1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật việt nam và điều ước quốc tế

68 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 793,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luậtViệt Nam và điều ước quốc tế______________________________________________________ Đe có được một công

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

Giảng viên hướng dẫn: Sinh Viên Thực Hiện: Trần Hoàng Việt

Chuyên Ngành: Luật Thương Mại

Khóa: 33

càn Thơ, 5/20113

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trải qua bốn năm học tập, với những khó khăn trong giai đoạn đầu bước chân vàomôi trường mói, môi trường học tập đầy khó khăn, thử thách Đó là quá trình có sự nổlực phấn đấu của bản thân người viết, kiên trì học tập để hoàn thành đúng tiến độ của

hệ chính quy ngành luật, và hom hết, chính là công lao mà các giảng viên Khoa Luậttrường Đại học cần Thơ đã dốc hết tâm huyết để đào tạo giúp tôi vững vàng với khốikiến thức có được, để đến khi ra trường phục vụ cho bản thân, gia đình và xã hội Xingửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Đội ngủ Giảng viên Khoa Luật trường Đại học cầnThơ, các Thầy, các Cô đã dẫn dắt tôi suốt bốn năm ngồi trên giảng đường Đại học, xingửi lời cảm ơn chân thành đến Thày Diệp Ngọc Dũng đã hướng dẫn tôi hoàn thành tốtluận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Cần thơ, ngày tháng năm 2011

Người viết

Tràn Hoàng Việt

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

càn thơ, ngày tháng năm 2011

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG

càn thơ, ngày tháng năm 2011

Trang 5

MỤC LỤC

SOỄUGS

LỜI NÓI ĐÀU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VÈ TRÁCH NHIỆM BÒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐÒNG TRONG Tư PHÁP QUỐC TẾ 4

1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 4

1.1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 4

1.1.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế 5

1.2 Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng trong tư pháp quốc tế 6

1.2.1 Nguyên tắc chung 6

1.2.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài 7

1.2.1.1 Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài, điều ước quốc tế trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài 7

1.2.1.2 Nguyên tắc áp dụng pháp luật Việt Nam 9

1.2.2 Nguyên tắc chuyên biệt 9

1.2.2.1 Ng uyên tắc áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch 10

1.2.2.2 Ng uyên tắc áp dụng hệ thuộc luật noi thực hiện hành vi 11

1.3 Phương pháp điều chỉnh 12

1.3.1 Phương pháp xung đột 12

1.3.2 phương pháp thực chất 14

1.4 Nguồn luật chủ yếu điều chỉnh quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng trong tư pháp quốc tế 15

1.4.1 Luật quốc gia 16

1.4.2 Điều ước quốc tế 19

QUỐC TẾ 22

2.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật Việt Nam 22

2.1.1 Năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân và pháp nhân trong tư pháp quốc tế 22

2.1.1.1 Nă ng lực pháp luật của cá nhân và năng lực hành vi của cá nhân 23

2.1.1.2 Nă

Trang 6

2.1.2 Thẩm quyền giãi quyết quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong một vài điển hình 24 2.1.2.1 Khi sự việc xảy ra tại Việt Nam 25 2.1.2.2 Khi sự việc xảy ra ở nước ngoài 26 2.1.3 Pháp luật Việt Nam về việc áp dụng pháp luật trong quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 28

2.1.3.1 Khi hai quốc gia khác nhau cùng điều chỉnh quan hệ trách nhiệm bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng 28

2.1.3.2 Một số ngoại lệ về việc áp dụng pháp luật trong quan hệ trách nhiệm bồi

thường thiệt hại ngoài họp đồng 29

2.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo điều ước quốc tế

33

2.2.1 Năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân và pháp nhân 34 2.2.1.1 Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân 34 2.2.1.2 Năng lực pháp luật của pháp nhân 35 2.2.2 Thẩm quyền giải quyết quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 35 2.2.3 Điểu ước quốc tế về việc áp dụng pháp luật giải quyết quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 37

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VÈ QUAN HỆ TRÁCH NHIỆM BÒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐÒNG TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ 41 3.1 Thực trạng và hướng giải quyết quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế 41

3.1.1 Thực trạng các quy định của pháp luật về quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hẹp đồng và giải pháp 41 3.1.2 Thực trạng giải quyết tranh chấp về quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và giải pháp 50

3.2 Một số kiến nghị về quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế 54

3.2.1 Kiến nghị về việc hoàn thiên pháp luật 54 3.2.2 Kiế

n nghị trong giai đoạn thực thi pháp luật 56 3.2.3 Kiến nghị về việc đàm phán các điểu ước quốc tế 58

KẾT LUẬN 62

Trang 7

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế

LỜI NÓI ĐÀU

Việt Nam bước vào thời kì toàn cầu hóa, hướng đất nước hòa mình vào thế giới,quan hệ hợp tác với các nước trở nên mạnh mẻ trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chínhtrị, văn hóa, xã hội, lao động, hôn nhân các quan hệ này phát sinh theo nghĩa rộng,theo yếu tố gắn kết có nhân tố nước ngoài Việc xuất hiện những nhân tố mới, đòi hỏiđất nước bắt kịp với sự thay đổi, việc thích nghi là điều cần thiết, thiết lập một cơ chếmới có sức điều chỉnh phổ quát cho các quan hệ mới này là một đòi hỏi cấp thiết

Xu thế thay đổi để thích nghi là xu thế chung, việc chấp nhận các quan hệ mới phátsinh đòi hỏi chúng ta luôn vận động linh hoạt, nhạy bén để ứng phó kịp thời sự biếnđổi của thời cuộc Trong quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, sự gắnkết giữa các chủ thể trong và ngoài nước ngày trở nên phổ biến, với tình hình thực tại,việc di chuyển công dân và pháp nhân trong giao lưu quốc tế, hình thành nên nhữngquan hệ mới, không còn là một vấn đề giải quyết của một quốc gia, mà đó là vấn đềchung của nhiều quốc gia trong quan hệ với nhau điều chỉnh các quan hệ phát sinhtrong hợp tác quốc tế Một vụ tai nạn mà trong quan hệ đó có một công dân nướcngoài và một công dân Việt Nam, làm phát sinh một tranh chấp, từ đó để giải quyếttriệt để việc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại, Tòa án không chỉ căn cứ trênluật của Quốc gia mình để giải quyết hoàn toàn vụ việc trên, vấn đề này sẽ càng phứctạp nếu có những tranh chấp về bồi thường thiệt hại mà vụ việc không chỉ phát sinhtrên lãnh thổ của quốc gia mình, mà phát sinh ở nước ngoài, hoặc không thuộc mộtquốc gia nào cả

Trong tiến trình cải cách tư pháp, trên tinh thần của Nghị Quyết 48-NQ/TW vàNghị Quyết 49 của Bộ chính trị về việc đề ra chiến lược xây dựng và hoàn thiện phápluật Việt Nam năm 2010, định hướng đến năm 2020, và thực tế vấn đề trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế còn nhiều hạn chế, thiếu sót, cácquy định còn chưa có sức điều chỉnh phổ quát, các văn bản hướng dẫn, cũng như thực

tế quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một quan hệ còn mới mẻ, việcthích nghi để có một cơ chế điều chỉnh nhằm đối phó còn khó khăn, do chúng ta chỉmới trong giai đoạn đầu của hội nhập, sự quan tâm trong vấn đề này còn chưa thực sự

tương xứng với nhu càu thực tại, vì thế người viết chọn đề “Trách nhiệm bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế”, nhằm nghiên cứu, phân tích để tìm ra những nguyên nhân, vướng mắc và từ

đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết cáctranh chấp trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trang 8

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

Đe có được một công trình nghiên cứu hiệu quả, đánh giá được mức độ hiệu quả

mà một vấn đề phát sinh được pháp luật điều chỉnh trên phương diện khách quan, côngbằng, và chính xác, việc nghiên cứu đề tài của người viết nhằm phân tích thực tại cácquy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong quan

hệ dân sự có yếu tố nước ngoài dưới sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và điều ướcquốc tế, nhằm có sự đối chiếu, tìm ra được những mặt tích cực, hạn chế, thiếu sót, từ

đó đưa ra hướng hoàn thiện góp phàn làm cho quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng phát sinh theo nghĩa rộng sẽ được quan tâm và có bước sửa đổi, bổ sunghoàn thiện các chế định pháp luật

Người viết thực hiện đề tài trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong

tư pháp quốc tế, chủ yếu xoáy sâu vào các quy định của pháp luật về bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo pháp luật ViệtNam và điều ước quốc tế, nghiên cứu, phân tích nguyên tắc chung chọn pháp luật giảiquyết trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và phân tích việc bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng trong một số tình huống là ngoại lệ trong nguyên tắc chọn luật chung

để giải quyết về bồi thường thiệt hại Bên cạnh đó phân tích một số vấn đề có liênquan như: nguyên tắc trong việc xét năng lực hành vi dân sự, năng lực pháp luật của cánhân và pháp nhân, và quy tắc xác định thẩm quyền trong một số hoàn cảnh nhất định.Việc phân tích về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, người viết sử dụng phươngpháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngoài ra còn tham khảo quan điểm của cáctác gia luật học trong việc nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng Đồng thời, để hoàn tất luận văn, người viết còn sử dụng một số phương phápnghiên cứu được liệt kê sau: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phươngpháp biện chứng, và phương pháp tổng hợp đánh giá

Dựa vào phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn được chia thành ba nội dung lớn:Chương 1 Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư

pháp quốc tếTrong chương này, người viết tập trung tiếp cận làm rỏ về mặt lý luận, là cơ sở nềntảng đi sâu giải quyết việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế,với những vấn đề nền tảng như: việc khái quát đối chiếu giữa trách nhiệm bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài,nêu lên các nguyên tắc điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, và nguồn luật chủ yếuđiều chỉnh quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Chương 2 Pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế về trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế

Trang 9

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

Chương này người viết tập trung phân tích các quy phạm pháp luật của Việt Nam

và điều ước quốc tế có liên quan đến điều chỉnh quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài họp đồng, bao gồm phân tích nguyên tắc xem xét năng lực trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân và pháp nhân, việc xác định thẩm quyềngiải quyết trong một vài trường hợp và việc áp dụng pháp luật giải quyết trách nhiệmbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Chương 3 Thực trạng, giải pháp và kiến nghị về quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài họp đồng trong tư pháp quốc tế

Chương 3 người viết tập trung đưa ra những vướng mắt, bất cập trong thực tiễn giảiquyết quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, từ đó có những giảipháp và kiến nghị

Quan hệ dân sự theo nghĩa rộng nói chung và quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng có yếu tố nước ngoài nói riêng là quan hệ phức tạp, việc nghiên cứu cònnhiều hạn chế, vì đề tài còn mới mẻ, cùng với sự hiểu biết là có hạn, năng lực tổng hợpphân tích, trình bày còn non kém nên trong quá trình cố gắng làm rỏ vấn đề vẫn cònnhiều thiết sót và thời gian nghiên cứu có hạn, vì vậy rất cần được sự quan tâm, hướngdẫn, chỉ dạy của quý Thầy, Cô và sự góp ý xây dựng của những ai quan tâm

Trang 10

Điều 604 Bộ luật dân sư 2005 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VÈ TRÁCH NHIỆM BÒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI

HỢP ĐÒNG TRONG Tư PHÁP QUỐC TẾ 1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trong đời sống thực tế hiện nay, các vấn đề phát sinh trong cuộc sống thườngngày xảy ra bên cạnh chúng ta là những tác động có thể theo hướng tích cực, hoặccũng có thể là những tác động mang tính tiêu cực, với những tác động theo hướng tiêucực ta gọi đó là những tác động có ảnh hưởng bất lợi đến mỗi chủ thể trong quan hệ xãhội, dù nó có ảnh hưởng đáng kể hay không đáng kể Trên phương diện pháp luật, việcmột chủ thể nào đó (hoặc do tài sản gây ra) làm tổn thất về sức khỏe, tài sản, uy tín,tính mạng cho người khác làm phát sinh trách nhiệm bồi thường, trách nhiệm này xảy

ra khi có thiệt hại như trên, các thiệt hại có thể xảy ra trên cơ sở được thỏa thuận vàđược dự liệu trước, ta gọi đó là thiệt hại trong hợp đồng, hoặc những thiệt hại xảy ratrên nguyên tắc không có thỏa thuận hợp đồng nào, ta gọi đó là thiệt hại ngoài hợpđồng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp nói riêng sẽ được khái quát cụ thể nhưsau :

1.1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại là nguyên tắc cơ sở cho việc mà khi quyền dân

sự của một chủ thể bị xâm phạm , Bộ luật dân sự 2005 tại Khoản 1 Điều 604 - “ Người

nào có loi co ý hay vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phấm, uy tín, tài sản, quyền và ỉợi ích hợp pháp của cá nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường ”(l) Có nghĩa là một khi có căn cứ cho rằng quyền và lợi ích hợppháp của một chủ thể trong pháp luật dân sự bị xâm hại thì trên cơ sở đó phải được ghi

nhận trên nguyên tắc chung nhất là : “Người gây ra thiệt hại phải bồi thường thiệt hại

cho người bị thiệt hại”, một ví dụ cho nguyên tắc này là khi A lái xe gây tai nạn cho

B, thì A có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho B, mặc dù trên cơ sở gây tai nạn

chúng ta chưa biết được ai là chủ thể có lỗi, tuy nhiên, xét về tính chất: “gây thiệt hại

thì phải bồi thường”.

Trên nguyên tắc chung đó, thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ

phát sinh khi hội đủ các yếu tố : “có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật, moi

quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có loi” Như vậy

trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng nói riêng là quan hệ pháp luật dân sự, mà trên cơ sở đó người gây ra thiệt hạitrong những điều kiện được Luật dự liệu phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ và

Trang 11

Xem Điều 605 Bộ luật dân sự 2005 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

kịp thời(2) những thiệt hại do hành vi trái pháp luật do họ gây ra, trong quan hệ nghĩa

vụ này, bên bị thiệt hại được xem là người có quyền và có quyền yêu càu bên gây thiệthại có nghĩa vụ bồi thường những thiệt hại đã gây ra

Tóm lại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được giải quyết khôngtrên cơ sở của một hợp đồng dân sự, việc giải quyết sẽ dựa trên những căn cứ đã nêu

và hên cơ sở qui định chung của Bộ luật dân sự

1.1.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế

Trong thời kỳ “toàn cầu hóa”, với tốc độ hội nhập quốc tế, họp tác quốc tế

ngày càng phát triển, làm cho các mối quan hệ về thương mại, lao động, hôn nhân, tốtụng dân sự, trở nên đa dạng và có chiều hướng phổ biến, ảnh hưởng sâu sắc đến cácquan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng được điều chỉnh bởi cơ chế luậtQuốc nội, đây là các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, nghĩa là quan hệ dân sự cóyếu tố nước ngoài, thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế Theo Điều 758 Bộ

luật dân sự 2005 định nghĩa về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài: “Quan hệ dân sự

có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, to chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đoi, chấm dứt, quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài ”

Căn cứ vào định nghĩa như trên, có thể thấy quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài được xác lập hên các điều kiện:

+ Thứ nhất, đối với chủ thể của quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, thì phải có ít nhất

một trong các bên trong quan hệ là cơ quan, tổ chức, cá nhân người nước ngoài, người

Việt Nam định cư ở nước ngoài Theo đó, theo quy định của Nghị định 138, “người

nước ngoài” là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước

ngoài và người không quốc tịch, “cơ quan, to chức nước ngoài” là cơ quan, tổ chức

không phải là cơ quan tổ chức Việt Nam được thành lập theo pháp luật nước ngoài,

bao gồm cả cơ quan, tổ chức quốc tế được thành lập theo pháp luật quốc tế, “pháp

nhân nước ngoài” là pháp nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài, còn “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người có quốc tịch Việt Nam và người có gốc Việt

Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài

+ Thứ hai, theo pháp luật Việt Nam, một quan hệ hay vụ việc giữa hai bên đều là

Việt Nam cũng có thể là một quan hệ hay vụ việc có yếu tố nước ngoài nếu căn cứ đểxác lập, thay đổi, chấm dứt, quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, nghĩa là trong hoàncảnh này, các chủ thể trong quan hệ nào đó, xin đơn cử là trong quan hệ về bồi thường

Trang 12

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

thiệt hại ngoài hợp đồng, mà các bên gồm bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có cùngquốc tịch Việt Nam, nhưng việc phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng là hoàn toàn ở nước ngoài (hành vi gây thiệt hại, hậu quả của hành vi gây thiệthại ở nước ngoài)

+ Thứ ba, ngoài ra quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài còn được

hiểu là quan hệ mà tài sản có liên quan đến quan hệ đó đang ở nước ngoài

Như vậy, quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư phápquốc tế được hiểu là quan hệ trách nhiệm dân sự có yếu tố nước ngoài, vấn đề bồithường thiệt hại được giải quyết không trên cơ sở của hợp đồng dân sự (vì không cóhợp đồng) mà chỉ giải quyết trên cơ sở của pháp luật quy định là thiệt hại thực tế đãgây ra

1.2 Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng trong tư pháp quốc tế

Trong giao lưu quốc tế, tư pháp quốc tế với tư cách là một ngành Luật chủ đạo

có đối tượng điều chỉnh đa dạng, là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nướcngoài, bao gồm: quan hệ lao động, thương mại, hôn nhân gia đình, tố tụng dân sự,cùng với các quan hệ dân sự đã được quy định trong Bộ luật dân sự, các quan hệ nàyphát sinh trong quá trình hợp tác quốc tế, tư pháp quốc tế đóng vai trò tích cực củng cốthúc đẩy các mối quan hệ quốc tế, gắn chặt tinh thần hợp tác trên nhiều lĩnh vực, đưacác chủ thể của quan hệ dân sự quốc tế đến gần với các quan hệ chung của toàn cầu Ởnước ta, tư pháp quốc tế đóng vai trò chủ đạo thúc đẩy hợp tác giao lưu trong cộngđồng quốc tế, nó thể hiện đường lối chính sách đối ngoại toàn diện của Đảng và NhàNước, phát triển ngành Luật tư pháp là góp phần tích cực hoàn thiện cách ứng xửtrong các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế, mà các quan

hệ xã hội này sẽ xuất hiện ngày càng phổ biến, là các quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài Trên tinh thần chung, các mối quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi nhữngnguyên tắc đặc thù phù hợp với tính chất và đặc điểm của từng hệ thống pháp luật vàcủa mỗi ngành luật, việc điều chỉnh các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tốnước ngoài, cụ thể là quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tư pháp quốc tếcũng đương nhiên có những nguyên tắc cơ bản và đặc thù của mình Trong việc điềuchỉnh quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Tư pháp quốc tế dựatrên nền tảng những nguyên tắc đặc thù sau đây

Trang 13

Điều 5 Chương II Bộ luật dân sự 2005 Nguyên tắc bình đẳng.

(4) Khoản 2 Điều 406 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Quyền, nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài.

(5) Xem phân tích về phuơngpháp xung đột ờ Mục 1.3.1 Chương 1, Trang 9,10.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

1.2.1.1 Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ dần sự có yếu tổ nước ngoài

Trên tinh thần tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại, cũngnhư chế độ chính trị, xã hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả điều

ghi nhận việc phải bảo vệ các mối quan hệ chung luôn đảm bảo được công bằng,

nguyên tắc không phân biệt đối xử là nguyên tắc chủ đạo trong quan hệ giao lưu quốc

tế, nguyên tắc này được tôn trọng nhằm thúc đẩy các quan hệ xã hội phát triển tích cực

có trật tự, trong đó có quan hệ dân sự theo nghĩa rộng Điều 5 Bộ luật dân sự 2005 ghi

nhận nguyên tắc bình đẳng : “Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không

được lẩy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phẩn xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín

ngưỡng, tôn giáo, trình độ vãn hóa, nghề nghiệp, để đổi xử không bình đẳng với

nhau” (ỉ> , đây là qui định mà phạm vi của nó, có hiệu lực áp dụng đối với quan hệ trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có

yếu tố nước ngoài, thêm vào đó tại Khoản 2 Điều 406 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 :

“Khi tham gia to tụng dân sự, cá nhân, cơ quan to chức nước ngoài có quyền, nghĩa

vụ tổ tụng như công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam” (4> , điều này có ý nghĩa trong việc

điều chỉnh các mối quan hệ pháp lý của tư pháp quốc tế, việc phân biệt đối xử bất bình

đẳng là yếu tố hoàn toàn không thể chấp nhận, nguyên tắc này phải được tôn trọng trên

tất cã các lĩnh vực, không chỉ riêng quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong

dân sự quốc tế Vì vậy, bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể trong các quan hệ của

luật quốc tế nói chung và trong quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng trong tư pháp quốc tế nói riêng trên cơ sở không phân biệt đối xử, chính là tôn

trọng và bảo vệ nguyên tắc bình đẳng và công bằng trong luật thực định Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam

1.2.1.2 Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài, điều ước quốc tế trong quan

hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài

Trong quan hệ nhiều mặt của cộng đồng quốc tế, việc xảy ra xung đột về lợi íchcủa các chủ thể trong những quan hệ là không tránh khỏi, trên phương diện pháp luật

cũng không là ngoại lệ, các vấn đề giống nhau được các hệ thống luật khác nhau điều

chỉnh, ta gọi đó là xung đột pháp luật3 4 (5), đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng trên hệ

thống pháp luật của mình những qui phạm xung đột để áp dụng giải quyết các vấn đề

phát sinh, chính điều này nói lên các quốc gia đã thừa nhận là pháp luật nước ngoài có

thể được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ phát sinh, trong đó có các quan hệ thuộc

Trang 14

Khoản 1 Điều 759 Áp dụng pháp luật dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế, pháp

luật nước ngoài và tập quán quốc tế Bộ luật dần sự 2005

(7) Xem thêm Khoản 3 Điều 759 Bộ luật dân sự 2005.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế Thực tế cho thấy, vấn đề áp dụng pháp luật

nước ngoài, điều ước quốc tế trở thành nguyên tắc chung được hàu hết các nước thừa

nhận, là việc làm không tránh khỏi khi tham gia vào các quan hệ chung của cộng đồng

quốc tế, và cũng là nét đặc thù của tư pháp quốc tế

Khoản 1 Điều 759 Bộ luật dân sự : “ Các qui định của pháp luật dân sự Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đoi với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài,

trừ trường hợp Bộ luật này có qui định khác (6> ” , trong trường hợp xét ở vế thứ hai

của điều luật: “ Trừ trường Bộ luật này có qui định khác ”, điều này có nghĩa, luật ghi

nhận trong trường hợp ngoại lệ điều ước quốc tế, luật nước ngoài hoặc cũng có thể tập

quán sẽ được áp dụng giải quyết trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung

và trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng, thêm vào đó, Tại Khoản 2 : “

Trong trường họp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành

viên có quy định khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của điều ước

quốc tế đó ”, điều này thừa nhận, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có hiệu

lực cao hơn so vói các quy định của Bộ luật dân sự, đây là một trong những nguyên

tắc căn bản thiết yếu trong các quan hệ của luật quốc tế

Thế nhưng, trên nguyên tắc là như vậy, các quốc gia trong quan hệ quốc tế tôntrọng các nguyên tắc chung căn bản là điều nên làm, nhưng việc bảo tồn các lợi ích

công cộng, trật tự xã hội trong nước, mà ta gọi đó là các nguyên tắc căn bản của Luật

quốc nội, việc bảo vệ các nguyên tắc này là tối cần thiết khi việc áp dụng pháp luật

nước ngoài, điều ước quốc tế vào quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà đi

ngược lại những lợi ích này, trên cơ sở đó, Khoản 3 ghi nhận : “ Trong trường họp Bộ

luật này, các vãn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc

điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến

việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng, nếu việc

áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của

pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam <7> Cho nên, điều này có nghĩa là một

khi việc áp dụng pháp luật của một nước khác vào quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có

yếu tố nước ngoài, cụ thể là quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà hậu quả

của việc áp dụng pháp luật nước ngoài đó trái với các nguyên tắc cơ bản của chế độ xã

hội, trật tự công cộng thì luật nước ngoài đó không được áp dụng để giải quyết

Như vậy, áp dụng luật nước ngoài và điều ước quốc tế vào quan hệ bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng là nguyên tắc cơ bản, việc áp dụng là thừa nhận và đảm bảo

nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các hệ thống pháp luật, điều này có 6 7

Trang 15

Khoản 3 Điều 2 Hiệu lực của Bộ luật dân sự 2005.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy sự phát triển của giao lưu dân sự quốc tế Tuynhiên, việc áp dụng đó được đặt trong khuôn khổ, phạm vi của sự cho phép, việc ápdụng phải có xem xét đến lợi ích quốc gia là điều cần làm trước hết, đồng thời đảmbảo rằng hậu quả của việc áp dụng không trái với nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội

và của pháp luật nước mình, nguyên tắc này được ghi nhận về lý luận cũng như thựctiễn hầu hết các nước trên thế giới

1.2.1.3 Nguyên tắc áp dụng pháp luật Việt Nam

Trên cơ sở của vấn đề bình đẳng về quan hệ pháp lý khi áp dụng giữa các hệthống pháp luật của các nước khác nhau, các hệ thống pháp luật tham gia vào quan hệquốc tế được đảm bảo bình đẳng và không phân biệt đối xử với nhau Vì vậy, phápluật Việt Nam có đủ tư cách để tham gia vào hệ thống luật chung của quốc tế và được

áp dụng khi có qui phạm xung đột dẫn chiếu đến (hoặc thuộc thẩm quyền) Trong quan

hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài, Bộ luật dân sự tại Khoản

1 Điều 759 : “ Các quy định của pháp luật dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác ”, tương tự như vậy, tại Khoản 3 Điều 2 về hiệu lực của Bộ

luật dân sự 2005: “ Bộ luật dân sự được áp dụng đoi với các quan hệ dân sự có yếu tố

nước ngoài, trừ trường họp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là thành viên cố quy định khác ” <8> , điều này cho thấy, trong trường hợp giải quyếtquan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc quan hệ dân sự theo nghĩa rộng,luật Việt Nam có hiệu lực áp dụng giải quyết

Ghi nhận hiệu lực của việc áp dụng pháp luật Việt Nam trong quan hệ dân sự cóyếu tố nước ngoài là một nguyên tắc cụ thể, nằm trong nguyên tắc chung cơ bản của tưpháp quốc tế, đó là nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài Việc áp dụng pháp luậtViệt Nam cũng trên tình thần bình quyền giữa các hệ thống pháp luật, và cũng nhằmbảo vệ tốt nhất các chế định căn bản của luật trong nước

1.2.2 Nguyên tắc chuyên biệt

Tư pháp quốc tế ngoài các nguyên tắc chung đặc thù làm nền tảng cho các quan

hệ quốc tế, các nguyên tắc này được cộng đồng quốc tế thừa nhận như kim chỉ namcho các quốc gia khi tham tham gia vào giao lưu quốc tế Bên cạnh việc thừa nhận cácnguyên tắc cơ bản của luật Quốc tế, trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nóiriêng, tư pháp quốc tế có thể áp dụng các nguyên tắc khác làm cơ sở cho việc giảiquyết các vấn đề phát sinh có liên quan 8

Trang 16

Xem phân tích Khoản 2 Điều 773 Bồi thường thệt hại ngoài hợp đồng Bộ luật dân sự 2005, tại Chương 2.

Mục 2.1*3.2.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

1.2.2.1 Nguyên tắc áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch

Trong tư pháp quốc tế, khi giải quyết xung đột pháp luật về những vụ việc như :xét về điều kiện kết hôn, năng lực kết hôn, xem xét về năng lực pháp luật, năng lực

hành vi ,việc căn cứ vào hệ thuộc luật quốc tịch của đương sự để giải quyết là

nguyên tắc cơ bản, hệ thuộc luật quốc tịch được hiểu là : “là luật của nước mà đương

sự là công dân”, trên cơ sở khái niệm thấy được mối quan hệ gắn bó giữa nhà nước

với công dân của mình, đó là quan hệ gắn bó quyền và nghĩa vụ giữa hai chủ thể của

Luật quốc tế, hệ thuộc luật quốc tịch được áp dụng như một trong những biện pháp

giúp giải quyết có hiệu quả khi có xung đột pháp luật, bởi vì nó chỉ ra hệ thống pháp

luật được áp dụng đối với những loại quan hệ mà tư pháp điều chỉnh, nguyên tắc áp

dụng hệ thuộc quốc tịch cũng nhằm thể hiện tối đa quyền bảo hộ công dân của một

nước khi chính công dân của nhà nước đó tham gia vào quan hệ quốc tế

Trong thực tiễn các nước, hệ thuộc luật quốc tịch thường được áp dụng ở hầu hếtcác nước ở Âu Châu như : Pháp, Đức, Italia, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và một số

nước khác như Nhật Bản, Cuba Ở Việt Nam, hệ thuộc luật quốc tịch được xem xét

giải quyết trên nhiều khía cạnh của quạn hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, cụ thể như về

điều kiện kết hôn, về năng lực của cá nhân là người nước ngoài, trong trường hợp xét

năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài, tại khoản 1 Điều 761 Bộ

luật dân sự quy định: “1 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài

được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch ”, hoặc áp dụng

nguyên tắc hệ thuộc luật quốc tịch để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra

bởi tàu bay, tàu biển, một ví dụ điển hình là tại Khoản 2 Điều 773 Bộ luật dân sự về

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài: “ Việc bồi thường thiệt hại

do tàu bay, tàu biển gây ra ở không phận quốc tế hoặc biển cả được xác định theo

pháp luật của nước mà tàu bay, tàu biển mang quốc tịch, trừ trường hợp pháp luật về

hàng không dân dụng và pháp luật về hàng hải của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam có quy định khác <9> ”, đây là cách thức giải quyết về bồi thường thiệt hại có yếu

tố nước ngoài gây ra ở không phận quốc tế mà luật Việt Nam xét về quốc tịch của tàu

bay, tàu biển để giải quyết Đây là nguyên tắc cũng được Việt Nam thỏa thuận trong

các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết với nhiều quốc gia, Hiệp định tương trợ

tư pháp giữa Việt Nam - Lào tại Khoản 1 Điều 17 : “Năng lực pháp luật và năng lực

hành vi dân sự sẽ tuân theo pháp luật của nước kí kết mà cá nhân đó là công dân ”,

như vậy trong trường hợp cần xem xét về năng lực pháp luật hay năng lực hành vi của

cá nhân, hai nước thỏa hiệp sẽ căn cứ vào luật của nước mà công dân mang quốc tịch 9

Trang 17

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

Tóm lại, trên cơ sở dựa vào các nguyên tắc đặc thù của ngành luật tư pháp để giảiquyết các vấn đề trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh, và trong bồithường thiệt hại ngoài họp đồng, thì nguyên tắc áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch nhằmđiều chỉnh các vấn đề có liên quan có ý nghĩa đặc biệt, việc điều chỉnh hướng về việc

áp dụng luật của nước mà chủ thể trong quan hệ dân sự theo nghĩa rộng đó mang quốctịch, giúp giải quyết xung đột pháp luật trong một số trường hợp cụ thể khi có quiphạm xung đột dẫn chiếu đến, như vậy có thể nói rằng, nguyên tắc áp dụng hệ thuộcluật quốc tịch là nguyên tắc cơ bản giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng

1.2.2.2 Nguyên tắc áp dụng hệ thuộc luật noi thực hiện hành vi

Đây là nguyên tắc nằm trong các hệ thuộc cơ bản của tư pháp quốc tế, nguyêntắc này bao gồm các dạng khác nhau như : luật nơi ký kết hợp đồng, luật nơi thực hiệnnghĩa vụ, luật nơi vi phạm pháp luật; trong trường hợp áp dụng dạng luật nơi vi phạmpháp luật thì nguyên tắc này có thêm hai quan điểm trong việc chọn luật áp dụng giảiquyết, là việc nên áp dụng luật nơi xảy ra hành vi vi phạm hay luật nơi hiện diện hậuquả của hành vi vi phạm pháp luật Cụ thể trong trường hợp điều chỉnh vấn đề tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đa số các nước áp dụng nguyên tắc luậtnơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên để xác định nó là điều khó khăn, bởimột khi hành vi gây thiệt hại trên lãnh thổ một quốc gia này, nhưng hậu quả của hành

vi đó lại hiện diện trên một quốc gia khác, thì việc xác định luật áp dụng là điều khókhăn, và khó thống nhất quan điểm Trên thế giới, pháp luật một số nước quy định nơi

vi phạm pháp luật là nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại (Italia, Hy lạp) Theo quan điểmnày, thì khi giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng có yếu tố nước ngoài, các cơ quan Tư pháp của các nước này sẽ áp dụng hệthuộc luật nơi có hành vi gây thiệt hại xảy ra Trong khi đó, pháp luật một số nướckhác lại quy định nơi vi phạm pháp luật là nơi phát sinh hậu quả thực tế do hành vi gâythiệt hại gây ra (Anh, Hoa Kỳ) Như vậy, ở những nước theo quan điểm này, người ta

sẽ áp dụng pháp luật của nước nơi có hiện diện của hậu quả thiệt hại để xác định tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Ket hợp cả hai quan điểm nêu trên, phápluật của một số nước (Đông âu) quy định áp dụng cả hai loại pháp luật Đó là pháp luậtcủa nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc pháp luật của nước nơi phát sinh hậuquả thực tế tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể pháp luật nước nào có lợi hơn khi áp dụng

Ở Việt Nam, nguyên tắc này được qui định cụ thể trong một số văn bản quy phạmpháp luật điều chỉnh các quan hệ có khả năng phát sinh việc xác định luật áp dụng đểràng buộc trách nhiệm của người có lỗi, chẳng hạn như Khoản 1 Điều 773 Bộ luật dân

sự qui định : “ Việc bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng được xác định theo pháp luật

Trang 18

Xem phân tích Khoản 1 Điều 773 tại Chương 2 Mục 2.1.3.1.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc của nước nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại ” (l0), vì vậy, trong việc điều chỉnh quan hệ trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng, luật Việt Nam áp dụng pháp luật nơi xảy ra hành vi

vi phạm pháp luật với việc kết hợp cả hai quan điểm là theo pháp luật của nước nơixảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc theo pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả thực tếcủa hành vi gây thiệt hại Ngoài ra, các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam kýkết với một số nước cũng áp dụng nguyên tắc này, ví dụ như tại Khoản 1 Điều 41 Hiệp

định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam - Mông cổ : “ Trách nhiệm phát sinh do gây

thiệt hại được xác định theo pháp luật của bên ký kết nơi xảy ra hành vi hoặc tình tiết khác làm cơ sở để đòi bồi thường thiệt hại

Như vậy, trong tư pháp quốc tế, mỗi nguyên tắc đều có những đặc trưng riêng, cácnguyên tắc đều có những ý nghĩa đặc biệt khi áp dụng vào những trường hợp cụ thể,nguyên tắc áp dụng hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi cũng vậy, đây cũng là nguyêntắc cơ bản giúp giải quyết xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế

1.3 Phương pháp điều chỉnh

Ngành luật nào cũng vậy, khi ra đời đều có những phương pháp điều chỉnh đặcthù phù hợp với các quan hệ thuộc sự điều chỉnh của mình, tư pháp quốc tế trong việcđiều chỉnh các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của mình cũng có những phươngpháp riêng Cách thức tác động lên một quan hệ cụ thể nhằm điều chỉnh quan hệ đótrong tư pháp quốc tế, ta gọi đó là phương pháp điều chỉnh của tư pháp quốc tế Trongviệc điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của mình, tư pháp quốc

tế thực hiện việc điều chỉnh các quan hệ đó với những cung cách riêng, cung cách điềuchỉnh đó được nhà làm luật thực hiện trên nguyên tắc bảo vệ các lợi ích của giai cấp,lợi ích quốc gia và bảo vệ trật tự công cộng Trên cơ sở các lợi ích đã được địnhhướng, tư pháp quốc tế ấn định cho mình những phương pháp đặc thù riêng, đưa raphương pháp giải quyết cụ thể các quan hệ phát sinh thuộc đối tượng điều chỉnh củamình, bằng cách dẫn chiếu đến một hệ thống pháp luật cụ thể hay trực tiếp tiến hànhgiải quyết trên các qui định cụ thể đã được thống nhất Với cách thức giải quyết nhưvậy, Tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ thuộc phạm vi của mình bằng hai phươngpháp, đó là : phương pháp thực chất và phương pháp xung đột

1.3.1 Phương pháp xung đột

Tư pháp quốc tế với những phương pháp điều chỉnh đặc thù phù hợp với cácquan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của mình, trong đó phương pháp xung đột được biếtđến như một phương pháp đặc thù, phổ biến và quan trọng trong tư pháp Với phươngpháp này, việc điều chỉnh chủ yếu dựa vào các qui phạm xung đột, là qui phạm với

Trang 19

Xem Điều 761 Bộ luật dân sự 2005.

(12) Xem Điều 17 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Lào.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

chức năng giúp xác định hệ thống pháp luật cần được áp dụng để điều chỉnh các quan

hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đây là phương pháp gắn chặt với sự ra đời và pháttriển của tư pháp quốc tế, là phương pháp điều chỉnh chủ yếu của tư pháp quốc tế từtrước đến nay Theo phương pháp này, thì các qui phạm xung đột sẽ không trực tiếpgiải quyết cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong mối quan hệ nhất định, mà chỉvới duy nhất “động tác” đưa ra cách thức chọn hệ thống pháp luật của một nước nào

đó có liên quan để giải quyết vấn đề quyền và nghĩa vụ của các bên, bởi vì các quan hệphát sinh trong tư pháp quốc tế thường liên quan tới hai hay nhiều hệ thống pháp luật,

về mặt nguyên tắc thì khi có quan hệ phát sinh thuộc đối tượng điều chỉnh của tư phápliên quan đến bao nhiêu quốc gia thì có bấy nhiêu hệ thống pháp luật điều chỉnh, việc

lý luận như vậy nhằm đạt được mục đích về sự bình đẳng và không phân biệt đối xửgiữa các hệ thống pháp luật, đây là nguyên tắc chung trong quan hệ quốc tế

Với nguyên tắc đặc thù này, trong các quan hệ xã hội nói chung, và quan hệ dân sự

có yếu tố nước ngoài nói riêng, tư pháp quốc tế giải quyết quyền và nghĩa vụ, tráchnhiệm đối với một quan hệ cụ thể bằng cách dùng quy phạm xung đột chỉ dẫn đến một

hệ thống pháp luật của một nước có liên quan giải quyết, cụ thể trong trường hợp xácđịnh năng lực pháp luật dân sự của cá nhân người nước ngoài, Khoản 1 Điều 761 Bộ

luật dân sự Việt Nam quy định : “ Năng lực pháp luật của cá nhân là người nước

ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịchf n> ”, như vậy

trong vấn đề xác định năng lực pháp luật của một cá nhân là người nước ngoài, luậtViệt Nam dẫn chiếu qui phạm xung đột đến pháp luật của nước nơi mà cá nhân làngười nước ngoài đó mang quốc tịch, nghĩa là luật của nước mà người đó là công dân

sẽ được áp dụng xem xét về vấn đề này, cũng tương tự như thế, tại Khoản 1 Điều 17

Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam - Lào quy định : “ Năng lực pháp luật và

năng lực hành vi dân sự sẽ tuân theo pháp luật của nước kí kết mà cá nhân đó là công

tương trợ tư pháp giữa Việt Nam - Lào cũng dùng quy phạm xung đột dẫn chiếu đến

hệ thống pháp luật của quốc gia mà cá nhân là công dân để xem xét về năng lực phápluật và năng lực hành vi, như vậy quy phạm xung đột còn được các quốc gia thỏathuận xây dựng để lựa chọn hệ thống pháp luật giải quyết các quan hệ trong tư phápquốc tế, các quy phạm trong trường hợp như vậy được gọi là quy phạm xung đột thốngnhất

Như vậy, tư pháp quốc tế với phương pháp điều chỉnh đặc thù, cũng là phươngpháp đặc trưng của mình, phương pháp xung đột sử dụng quy phạm xung đột để dẫnchiếu chọn hệ thống pháp luật của một nước có liên quan đến quyền và nghĩa vụ trong 11 12

Trang 20

Xem phân tích Phương pháp thực chất tại Mục 1.3.2 Chương 1.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

các quan hệ của tư pháp quốc tế để giải quyết, tỏ ra là phương pháp hữu hiệu, và đượcxây dựng rộng rãi trong tư pháp của các nước, việc xây dựng hệ thống quy phạm xungđột riêng lẻ của từng quốc gia tuy có những mặt tích cực nhất định, xong điều nàycũng gây không ít khó khăn, bởi vì cùng vấn đề có thể nhiều hệ thống pháp luật điềuchỉnh, và mỗi quốc gia lại hướng dẫn cách chọn luật khác nhau, lấy ví dụ như: quan hệtrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh có liên quan đến hai hệthống pháp luật điều chỉnh, tuy nhiên, cả hai đều có những nguyên tắc xác định phápluật áp dụng giải quyết khác nhau, có thể Nước thứ nhất sẽ tuyệt đối dựa vào Luật nơixảy ra hành vi gây thiệt hại, Nước thứ hai dựa vào Luật nơi xảy ra hậu quả của hành vigây thiệt hại Vì vậy, thiết nghĩ trong trường hợp này cần thúc đẩy việc thỏa thuận xâydựng các quy phạm xung đột thống nhất, hoặc xây dựng các quy phạm thực chất thốngnhất(13), là việc làm hết sức cần thiết góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh các quan

hệ trong tư pháp quốc tế

1.3.2 Phương pháp thực chất

Tư pháp quốc tế trong việc điều chỉnh các mối quan hệ có yếu tố nước ngoàibên cạnh sử dụng phương pháp xung đột nhằm hướng dẫn cách chọn luật giải quyết thìphương pháp thực chất là một trong hai phương pháp quan trọng phổ biến, phươngpháp này được hiểu là loại quy phạm ấn định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên thamgia vào các quan hệ của tư pháp quốc tế, trực tiếp quy định cả các hình thức và biệnpháp chế tài để áp dụng đối với bên vi phạm pháp luật, vì thế phương pháp này còn gọi

là phương pháp điều chỉnh trực tiếp các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tưpháp quốc tế, có nghĩa là khi có một tranh chấp phát sinh từ các quan hệ trong tư phápquốc tế, cụ thể trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì cơ quan có thẩm quyềnchỉ cần đối chiếu căn cứ vào quy phạm thực chất thống nhất để xem xét, đây được xemnhư một hệ thống pháp luật chung được các nước thỏa thuận ấn định, được các quốcgia tham gia xây dựng bằng cách ký kết các điều ước quốc tế hoặc thừa nhận và ápdụng những tập quán quốc tế, là phương pháp loại bỏ việc sử dụng phương pháp xungđột để chọn hệ thống pháp luật áp dụng giải quyết, điều này giúp cơ quan có thẩmquyền không cần phải bỏ thời gian ra tìm hiểu và giải thích nội dung của pháp luậtnước ngoài (luật của nước được chọn áp dụng) khi có quy phạm xung đột dẫn chiếuđến

Các quy phạm thực chất thống nhất hiện nay được ghi nhận trong các điều ước quốc

tế, chẳng hạn như : Công ước Pari năm 1983 về bảo hộ quyền sở hửu công nghiệp ,Công ước Becnơ năm 1886 về bảo vệ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, Công ướcChicagô năm 1944 về hàng không dân dụng, Công ước Vác-sa-va năm 1929 về vận tải

Trang 21

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

hàng không, Công ước Rô-ma năm 1933 về thống nhất các quy phạm quy định việcbồi thiệt hại do tàu bay gây ra v.v Ngoài ra các quy phạm thực chất thống nhất còntồn tại dưới dạng các tập quán quốc tế như : FOB, CIF, v.v Tuy hiệu quả trong việcgiải quyết trực tiếp và nhanh chóng các tranh chấp trong tư pháp quốc tế, nhưng hiệnnay các quy phạm thực chất trên thực tế chưa được các nước ký kết rộng rãi, và điềunày cũng chưa tương xứng với nhu cầu của giao lưu quốc tế, bởi vì lợi ích của cácnước là khác nhau, bên cạnh đó trình độ phát triển, phong tục, tập quán, truyền thốnglịch sử của từng nước là không giống nhau

Vì việc điều chỉnh bằng phương pháp thực chất, đặc biệt là phương pháp thực chấtthống nhất, tuy hiệu quả của phương pháp này là không thể chối cải, tuy nhiên hiệnnay, phương pháp này chưa được sử dụng chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ của tưpháp, chủ yếu sử dụng các quy phạm xung đột nhằm hướng đến các quy phạm thựcchất do từng nước xây dựng để giải quyết cho các vấn đề phát sinh, vì vậy hai phươngpháp này luôn đi đôi và bỗ trợ cho nhau trong việc giải quyết các vấn đề của tư phápquốc tế, bởi vì hệ thống pháp luật được chọn do phương pháp xung đột mang lại chính

là các qui phạm thực chất giải quyết triệt để quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của cácbên

1.4 Nguồn luật chủ yếu điều chỉnh quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế

về lý luận thực tiển thì mỗi ngành luật đều có những nguồn khác nhau, cácnguồn này luôn có ý nghĩa nhất định trong việc định hình nên các quy pháp luật điềuchỉnh các quan hệ xã hội, chẳng hạn như, nguồn của pháp luật Việt Nam sẽ gồm có:các văn bản quy phạm pháp luật, phong tục tập quán ; nguồn của luật quốc tế thì có:điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, án lệ tìm hiểu nguồn luật điều chỉnh quan hệthuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế chính là nghiên cứu thực tế hình thứctồn tại và các qui định chi tiết về điều kiện tồn tại của pháp luật có liên quan điềuchỉnh đến tư pháp quốc tế, việc nghiên cứu nguồn của tư pháp quốc tế, chính là nghiêncứu nơi pháp luật ghi nhận các quy phạm pháp luật, trong đó chứa đựng cả nhữngnguyên tắc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tư pháp, và cả phương pháp điềuchỉnh của tư pháp quốc tế

Trong việc điều chỉnh các mối quan hệ đa dang và phức tạp, tư pháp quốc tế cónhững nguồn đặc thù riêng biệt, trong đó hai nguồn phổ biến chủ yếu đó là luật củacác quốc gia và các điều ước quốc tế Ngoài ra tập quán quốc tế và án lệ cũng đượcxem là nguồn luật điều chỉnh trong tư pháp quốc tế

Trang 22

Một số vấn đề lý luận cơ bản về tư pháp quốc tế, TS Đoàn Năng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế 1.4.1 Luật quốc gia

Trong việc điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tư pháp quốc tế sửdụng phương pháp xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật của một nước liên quan

để giải quyết quyền và nghĩa vụ, với phương pháp đặc thù này, tư pháp quốc tế giántiếp thừa nhận luật thực chất của một nước là nguồn luật điều chỉnh của mình, đây lànguồn quan trọng và phổ biến của tư pháp quốc tế, luật pháp của mỗi quốc gia (còngọi là luật Quốc nội) là nguồn của tư pháp quốc tế với một hệ thống các văn bản phápluật chứa đựng các nguyên tắc và phương pháp giải quyết các quan hệ phát sinh trong

tư pháp quốc tế Cho đến nay, nguồn luật quốc gia, là nguồn chủ yếu của tư pháp quốc

tế, bởi vì đại bộ phận các quy phạm của tư pháp quốc tế là các quy phạm xung đột,trong đó các quy phạm xung đột của tư pháp quốc tế chủ yếu do từng quốc gia xâydựng và tồn tại trong các văn bản quy phạm pháp luật, tập quán của quốc gia, như:Hiến pháp, các Bộ luật, các văn bản dưới luật íl4)

Trong đời sống thực tại, các quan hệ ngày càng trở nên mở rộng, việc giao lưu quốc

tế là xu thế tất yếu, kéo theo các quan hệ pháp lý không còn nằm trong khuôn khổ điềuchỉnh của luật Quốc nội, để bảo hộ lợi ích cho các chủ thể trong nước, cũng như hòanhập chung vào đời sống quốc tế, luật trong nước hướng việc điều chỉnh ra ngoàiphạm vi các quan hệ trong nước, đó là các quan hệ phát sinh không thuộc phạm vi củamột quốc gia, các quan hệ có yếu tố nước ngoài

Trên thế giới, ở các nước như : Hungari, Balan, Áo, Thụy sỹ, Séc, Nam tư V.V CÓ

nguồn luật điều chỉnh các quan hệ của tư pháp quốc tế được quy định thành Bộ luật tưpháp quốc tế riêng Ở Việt Nam, theo xu hướng đối ngoại toàn diện, và theo đướng lốiđối ngoại của Đảng và Nhà Nước ta, việc điều chỉnh của các quy phạm pháp luật phùhợp và bắt kịp với sự vận động của các quan hệ trong giao lưu quốc tế là việc cần thiết.Các quy phạm pháp luật điều chỉnh xu hướng đối ngoại, cũng là điều chỉnh các quan

hệ của tư pháp quốc tế trong luật Việt Nam không ở một văn bản chung nhất, mà nằmrải rác ở các văn bản pháp quy khác nhau ở các ngành luật khác nhau

Nguồn quan trọng nhất của tư pháp Việt Nam chính là bản Hiến pháp 1992, đây là

bản Hiến pháp mở rộng thêm các nguyên tắc và các quy phạm làm nền tảng cho lĩnhvực tư pháp quốc tế so với các Hiến pháp trước đây, đây là việc làm cần thiết trongviệc thể hiện nhiệm vụ, trách nhiệm cơ bản của Nhà Nước ta trong việc tăng cườngcủng cố nền hòa bình, phát triển toàn cầu, và cũng là củng cố vị trí của nước ta trên thếgiới cũng như khu vực Hiến pháp đã dành một số điều để thể hiện nguyên tắc đốingoại, đó là : Nhà nước thống nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại,phát triển các hình thức quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên 14

Trang 23

Xem Điều 24 Hiến pháp 1992.

(16) Xem thêm Diều 25 Hiến pháp 1992.

(17) Xem Điều 75 (sửa đổi bổ sung) Hiến pháp 1992.

(18) Xem điều 81 Hiến pháp 1992.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo vệ và thúc đẩy sản xuấttrong nước(lí); Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đàu tư vốn,công nghệ vào Việt Nam phù họp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc

tế, bảo đảm quyền sở hửu hợp pháp đối vói vốn, tài sản và các quyền lợi ích khác của

tổ chức, cá nhân nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốchửu hóa15 (16); Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của người Việt Nam định cư

ở nước ngoài(l7) 18; Người nước ngoài định cư ở Việt Nam phải tuân theo pháp Hiếnpháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyềnlợi chính đáng theo pháp luật Việt Namíl8)

Ngoài ra, trong việc điều chỉnh các quan hệ của tư pháp, trên cơ sở các quy địnhcủa Hiến pháp làm nền tảng, các Bộ luật và văn bản luật cũng được ghi nhận là nguồncủa tư pháp quốc tế : Bộ luật dân sự 2005; Luật quốc tịch 2008; Luật hôn nhân và giađình năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010; Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (cácnăm 1987, sửa đổi và bổ sung 1990 - 1992, 1996, 2000), Luật thuế xuất nhập khẩu;

Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005; Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006; Luật hảiquan năm 2001 và luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật hải quan năm 2005v.v

Các văn bản pháp quy dưới luật được Nhà nước Việt Nam ban hành cũng đượcxem là nguồn của tư pháp quốc tế, trong đó có các Pháp lệnh do Uỷ ban thường vụquốc hội ban hành, gồm các : Pháp lệnh về lãnh sự 1990; Pháp lệnh hải quan 1990;Pháp lệnh thi hành án dân sự 2009; Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại củangười nước ngoài tại Việt Nam 1992; Pháp lệnh về điều ước quốc tế 1989 v.v Cùngvới các Pháp lệnh do ủy ban thường vụ quốc hội ban hành, các văn bản hướng dẫnkhác như : Nghị định, Quyết định, Nghị quyết, Điều lệ, Quy chế v.v nhằm quy địnhchi tiết và hướng dẫn việc thi hành các Bộ luật và pháp lệnh điều chỉnh các quan hệ cóyếu tố nước ngoài, đây là những văn bản có vị trí, vai trò và nhiệm vụ rất quan trọngtrong việc điều chỉnh các quan hệ thực tiễn của tư pháp quốc tế ở Việt Nam, cụ thể :Nghị định 138/2006/ND-CP hướng dẫn Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tốnước ngoài; Nghị định 86/2002/ND-CP của Chính phủ ngày 10/7/2002 quy định vềthủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân ViệtNam và người nước ngoài; các Nghị định số 24/2000/ND-CP ngày 31/7/2000 quy định

về việc thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000

Trang 24

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

Như đã nói ban đầu, các quy phạm xung đột được quy định trong các văn bản quyphạm pháp luật thuộc luật thực chất của quốc gia còn là nguồn quan trọng của tư phápquốc tế, trong quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, các quy phạm xung đột được xem nhưmột cách thức giải quyết xung đột pháp luật có hiệu quả, chẳng hạn như, trong trườnghợp xét năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài, ta có quy phạm

xung đột tại Điều 762 Bộ luật dân sự: “1 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là

người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước noi người đó là công dân ”, đây là nguồn quan trọng và chủ yếu của tư pháp quốc tế hiện này, các quy

phạm xung đột này tồn tại trong luật thực chất của quốc gia, và do từng quôc gia xâydựng để giải quyết xung đột pháp luật, hay còn gọi đây là những quy phạm xung độtriêng lẻ, các quy phạm xung đột này tồn tại trong pháp luật Việt Nam như: Trong Hiếnpháp (gồm các quy phạm xung đột tại Điều 24, Điều 25, Điều 75 sửa đổi bổ sung,Điều 81), tồn tại trong Bộ luật dân sự 2005 (tại Phần thứ 7), Bộ luật hàng hải 2005(Điều 4), Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi và bổ sung 2010 (tại chươngXI) Bên cạnh các quy phạm xung đột riêng lẻ được các quốc gia xây dựng là nguồncủa tư pháp quốc tế, thì các quy phạm xung đột thống nhất tồn tại trong điều ước quốc

tế được các quốc gia ký kết với nhau vừa là nguồn của luật quốc gia, và cũng là nguồnquan trọng của tư pháp quốc tế Ở Việt Nam, phải kể đến các Điều ước quốc tế chứađựng các quy phạm xung đột thống nhất như: Hiệp định tương trợ Việt - pháp, Hiệpđịnh Việt - Pháp về nuôi con nuôi năm 2000, Hiệp định tương trợ tư pháp Việt - Nganăm 1999, và các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết với các nước nhưLào, Trung Quốc, Mông cổ

Như vậy, nguồn của tư pháp quốc tế trong luật của Việt Nam là cả một hệ thống đadạng các văn bản từ Hiến Pháp, Bộ luật, Luật, các pháp lệnh, với các văn bản dưới luật

và còn có cả các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết với các quốc gia khác hệthống nguồn luật này chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ trong

tư pháp quốc tế, và là nguồn quan trọng của tư pháp Việt Nam

Ở các nước tư bản phát triển thì các văn bản pháp quy là nguồn của tư pháp quốc

tế có ý nghĩa kém hơn so với án lệ, những quy phạm Tư pháp quốc tế được ghi nhậntrong các văn bản pháp quy khác nhau, hoặc được quy định thành một hệ thống Bộluật riêng về tư pháp quốc tế Trong luật Pháp, Bộ luật dân sự 1804 (Bộ luậtNapôlêông) có một số điều quy định về quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài vàmột số văn bản pháp quy khác

Ở Cộng hòa liên bang Đức thì cho tới năm 1986 thi hành Bộ luật dẫn về dân sự quyđịnh một hệ thống các quy phạm xung đột (từ Điều 7 đến Điều 31), nhưng cũng cònrất nhiều vấn đề chưa được quy định cụ thể Từ 1/9/1986 Bộ luật về tư pháp quốc tế

Trang 25

Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học luật Hà Nội 2008, Nxb CAND, trang 19.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

bắt đầu có hiệu lực (Được thông qua ngày 25/7/1986) thay thế cho các điều tương ứngtrước đây trong Bộ luật dẫn về dân sự và rất nhiều khoản được bổ sung cho thiếu sóttrước đây như : Các nghĩa vụ trong họp đồng, hình thức họp đồng, kết hôn và lý hôn

có yếu tố nước ngoài, các quyền và của trẻ em trong quan hệ gia đình, giám hộ và trợ

tá, quyền thừa kế, các quan hệ lao động và các vấn đề liên quan đến tố tụng dân sựquôc tê

Tóm lại, thực tiễn ghi nhận hệ thống Luật của các quốc gia là nguồn quan trọng vàphổ biến trong tư pháp quốc tế, nguồn luật quốc gia chứa đựng những quy phạm phápluật điều chỉnh trong quan hệ đối ngoại của mình, như vậy nguồn của tư pháp quốc tếquy định trong hệ thống luật quốc gia là nguyên tắc chung của chính sách đối ngoại, là

xu thế chung thúc đẩy hợp tác giữa các nước

1.4.2 Điều ước quốc tế

Bên cạnh các hệ thống nguồn luật được quy định trong Luật của các quốc gia,

là các quy phạm thực chất do từng quốc gia xây dựng điều chỉnh quan hệ đối ngoại,cũng là điều chỉnh các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế, cácquốc gia trong quan hệ với nhau còn đi đến đàm phán và ký kết nhiều điều ước điềuchỉnh quan hệ nhiều mặt, các điều ước được các nước ký kết có thể trở thành nguồncủa tư pháp quốc tế, nó chứa đựng những nguyên tắc và quy phạm pháp luật điềuchỉnh các quan hệ phát sinh trên cơ sở thỏa thuận của các quốc gia, bao gồm các điềuước song phương và đa phương

Trong quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới, để điều chỉnh các quan hệ của tưpháp quốc tế, các điều ước song phương và đa phương được ký kết ngày càng nhiều,

về điều ước song phương, trước tiên phải kể đến các Hiệp định tương trợ và hợp tác tưpháp, hiện tại Việt Nam đã ký kết điều ước với khoản 17 quốc gia trên lĩnh vực này, cụthể như : Đức năm 1980; Nga năm 1981; Séc và Slovakia năm 1982; Cuba năm 1984;Hungari 1985; Bungari 1986; Balan 1993 việc ký kết sẽ ngày càng được chú trọng

và mở rộng Việc ký kết các Hiệp định dựa trên các tiêu chí như : Công nhận và bảođảm việc thực hiện tôn trọng các quyền nhân thân và tài sản của công dân (cũng nhưpháp nhân) của quốc gia này trên lãnh thổ quốc gia nước kia trên cơ sở nguyên tắc tôntrọng bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia với nhau, chú trọng đến việc hợp tácgiữa các cơ quan tư pháp và bảo vệ pháp luật, quy định thẩm quyền của tòa án của cácbên áp dụng pháp luật, vấn đề công nhận và cho thi hành án dân sự, dẫn độ tộiphạm Bên cạnh đó Việt Nam cũng đã ký kết hàng loạt các hiệp định lãnh sự vớinước ngoài như : Nga 1978; Balan 1979; Hungari 1979; Môngcổ 1979; Cuba 1981;Lào 1985 Và không ít các Hiệp định thương mại và hàng hải với các quốc gia khác, 19

Trang 26

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

nhằm củng cố và tăng cường phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại mọi mặt với cácnước, các Hiệp định hên lĩnh vực lao động; hợp tác khoa học; kỹ thuật; đào tạo chuyêngia; đầu tư nước ngoài cũng được Việt Nam ký kết với các quốc gia liên quan đếncác quan hệ của tư pháp quốc tế Với xu thế hội nhập toàn cầu như đã nêu, nước ta đisâu ký kết các Hiệp định đa phương, năm 1981 Việt Nam gia nhập công ước Pari 1883

về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, gia nhập Hiệp định Madrit về đăng ký quốc tếnhãn hiệu hàng hóa, năm 1995 gia nhập công ước New York 1958 về công nhận vàcho thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài, năm 1980 gia nhập công ướcViên 1961 về quan hệ ngoại giao và Công ước Viên 1963 về lãnh sự Trong lĩnh vựcbảo hộ quyền con người, Việt Nam đã gia nhập Công ước 1966 về quyền kinh tế, xãhội văn hóa của Liên hợp quốc; Công ước Liên hợp quốc về chống phân biệt chủngtộc; Công ước Liên hợp quốc 1948 về chống tội ác diệt chủng

Tất cả các điều ước song phương hoặc đa phương nêu hên ít nhiều chứa đựng cácnguyên tắc, các quy phạm điều chinh các quan hệ của Tư pháp quốc tế Nó có thể làcác quy phạm thực chất thống nhất hoặc là các quy phạm xung đột thống nhất, tùythuộc vào mức độ cam kết giữa các quốc gia mà điều ước quốc tế này thể hiện đượcnhững vai trò nhất định của mình trong việc củng cố và phát hiển sự hợp tác về mọimặt giữa các quốc gia nói chung và giữa Việt Nam với các nước nói riêng

Như vậy, các điều ước quốc tế chứa đựng những nguyên tắc và quy phạm phápluật, trong đó chứa đựng các quy phạm xung đột thống nhất giúp giải quyết xung độtpháp luật được các quốc gia thỏa thuận điều chỉnh quan hệ giao lưu hợp tác với nhaucũng được xem như nguồn phổ biến và quan trọng trong tư pháp quốc tế, hên nguyêntắc thỏa thuận, bình đẳng, tôn trọng các lợi ích của nhau, các nước thỏa thuận nên hệthống các quy phạm pháp luật, hở thành những nguyên tắc, phương pháp điều chỉnhquan trọng và cũng là nguồn quan trọng của tư pháp quốc tế Trong quá trình phát triểntoàn cầu, nguồn luật này có xu hướng phát triển phổ biến

*** Ngoài ra, Tập quán quốc tế và án lệ cũng được xem là nguồn của tư phápquốc tế, bởi vì thực chất trong quan hệ với các nước, ít nhiều các quốc gia cũng đãthừa nhận và áp dụng Các tập quán mang tính chất nguyên tắc; tập quán mang tínhchất chung; tập quán mang tính chất khu vực là những quy tắc xử sự được hình thànhtrong một thời gian dài, áp dụng liên tục và một cách có hệ thống, đồng thời được sựthừa nhận của đông đảo các quốc gia, điển hình và nổi tiếng phải kể đến tập quánthương mại Incoterms được Phòng thương mại quốc tế tập hợp soạn thảo qua các năm1936; 1953; 1980; 1990 và mới đây là năm 2010 Và án lệ cũng thế, là nguồn khá phổbiến ở một số nước tư bản phát triển, cụ thể như ở Anh - Mỹ thì thực tiễn toàn án (Ánlệ) là nguồn cơ bản của pháp luật, việc giải quyết hanh chấp trong lĩnh vực Tư pháp

Trang 27

Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb CAND 2008, trang 24,25.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

quốc tế, các cơ quan có thẩm quyền thường áp dụng án lệ hơn áp dụng các quy phạmpháp luật Ở Việt Nam, Án lệ không được coi là nguồn của Luật Việt Nam nói chungcũng như nguồn của Tư pháp quốc tế nói riêngí20)

Như vậy nguồn của Tư pháp quốc tế là những nguồn mà được các quốc gia thừanhận điều chỉnh các quan hệ của Tư pháp quốc tế, bao gồm : Luật quốc gia, điều ướcquốc tế, tập quán quốc tế và án lệ 20

Trang 28

Xem phần thứ bảy của Bộ luật dân sự và Nghị định 138/2006/ND-CP hướng dẫn Bộ luật dân sự về quan hệ

dân sự có yếu tố nước ngoài.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ ĐIÈU ƯỚC QUỐC TẾ VÈ TRÁCH NHIỆM BÒI

THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐÒNG TRONG Tư PHÁP QUỐC TẾ

Như đã biết, tư pháp quốc tế là một phạm trù pháp luật điều chỉnh quan hệ dân

sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, vì vậy, quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc đối tượng điều chỉnh

của tư pháp quốc tế, trong việc giải quyết quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài họp đồng, giữa từng quốc gia đều có những quy định khác nhau và trong mối

quan hệ hợp tác với nhau, để giải quyết quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

phát sinh, các quốc gia xây dựng những quy phạm xung đột (quy phạm xung đột riêng

lẽ) để xác định hệ thống pháp luật được áp dụng giải quyết quan hệ bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng hoặc để giải quyết quan hệ này, các quốc gia còn dựa trên các thỏa

thuận chung là những điều ước quốc tế được các quốc gia ký kết điều chỉnh các quan

hệ phát sinh trong giao lưu quốc tế, trong đó có quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng thuộc quan hệ dân sự theo nghĩa rộng

Trong việc giải quyết quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có những biện pháp và cách thức giải quyết để

làm rỏ vấn đề này

2.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo

pháp luật Việt Nam

Tìm hiểu quan hệ bồi thường thiệt hại ngòai hợp đồng trong tư pháp quốc tếtheo pháp luật Việt Nam là đi sâu phân tích những quy định của luật thực định Việt

Nam, trong đó có các quy phạm pháp luật là những quy phạm xung đột hướng dẫn

cách chọn luật áp dụng khi có xung đột pháp luật, việc xác định năng lực của chủ thể

chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tìm hiểu một số quy tắc xác định thẩm quyền

giải quyết về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong một vài trường hợp, hoặc giải

quyết về quyền và nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam khi luật Việt Nam được áp dụng

định trong Bộ luật dân sự Việt Nam và các văn bản có liên quaní2l) 21

Trang 29

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

2.1.1.1 Năng lực pháp luật của cá nhân và năng lực hành vi của cá nhân

Theo Điều 3 Nghị định 138/2006/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật dân sự về quan hệdân sự có yếu tố nước ngoài, thì quan hệ có yếu tố nước ngoài là các quan hệ dân sự,hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thưomg mại và lao động có ít nhất một trong các bêntham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nướcngoài Như vậy xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân trongquan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là xác định năng lực pháp luật và năng lực hành

vi của người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Đối với người nước ngoài, cũng theo Điều này, người nước ngoài là người không

có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốctịch

Theo Điều 761 Bộ luật dân sự thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân người

nước ngoài được xác định: “1 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước

ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch 2 Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác ” Như

vậy, luật của nước mà người nước ngoài mang quốc tịch được áp dụng xem xét vềnăng lực pháp luật, trong trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam thì nănglực pháp luật dân sự của người nước ngoài xác định giống như công dân Việt Nam vàđược xác định theo các quy định từ Điều 14 đến Điều 16 của Bộ luật dân sự

về năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài tại khoản 1, khoản 2 Điều 762

Bộ luật dân sự cũng được xác định theo luật của nước noi người nước ngoài là côngdân, khi người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thìnăng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo pháp luật Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cụ the: “1 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người

nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó là công dân, trừ trường họp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác 2 Trong trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo pháp luật Cộng hõa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ”.

Đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi xét năng lực phápluật và năng lực hành vi, theo quy định của pháp luật Việt Nam đối với người nướcngoài cư trú tại Việt Nam thì xét năng lực pháp luật như công dân Việt Nam và trườnghợp người nước ngoài xác lập thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lựchành vi được xác định theo pháp luật Việt Nam Vì thế, căn cứ trên những nguyên tắc

mà hiến pháp và pháp luật Việt Nam dành cho người nước ngoài: nguyên tắc có đi có

Trang 30

Hiện tại chưa có văn bản nào điều chỉnh vấn đề xét đến năng lực của cá nhân là ngưci Việt Nam đinh cư ở

nước ngoài, vì thế vấn đề này chủ yếu còn là quan điểm, riêng ngưci viết có quan điểm như trên.

(23) Hiện tại chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể việc xác đinh năng lực pháp luật của các cơ quan, tổ chức nước ngoài (không phải là pháp nhân), cũng như cách xác định năng lực pháp luật của các tổ chức quốc tế,

tù thế ngưòi viết dựa vào Điều 408 Bộ luật tế tụng dân sụ để suy luận cho việc xác định năng lực pháp luật của các chủ thể này.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

lại, nguyên tắc đối xử như công dân thì trong trường hợp người Việt Nam định cư tại

nước ngoài nên “nhập gia tùy tục”, có nghĩa là trong trường hợp người Việt Nam định

cư tại nước ngoài, thì năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo pháp luật sở tại, là

pháp luật nơi người đó cư trú, xác lập và thực hiện các giao dịch dân sựí22)

2.1.1.2 Năng lực pháp luật của pháp nhân

Theo Điều 765 Bộ luật dân sự Việt Nam, thì năng lực pháp luật dân sự của pháp

nhân nước ngoài được xác định: “1 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước

ngoài được xác định theo pháp luật của nước noi pháp nhân đó được thành lập, trừ

trường họp quy định tại khoản 2 Điều này 2 Trong trường họp pháp nhân nước

ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân

sự của pháp nhân được xác định theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam ” Như vậy, đối vói pháp nhân nước ngoài, luật của nước nơi pháp nhân thành

lập được áp dụng xem xét năng lực pháp luật của pháp nhân đó, nếu pháp nhân nước

ngoài xác lập và thực hiện những giao dịch tại Việt Nam thì năng lực pháp luật của

pháp nhân nước ngoài đó được xác định theo pháp luật của Việt Nam

Ngoài ra, việc xác định năng lực pháp luật của các chủ thể khác là cơ quan, tổ chứcnước ngoài, tổ chức quốc tế, dựa theo Điều 408 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 về Năng

lực pháp luật tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế trong tố

tụng dân sự, thì: “1 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cơ quan, to chức nước

ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi cơ quan, to chức được thành lập, trừ

trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác 2 Năng lực pháp luật to tụng dân sự

của tổ chức quốc tế được xác định trên cơ sở điều ước quốc tế là căn cứ để thành lập

tổ chức đó, quy chế hoạt động của tổ chức quốc tế hoặc điều ước quốc tế đã ký kết với

cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ”, như vậy, dựa hên Điều 408 này, có thể suy

luận, việc xác định năng lực pháp luật của cơ quan, tổ chức nước ngoài (không phải là

pháp nhân) được xác định theo pháp luật của nước nơi cơ quan, tổ chức nước ngoài đó

thành lập, đối với các tổ chức quốc tế, thì năng lực pháp luật được xác định theo các

quy định trong điều ước quốc tế22 (23)

2.1.2 Thẩm quyền giãi quyết quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hẹp đồng trong một vài điển hình

Xác định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ dân sựquốc tế là một việc phức tạp, và ưu tiên trước khi đi tìm một hệ thống pháp luật cụ thể

Trang 31

Trường hợp này xảy ra khi một bên chủ thề trong tranh chấp là một quốc gia, quốc gia được miễn trừ xét xử

trong mọi trường hợp, nếu không có được sự đồng ý của quốc gia thì không có một tòa án nước nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn trong dân sự.

( 5) Xem phân các quy tăc xác đinh thâm quyên xét xử trong dân sự quôc tê, tập bài giảng Tư pháp quôc tê của

Khoa Luật, trường đại học cần Thơ 2002, trang 37, 38, Bài 3 Xung đột về thẩm quyền xét xử và xung đột về định danh trong tư pháp quốc tế.

(26) Xem khoản 2 Điều 405 Bộ luật tố tụng dân sự 2004.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

được áp dụng giải quyết khi có xung đột pháp luật Các quốc gia thường quy định cụ

thể thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong các văn bản pháp luật của mình và

trong các điều ước quốc tế Bên cạnh đó, để bảo vệ pháp chế, các nguyên tắc căn bản

và bảo lưu trật tự công cộng, trong một số trường hợp các quốc gia quy định về thẩm

quyền độc quyền của mình, và cả quyền khước từ xét xử dân sự quốc tếí24) Để xác

định thẩm quyền giải quyết các vần đề phát sinh, cơ quan tư pháp sẽ dựa vào các dấu

hiệu, các quy tắc được pháp luật trong nước hoặc điều ước quốc tế có liên quan quy

định

Có nhiều quy tắc, dấu hiệu làm cơ sở để xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tếcủa Tòa án tư pháp đối với các vụ việc tư pháp cụ thểí25) Trong việc xác định thẩm

quyền của tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, mà cụ

thể là thẩm quyền trong quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Tòa

án Việt Nam căn cứ vào các dấu hiệu được quy định cụ thể tại Điều 410 thuộc Chương

XXXV của Bộ luật tố tụng dân sự, vì vậy xin đưa một vài trường hợp điển hình mà

Tòa án Việt Nam có quyền tài phán để giải quyết tranh chấp trong dân sự quốc tế

2.1.2.1 Khỉ sự việc xảy ra tại Việt Nam

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế là quan

hệ dân sự mang yếu tố nước ngoài, vì vậy khi quan hệ này phát sinh ưên lãnh thổ Việt

Nam thì trong quan hệ đó phải có yếu tố nước ngoàií26) , theo điểm d, khoản 2, Điều

410 , Bộ luật tố tụng dân sự, thì Tòa án Việt Nam có thẩm giải quyết vụ việc dân sự có

yếu tố nước ngoài trong trường hợp: “(ỉ) Vụ việc dân sự về quan hệ dân sự mà căn cứ

để xác lập, thay đổi, chẩm dứt quan hệ đó theo pháp luật Việt Nam hoặc xảy ra trên

lãnh thô Việt Nam, nhưng có ít nhât một trong các đưong sự là cá nhân, cơ quan, tô

chức nước ngoài; ”, căn cứ vào Điều này, quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng phát sinh thuộc thẩm quyền của Tòa án Việt Nam khi thỏa hai điều

kiện: Một là, quan hệ phát sinh theo pháp luật Việt Nam hoặc xảy ra trên lãnh thổ Việt

Nam và cuối cùng là phải có yếu tố nước ngoài Ví dụ: Trên đường đi chơi tết, anh A

quốc tịch Việt Nam đã gây tai nạn cho Maia là khách du lịch của Thái lan, sự việc xảy

ra ở Việt Nam, trong điều kiện như vậy, Maia có thể khởi kiện anh A tại Tòa án Việt

Nam để yêu cầu bồi thường thiệt hại

Khi sự việc xảy ra liên quan đến cả hai người đều là người nước ngoài phát sinhtrên lãnh thổ Việt Nam mà khi thỏa các điều kiện tại điểm d, khoản 2, Điều 410 thì 24 * 26

Trang 32

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

Tòa án Việt Nam vẫn có quyền tài phán trong trường hợp này, nghĩa là khi có phátsinh quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà việc điều chỉnh thuộc phạm vi

có hiệu lực theo pháp luật Việt Nam (hoặc xảy ra ở Việt Nam), và tồn tại ít nhất mộtbên có yếu tố nước ngoài (hai hay nhiều bên) thì Tòa án Việt Nam vẫn có thẩm quyềngiải quyết, cụ thể như: Công ty Y là pháp nhân của Singapore có chi nhánh tại ViệtNam, trong chuyến chuyển hàng từ Singapore về Việt Nam, đến vùng biển của ViệtNam, tàu của công ty Y gây tai nạn với một tàu của công ty z pháp nhân Nga, để yêucầu bồi thường thiệt hại thì công ty z có thể khởi kiện công ty Ytại tòa án của ViệtNam

Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh trên lãnh thổViệt Nam mà khi ít nhất một bên hoặc cả hai đều là người nước ngoài (hoặc chủ thểkhác mang yếu tố nước ngoài) thuộc trường hợp tại điểm d, khoản2, Điều 410 Bộ luật

tố tụng dân sự thì tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết trong tất cả các trườnghợp thuộc thẩm quyền chungí27) về giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

2.1.2.2 Khi sự việc xảy ra ở nước ngoài

y Sự việc xảy ra ở nước ngoài mà khi cả hai đều là người Việt Nam

Đây là trường hợp mà tại điểm đ, khoản 2, Điều 410 thì Tòa án Việt Nam có thẩm

quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài khi: “đ) Vụ việc dân sự về quan

hệ dân sự mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc xảy ra ở nước ngoài, nhưng các đương sự đều là công dân, cơ quan, to chức Việt Nam và nguyên đơn hoặc bị đon cư trú tại Việt Nam ”, đây là trường hợp mà

Tòa án Việt Nam có thẩm quyền tài phán giải quyết về vụ việc dân sự có yếu tố nướcngoài, trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc

tế, theo dấu hiệu như trên, để vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền tài phán của Việt Namthì phải thỏa các điều kiện về bản chất của quan hệ đó hoặc nơi phát sinh quan hệ, chủthể trong quan hệ phải mang quốc tịch Việt Nam, và ít nhất một bên cư trú tại ViệtNam Ví dụ: Anh A quốc tịch Việt Nam, cư trú tại Việt Nam, trong quá trình đi du lịchtại Singapore, một du học sinh Việt Nam là D gây tại nạn cho A, như vậy căn cứ vàodấu hiệu của ví dụ này, ta thấy đây là quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngphát sinh trên lãnh thổ nước ngoài, cả hai đương sự đều là người Việt Nam, và có ítnhất một bên cư trú tại Việt Nam, trong trường hợp này Tòa án Việt Nam sẽ có thẩmquyền giải quyết nếu như anh A kiện đòi bồi thường thiệt hại Tại khoản 2, điểm đcùng điều luật, ngoài các dấu hiệu như: sự việc xảy ra ở nước ngoài, cả hai đương sự 27

(27) Yhẩm quyền chung là thẩm quyền của tòa án được quy định chung cho tất cả các trường hợp và không mang tính chất bắt buộc nguyên đơn phải kiện tói Tòa án của một quốc gia mà có thể chọn Tòa án của một quốc gia khác có liên quan Ngoài ra cần xem thêm Điều 410 Bộ luật tố tụng đần sự 2004 để biết thêm các quy định chung về thẩm quyển của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

SVTH: Trần Hoàng Việt

Trang 33

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

cùng là người Việt Nam, thì Bộ luật còn sử dụng thêm cụm từ “nguyên đơn hoặc bị

đơn cư trú tại Việt Nam”, xét về dấu hiệu cư trú và sử dụng từ “cư trú”, làm ta nghỉ

đến Điểm đ Điều 410 này chỉ điều chỉnh duy nhất thể nhân, tuy nhiên, trong trườnghợp này cần hiểu khác, bởi vì trong trường hợp có phát sinh vụ việc dân sự mà trong

đó có đưomg sự là pháp nhân thì thuật ngủ “cư trú ” trong trường hợp này sẽ được hiểu

là trụ sở của pháp nhân đóí28) Ví dụ như: Công ty H và công ty K là hai công ty phápnhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam, hai công ty chuyên sản xuất hàng maymặc, trong quá trình mở rộng thị trường, hai công ty cũng mở chi nhánh tại Lào, đểcạnh tranh với nhau trên thị trường Lào, công ty H đã dùng một số biện pháp cạnhtranh mà doanh nghiệp K cho rằng trái pháp luật Lào, cũng như pháp luật Việt Nam, vìvậy để bảo vệ quyền lợi của mình, công ty K đã khởi kiện tại tòa án Việt Nam đòicông ty H bồi thường thiệt hại, trong trường hợp này, sự việc về cạnh tranh không lànhmạnh diễn ra tại nước ngoài, các bên đều là tổ chức Việt Nam, và có trụ sở tại ViệtNam, vì vậy Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết theo đúng tinh thần của điểm

đ, khoản 2, Điều 410 Bộ luật tố tụng dân sự

Như vậy, trong trường hợp có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng, mà quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài, thì tòa án Việt Nam vẫn có thẩm quyềngiải quyết khi trong quan hệ đó các đương sự đều là công dân, cơ quan, tổ chức ViệtNam

y Khi vụ việc mà nguyên đơn ở Việt Nam

Tại điểm c, khoản 2, Điều 410 Bộ luật tố tụng dân sự, thì Tòa án Việt Nam giải

quyết vụ việc dân sự trong trường hợp mà: “c) Nguyên đơn là công dân nước ngoài,

người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh song lâu dài tại Việt Nam đoi với vụ việc dân sự về yêu cầu đòi tiền cấp dưỡng, xác định cha mẹ”, Ớ đây nếu xét đến dấu hiệu

cư trú của nguyên đơn và mục đích của vụ việc dân sự thì áp dụng Điều luật này choviệc bồi thường thiệt hại để xem xét thẩm quyền của Tòa án Việt Nam không đạt

được, tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 410 thì: “1 Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải

quyết các vụ việc dân sự có yếu tổ nước ngoài được xác định theo quy định tại Chương III của Bộ luật này, trừ trường hợp Chương này có quy định khác”, nghĩa là trong

trường hợp giải quyết các vụ việc dân sự có yếu nước ngoài, thẩm quyền của Tòa ánViệt Nam còn được xác định theo chương III của Bộ luật tố tụng dân sự, và theo khoản

1, điểm d, Điều 36 của Bộ luật tố tụng dân sự: “d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đổng thì nguyên đơn có thế yêu cẩu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết”, tuơng tự tại điếm đ, Khoản 1

Điều này: “Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trợ cấp khi chấm 28

( 28 ) pỊráp q U ốc tế Việt Nam, TS Đỗ Văn Đại - PGS Ts Mai Hồng Quỳ, Trường đại học luật TP Hồ Chí

Trang 34

Xem thêm Điều 36 về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, ngưci yêu cầu và xem thêm

các quy định về thấm quyền của Tòa án trong Chương 3 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật

Việt Nam và điều ước quốc tế

dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền

lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đoi với người lao động thì nguyên đon

là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết”.

Xin đưa ra một ví dụ cho Điểm d, khoản 1, Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự làm dẫngiải: anh Susan là chồng của E, Susan mang quốc tịch Singapore, trong lần về quê với

vợ ở Việt Nam, anh Susan đã bị c gây tại nạn, để yêu cầu bồi thường thiệt hại thì

Susan có thể kiện đòi c bồi thường thiệt hại tại Tòa án nơi xảy ra sự việc gây thiệt hại,

Tòa án Việt Nam sẽ có thẩm quyền giải quyết trong trường họp này

Và một ví dụ để cụ thể cho điểm đ, khoản 1, Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự: công

ty BD là công ty pháp nhân nước X, đang xây dựng chi nhánh ở Việt Nam, trong quá

trình xây dựng trụ sở chi nhánh, công ty đã thuê lao động công trình ở Việt Nam, trong

quá trình xây dựng, một công nhân lao động là A bị tai nạn, để kiện yêu yêu cầu bồi

thường thiệt hại thì A có thể kiện tại Tóa án nơi anh đang thi công công trình hoặc nơi

cư trú giải quyết

Như vậy, theo điểm c, khoản 2 và khoản 1 Điều 410 Bộ luật tố tụng dân sự, thì thẩmquyền của Tòa án Việt Nam còn được xác định dựa vào Chương III của Bộ luật này,

cụ thể để yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xảy ra có yếu tố nước ngoài, thì

thẩm quyền của Tòa án Việt Nam còn được xác định theo sự lựa chọn của nguyên đơn,

người yêu câu

2.1.3 Pháp luật Việt Nam về việc áp dụng pháp luật trong quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đòng

Trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh khi tham gia vào quan hệ quốc tế,trong đó có các quan hệ dân sự, tất cả các quốc gia điều ấn định riêng cho mình những

cách thức và biện pháp giải quyết cụ thể khi có tranh chấp phát sinh, các quy phạm

pháp luật là những chế định chứa đựng những cách thức và biện pháp đó, trong đó có

các quy phạm xung đột khi có xung đột pháp luật Trong việc điều chỉnh quan hệ trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài, pháp luật Việt Nam

cũng có những nguyên tắc và cách thức giải quyết được quy định cụ thể

2.1.3.1 Khi hai quốc gia khác nhau cùng điều chỉnh quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng

Bộ luật dân sự Việt Nam giải quyết các quan hệ dân sự phát sinh có yếu tố nướcngoài được quy định tại PHẢN THỨ BẢY, ở phần này, các quy định chủ yếu tập

chung giải thích các vấn đề phát sinh thuộc quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, và có

sử dụng các quy phạm xung đột để “bày tỏ” nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng của

Việt Nam để giải quyết cụ thể các vấn đề phát sinh 29

Ngày đăng: 22/12/2015, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w