1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ TÀI hợp ĐỒNG TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

20 203 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 54,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, các quy phạm cấu thành lĩnh vực hợp đồng trong tư pháp quốc tế của Việt Nam quá rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, L

Trang 1

ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT



MÔN: TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Đề tài HỢP ĐỒNG TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Nhóm thực hiện: Nhóm 4 GVHD: ThS Nguyễn Thị Hằng

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2018

Trang 2

A BẢNG PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ NHIỆM VỤ

T

T

Mã sô

1 33141025673 Trịnh Thị Vân Anh Thuyết trình phần Xung đột pháp luật và giải quyếtxung đột pháp luật về Hợp đồng có yếu tố nước ngoài

2 33161020139 Đinh Thị Phương Chi Tổng hợp chung - Power point

3 33131021421 Nguyễn Huỳnh Đức Nội dung phần Thẩm quyền của tòa án quốc gia đốivới hợp đồng có yếu tố nước ngoài

4 33161020312 Nguyễn Văn Minh Nội dung phần Tổng quan chung về Hợp đồng trong

tư pháp quốc tế - Thuyết trình

5 33161020439 Thái Vĩnh Phúc Tình huống 1 - Thuyết trình

6 33161020069 Hồ Thị Nguyên Thiện Nội dung phần Xung đột pháp luật và giải quyết xungđột pháp luật về Hợp đồng có yếu tố nước ngoài

7 33161020105 Lê Thị Thu Thủy Tình huống 2

8 33161020326 Nguyễn Anh Tuấn Nội dung phần Xung đột pháp luật và giải quyết xung

đột pháp luật về Hợp đồng có yếu tố nước ngoài

9 33151020390 Nguyễn Thị Thu Vân Nội dung phần Thẩm quyền của tòa án quốc gia đốivới hợp đồng có yếu tố nước ngoài

Trang 3

MỤC LỤC

A BẢNG PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ NHIỆM VỤ 1

B NỘI DUNG CHÍNH 3

MỞ ĐẦU 3

1 Tổng quan chung về Hợp đồng trong tư pháp quôc tế 3

1.1 Khái niệm về hợp đồng trong tư pháp quốc tế 3

1.1.1 Khái niệm Hợp đồng có yếu tố nước ngoài trong Tư pháp quốc tế nước ngoài 3

1.1.2 Khái niệm Hợp đồng có yếu tố nước ngoài trong Tư pháp quốc tế Việt Nam 4

1.2 Đặc điểm của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài 5

1.2.1 Về chủ thể 5

1.2.2 Về đối tượng của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài 5

1.2.3 Về pháp luật điều chỉnh Hợp đồng có yếu tố nước ngoài 5

1.2.4 Về ngôn ngữ của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài 5

2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đôi với hợp đồng có yếu tô nước ngoài 5

2.1 Thẩm quyền của trọng tài 6

2.2 Thẩm quyền của tòa án 6

2.2.1 Thẩm quyền xét xử chung 7

2.2.2 Thẩm quyền xét xử riêng biệt 8

3 Xung đột pháp luật và giải quyết xung đột pháp luật về Hợp đồng có yếu tô nước ngoài 9

3.1 Khái niệm xung đột pháp luật về Hợp đồng có yếu tố nước ngoài 9

3.2 Giải quyết xung đột pháp luật về Hợp đồng có yếu tố nước ngoài 9

3.2.1 Giải quyết xung đột pháp luật về hình thức của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài

9 3.2.2 Giải quyết xung đột pháp luật về nội dung của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài 10

3.2.3 Giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài 13

4 Tình huông 14

4.1 Tình huống 1 14

4.2 Tình huống 2 15

KẾT LUẬN 17

C TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 4

B NỘI DUNG CHÍNH

MỞ ĐẦU

Nhằm đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đưa ra nhiều quan điểm, đường lối, chính sách nhằm tăng cường giao lưu dân sự, thương mại quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ Điều này làm nảy sinh ngày càng nhiều các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, tố tụng dân sự giữa cá nhân, tổ chức Việt Nam với cá nhân, tổ chức nước ngoài Một hình thức pháp lý cơ bản quy ước quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia mối quan hệ dân sự này là Hợp đồng có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, các quy phạm cấu thành lĩnh vực hợp đồng trong tư pháp quốc tế của Việt Nam quá rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân

sự, Luật Thương mại… Trong số đó thì Bộ luật Dân sự vẫn được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm Bên cạnh pháp luật quốc gia thì các Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng là nguồn luật điều chỉnh mối quan hệ Hợp đồng có yếu tố nước ngoài này Dựa trên cơ sở các quy định Hợp đồng có yếu tố nước ngoài của Bộ luật Dân sự, tuỳ vào tính chất đặc thù của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể có những quy định riêng về Hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực đó Để tránh những mâu thuẫn và xung đột pháp luật xảy ra, đồng thời đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia iện Hợp đồng có yếu tố nước ngoài, Nhóm đã chọn đề tài “Phân tích Hợp đồng trong tư pháp quốc tế để tìm hiểu và nghiên cứu

1 Tổng quan chung về Hợp đồng trong tư pháp quôc tế

1.1 Khái niệm về hợp đồng trong tư pháp quốc tế

1.1.1 Khái niệm Hợp đồng có yếu tố nước ngoài trong Tư pháp quốc tế nước ngoài

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ và khi có sự xuất hiện của yếu tố nước ngoài, ngoài sự sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự (BLDS) mỗi quốc gia, hợp đồng đó còn chịu sự điều chỉnh của Tư pháp quốc tế với những đặc thù riêng biệt Tuy nhiên do không có sự thống nhất về cách hiểu giữa các nền pháp luật khác nhau nên hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thuật ngữ Hợp đồng quốc tế hay Hợp đồng có yếu tố nước ngoài trong khoa học học pháp lý

Theo quy ước tại Điều lệ UNIDROIT thì Hợp đồng quốc tế hay Hợp đồng có yếu tố nước ngoài được hiểu rộng rãi là Hợp đồng đề cập đến một thỏa thuận ràng

Trang 5

buộc hợp pháp giữa các bên, có trụ sở tại các quốc gia khác nhau, trong đó họ có nghĩa

vụ phải làm hay không làm những điều nhất định

Theo Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế các động sản hữu hình, tính chất quốc tế thể hiện ở các tiêu chí như: các bên giao kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hoá, đối tượng của hợp đồng, được chuyển qua biên giới một nước, hoặc là việc trao đổi ý chí giao kết hợp đồng giữa các bên được lập ở những nước khác nhau (Điều 1) Nếu các bên giao kết không có trụ sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ Yếu tố quốc tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Theo Công ước Viên năm 1980 của Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng Mua bán Quốc tế Hàng hoá (Công ước Viên năm 1980): tính chất quốc tế được xác định chỉ bởi một tiêu chuẩn duy nhất, đó là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau (Điều 1) Và giống như Công ước Lahaye năm 1964, Công ước này cũng không quan tâm đến vấn đề quốc tịch của các bên khi xác định tính chất quốc

tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Theo Quy tắc châu Âu năm 2008 điều chỉnh việc xác định Hợp đồng quốc tế hay Hợp đồng có yếu tố nước ngoài, việc hiểu thế nào là Hợp đồng quốc tế hay Hợp đồng có yếu tố nước ngoài phụ thuộc vào pháp luật quốc gia

1.1.2 Khái niệm Hợp đồng có yếu tố nước ngoài trong Tư pháp quốc tế Việt Nam

Cho đến thời điểm hiện tại, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có quy định cụ thể thế

là nào Hợp đồng có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, Hợp đồng có yếu tố nước ngoài cũng là một loại quan hệ dân sự và chịu sự điều chỉnh của BLDS 2015 Do vậy, để xác định một Hợp đồng có yếu tố nước ngoài hay không có thể dựa vào quy định tại

Khoản 2 Điều 663 BLDS 2015 như sau: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”

Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất về Hợp đồng có yếu tố nước ngoài như sau: Hợp đồng có yếu tố nước ngoài là Hợp đồng có chủ thể nước ngoài tham gia, căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt hợp đồng xảy ra ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài, tài sản liên quan đến hợp đồng nằm ở nước ngoài

Ví dụ về Hợp đồng trong tư pháp quốc tế: Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa:

- Thương nhân Việt Nam và thương nhân Hoa Kỳ;

Trang 6

- Các bên là thương nhân Việt Nam Ký kết hợp đồng tại Anh;

- Thương nhân Hoa Kỳ giao hàng tại cảng Ấn Độ;

- Thương nhân Việt Nam thanh toán tại Hà Lan

1.2 Đặc điểm của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài

1.2.1 Về chủ thể

Chủ thể của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài có thể là cá nhân, pháp nhân nước ngoài, công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam tham gia vào mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài hay nói cách khác là các bên của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài

1.2.2 Về đối tượng của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài

Đối tượng của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài là các quan hệ nhân thân và tài sản

1.2.3 Về pháp luật điều chỉnh Hợp đồng có yếu tố nước ngoài

Chính yếu tố nước ngoài trong Hợp đồng có yếu tố nước ngoài dẫn đến hiện tượng cùng một lúc có thể có nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh hợp đồng Từ đó, việc xác định luật áp dụng cho hợp đồng cũng như để bảo vệ lợi ích của các bên khi giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tất yếu sẽ gặp nhiều khó khăn Để giải quyết vấn đề này, một trong những nguyên tắc quan trọng được pháp luật các nước cũng như các điều ước quốc tế ghi nhận là các bên tham gia quan hệ hợp đồng có quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng Do đó, đặc điểm đặc thù đầu tiên của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài là pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia đều thừa nhận sự tự do ý chí của các bên trong việc xác định pháp luật điều chỉnh Khi

có tranh chấp hay xung đột xảy ra, các bên trong Hợp đồng có quyền tự do lựa chọn hệ thống cơ quan tài phán, cụ thể họ có thể lựa chọn Toà án của các nước mà họ giải quyết tranh chấp hoặc cũng có thể lựa chọn Trọng tại thương mại để giải quyết những bất đồng giữa các bên

1.2.4 Về ngôn ngữ của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài

Việc xác định dùng ngôn ngữ nào trong Hợp đồng là do các bên tự thoả thuận

Ví dụ trong hầu hết hiện nay Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường được ký kết bằng tiếng nước ngoài, trong đó phần lớn là được ký bằng tiếng Anh

2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đôi với hợp đồng có yếu tô nước ngoài

Khác với hợp đồng trong nước, việc xác định cơ quan tài phán nước nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và hệ thống pháp luật nước nào được dùng để điều chỉnh Hợp đồng có yếu tố nước ngoài không phải là chuyện dễ dàng Với tư cách là một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tranh chấp về Hợp đồng có yếu tố nước ngoài hoàn toàn có khả năng được giải quyết ở cơ quan tài phán của các nước khác nhau bởi không tồn tại một hệ thống pháp luật tố tụng “xuyên quốc gia” để trả lời cho câu hỏi về thẩm quyền xét xử của cơ quan tài phán trong các trường hợp này

Trang 7

2.1 Thẩm quyền của trọng tài

Thẩm quyền của trọng tài phụ thuộc vào thỏa thuận trọng tài của các bên chủ thể, điều đó có nghĩa là các chủ thể của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài có quyền thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp giữa họ Pháp luật của các nước, các điều ước quốc tế đều không ngăn cản quyền tự do đó của các bên chủ thể Như vậy, trọng tài một nước sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về Hợp đồng có yếu tố nước ngoài nếu như các bên chủ thể nêu rõ trong thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận đó

có hiệu lực Cũng giống như các vụ việc trong nước, khi tranh chấp về Hợp đồng có yếu tố nước ngoài đã thuộc về thẩm quyền giải quyết của trọng tài thì tòa án phải “để lại” vụ việc đó cho trọng tài xử lý

Tính đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên của Công ước New York và tham gia ký kết 18 điều ước quốc tế song phương với các nước khác về tương trợ tư pháp có đề cập đến việc công nhận bản án của tòa án cũng như phán quyết của trọng tài Như vậy, phán quyết trọng tài của các nước thành viên của Công ước New York hoặc có điều ước song phương với Việt Nam đều có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam theo quy định của các điều ước nói trên

Tuy nhiên theo quy định tại Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền không công nhận quyết định của trọng tài nước ngoài khi xét thấy chứng cứ do bên phải thi hành cung cấp cho Tòa án để phản đối yêu cầu công nhận là có căn cứ, hợp pháp và phán quyết của trọng tài thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều này Trên thực tế, tỷ lệ phán quyết trọng tài nước ngoài được công nhận tại Việt Nam còn thấp, khả năng thi hành cũng chưa cao Một trong những nguyên nhân của kết quả nêu trên là do một số quy định của BLTTDS còn chưa tương thích với các quy định của Công ước cũng như cam kết của Việt Nam khi gia nhập Công ước, ví dụ như khái niệm phán quyết của Trọng tài nước ngoài, thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ, căn cứ để từ chối dựa trên việc vi phạm “các nguyên tắc

cơ bản của pháp luật Việt Nam” Điều này đã tạo ra tâm lý lo ngại cho cho các doanh nghiệp nước ngoài khi tiến hành các hoạt động kinh doanh, thương mại và đầu tư với các đối tác Việt Nam

2.2 Thẩm quyền của tòa án

Trong trường hợp các bên chủ thể không lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, Hợp đồng có yếu tố nước ngoài có thể được giải quyết bằng con đường tòa án Thẩm quyền xét xử Hợp đồng có yếu tố nước ngoài của tòa án một nước phụ thuộc vào quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên về vấn đề này và pháp luật tố tụng dân sự của quốc gia đó

Trang 8

Để xác định thẩm quyền của tòa án Việt Nam khi nhận được đơn kiện về các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài gồm các giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Tòa án Việt Nam xem xét các điều ước quốc tế (các Hiệp định

Tương trợ tư pháp về các quan hệ dân sự giữa Việt Nam và các nước; Hiệp định Thương mại ) có quy định về vấn đề xác định thẩm quyền của mình hay không rồi căn cứ vào đó để xác định thẩm quyền

- Giai đoạn 2: Trong trường hợp không có điều ước quốc tế nào quy định về

việc xác định thẩm quyền xét xử quốc tế, hoặc có mà không có quy định cụ thể thì tòa

án Việt Nam sẽ căn cứ vào các dấu hiệu xác định thẩm quyền trong hệ thống các văn bản pháp luật trong nước để xác định thẩm quyền của tòa án nước mình

- Giai đoạn 3: Nếu theo quy định của các điều ước quốc tế hoặc theo quy định

của pháp luật trong nước (sau giai đoạn 1 hoặc 2) tòa án Việt Nam là tòa án có thẩm quyền xét xử thì tòa án sẽ căn cứ vào các dấu hiệu xác định thẩm quyền theo lãnh thổ

và theo vụ việc được quy định trong luật tố tụng để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án cấp nào

Theo BLTTDS 2015, một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài có thể thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án Việt Nam theo 2 cách: thuộc thẩm quyền chung của tòa

án Việt Nam hoặc thuộc thẩm quyền riêng biệt của tòa án Việt Nam

2.2.1 Thẩm quyền xét xử chung

Là thẩm quyền đối với những vụ việc mà tòa án nước đó có quyền xét xử nhưng tòa án nước khác cũng có thể xét xử (điều này tùy thuộc vào tư pháp quốc tế của các nước khác có quy định là tòa án nước họ có thẩm quyền với những vụ việc như vậy hay không) Khi mà tòa án nhiều nước đều có thẩm quyền xét xử với một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, thì quyền xét xử thuộc về tòa án nước nào phụ thuộc vào việc nộp đơn của các bên chủ thể

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015, trong lĩnh vực hợp đồng, tòa án Việt Nam sẽ có thẩm quyền xét xử chung trong các trường hợp sau:

- Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự nếu bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam Trong trường hợp bị đơn là cơ quan tổ chức thì dấu hiệu có trụ sở tại Việt Nam được xem là căn cứ để xác định thẩm quyền của tòa án Việt Nam (Điểm a và b)

- Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam Như vậy, mặc dù hợp đồng được ký kết, thực hiện tại nước ngoài, nhưng bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam thì tòa án Việt Nam vẫn có thẩm quyền (Điểm c)

- Ngoài các dấu hiệu về quốc tịch, nơi cư trú, nơi có trụ sở nêu trên thì dấu hiệu

sự kiện pháp lý làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hoặc dấu hiệu nơi có tài sản là đối tượng của quan hệ cũng được ghi nhận Cụ thể, nếu có sự kiện pháp lý xảy ra ở

Trang 9

Việt Nam và từ sự kiện đó quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác lập, thay đổi, chấm dứt thì vụ việc về quan hệ đó do tòa Việt Nam giải quyết (Điểm đ) Như vậy,

khác với BLTTDS 2004, tại Điểm e Khoản 2 Điều 410 quy định cụ thể rằng “tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mà việc thực hiện toàn bộ, hoặc một phần hợp đồng xảy

ra trên lãnh thôi Việt Nam”, trong trường hợp này, nếu hợp đồng chỉ được thực hiện

một phần tại Việt Nam thì Tòa án Việt Nam vẫn có thẩm quyền giải quyết

- Nếu sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài nhưng các cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam có liên quan về quyền và nghĩa vụ hoặc các cá nhân này cư trú ở Việt Nam, các cơ quan tổ chức này có trụ sở ở Việt Nam thì tòa án Việt Nam cũng có thẩm quyền giải quyết (Điểm e) Đây là quy định rõ hơn phạm vi thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam so với BLTTDS 2004, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền trong trường hợp sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài đối với các tranh chấp mà các đương sự đều là cá nhân, cơ quan, tổ chức tại Việt Nam và nguyên đơn hoặc bị đơn cư trú ở Việt Nam (Điểm đ Khoản 2 Điều 410)

2.2.2 Thẩm quyền xét xử riêng biệt

Là trường hợp quốc gia sở tại tuyên bố chỉ có tòa án nước họ mới có thẩm quyền xét xử đối với những vụ việc nhất định Nếu tòa án nước khác vẫn tiến hành xét

xử đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt, hậu quả là bản án, quyết định được tuyên bởi tòa án nước khác sẽ không được công nhận, cho thi hành tại quốc gia sở tại (theo Khoản 4 Điều 439 và Khoản 1 Điều 440 BLTTDS 2015) Trong trường hợp này, kể cả các bên chủ thể thỏa thuận tòa án nước khác thì về nguyên tắc, tòa án nước đó cũng cần phải từ chối thụ lý vụ việc để tôn trọng thẩm quyền xét xử riêng biệt của quốc gia sở tại

Điều 470 BLTTDS 2015 đã liệt kê các dấu hiệu của các vụ việc dân sự (đối với hợp đồng) thuộc thẩm quyền riêng biệt của tòa án Việt Nam như sau:

- Vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam (Điểm a Khoản 1) Tương tự trong Hiệp định tương trợ Tư pháp giữa Việt Nam và Trung Quốc, tại khoản 10 Điều 18 cũng quy định: bất động sản là đối tượng của vụ tranh chấp nằm trên lãnh thổ của nước nào thì Tòa án nước đó có thẩm quyền giải quyết

Việc xây dựng quy định về thẩm quyền theo tòa án nơi có bất động sản xuất phát từ tính chất đặc biệt của bất động sản là loại tài sản gắn liền với đất không di chuyển được Tòa án nơi có bất động sản là tòa án có điều kiện thuận lợi hơn cả trong việc xác minh, thu thập chứng cứ và giải quyết chính xác vụ việc Đối với các tranh chấp bất động sản, thông thường các giấy tờ, tài liệu liên quan đến bất động sản sẽ do

cơ quan tài nguyên môi trường, nhà đất, chính quyền nơi có bất động sản đó lưu giữ và các cơ quan này cũng là những cơ quan nắm vững những thông tin về nguồn gốc, hiện

Trang 10

trạng tài sản và tình trạng pháp lý của tài sản Do vậy, Tòa án nơi có bất động sản sẽ là Tòa án có điều kiện thuận lợi nhất trong việc xác minh, thu thập các tài liệu, các thông tin liên quan đến bất động sản đang tranh chấp

- Vụ án dân sự mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các bên đồng

ý lựa chọn Tòa án Việt Nam (Điểm c Khoản 1)

3 Xung đột pháp luật và giải quyết xung đột pháp luật về Hợp đồng có yếu tô nước ngoài

3.1 Khái niệm xung đột pháp luật về Hợp đồng có yếu tố nước ngoài

Trong quan hệ Hợp đồng có yếu tố nước ngoài, do pháp luật các quốc gia thường thống nhất khi giải quyết các vấn đề về Hợp đồng và do tồn tại nhiều văn bản pháp lý quốc tế thống nhất điều chỉnh nên có thể nói lĩnh vực Hợp đồng ít phát sinh xung đột pháp luật Trong hệ thống các văn bản pháp lý quốc tế này có thể kể đến Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế, Bộ nguyên tắc châu Âu về Hợp đồng, Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế, Công ước Viên năm 1980 hay Incoterms quy định về các quy tắc thương mại quốc tế… Tuy trong lĩnh vực Hợp đồng có yếu tố nước ngoài ít xảy ra xung đột pháp luật nhưng không phải là không có

Do đặc điểm của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là sự tham gia của hai hay nhiều hệ thống pháp luật và mỗi quốc gia trên thế giới có hệ thống pháp luật riêng của mình Chính vì vậy nên mới có hiện tượng xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Một khi có xung đột pháp luật xảy ra thì việc cần thiết là phải lựa chọn một trong các hệ thống pháp luật đó để giải quyết các quan hệ Hợp đồng trên Nhưng việc lựa chọn luật phải dựa trên những nguyên tắc nhất định, không thể tùy tiện Việc lựa chọn này không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Tòa án, cũng không phụ thuộc vào ý muốn của các bên

3.2 Giải quyết xung đột pháp luật về Hợp đồng có yếu tố nước ngoài

3.2.1 Giải quyết xung đột pháp luật về hình thức của Hợp đồng có yếu tố nước ngoài

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 770 BLDS 2005 quy định hình thức của hợp

đồng phải tuân theo “pháp luật nơi giao kết hợp đồng”, thì Khoản 7 Điều 683 BLDS

2015 thay đổi lại quy định là phải tuân theo “pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó”.

Nói cách khác, pháp luật do các bên lựa chọn hoặc do dẫn chiếu bởi quy phạm xung đột sẽ điều chỉnh cả nội dung và hình thức của Hợp đồng Thêm vào đó, BLDS 2015 cũng đã mở rộng khả năng công nhận hình thức Hợp đồng Nếu như BLDS 2005 quy định hình thức của Hợp đồng không phù hợp với pháp luật nơi giao kết nhưng phù hợp với pháp luật Việt Nam thì được công nhận tại Việt Nam, thì BLDS 2015 quy định nếu

Ngày đăng: 05/09/2019, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w