1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích và bình luận những quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng trong tư pháp quốc tế. Đưa ra hướng hoàn thiện.

16 291 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 36,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, nền kinh tế ngày càng phát triển và mở rộng, sự thông thương giao dịch và hợp tác quốc tế cũng được tăng cường dưới nhiều hình thức và phương diện. Các quốc gia thực hiện chính sách mở cửa, tăng cường hợp tác, giao lưu về nhiều mặt nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... của quốc gia mình. Các quan hệ xã hội đã không còn chỉ nằm trong một quốc gia mà còn có sự “vượt biên” sang các quốc gia khác. Cùng với sự phát triển không ngừng của các quan hệ xã hội đó, thực tiễn đặt ra cần có hệ thống pháp luật để điều chỉnh các quan hệ này và tư pháp quốc tế ra đời để điều chỉnh một số các quan hệ quốc tế đó. Nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển, hợp đồng dân sự ngày càng được sử dụng rộng rãi và được pháp luật các quốc gia đặc biệt quan tâm. Và tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài. Để hợp đồng có hiệu lực pháp luật thì phải đáp ứng các quy định về pháp luật của quốc gia như chủ thể kí kết hợp đồng, nội dung hợp đồng kí kết, hình thức hợp đồng kí kết… Tư pháp quốc tế là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài dẫn đến xung đột pháp luật là hiện tượng xảy ra phổ biến trong tư pháp quốc tế. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể trong bộ luật dân sự 2015 nhằm giải quyết xung đột pháp luật giữa các quốc gia liên quan đến vấn đề hợp đồng. Chính vì vậy em xin chọn đề tài: “Phân tích và bình luận những quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng trong tư pháp quốc tế” để tìm hiểu xem pháp luật Việt Nam đã giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng (một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng) như thế nào.

Trang 1

I.MỞ BÀI.

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, nền kinh tế ngày càng phát triển và

mở rộng, sự thông thương giao dịch và hợp tác quốc tế cũng được tăng cường dưới nhiều hình thức và phương diện Các quốc gia thực hiện chính sách mở cửa, tăng cường hợp tác, giao lưu về nhiều mặt nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh

tế, chính trị, văn hoá, xã hội của quốc gia mình Các quan hệ xã hội đã không còn chỉ nằm trong một quốc gia mà còn có sự “vượt biên” sang các quốc gia khác Cùng với sự phát triển không ngừng của các quan hệ xã hội đó, thực tiễn đặt ra cần có hệ thống pháp luật để điều chỉnh các quan hệ này và tư pháp quốc

tế ra đời để điều chỉnh một số các quan hệ quốc tế đó Nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển, hợp đồng dân sự ngày càng được sử dụng rộng rãi và được pháp luật các quốc gia đặc biệt quan tâm Và tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài Để hợp đồng có hiệu lực pháp luật thì phải đáp ứng các quy định về pháp luật của quốc gia như chủ thể kí kết hợp đồng, nội dung hợp đồng kí kết, hình thức hợp đồng kí kết… Tư pháp quốc

tế là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài dẫn đến xung đột pháp luật là hiện tượng xảy ra phổ biến trong tư pháp quốc tế Pháp luật Việt Nam đã có những quy định

cụ thể trong bộ luật dân sự 2015 nhằm giải quyết xung đột pháp luật giữa các quốc gia liên quan đến vấn đề hợp đồng Chính vì vậy em xin chọn đề tài: “Phân tích và bình luận những quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng trong tư pháp quốc tế” để tìm hiểu xem pháp luật Việt Nam đã giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng (một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng) như thế nào

II THÂN BÀI.

1 Khái quát chung về xung đột pháp luật.

Pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước cầm quyền, mỗi quốc gia có một thể chế chính trị riêng, lịch sử hình thành luật pháp riêng, quan điểm pháp luật riêng

Trang 2

mang màu sắc của quốc gia mình Pháp luật của các quốc gia khác nhau là khác nhau Chính vì vậy xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế là không thể tránh khỏi Ví dụ: Trong luật hôn nhân gia đình, các quốc gia quy định về độ tuổi được kết hôn đối với công dân là khác nhau, ở Việt Nam độ tuổi kết hôn đối với

nữ là từ đủ 18 tuổi, nam từ đủ 20 tuổi; ở Thuỵ Điển độ tuổi kết hôn đối với nữ

là từ 17 tuổi, nam từ 18 tuổi; ở Nhật Bản độ tuổi kết hôn của cả nam và nữ là từ

đủ 20 tuổi,… hay trong luật Thừa kế, Việt Nam không công nhận quyền thừa kế đối với động vật nhưng Anh lại công nhận quyền thừa kế của động vật,…

Xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật này hay quan hệ pháp luật khác Vấn đề cần phải giải quyết là chọn một trong các hệ thống pháp luật

đó để áp dụng giải quyết quan hệ pháp luật trên

Chọn luật phải dựa trên những nguyên tắc nhất định, chứ không thể tự do, tùy tiện Điều này có nghĩa là việc lựa chọn hệ thống pháp luật nào để áp dụng

sẽ không phụ thuộc vào chủ quan ý chí của tòa án có thẩm quyền hoặc sẽ không phụ thuộc vào ý chí của các bên khi tham gia quan hệ

Nguyên nhân xảy ra xung đột pháp luật:

Nguyên nhân chủ quan: nội dung chính của các quy phạm tư pháp quốc tế

là điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, điều này dẫn đến hiện tượng khi một quan hệ pháp luật hoặc một tình huống pháp luật phát sinh thì làm phát sinh xung đột pháp luật do quan hệ hoặc tình huống pháp

lý đó có liên quan đến hệ thống pháp luật của nhiều nước khác nhau

Nguyên nhân khách quan: Có nhiều hệ thống pháp luật tồn tại trên thế giới Mỗi quốc gia có một quan điểm lập pháp khác nhau do thuộc nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, chịu ảnh hưởng của nhiều hệ tư tưởng khác nhau,… cùng với đó là các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá,… cũng khác nhau nên pháp luật của các quốc gia khác nhau là khác nhau

Trang 3

Xung đột pháp luật chỉ xảy ra trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (theo nghĩa rộng) Còn trong các lĩnh vực quan hệ pháp luật khác như hình

sự, hành chính,… thì tuy pháp luật các nước có quy định khác nhau nhưng không xảy ra xung đột pháp luật

Ngoài ra, xung đột pháp luật cũng có thể xảy ra ở các nhà nước liên bang khi ở giữa các bang pháp luật cũng quy định khác nhau Ở đó lại có cách giải quyết khác bởi ở đấy đều có luật toàn liên bang và lại có cả các cơ quan có thẩm quyền giải quyết ở mức toàn liên bang Mọi xung đột pháp luật giữa các bang sẽ giải quyết bằng luật chung của cả liên bang và do các cơ quan của liên bang ra quyết định

2.Hợp đồng dân sự trong tư pháp quốc tế.

Hợp đồng trong tư pháp quốc tế là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng có yêu

tố nước ngoài Ta có thể cụ thể hóa hợp đồng dan sự trong tư pháp quốc tế bởi hai yếu tố là: “hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng” và “yếu tố nước ngoài”

a) Hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng

Hợp đồng trong tư pháp quốc tế là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng Căn

cứ theo Điểu 383 Bộ luật dân sự 2015 thì “hợp đồng dân sự là sự thảo thuẩn giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Hợp đồng là một chế định quan trong và cơ bản của pháp luật dân sự trong xác lập các quan hệ dân sự Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 có những hợp đồng thông dụng sau được quy định tại chương XVI bao gồm các loại hợp đồng: hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng về quyền sử dụng đất, hợp đông hơp tác, hợp đồng dịch vụ,… Ngoài những hợp đồng nêu trên còn có những loại hợp đồng được quy định trong những lĩnh vực chuyên nghành như thương mại, lao động Tất cả các hợp đồng này được gọi là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng

Trang 4

b) Yếu tố nước ngoài.

Hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài là hợp đồng dân sự có chủ thể nước ngoài tham gia; căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt hợp đồng xảy ra ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài; tài sản liên quan đến hợp đồng nằm ở nước ngoài Chính yếu tố nước ngoài dẫn đến hiện tượng cùng một lúc có thể có nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh hợp đồng Từ

đó, việc xác định luật áp dụng cho hợp đồng cũng như để bảo vệ lợi ích của các bên khi giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tất yếu sẽ gặp nhiều khó khăn Để giải quyết vấn đề này, một trong những nguyên tắc quan trọng được pháp luật các nước cũng như các điều ước quốc tế ghi nhận là các bên tham gia quan hệ hợp đồng có quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng

Yếu tố nước ngoài được thể hiện bởi một trong ba dấu hiệu sau:

Thứ nhất,có ít nhất một chủ thể tham gia quan hệ này là cá nhân, cơ quan,

tổ chức nước ngoài Chủ thể nước ngoài có thể là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài, nhà nước nước ngoài (ví dụ một quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với công dân Đức, chủ thể nước ngoài là công dân Đức)

Thứ hai, khách thể của quan hệ này liên quan đến tài sản, công việc ở nước ngoài, các bên đều là công dân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện, chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài Ví dụ: một quan hệ thừa kế tài sản của công dân Việt Nam mà tài sản thừa kế đang tồn tại trên lãnh thổ Anh; việc gửi giữ tài sản giữa một công dân Việt Nam tại một đại lý ở nước ngoài thì trách nhiệm bảo quản là khách thể của quan hệ đó…)

Thứ ba, sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ này xảy ra ở nước ngoài Ví dụ: Pháp nhân Việt Nam ký hợp đồng mua bán hàng hoá với pháp nhân Mĩ tại New York, việc kí kết hợp đồng là một sự kiện pháp lý

Tuy nhiên những tranh chấp trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, xảy ra thường xuyên và biện pháp giải quyết rất rắc rối Do đó khi giao kết hợp

Trang 5

đồng có yếu tố nước ngoài mỗi cá nhân cần nắm vững các kiến thức cơ bản về nó

3.Hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài.

Thứ nhất, hình thức của Hợp đồng dân sự là cách thức biểu hiện ra bên ngoài của những nội dung dưới một dạng vật chất hữu hình Theo đó, những điều khoản mà các bên đã cam kết thoả thuận phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định, hay nói cách khác hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định Tuỳ thuộc vào nội dung và tính chất của từng hợp đồng cũng như tuỳ thuộc vào uy tín, độ tin cậy lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức giao kết hợp đồng tuỳ từng trường hợp cụ thể

Thứ hai, théo Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định về hình thức hợp đồng dân sự như sau:

“1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2 Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Từ quy định trên có thể thấy hình thức của hợp đồng dân sự rất đa dạng, phong phú, tựu trung lại thì hình thức của hợp đồng dân sự có mấy dạng sau đây:

- Hình thức miệng (bằng lời nói): Thông qua hình thức này các bên chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về những nội dung cơ bản của hợp đồng Hình thức này thường được áp dụng đối với những trường hợp các bên đã có độ tin tưởng

Trang 6

lẫn nhau hoặc các đối tác lâu năm hoặc là những hợp đồng mà sau khi giao kết, thực hiện sẽ chấm dứt Ví dụ bạn thân cho mượn tiền,hay đi mua đồ ở chợ…

- Hình thức viết (bằng văn bản): Các cam kết của các bên trong hợp đồng sẽ được ghi nhận lại bằng một văn bản Trong văn bản đó các bên phải ghi đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng và cùng kí tên xác nhận vào văn bản, thông thường hợp đồng được lập thành nhiều bản và mỗi bên giữ một bản

Căn cứ vào văn bản hợp đồng các bên dễ dàng thực hiện nghĩa vụ của mình

và thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia vì vậy bản hợp đồng đó coi như là một bằng chứng, chứng minh quyền dân sự của mình Khi có tranh chấp, hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lý vững chắc hơn so với hình thức miệng vì vậy trong thực tế những giao dịch quan trọng, có giá trị lớn hoặc những giao dịch có tính "nhạy cảm" đối với những đối tượng và người giao kết "nhạy cảm" thì nên thực hiện bằng hình thức văn bản

- Hình thức có công chứng, chứng thực: Hình thức này áp dụng cho những hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và đối tượng của hợp đồng

là những tài sản mà nhà nước quản lý, kiểm soát thì khi giao kết các bên phải lập thành văn bản có Công chứng hoặc chứng thực của Cơ quan quản lý hành chính

có thẩm quyền trong lĩnh vực này Hợp đồng được lập ra theo hình thức này có giá trị chứng cứ (để chứng minh) cao nhất Hợp đồng loại này có giá trị chứng

cứ cao nhất chứ không phải có giá trị cao nhất vì các hợp đồng được lập ra một cách hợp pháp thì đều có giá trị pháp lý như nhau

Ví dụ: Hợp đồng tặng cho bất động sản (Điều 459 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015) quy định: "Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định cảu luật Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản"

Trang 7

- Hình thức khác: ngoài những hình thức nói trên, hợp đồng có thể thực hiện bằng các hình thức khác như bằng các hành vi (ra hiệu, ra giấu bằng cử chỉ

cơ thể…) miễn là những hành vi đó phải chứa đựng thông tin cho bên kia hiểu

và thoả thuận giao kết trên thực tế

Cần lưu ý là đối với những hợp đồng dân sự mà pháp luật bắt buộc phải giao kết theo một hình thức nhất định (thông thường là hình thức văn bản có Công chứng, chứng thực) thì các bên phải tuân theo những hình thức đó, ngoài

ra thì các bên có thể tự do lựa chọn một trong các hình thức nói trên để giao kết, tuy nhiên đối với những hợp đồng mà pháp luật không yêu cầu phải lập theo hình thức văn bản có công chứng nhưng để quyền lợi của mình được bảo đảm thì các bên vẫn có thể chọn hình thức này để giao kết hợp đồng

4 Quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng trong tư pháp quốc tế.

Hiện nay nguyên tắc chung trong tư pháp quốc tế là các nước đều quy định hình thức của một hợp đồng chỉ được công nhận có hiệu lực nếu nó được lập phù hợp với pháp luật nước nơi giao kết Điều này được thể hiện tại điều 9 của Công ước Rome 1980

Theo khoản 7 điều 683 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 quy định:

“ Hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp

đồng đó Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam”.

Bên cạnh đó, cũng tại khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại Việt Nam 2005 đã

quy định: “Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”

Theo đó, Pháp luật Việt Nam giải quyết xung đột pháp luật về hình thức của hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài như sau:

Trang 8

Hình thức của hợp đồng có yếu tố nước ngoài phải tuân theo pháp luật áp dụng hợp đồng đó Vậy, nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam giao kết hợp đồng với cá nhân, cơ quan, tổ chức, người nước ngoài một hợp đồng dân sự thì hình thức hợp đồng tuân theo pháp luật của nước mà các bên thỏa thuận, trong trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng Nước có mối liên hệ gắn bó được căn cứ Khoản 2 Điều 683 Bộ luật dân sự 2015:

“a) Pháp luật của nước nơi người bán cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng mua bán hàng hóa;

b) Pháp luật của nước nơi người cung cấp dịch vụ cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng dịch vụ;

c) Pháp luật của nước nơi người nhận quyền cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ;

d) Pháp luật của nước nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc đối với hợp đồng lao động Nếu người lao động thường xuyên thực hiện công việc tại nhiều nước khác nhau hoặc không xác định được nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng lao động là pháp luật của nước nơi người sử dụng lao động cư trú đối với cá nhân hoặc thành lập đối với pháp nhân;

đ) Pháp luật của nước nơi người tiêu dùng cư trú đối với hợp đồng tiêu dùng.”

Quy định này là phù hợp với nhu cầu thực tế Nó cho phép các bên tham gia ký kết hợp đồng tiến hành một cách thuận tiện các thủ tục về hình thức tại nơi mà các bên thỏa thuận trọng hợp đồng, trong trường hợp không có thỏa thuận pháp luật nước có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng sẽ được sử dụng Bên cạnh đó, quy định này cũng nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong hợp đồng; bảo vệ quyền lợi của quốc gia nơi giao kết hợp đồng Tạo các điều

Trang 9

kiện thuận lợi trong các giao dịch dân sự nói chung và các quy định về hình thức nói riêng

Song pháp luật Việt Nam còn quy định: “Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam Điều này có thể hiểu là nếu hợp đồng có yếu tố nước ngoài được giao kết tại một nước, hình thức hơp đồng sẽ phải tuân theo pháp luật của nước mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng, trong trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật của quốc gia có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng Song hợp đồng lại vi phạm về quy định về hình thức hợp đồng của quốc gia mà các bên thỏa thuận áp dụng mà không vi phạm quy định về hình thức của pháp luật việt nam hoặc phù hợp với hình thức của hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng thì hình thức hợp đồng đó vẫn được công nhận ở Việt Nam, hợp đồng không bị vô hiệu về hình thức ở Việt Nam

Ngoài ra, hình thức của hợp đồng phải tôn trọng pháp luật Việt Nam mặc

dù được ký kết ở nước ngoài:

Hình thức của hợp đồng liên quan đến việc xây dựng hay chuyển giao quyền sở hữu công trình, nhà cửa và các bất động sản khác trên lãnh thổ Việt Nam quy định tại khoản 4 Điều 683 Bộ luật dân sự 2015 Hình thức hợp đồng liên quan đến việc xây dựng hoặc chuyển giao quyền sở hữu công trình, nhà cửa

và các bất động sản khác trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Những hợp đồng xác lập liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, thuê bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là pháp luật của nước nơi có bất động sản được áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật Sở dĩ các nhà làm luật lại quy định như vậy bởi vấn đề này liên quan trực tiếp tới chủ quyền và lãnh thổ của quốc gia

Trang 10

Một số loại hợp đồng pháp luật Việt Nam quy định phải bằng văn bản mới

có giá trị pháp lý: Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Hợp đồng mua bán nhà

ở, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng lao động thời hạn trên 3 tháng, hợp đồng bảo hiểm,… Được quy định trong những chế định cụ thể tại Bộ luật dân sự 2015

5 Bình luận về những quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng trong tư pháp quốc tế.

Quy định của bộ luật Dân sự về hình thức hợp đồng quy định tại khoản 7 Điều 683 là phù hợp với nhu cầu thực tế, tạo điều kiện để các chủ thể hoàn thành thủ tục về hình thức của hợp đồng một cách thuận tiện dễ dàng theo pháp luật nước có quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó

Ngoài ra, khoản 7 Điều 683 Bộ luật dân sự 2015 cũng quy định: “hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam” Việc quy định như vậy là hợp lý, khi các bên không có điều kiện tìm hiểu về pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng thì đây

là một hướng giải quyết thuận lợi và dễ dàng cho tranh chấp của các bên, hạn chế hơn việc hợp đồng vô hiệu về mặt hình thức, tạo điều kiện cho các bên hợp tác suôn sẻ, tốt đẹp

Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật dân sự là nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận quy định tại Điều 4 bộ luật dân sự 2015 Các chủ thể tham gia quan hệ dân sự có quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự Việc quy định chọn luật áp dụng bắt buộc đối với hình thức hợp đồng đã đi đúng tinh thần nguyên tắc tự do thoả thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng dân sự

Theo quy định tại Công ước Rome 1980 về luật áp dụng cho trách nhiệm hợp đồng, đây là công ước quốc tế được hầu hết các nước thuộc khối cộng đồng

Ngày đăng: 26/03/2019, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w