
tích hợp trong dạy học:
*Tích hợp thông qua việc kiểm tra bài cũ:
Kiểm tra bài cũ là bước đầu tiên trong tiến trình tổ chức hoạt độngdạy học một bài cụ thể Mục đích của hoạt động này là để kiểm tra việchọc ở nhà cũng như mức độ hiểu bài của học sinh Trên cơ sở kiểm tramức độ hiểu bài của HS, GV sẽ kết hợp dẫn dắt và liên hệ kiến thức cũvào bài học mới Đây là bước căn bản để giúp HS bắt nhịp nhanh vào bàihọc với thông qua sự kết nối giữa kiến thức đã được học Hiệu quả củaviệc liên hệ kiến thức như vậy sẽ giúp GV dễ dàng cung cấp các kiến thứctrong bài học mới đến với HS HS tiếp thu kiến thức mới nhanh hơn dựatrên những tri thức đã có trước đó
*Tích hợp thông qua việc giới thiệu bài mới.
Giới thiệu bài mới là thao tác được thực hiện trong thời gian ngắntrung bình từ 3 – 5 phút Thông qua việc giới thiệu bài GV sẽ thu hút sựchú ý của HS với bài học mới Ở bước này GV có thể vận dụng tích hợp sẽđạt hiệu quả tốt cho giờ học
*Tích hợp thông qua câu hỏi tìm hiểu bài.
Trong hoạt động dạy học Ngữ văn, hình thức hỏi – đáp đóng vai trohết sức quan trọng, thể hiện tính tích cực, chủ động của người học cũngnhư vai trò chủ động của GV Hình thức này được thực hiện trong hầuhết các bước, các hoạt động dạy – học
Trang 28Việc tích hợp kiến thức Văn - Tiếng Việt (qua các câu hỏi pháthiện, giải nghĩa, phân tích ý nghĩa của việc sử dụng từ ngữ), Văn - Làmvăn (qua dạng câu hỏi tóm tắt văn bản, nêu suy nghĩ của bản thân vềmột vấn đề đặt ra từ tác phẩm…) Văn - Lịch sử (Vận dụng hiểu biết vìlịch sử để lý giải một
Trang 29hiện tượng…), Văn - Địa lý, Văn - Giáo dục công dân…được thể hiện rõ qua hoạt độngnày.
*Tích hợp thông qua phương tiện dạy học như bảng phụ, tranh ảnh, thiết bị công nghệ thông tin.
Trong quá trình dạy học, GV có thể tích hợp qua các kênh hình,kênh tiếng bằng việc cho HS xem tranh, ảnh, video, bảng phụ…có liênquan đến kiến thức trong bài dạy Từ đây giúp HS liên hệ và hiểu sâukiến thức, tạo hứng thú tiếp nhận cho HS Tuy nhiên, để thực hiện đượcviệc này đòi hỏi kĩ thuật của GV và điều kiện cơ sở vật chất của nhàtrường
*Tích hợp thông qua nội dung từng phần hay tổng kết giờ học.
Đây là hình thức tích hợp thông qua lời thuyết giảng của GV, vừa
có ý nghĩa khái quát lại vấn đề, vừa có ý nghĩa mở rộng, nâng cao kiếnthức GV có thể tích hợp dưới dạng liên hệ, so sánh đối chiếu cac văn bancùng thể loại, chủ đề đ ể rút ra nhận xét hoặc yêu cầu học sinh tự rút
ra nhận xét của bản thân về vấn đề đó (nét giống, khác, sự đống góp mới
mẻ của nhà văn…)
*Tích hợp thông qua hệ thống bài tập (ở lớp cũng như ở nhà)
Hoạt động tích hợp này giúp HS nắm chắc kiến thức ấy để tíchhợp trong việc rèn luyện kỹ năng: nghe, đọc, nói, viết
*Tích hợp thông qua hình thức kiểm tra.
Chương trình Ngữ văn được xây dựng theo tinh thần tích hợp, vìthế khi ôn tập và tiến hành kiểm tra, GV cần giúp HS nắm chắc các vấn
đề Các kiến thức về Văn, tiếng Việt, Tập làm văn đều cùng dựa vàomột văn bản chung (hoặc nhiều văn bản cùng thể loại) để khai thác vàhình thành
Trang 30Vì thế, khi hướng dẫn học sinh ôn tập GV cần lưu ý HS không nênhọc tủ, học lệch mà phải học toàn diện, đầy đủ GV cần lưu ý xây dựng
đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết, học kỳ theo yêu cầu tích hợp Hệ thống câuhỏi, đề kiểm tra phải hướng vào việc phát triển năng lực người học theobốn cấp độ: nhận biết,
Trang 31mẽ đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của học sinh Từ đó, có thểđịnh hướng thái độ sống, rèn kỹ năng sống cho các em một cách hiệuquả, giúp các em biết ứng xử văn minh , trơ thành người công dân tốt…Nhìn chung, các kiến thức ở trường phổ thông đều được vận dụngvào quá trình lao động sản xuất, vào kĩ thuật và công nghệ… phục vụcuộc sống con người Dạy học môn học nào đó chính là dạy một khoahọc đã, đang tồn tại và phát triển, một khoa học sóng động gắn với môitrường xung quanh Do vậy, kiến thức ở trường phổ thông không thểtách rời với thực tiễn cuộc sống, mà phải luôn tạo cơ sở với những tìnhhuống xuất phát và giải trình phù hợp, phải dựa trên đặc điểm nhận thứccủa HS.
Dạy học gắn với thực tế là hoạt động thống nhất giữa giáo dục, giáodưỡng với môi trường kinh tế - xã hội Trước hết, giáo viên phải có kiếnthức thực tế, am hiểu và có khả năng phân tích, khái quát chỉ ra các mốiliên hệ cần thiết giữa kiến thức ở trường phổ thông với các ứng dụngtrong kĩ thuật, công nghệ sản xuất và đời sống…cho HS hiểu được mặtthực tế của kiến thức, thấy
Trang 32được khả năng nhận thức và cải tạo thế giới tự nhiên vì cuộc sống củacon
người
Các kiến thức đảm bảo sự hứng thú và việc định hướng nghề nghiệp choHS
Trang 33Ví dụ khi dạy phần Tiếng Việt, cần thiết phải gắn liền với kiến thứcthực tế ngoài đời sống Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, là phương tiện ngônngữ giao tiếp của người Việt, HS cần nắm được những hiểu biết phongphú về tiếng Việt, từ đó vận dụng vào học tập và phát triển ngôn ngữdân tộc ngày càng giàu đẹp Việc tích hợp như vậy sẽ giúp việc học bớtkhô khan, tạo được hứng thú cho HS.
1.3.Xác định cơ sở cho hoạt động đọc hiểu truyện ngắn Thạch Lam
1.3.1.Đặc điểm thể loại truyện ngắn
Truyện ngắn là một thể loại văn học Nó thường là các câutruyện kể bằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩahơn các câu truyện dài như tiểu thuyết Thông thường truyện ngắn có
độ dài chỉ từ vài dòng đến vài chục trang, trong khi đó tiểu thuyết rấtkhó dừng lại ở con số đó Vì thế, tình huống truyện luôn là vấn đềquan trọng bậc nhất của nghệ thuật truyện ngắn
Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một tình huống, một chủ đềnhất định Trong khi đó, tiểu thuyết chứa được nhiều vấn đề, phủ sóngđược một diện rộng lớn của đời sống Do đó, truyện ngắn thường hếtsức hạn chế về nhân vật, thời gian và không gian trong truyện ngắncũng không trải dài như tiểu thuyết Đôi khi truyện ngắn chỉ là mộtkhoảng khắc của cuộc sống
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì truyện ngắn được định nghĩa là
“tác phẩm tự sự cỡ nhỏ” Nội dung thể loại của Truyện ngắn bao trùm
hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưngcái độc đáo của nó là ngắn gọn Bởi Truyện ngắn được viết ra để đọcliền một mạch Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủyếu phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự loại khác (các loại
Trang 34truyện kể dân gian cũng có độ dài tương đương với truyện ngắn).Truyện ngắn xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử
Trang 35văn học Truyện ngắn thường chỉ hướng tới việc khắc họa một hiệntượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sốngtâm hồn của con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhânvật, ít sự kiện phức tạp Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thếgiới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới
ấy Có nghĩa truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc họa nhữngtính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàncảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạngthái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của conngười Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thờigian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra mộtđiều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắnkhông chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựngtheo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp trần thuật củatruyện ngắn thường là chấm phá Yếu tố quan trọng bậc nhất trongtruyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành vănmang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết
1.3.2.Đặc trưng truyện ngắn lãng
mạn
Dấu hiệu đầu tiên để phân biệt truyện ngắn lãng mạn với các loạitruyện ngắn khác là tính chất phi cốt truyện ở loại truyện này, ngườisáng tác không nhằm tập trung xây dựng nhân vật có đời sống nội tâmphức tạp, nhiều mâu thuẫn, biến cố mà chủ yếu tạo một ấn tượng,một suy nghĩ, cảm xúc hướng người đọc tới những dòng tâm lý, tâmtrạng, những thăng trầm trong tình cảm của nhân vật.Chi tiết, tình tiếttrong truyện ngắn lãng mạn không làm thành
Trang 36bước ngoặt để thoát nút, mở nút mà chủ yếu là làm cơ sở để tạo bốicảnh cho cảm xúc phát triển những điểm ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn
xuôi có khác nhau.Nhưng truyện ngắn lãng mạn thì lại giàu chất thơ chất suy tưởng.
Hai đứa trẻ là điển hình cho truyện ngắn lãng mạn trữ tình Trong Hai
Trang 37Đứa Trẻ chúng ta thấy bức tranh phố huyện hiện lên đầy chất thơ, nhiều
màu sắc, đường nét, âm thanh hài hòa Đằng sau bức tranh ấy là cả mộtkhông gian tăm tối trong một ngày tàn, phiên chợ tàn với những kiếpngười tàn nhưng sâu thẳm trong tâm hồn họ vẫn ánh lên niềm hy vọng
vào một ngày mai tươi sáng Trong Hai Đứa Trẻ ta thấy lòng yêu tha thiết
những con người nhỏ bé, những con người mang trong mình bao nỗi bấthạnh của tác giả Từ đây làm nên một thiên truyện thấm đẫm chất trữtình.Nhân vật trong truyện ngắn lãng mạn đều có đời sống nội tâmkhông qúa phức tạp, không rõ ngoại hình, ít hành động, tính cách mờnhạt, chủ yếu xuất hiện qua tâm trạng Qua nhân vật tác giả khôngnhằm mục đích khái quát tính cách, bản chất xã hội mà nhằm bộc lộmột tư tưởng mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.Đi sâu vào thế giới nộitâm nhân vật trên điểm nhìn nghệ thuật của nhà văn về cơ bản theo xu
Ví dụ: Đọc xong tác phẩm Hai đứa trẻ
- Cảm nhận chung của Anh (Chị) về tác phẩm
Trang 38- Bức tranh thiên nhiên chiều quê chuyển dần từ chiều tối đến đêm khuyanhằm diễn tả cuộc sống thiên nhiên và con người ở đây như thế
nào?
Trang 39- Nhịp sống của những con người trong bức tranh phố huyện diễn ra nhưthế
nào?
- Vì sao chị em Liên lại cố thức để đợi tàu đêm đi qua?
- Chuyến tàu đêm mang lại ý nghĩa như thế nào cho những con ngườinơi phố huyện
nghèo?
Hai đứa trẻ là tác phẩm có kết cấu dựa trên trục chính là tâm trạng,
cảm xúc nhân vật Nhà văn thông diễn biến tâm trạng của nhân vật màdựng nên kết cấu cho tác phẩm
Dạy học truyện ngắn lãng mạn của Thạch Lam, nếu chúng ta cố đi tìmmột cốt truyện hấp dẫn, đầy kịch tính thì khó Hầu như truyện ngắn của
ông đều có lối kết cấu theo kiểu “truyện không có chuyện” Ở điểm này
Thạch Lam giống Nguyễn Công Hoan nhưng nếu nếu Nguyễn CôngHoan dồn hết bút lực của mình vào xây dựng những tình huống đắt,những mâu thuẫn giàu kịch tính và bằng cách nhìn sự việc một cách hàihước thì Thạch Lam lại say mê nắm bắt những chuyển động nhiều sắcthái trong tâm hồn nhân vật rồi truyện lại đem cho người đọc bằngmột ngòi bút miêu tả hết sức tỉ mỉ, tinh tế và gợi cảm Truyện của ThạchLam nhẹ nhàng, tinh tế như hương hoàng lan vương vấn quanh tâm hồn
1.3.3.2.Đặc điểm ngôn ngữ của truyện ngắn lãng mạn khi tổ chức đọchiểu
văn
bản.
Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó
và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống là chất liệu
của Văn học.Ngôn ngữ của tác phẩm phải gãy gọn, chính xác, từ ngữ phải được chọn lọc kĩ càng Chính các tác giả cổ điển đã viết bằng 1 ngôn
Trang 40ngữ như vậy, đã kế tục nhau trau dồi nó từ thế kỉ này sang thế kỉ khác Ngôn ngữ nhân là “tiếng nói nguyên liệu “ còn ngôn ngữ văn học là “ tiếng nói đã được bàn tay thợ nhào luyện” (Gorki).