Do đó, hầu hết tất cả các quốcgia đều ghi nhận và áp dụng một hệ thống các nguyên tắc pháp lý tiến bộ để điều chỉnhquan hệ hộn nhân và gia đình như nguyên tắc tự nguyện, chế độ một vợ mộ
Trang 1Học phần: TƯ PHÁP QUỐC TẾ
DANH SÁCH NHÓM 5:
1 Nguyễn Nguyên Cát Anh
2 Thái Lệ Chinh
3 Lê Minh Đông
4 Nguyễn Trần Mai Loan
5 Tăng Gia Miêu
6 Kiều Thị Như Ngọc
7 Bùi Lê Quang
8 Nguyễn Thanh Tiền
9 Nguyễn Thị Tố Uyên
GVHD: NGUYỄN THỊ HẰNG NHÓM 5 - VB2K19ALA01
Trang 21 Báo cáo lý thuyết 1
1.1 Lý luận chung về hôn nhân và gia đình trong tư pháp quốc tế 1
1.2 Văn bản pháp luật liên quan đến chủ đề Hôn nhân gia đình trong TPQT 3
1.3 Kết hôn có yếu tố nước ngoài 3
1.4 Ly hôn có yếu tố nước ngoài 5
1.5 Quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng 7
1.6 Quan hệ giữa cha mẹ và con 9
1.7 Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 11
1.8 Vấn đề giám hộ trong tư pháp quốc tế 11
1.9 Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa 12
2 Nghiên cứu riêng: Về các thủ tục thực hiện trên thực tế 13
2.1 Thủ tục kết hôn với người nước ngoài 13
2.2 Thủ tục ly hôn với người nước ngoài 15
2.3 Thủ tục nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài 17
3 Ứng dụng thực tiễn 19
3.1 Quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Toà án nhân dân Tp Đà Nẵng ngày 12 tháng 01 năm 2018 19
3.2 Vụ kiện dân sự "Tranh chấp quyền sở hữu tài sản và nuôi con" giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Đức An, và bị đơn là bà Phạm Thị Ngọc Thúy 20
3.3 Tranh chấp ly hôn giữa ông Kambayashi Hiroaki và bà Võ Xuân Mai 23
4 Danh mục tài liệu tham khảo 25
5 Danh sách nhóm và phân công công việc 26
Trang 31 Báo cáo lý thuyết
1.1 Lý luận chung về hôn nhân và gia đình trong tư pháp quốc tế
a) Cơ sở lý luận
Quan hệ hôn nhân và gia đình là một trong các bộ phận cấu thành quan trọng nhất của hệthống pháp luật dân sự của tất cả các quốc gia Song những khác biệt trong hệ thống phápluật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung giữa các quốc gia là nguyên nhânchính dẫn đến xung đột pháp luật trong lĩnh vực này khi các nền văn hóa, các hệ thốngpháp luật của các quốc gia tương tác với nhau thông qua các giao lưu dân sự quốc tế.Tính chất đặc thù của nhóm quan hệ này là chúng luôn chịu sự tác động một cách trựctiếp và mạnh mẽ bởi nhiều yếu tố khác nhau như điều kiện tự nhiên, xã hội, dân tộc, tôngiáo, văn hóa, kinh tế, … và thậm chí cả yếu tố chính trị Do đó, hầu hết tất cả các quốcgia đều ghi nhận và áp dụng một hệ thống các nguyên tắc pháp lý tiến bộ để điều chỉnhquan hệ hộn nhân và gia đình như nguyên tắc tự nguyện, chế độ một vợ một chồng,nguyên tắc bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con cái, đặc biệt ưu tiên bảo vệquyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ và trẻ em (ngoại trừ các quốc gia xây dựng dựatrên những chuẩn mực pháp lý riêng và bới hệ tư tưởng riêng, chẳng hạn như các quốcgia Hồi giáo, Myanmar, …)
Trong bối cảnh hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thống nhất quan điểm vớinhau trong việc tìm kiếm giải pháp hiệu quả và thiết thực để nhằm điều chỉnh và giảiquyết xung đột pháp luật trong các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Vì vậy, chế định pháp lý về hôn nhân và gia đình trong có yếu tố nước ngoài là một bộphận không thể thiếu của hệ thống tư pháp quốc tế của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới
và việc tìm hiểu, nghiên cứu một cách khoa học chế định này có vai trò trong việc củng
cố và tăng cường chất lượng của các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng nhưhoạt động nghiên cứu pháp lý của các quốc gia
b) Khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Khoản 25 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài"
Trang 4Như vậy một quan hệ hôn nhân gia đình được coi là có yếu tố nước ngoài khi có mộttrong những điều kiện sau:
+ Có ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nướcngoài;
+ Các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứtquan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đếnquan hệ đó ở nước ngoài
c) Ý nghĩa của việc xác định các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Việc xác định có yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình cóý nghĩa nhưsau:
Thứ nhất, xác định một cách chính xác đối tượng điều chỉnh của ngành luật, giúp cơ quan
d) Đặc điểm của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Quan hệ hôn nhân và gia đình là một trong những nhóm quan hệ rất quan trọng gắn liềnvới đời sống vật chất và tinh thần của mỗi cá nhân và có sự tác động không nhỏ đến sự
ổn định và phát triển của mỗi quốc gia.Vì vậy, các quốc gia đều coi trọng và đặc biệtquan tâm giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến hôn nhân và gia đình thông quaviệc xây dựng một hệ thống pháp luật riêng biệt điều chỉnh nhóm quan hệ này.Riêng đốivới các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, tính phức tạp và sự đa dạngcủa chúng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia trong quá trình thực thipháp luật và thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này Một số điểm nổibật của các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như sau:
Một là, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là nhóm quan hệ khá đặc biệt,bởi chúng chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện đặc thù mang tính chất tự nhiên
và xã hội của từng quốc gia, dân tộc hay từng khu vực, mặt khác chịu sự tác động trựctiếp và mạnh mẽ không kém từ các hoạt động giao lưu quốc tế
Trang 5Hai là, chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đều do có liênquan đến cá nhân người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Ba là, nội dung của quan hệ hôn nhân và gia đình thường thể hiện ở cả hai khía cạnh:nhân thân và tài sản Do đó, trong quá trình giải quyết các quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài, các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thường phải quan tâmđến bản chất của từng nhóm quan hệ mà có biện pháp và cách thức áp dụng pháp luậtmột cách phù hợp
Bốn là, nguồn luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài baogồm cả pháp luật quốc gia và Điều ước quốc tế Trong đó, pháp luật quốc gia đóng vai trò
là nguồn cơ bản và chủ yếu nhất trong quá trình điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và giađình có yếu tố nước ngoài, Điều ước quốc tế là loại nguồn có giá trị ưu tiên áp dụng trongmọi trường hợp và khả năng áp dụng tập quán là rất ít
1.2 Văn bản pháp luật liên quan đến chủ đề Hôn nhân gia đình trong TPQT
Căn cứ quy định tại Điều 122 Luật hôn nhân gia đình 2014, các nguồn luật được áp dụngđiều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài bao gồm:
- Điều ước quốc tế mà nước Việt Nam là thành viên: được ưu tiên áp dụng, kể cả trongtrường hợp quy định của điều ước quốc tế khác với quy định của Luật hôn nhân gia đình
2014 (Khoản 1, Điều 122 Luật hôn nhân và gia đình 2014).
- Pháp luật nước ngoài: được áp dụng trong trường hợp các văn bản pháp luật của ViệtNam có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài nếu việc áp dụng đó không tráivới các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 2 của Luật hôn nhân gia đình 2014hoặc trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài(Khoản 2, Khoản 3 Điều 122 Luật hôn nhân và gia đình 2014).
- Pháp luật Việt Nam: được áp dụng trong tất cả các trường hợp (kể cả trường hợp pháp
luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam) (Khoản 1, Khoản 3 Điều 122 Luật hôn nhân và gia đình 2014).
1.3 Kết hôn có yếu tố nước ngoài
a) Khái niệm
Quan hệ kết hôn là nhóm quan hệ có tầm quan trọng đặc biệt và có tính chất quyết địnhđối với hầu hết các quan hệ khác trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.Kết hôn là nền tảng
Trang 6của việc xây dựng gia đình, là cơ sở để hình thành và đảm bảo cho các quan hệ hôn nhân
và gia đình khác như quan hệ giữa vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái
Quan hệ kết hôn trong tư pháp quốc tế là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.Nhómquan hệ này chủ yếu xác định dựa trên yếu tố chủ thể và sự kiện pháp lý Do đó, mộtquan hệ kết hôn được xác định có yếu tố nước ngoài trước hết khi có ít nhất một bên chủthể là tham gia là bên nước ngoài (người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư nướcngoài) hoặc khi việc kết hôn được thực hiện tại nước ngoài
Ví dụ: quan hệ kết hôn của một công dân Việt Nam với một công dân Anh, hoặc quan hệkết hôn của một công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam và một công dân Việt Nam khác
cư trú tại Hoa Kỳ, hoặc quan hệ kết hôn giữa hai công dân Việt Nam cư trú tại Việt Namđược tiến hành tại nước ngoài
b) Pháp luật các nước:
Về điều kiện kết hôn
Điều kiện kết hôn là tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu lực của quan hệ kết hôn Điềukiện kết hôn của chủ thể được xem xét ở 02 khía cạnh: độ tuổi kết hôn và điều kiện cấmkết hôn
- Về độ tuổi kết hôn: Hầu hết các quốc gia đều thống nhất độ tuổi kết hôn của đương sự
là yếu tố nhân thân quan trọng của mỗi cá nhân Do đó, nguyên tắc áp dụng để giải quyếtxung đột pháp luật về độ tuổi kết hôn là áp dụng hệ thuộc luật nhân thân Trong đó, cácquốc gia áp dụng nguyên tắc luật nhân thân theo các dấu hiệu quốc tịch (áp dụng nguyêntắc luật quốc tịch) và cũng có nhiều quốc gia áp dụng dấu hiệu nơi cư trú (áp dụng luậtnơi cư trú)
- Các trường hợp cấm kết hôn: Nhiều quốc gia áp dụng nguyên tắc luật nhân thân để cáchthức thống nhất với việc áp dụng giải quyết xung đột về độ tuổi kết hôn Tức là cá nhân
sẽ được coi đủ điều kiện kết hôn nếu thỏa mãn quy định của pháp luật của quốc gia màmình mang quốc tịch hoặc cư trú.Bên cạnh đó, các quốc gia còn áp dụng thêm nguyên tắcluật nơi tiến hành kết hôn để áp dụng pháp luật xem xét nội dung Tức là điều kiện kếthôn nói chung của đương sự do pháp luật của nước nơi đương sự mang quốc tịch hoặc cưtrú điều chỉnh, nhưng riêng đối với các trường hợp cấm kết hôn thì còn phải tuân theoquy dịnh của pháp luật nơi tiến hành kết hôn (hoặc pháp luật nơi có cơ quan có thẩm
Trang 7quyền giải quyết việc kết hôn, có thể coi như là một hình thức thể hiện khác của hệ thuộcTòa án).
Nghi thức kết hôn
Nghi thức kết hôn được hiểu là cách thức hay trình tự thủ tục tiến hành việc kết hôn.Theo pháp luật của các quốc gia trên thế giới, nghi thức kết hôn được xem là điều kiện vềmặt hình thức để đảm bảo hiệu lực của một quan hệ kết hôn
Phần lớn các nước đều quy định nghi thức kết hôn dân sự, tức là việc kết hôn được đăng
ký hay thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên, cũng có không ít quốcgia quy định nghi thức kết hôn tôn giáo như Iraq, Iran, Israel Ngoài ra cũng có quốc gia
áp dụng nghi thức kết hôn hỗn hợp kết hợp cả hai nghi thức kết hôn nói trên Như vậy,việc kết hôn có thể xem là hợp pháp về mặt hình thức theo pháp luật của quốc gia nàynhưng có thể bị phủ nhận bởi pháp luật của quốc gia khác
Chính sự khác biệt trong quy định của các quốc gia về nghi thức kết hôn làm phát sinhhiện tượng xung đột pháp luật về nghi thức kết hôn trong quan hệ kết hôn có yếu tố nướcngoài.Để giải quyết xung đột trên đa số các quốc gia trên thế giới đều chấp nhậnnguyêntắc luật nơi tiến hành kết hôn sẽ được áp dụng như là nguyên tắc cơ bản nhất
c) Pháp luật Việt Nam
Theo Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về Kết hôn có yếu tố nướcngoài như sau:
“1 Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.
2 Việc kết hôn giữa những người nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.”
Như vậy, căn cứ quy định trên thì pháp luật Việt Nam quy định chủ thể kết hôn phải tuântheo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành tại
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài, kể cả những người nướcngoài thường trú ở Việt Nam phải tuân theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014
về điều kiện kết hôn
Trang 81.4 Ly hôn có yếu tố nước ngoài
a) Pháp luật các nước
Đa số các quốc gia cho phép việc ly hôn được tiến hành tự do thông qua các thủ tục pháp
lý do luật định Nhưng một số quốc gia lại không cho phép việc ly hôn chẳng hạn nhưTòa thánh Vatican
Khi một quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài phát sinh, hiện tượng xung đột pháp luật
sẽ xảy ra như là hiện tượng tất yếu.Để giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật này, phápluật các quốc gia trên thế giới áp dụng nguyên tắc pháp lý khác nhau tùy thuộc quan điểmlập pháp của từng quốc gia.Thông thường các nước áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch củacác bên đương sự, luật cư trú, luật của nước có cơ quan thẩm quyền giải quyết quan hệ lyhôn hoặc áp dụng kết hợp đồng thời nhiều nguyên tắc
b) Pháp luật Việt Nam theo các Hiệp định tương trợ tư pháp
Hiện nay, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định tương trợ tư pháp với nhiều quốc gia nhưNga, các nước Đông Âu, Lào, Trung Quốc… Theo đó, hiện tượng xung đột pháp luật về
ly hôn được giải quyết dựa trên các nguyên tắc cơ bản:
- Luật quốc tịch chung của vợ chồng: nếu hai vợ chồng có cùng quốc tịch thì pháp luậtđược áp dụng là pháp luật mà cả hai vợ chồng cùng mang quốc tịch
- Luật tòa án: nếu hai vợ chồng khác quốc tịch thì cơ quan có thẩm quyền của quốc gia
ký kết nào thụ lý đơn xin ly hôn thì sẽ giải quyết việc ly hôn theo pháp luật của quốc giađó
c) Giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam
Thực hiện theo quy định tại Điều 127 Luật hôn gia đình 2014 về việc ly hôn có yếu tốnước ngoài như sau:
“1 Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.
2 Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.
Trang 93 Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.”
Như vậy, việc ly hôn có yếu tố nước ngoài được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền củaViệt Nam thì áp dụng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 Trường hợpbên công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thìviệc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng,nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam Riêng việcgiải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nướcnơi có bất động sản đó
1.5 Quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng
a) Khái niệm
Dấu hiệu cơ bản để nhận biết yếu tố nước ngoài trong quan hệ nhân thân và tài sản giữa
vợ và chồng trong hôn nhân là quốc tịch.Bên cạnh đó, đố với trường hợp người Việt Namđịnh cư ở nước ngoài thì dấu hiệu nhận biết quan trọng là yếu tố nơi cư trú.Ngoài ra, yếu
tố nước ngoài trong quan hệ tài sản nói riêng giữa vợ và chồng còn được thể hiện ở dấuhiệu nơi tài sản (tranh chấp) của vợ và chồng đang hiện hữu
b) Pháp luật các nước
Đối với quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trong hôn nhân, luật áp dụng để giải quyếtđược xác định theo nguyên tắc luật nhân thân Trong đó, các quốc gia thuộc truyền thốngpháp luật Châu Âu lục địa thường áp dụng nguyên tắc Luật quốc tịch.Trong khi đó, cácquốc gia thuộc truyền thống pháp luật Anh Mỹ lại áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú đểgiải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng
Đối với quan hệ tài sản giữa vợ và chồng các quốc gia phương tây áp dụng nhiều nguyêntắc giải quyết xung đột pháp luật khác nhau Trong khi các quốc gia thuộc truyền thốngpháp luật Anh Mỹ chỉ ưu tiên áp dụng nguyên tắc nơi cư trú chung của vợ chồng thì cácquốc gia thuộc khối Châu Âu lục địa lại áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch chung của vợchồng hoặc nguyên tắc nơi cư trú chung của vợ chồng hay nguyên tắc luật tòa án
Đối với các quốc gia thành viên của công ước Lahaye 1978 thì pháp luật của quốc giaphải phù hợp với quy định của công ước, đồng thời cho phép vợ chồng được thỏa thuậnlựa chọn pháp luật áp dụng để giải quyết quan hệ tài sản của mình thông qua một hôn ướcđược ký kết giữa hai bên Tuy nhiên, việc lựa chọn pháp luật áp dụng có phạm vi hẹp hơn
Trang 10rất nhiều so với quyền tự do lựa chọn pháp luật áp dụng của các chủ thể tham gia ký kếthợp đồng.
c) Pháp luật Việt Nam
Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng tại ViệtNam có 02 trường hợp sau:
- Theo các Hiệp định tương trợ tư pháp: Việc giải quyết xung đột pháp luật được áp dụngtheo nguyên tắc phải được thực hiện giải quyết theo các nguyên tắc giải quyết xung độtpháp luật được quy định trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.Trong đó, quan trọng nhất là các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kếtsong phương với các quốc gia khác, còn đối với điều ước quốc tế đa phương như Côngước Lahaye Việt Nam vẫn chưa là thành viên nên không bị ràng buộc trong việc thực thi.Trong hầu hết các Hiệp định tương trợ tư pháp nguyên tắc chủ yếu được áp dụng để giảiquyết xung đột pháp luật liên quan đến quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng lànguyên tắc Luật Quốc tịch (thường dung dấu hiệu Quốc tịch chung) hoặc nguyên tắc Luậtnơi cư trú (hay nơi cư trú chung, nơi cư trú chung đầu tiên, nơi cư trú chung cuối cùng)hoặc áp dụng nguyên tắc Luật Tòa án
- Theo pháp luật Việt Nam: Luật hôn nhân và gia đình 2014 không có quy phạm xung độtxác định Luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nướcngoài Tuy nhiên, theo Điều 6 và Điều 122 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy địnhpháp luật áp dụng có thể là Luật Việt Nam (Luật hôn nhân gia đình và các quy định phápluật khác có liên quan về tài sản và nhân thân, ) Như vậy, trong trường hợp Luật ápdụng để giải quyết về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài là LuậtViệt Nam thì các quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 điều chỉnh quan hệ nhânthân giữa vợ và chồng trong nước sẽ được áp dụng
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không có quy phạm xung đột xác định Luật áp dụng đểđiều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, theo Điều
130 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định áp dụng chế độ tài sản giữa vợ và chồngtheo thỏa thuận; giải quyết hậu quả của việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài quy định: “Trong trường hợp có yêu cầu giải quyết việc áp dụng chế độ tài sản giữa vợ và chồng theo thỏa thuận; quan hệ
Trang 11nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng các quy định của Luật này và các luật khác có liên quan của Việt Nam để giải quyết.”
1.6 Quan hệ giữa cha mẹ và con
Đối với việc xác định quan hệ giữa cha, mẹ và con ngoài giá thú, được xác định theonguyên tắc như trên, nghĩa là theo pháp luật nơi người cha hoặc mẹ cư trú (Anh, Mỹ), nơingười cha mang quốc tịch (Thụy Sĩ, Đan Mạch, Hy Lạp…) hoặc theo pháp luật nơi ngườicon mang quốc tịch (Pháp)1
b) Cơ sở pháp lý:Điều ước, Hiệp định thương trợ tư pháp hoặc pháp luật Việt Nam
Điều ước, Hiệp định tương trợ tư pháp:
Cơ sở pháp luật để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến quan
hệ giữa cha mẹ và con có yếu tố nước ngoài là các điều ước quốc tế mà Việt Nam làthành viên hoặc ký kết, hoặc các Hiệp định tương trợ tư pháp (“HĐ TTTP”)
Tính đến tháng 7/2017, Việt Nam đã ký 27 HĐ TTTP với các quốc gia khác2 như Ấn Độ,Cam-pu-chia, Đài Loan, Nga, Pháp, Cuba …, các hiệp định này hầu hết đều có các quyphạm giải quyết xung đột pháp luật liên quan đến quan hệ giữa cha mẹ và con có yếu tố
1 ĐH Luật TPHCM, 2016, Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Hồng Đức, tr 234-236
2 https://lanhsuvietnam.gov.vn/Lists/BaiViet/B%C3%A0i%20vi%E1%BA%BFt/DispForm.aspx?
List=dc7c7d75-6a32-4215-afeb-47d4bee70eee&ID=414
Trang 12nước ngoài Giống như Pháp, nguyên tắc chung được áp dụng là nguyên tắc nơi cư trúchung của cha mẹ và con hoặc nguyên tắc luật quốc tịch của con Ví dụ, HĐ TTTP giữaNga và Việt Nam được ký ngày 23/04/2003, quy định về quan hệ pháp lý giữa cha mẹ vàcon cái tại Điều 28, khoản 1 và 2 như sau:
“1 Quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và con được xác định theo pháp luật của Bên ký kết nơi
họ cùng thường trú
2 Nếu một người trong cha mẹ và con thường trú trên lãnh thổ của Bên ký kết kia, thìquan hệ pháp lý giữa cha mẹ và con được xác định theo pháp luật của Bên ký kết màngười con là công dân
3 Các vấn đề quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thuộc thẩm quyền giải tuyết củaBên ký kết mà người con là công dân, cũng như của Bên ký kết nơi người con thườngtrú.3”
Đối với vấn đề xác định cha mẹ cho con, vì các nước quy định các quy phạm pháp luật
để giải quyết khác nhau, do đó, thường các HĐ TTTP sẽ quy định nguyên tắc luật quốctịch/ hoặc nơi cư trú của người con hoặc nguyên tắc luật tòa án Tương tự, đối với yêucầu cấp dưỡng giữa cha mẹ và con, các HĐ TTTP thường ghi nhận nguyên tắc áp dụngpháp luật của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú hoặc mang quốc tịch
Pháp luật Việt Nam
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định từ Điều 120 đến 130 cho các quan hệ hônnhân gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó quy định rõ từ nguyên tắc áp dụng – Điều
121 &122, Thẩm quyền giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài Điều
123, đối với quan hệ cha mẹ và con Luật này có quy định mới so với Luật Hôn nhân giađình 2000 ở phần xác định cha, mẹ con có yếu tố nước ngoài:
“1 Cơ quan đăng ký hộ tịch Việt Nam có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ,con mà không có tranh chấp giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa côngdân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoàivới nhau mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về hộtịch
2 Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết việc xác định cha, mẹ, con có yếu tốnước ngoài đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 88, Điều 89, Điều 90, khoản 1,
3 https://lanhsuvietnam.gov.vn/Doc/He%20thong%20VBPQ/Dieu%20uoc%20QT%20song%20phuong/ 3.HD-TTTP/Russia%20-%20Civil,%20criminal%20matters%20(vn).pdf
Trang 13khoản 5 Điều 97, khoản 3, khoản 5 Điều 98 và Điều 99 của Luật này; các trường hợpkhác có tranh chấp.”
Việc toàn cầu hóa và giao lưu văn hóa quốc tế đã tạo ra các mối quan hệ hôn nhân giađình có yếu tố nước ngoài ngày một gia tăng, và so với luật Hôn nhân gia đình 2000, luậtHôn nhân gia đình 2014 đã có một sự điều chỉnh thích hợp hơn phản ảnh mối quan hệgiữa cha mẹ và con như việc xác định cha, mẹ, con
1.7 Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
a) Pháp luật nước ngoài
Trên thế giới để giải quyết các xung đột pháp luật cho các quan hệ nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài phát sinh, các quốc gia thường áp dụng nguyên tắc luật nhân thân củangười nhận nuôi hoặc của con nuôi Luật của Pháp, Đức quan hệ này được điều chỉnh bởipháp luật của nước người con nuôi mang quốc tịch Ngược lại, pháp luật Anh ưu tiên ápdụng nguyên tắc luật nơi cư trú của người nhận nuôi hoặc nơi cư trú của con nuôi tùytrường hợp
b) Pháp luật Việt Nam
Pháp luật Việt Nam đã ban hành Luật Nuôi con nuôi 2010, trong đó quy định rất rõ vềtrường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, cụ thể Chương 3, từ điều 28 đến điều 43quy định chi tiết về điều kiện của người nhận nuôi, hồ sơ thủ tục nhận con nuôi, các giấy
tờ hợp pháp hóa lãnh sự, trách nhiệm xác minh của các bên, … cho đến tổ chức con nuôinước ngoài tại Việt Nam
Sau Luật nuôi con nuôi 2010, một loạt các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết về Luậtnày được ban hành từ năm 2011 đến 2016 hướng dẫn về việc thực hiện, trình tự thủ tụcgiấy tờ, … như NĐ 19/2011/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nuôi con nuôi, TT 24/2014/TT-BTP hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi của Bộ Tư pháp,
NĐ 114/2016/NĐ-CP quy định lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, lệ phí cấp giấy phép hoạtđộng của tổ chức con nuôi nước ngoài, …
1.8 Vấn đề giám hộ trong tư pháp quốc tế
a) Pháp luật Nước ngoài
Quy định về giải quyết xung đột pháp luật trong giám hộ có yếu tố nước ngoài của cácnước có các nguyên tắc áp dụng khác nhau:
Trang 14 Áp dụng pháp luật của nước mà người giám hộ mang quốc tịch (hay nguyên tắc luậtquốc tịch của người dám hộ) như ở Pháp, đồng thời thực tiễn xét xử tại các tòa án củaquốc gia này cũng chấp nhận nguyên tắc áp luật tòa án trong nhiều trường hợp cụ thể.
Áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch của người được giám hộ như Đức
Áp dụng nguyên tắc nơi cư trú, không quan tâm đến dấu hiệu nơi cư trú của đương sựnhư nước Anh
Áp dụng nguyên tắc luật Quốc tịch và nguyên tắc luật nơi cư trú như Nga
Ngoài ra, Công ước Lahaye 1902 về giám hộ cho người vị thành niên, công ướcLahaye 1905 về giám hộ cho người thành niên cũng như nhiều HĐ TTTP được ký kết,nguyên tắc giải quyết xung đột về giám hộ có yếu tố nước ngoài là nguyên tắc luậtquốc tịch của người được giám hộ là nguyên tắc cơ bản
b) Pháp luật Việt Nam
Đối với vấn đề giám hộ có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bởi 2 nguồn luật quantrọng là các HĐ TTTP, các điều ước quốc tế mà VN tham gia và các Luật Hôn nhân Giađình, Luật Dân sự, Luật Hộ tịch về giám hộ Khoản 3, Điều 123, Luật Hôn Nhân gia đình
Đối với Pháp luật Việt Nam, dấu hiệu nơi cư trú được xác định theo người giám hộ vàngười được giám hộ trong trường hợp này sẽ xác định theo pháp luật của nước nơi ngườigiám hộ thường trú
1.9 Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa
Thời gian qua, Việt nam đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận về mặt lậppháp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình cóyếu tố nước ngoài nói riêng, tuy nhiên, hiệu quả thực sự của quá trình đó cần phải đượckiểm chứng một cách đầy đủ và chắc chắn hơn qua thực tiễn áp dụng