Sự cần thiết xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Việc giải quyết các vụ việc phát sinh từ các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là m
Trang 1UNIVERSITY OF ECONOMICS HO CHI MINH CITY
MÔN HỌC:
TƯ PHÁP QUỐC TẾ Chủ Đề:
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN QUỐC GIA ĐỐI VỚI CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
GVHD : ThS Nguyễn Thị Hằng
Giảng đường : B.415 – Tối Thứ Năm
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 1 – VB2CQ
Trang 2STT Họ và tên Phân công Đánh giá
1 Bùi Thị Kim Lan Tìm & làm tài liệu phần lý thuyết
Thuyết trình phần lý thuyết
Hoàn thành tốt công việc
2 Trần Thị Lam Thúy Ngọc Tổng hợp bài
Làm slide thuyết trình
Hoàn thành tốt công việc
3 Châu Mai Phương Tìm & làm tài liệu phần lý thuyết
Chuẩn bị câu hỏi nhận định
Hoàn thành tốt công việc
4 Nguyễn Thị Hồng Phúc Làm tình huống 1 Hoàn thànhcông việc
5 Nguyễn Thị Xuân Quỳnh(Nhóm trưởng) Làm tình huống 2
Thuyết trình phần bài tập
Hoàn thành tốt công việc
6 Thiều Thị Cẩm Tú Tìm & làm tài liệu phần lý thuyết
Chuẩn bị câu hỏi nhận định
Hoàn thành tốt công việc
Trang 3I Phần chung 1
1 Sự cần thiết xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 1
2 Một số căn cứ xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quốc gia theo pháp luật các nước 2
II Phần riêng 3
1 Xác định thẩm quyền của tòa án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 3
1.1 Nguyên tắc áp dụng 3
1.2 Thẩm quyền chung của toàn án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 4
1.3 Thẩm quyền riêng của toàn án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 5
2 Xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam theo các hiệp định tương trợ tư pháp quốc tế giữa Việt Nam và các nước 7
III Bài tập 8
1 Nhận định đúng sai 8
2 Tình huống 9
2.1 Tình huống 1 9
2.2 Tình huống 2 11
Tài liệu tham khảo 13
Trang 4I/ PHẦN CHUNG:
1 Sự cần thiết xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia đối với các vụ việc dân sự
có yếu tố nước ngoài
Việc giải quyết các vụ việc phát sinh từ các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn rất được quan tâm trong khoa học pháp lý hiện nay vì những lý do sau:
- Thứ nhất, cơ chế pháp lý giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài nói chung
và thẩm quyền giải quyết vụ việc có yếu tố nước ngoài nói riêng là lĩnh vực có nhiều tính chất phức tạp cả về lý luận và thực tiễn
- Thứ hai, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và vụ việc phát sinh từ những
quan hệ này ngày càng gia tăng trong điều kiện Việt Nam đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
- Thứ ba, mặc dù đã có những bước tiến đáng kể trong hoạt động xây dựng và thực
thi, song nhìn chung pháp luật Việt Nam về giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và chế định thẩm quyền giải quyết các vụ việc phát sinh từ các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập Điều này đã và đang thể hiện rất rõ nét trong quá trình ký kết, tham gia các điều ước quốc tế cũng như xây dựng và thực thi
hệ thống pháp luật
Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia, nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các quốc gia bằng việc ban hành luật quốc nội và ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế để xác định thẩm quyền cho Toà
án của quốc gia mình Ở nước ta, trước đây thẩm quyền của Toà án trong Tư pháp quốc
tế được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau như Luật tổ chức Toà
án nhân dân, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài, Nay, thẩm quyền của Toà án Việt Nam trong Tư pháp quốc tế được quy định phần nào thống nhất trong Bộ luật tố tụng dân sự và một số văn bản pháp luật chuyên biệt khác
Trang 5Việc xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia trong Tư pháp quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức có quốc tịch của quốc gia đó; nhằm khẳng định chủ quyền quốc gia, bảo đảm trật tự công Tuy nhiên, để hướng tới sự đồng thuận, đảm bảo quan hệ cùng có lợi giữa các quốc gia, chúng ta cần phải xây dựng khung pháp lý rõ ràng, xác định những nguyên tắc căn bản
và cụ thể để quy định thẩm quyền của Toà án quốc gia và tham gia hoặc ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến việc xác định thẩm quyền của toà án quốc gia trong Tư pháp quốc tế
2 Một số căn cứ xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quốc gia theo pháp luật các nước
Pháp luật các nước quy định rất nhiều căn cứ khác nhau làm cơ sở để tòa án quốc gia xác định thẩm quyền xét xử đối với một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài cụ thể Có thể thấy rằng pháp luật của các nước đều đưa ra những căn cứ để xác định thẩm quyền của tòa án quốc gia đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Khi đưa ra những căn cứ, pháp luật các nước đều cố gắng mở rộng khả năng để tòa án quốc gia mình có thẩm quyền giải quyết nếu các vụ việc có một yếu tố nào đó có quan hệ đến quốc gia mình
- Xác định thẩm quyền xét xử căn cứ theo dấu hiệu quốc tịch của một bên hoặc các bên đương sự.
Theo căn cứ này, tòa án của một quốc gia sẽ có thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự
có yếu tố nước ngoài nếu một hoặc các bên đương sự là công nhân nước mình Đây là một nguyên tắc có ý nghĩa rất quan trọng, có tính chất quyết định trong việc xác định thẩm quyền xét xử của tòa án quốc gia ở các nước xây dựng quy phạm xung đột theo quy tắc “Luật quốc tịch”
- Xác định thẩm quyền xét xử căn cứ theo dấu hiệu nơi cư trú của bị đơn.
Đây là căn cứ cơ bản được áp dụng để xác định thẩm quyền xét xử của tòa án quốc gia được hầu hết các nước thừa nhận Đặc biệt đối với các vụ việc phát sinh từ quan hệ thương mại quốc tế, quy tắc này thường được áp dụng
- Xác định thẩm quyền xét xử căn cứ theo dấu hiệu nơi có tài sản của bị đơn hoặc nơi có tài sản tranh chấp.
Trang 6Tại một số nước, ví dụ như Đức và các nước thuộc hệ thống Common Law, đây là căn
cứ cơ bản được áp dụng để xác định thẩm quyền của tòa án Căn cứ này cho phép nguyên đơn có quyền yêu cầu tòa án của bất kỳ quốc gia nào thụ lý vụ việc, nếu bị đơn có tài sản
ở nước đó, cho dù là tài sản đó không phải là đối tượng của vụ tranh chấp
Bên cạnh đó, đối với hầu hết các nước việc xác định thẩm quyền của tòa án căn cứ theo nơi có tài sản tranh chấp liên quan đến bất động sản Pháp luật các nước thường quy định tranh chấp liên quan đến bất động sản thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của tòa án nơi có bất động sản đó
- Xác định thẩm quyền xét xử theo khả năng thực tế trao cho bị đơn lệnh gọi
ra toà án.
Căn cứ này được sử dụng rộng rãi ở các nước theo hệ thống Common Law Theo đó, nếu lên gọi ra tòa án có thể được trao cho bị đơn khi bị đơn có mặt tại lãnh thổ quốc gia
có tòa án thì quốc gia đó có thẩm quyền dù cho bị đơn chỉ lưu trú ngắn ngày tại quốc gia
đó và tranh chấp không liên quan với nước có tòa án
- Xác định thẩm quyền xét xử theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng.
Căn cứ này được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong quan hệ thương mại quốc tế
- Xác định thẩm quyền xét xử theo nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại
Đây là căn cứ được áp dụng phổ biến cho các vụ kiện về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
II PHẦN RIÊNG
1 Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
1.1 Nguyên tắc áp dụng
Theo Khoản 3 Điều 2 BLTTDS 2015: “Bộ luật tố tụng dân sự được áp dụng đối với việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó” Quy định cho thấy, nguyên tắc thẩm quyền của tòa án Việt Nam được xác định theo nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tuy nhiên, trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác quy định pháp luật Việt Nam sẽ được xác định theo quy định của điều ước quốc tế đó
Trang 7Theo Điều 464 Nguyên tắc áp dụng BLTTDS 2015:
o Phần này quy định về thẩm quyền, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố
nước ngoài; trường hợp Phần này không có quy định thì áp dụng các quy định khác có liên quan của Bộ luật này để giải quyết.
o Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
o Các hoạt động tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự được thực hiện theo quy
định của pháp luật về tương trợ tư pháp.
1.2 Thẩm quyền chung của toàn án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự
có yếu tố nước ngoài: là thẩm quyền đối với những vụ việc mà toà án nước đó có
quyền xét xử nhưng toà án nước khác cũng có thể xét xử (điều này tuỳ thuộc vào tư pháp quốc tế của các nước khác có quy định là toà án nước họ có thẩm quyền với những vụ việc như vậy hay không) Khi mà toà án nhiều nước đều có thẩm quyền xét
xử một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, thì quyền xét xử thuộc về toà án nước nào phụ thuộc vào việc nộp đơn của các bên chủ thể
Điều 469 Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài
1 Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây:
a) Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
b) Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức
có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam;
c) Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;
Trang 8d) Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương
sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
đ) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;
e) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam.
2 Sau khi xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo quy định của Chương này, Tòa án áp dụng các quy định tại Chương III của Bộ luật này để xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
Vài lưu ý về điều 469: theo khoản a, điều 469 “Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh
sống lâu dài tại Việt Nam;” thì chúng ta có thể xác định được nếu nguyên đơn là cá
nhân cư trú, làm ăn lâu dài tại Việt Nam thì đây không phải là dấu hiệu xác định thẩm quyền tài phán của tòa án Việt Nam Và theo khoản a, thì trường hợp bị đơn là người nước ngoài chỉ tạm trú tại Việt Nam thì tòa án Việt Nam không có thẩm quyền tài phán
Theo khoản b, điều 469 có đề cập đến bị đơn là tổ chức có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam Ở đây, chi nhánh không phải là pháp nhân mà chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân; văn phòng đại diện cũng tương tự như vậy, văn phòng đại diện có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của pháp nhân và thực hiện việc bảo vệ các lợi ích đó Khi xảy ra tranh chấp tại văn phòng đại diện của tổ chức tại Việt nam thì việc tranh chấp này cần phải liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức đó tại Việt Nam
1.3 Thẩm quyền riêng của toàn án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự
có yếu tố nước ngoài: là trường hợp quốc gia sở tại tuyên bố chỉ có toà án nước họ
mới có thẩm quyền xét xử đối với những vụ việc nhất định Như vậy, Các quốc gia ấn định thẩm quyền xét xử riêng biệt của mình đối với những vụ việc có tính chất hết sức quan trọng tới an ninh, trật tự của quốc gia (điểm a khoản 1 Điều 470 BLTTDS 2015) hay nhằm mục đích bảo vệ cho các cá nhân, pháp nhân hay một quan hệ dân sự nào đó (điểm b khoản 1 Điều 470 BLTTDS 2015)
Trang 9Điều 470 Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
1 Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết
riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;
b) Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;
c) Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam.
2 Những việc dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam;
c) Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của
họ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác;
d) Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam;
đ) Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam.
Như vậy có thể hiểu rằng, nếu toà án nước khác vẫn tiến hành xét xử đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt, hậu quả là bản án, quyết định được tuyên bởi toà án nước khác sẽ không được nhận, cho thi hành tại quốc gia sở tại Trong trường hợp này, kể cả các bên chủ thể thoả thuận toà án nước khác thì về nguyên tắc, toà án
Trang 10nước đó cũng cần phải từ chối thụ lý vụ việc để tôn trọng thẩm quyền xét xử riêng của quốc gia sở tại
2 Xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam theo các hiệp định tương trợ tư pháp quốc tế giữa Việt Nam và các nước
Các hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý có đề cập đến giải quyết xung đột về thừa kế như Hiệp định với Liên Bang Nga; Cuba; Hungary; Bungary; Ba Lan; Sec-Slovakia; Lào; Mông Cổ; Ucraina; Belarutxia cũng đồng thời đưa ra giải quyết cho xung đột thẩm quyền đối với vụ việc về thừa kế Theo đó, các Hiệp định quy định
vấn đề thẩm quyền giải quyết thuộc về cơ quan tư pháp của nước ký kết nào sẽ phụ
thuộc tính chất của di sản để lại.
o Cụ thể cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết mà người để lại di sản mang quốc tịch có thẩm quyền giải quyết vụ việc thừa kế đối với di sản là động sản (Khoản 1 Điều 42 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự giữa Việt Nam và Nga; khoản 1 Điều 36 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp
lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Lào; khoản 1 Điều 37 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và hình
sự giữa Việt Nam và Mông Cổ …) Ngoài ra, khoản 3 Điều 42 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Nga còn ghi nhận “tất cả động sản là di sản của công dân bên ký kết này ở trên lãnh thổ của Bên ký kết kia, thì theo đề nghị của một người thừa kế và được sự đồng ý của tất cả những người đồng thừa kế đã biết khác, cơ quan Bên ký đó
sẽ tiến hành các thủ tục của việc giải quyết thừa kế”
o Về cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vụ việc thừa kế đối với di sản là bất động sản, các hiệp định ghi nhận thẩm quyền thuộc về “cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi có di sản” (khoản 2 Điều 42 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Nga; khoản 2 Điều
36 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý giữa Việt Nam và Lào; khoản 2 Điều 37 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình
và hình sự giữa Việt Nam và Mông Cổ)