1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ tài QUYỀN sở hữu , kế THỪA TRONG tư PHÁP QUỐC tế

22 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 506,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài chủ thể, khách thể, căn cứTrong khoa học tư pháp quốc tế, quyền sở hữu của các chủ thể được đề cập đến làquyền sở hữu có yếu tố nước ngo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

BÀI TIỀU LUẬN

ĐỀ TÀI: QUYỀN SỞ HỮU – THỪA KẾ TRONG

TƯ PHÁP QUỐC TẾ

NHÓM 3 GVHD: Ths Nguyễn Thị Hằng

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN

2 Nguyễn Lê Dung

3 Nguyễn Thị Hoa

5 Phạm Tấn Quý

6 Trần Thị Hòa Thanh

8 Nguyễn Thị Thủy Tiên

Trang 3

MỤC LỤC

Phần 1: QUYỀN SỞ HŨU TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ 1

1 Khái quát chung về Quyền sở hữu 1

2 Giải quyết xung đột pháp luật về sở hữu 2

3 Các trường hợp ngoại lệ của quy tắc Lex reisitae 5

Phần 2: QUYỀN THỪA KẾ TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ 8

1 Quyền thừa kế 8

2 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật của các nước 9

3 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo các điều ước quốc tế 10

4 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế tại Việt Nam 11

5 Giải quyết di sản không có người thừa kế trong tư pháp quốc tế 12

Phần 3: BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 14

Câu hỏi 14

Bài 2 16

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

HĐTTTP Hiệp định tương trợ tư pháp

Trang 5

Phần 1: QUYỀN SỞ HŨU TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

1 Khái quát chung về Quyền sở hữu

1.1 Khái quát chung về sở hữu trong TPQT

Quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế là quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài

Quyền sở hữu là tổng hợp các quyền năng của các chủ thể được pháp luật thừanhận trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản

Khái niệm về quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài ( chủ thể, khách thể, căn cứ)Trong khoa học tư pháp quốc tế, quyền sở hữu của các chủ thể được đề cập đến làquyền sở hữu có yếu tố nước ngoài.Theo pháp luật Việt Nam được quy định tại Điều

663 BLDS 2015 (Điều 758 BLDS 2005) thì yếu tố nước ngoài trong quan hệ sở hữuđược thể hiện ở những điểm sau:

- Chủ thể tham gia quan hệ sở hữu có ít nhất một bên tham gia là người nướcngoài, pháp nhân nước ngoài, nhà nước nước ngoài, người Việt Nam định cư ởnước ngoài…

Ví dụ: Một người nước ngoài tham quan du lịch tại Việt Nam, mang theo tài sản cánhân Việc công nhận quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của người nướcngoài ở Việt Nam sẽ dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật Quan hệ sở hữu củangười nước ngoài đối với tài sản tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam được gọi là quan hệ sởhữu có yếu tố nước ngoài

- Khách thể của quan hệ sở hữu là tài sản tồn tại ở nước ngoài

- Sự kiện pháp lý làm phát sinh thay đổi chấm dứt quan hệ sở hữu xảy ra ngay ởnước ngoài

1.2 Phân tích tình huống, vụ việc giúp xác định các yếu tố trong khái niệm

Ví dụ: Một công ty xuất nhập khẩu A tại Việt Nam ký một hợp đồng mua bán ngoạithương với một pháp nhân nước ngoài là Công ty B tại Uzbekistan về việc nhập khẩulinh kiện máy móc về Việt Nam Hợp đồng này được kí trên lãnh thổ nước ngoài và đãphát sinh hiệu lực pháp lý, hàng hóa đang tồn tại trên lãnh thổ nước ta Vậy trongtrường hợp này, quyền sở hữu của công ty Việt Nam sẽ được xác định như thế nào sẽdựa vào các quy phạm tư pháp quốc tế

Phân tích:

- Chủ thể: công ty xuất nhập khẩu Việt Nam, pháp nhân nước ngoài

- Khách thể: hàng hóa đang tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam

- Sự kiện pháp lý: hợp đồng được ký trên lãnh thổ nước ngoài và phát sinh hiệulực pháp lý tại Việt Nam

 Quan hệ sở hữu này cũng được gọi là quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài

1.3 Điểm mới về quyền sở hữu tài sản trong bộ luật dân sự 2015

Trang 6

Điều 766 Bộ luật dân sự 2005 được tách thành một số điều khoản riêng trong Bộluật dân sự 2015 Cụ thể, Khoản 3 Điều 766 BLDS 2005 về phân loại tài sản Khoản 2,

3 Điều 766 BLDS 2005 được quy định tại Điều 678 BLDS đối với tài sản đang trênđường vận chuyển, các vấn đề liên quan đến quan hệ về quyền sở hữu tài sản sẽ đượcgiải quyết theo pháp luật của nước do các bên thỏa thuận hoặc luật nơi tài sản đượcchuyển đến

Bên cạnh đó Bộ luật dân sự 2015 đã lược bỏ quy định:

“Quyền sở hữu đối với máy bay dân dụng và tàu biển tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam”.

Bởi máy bay tuy là một loại tài sản đặc biệt nhưng việc quy định phân loại tàisản là động sản, bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tàisản được ưu tiên áp dụng nhằm thống nhất, phù hợp với pháp luật quốc tế Quy địnhnày không đặt ra trường hợp ngoại lệ, có tính phân biệt, tránh xung đột với pháp luậtnước ngoài dẫn đến việc không có căn cứ giải quyết

Quy định về phân loại tài sản, quy định về quyền sở hữu và quyền khác đối với

tài sản theo quy định Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Điều 677 Bộ luật dân sự 2015: Phân loại tài sản

"Việc phân loại tài sản là động sản, bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản."

Điều 678 Bộ luật dân sự 2015: Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sảnCác quyền đối với tài sản bao gồm:

- Quyền sở hữu: là quyền của chủ sở hữu, bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng,

và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật

- Quyền khác đối với tài sản: là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sảnthuộc quyền sở hữu của chủ thể khác, bao gồm:

+ Quyền đối với bất động sản liền kề

+ Quyền hưởng dụng

+ Quyền bề mặt

Như vậy bên cạnh có sự sắp xếp để làm rõ việc áp dụng pháp luật hệ thuộc luậtnước nơi có tài sản thì Bộ luật dân sự 2015 có bổ sung về quyền khác đối với tài sản

mà trước đây Bộ luật dân sự 2005 chưa có quy định điều chỉnh

2 Giải quyết xung đột pháp luật về sở hữu

2.1 Nguyên tắc chung giải quyết xung đột

Để giải quyết các xung đột pháp luật liên quan đến quyền sở hữu đối với tài sảnhiện nay trong tư pháp quốc tế, hầu như các quốc gia trên thế giới đều áp dụng nguyêntắc “ Luật nơi có vật” ( Lex rei sitae) Nguyên tắc “ Luật nơi có vật” đã xuất hiện từ rấtlâu đời, trong học thuyết “ Trường phái chú thích mới ở Italia” ( Thế kỷ XIV), trong “

Trang 7

Thuyết địa tính”, đặc biệt quy chế pháp lý “ Nơi có tài sản” có ưu thế hơn trong việc

áp dụng giải quyết các xung đột pháp luật về vật, đặc biệt là bất động sản

Hiện nay trong hệ thống các nước Common law hoặc Civil law đều quy định áp dụng

“ Luật nơi có tài sản” để giải quyết Như Điều 99 Đạo luật về Tư pháp quốc tế năm

1982 của Thụy Sĩ; Điều 13 Luật chung về luật áp dụng năm 2006 của Nhật Bản; Điều

36, Điều 37 Luật về luật áp dụng với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài năm 2010của Trung Quốc; Điều 19 Đạo luật về Tư pháp quốc tế năm 2011 của Hàn Quốc; Điều

41 Đạo luật về Tư pháp quốc tế năm 2011 của Séc; Điều 69 Đạo luật về Tư pháp quốc

tế năm 2012 của Séc…

Ở Việt Nam được quy định rõ tại điều 677 Luật Dân Sự 2015 như sau:

Điều 677 Phân loại tài sản

“Việc phân loại tài sản là động sản, bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản”.

2.2 Giải quyết xung đột pháp luật về phạm vi, nội dung, điều kiện phát sinh, chấm dứt và chuyển dịch quyền sở hữu.

Trong tư pháp quốc tế, một nguyên tắc chung được các quốc gia thừa nhận làquyền sở hữu của đối với tài sản được phát sinh trên cơ sở luật nơi có vật, do đó khi tàisản đó di chuyển sang nước khác thì quan hệ sở hữu đó vẫn được pháp luật của nướcnơi có tài sản được chuyển đến thừa nhận và bảo hộ Tuy nhiên nội dung của quyền sởhữu tài sản đó lại được xác định theo luật nơi có tài sản đó tức nước đang có tài sản đó.Theo Điều 99 Khoản 1 Luật tư pháp quốc tế của Thụy Sỹ quy định đối với tài sản làbất động sản “ Quyền của bất động sản phải tuân theo pháp luật của nơi bất động sảntọa lạc”

Trong Luật Dân sự 2015 Việt Nam quy định:

Điều 678 Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản

“Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”.

Ví dụ: Một người nước ngoài đi du lịch mang một tài sản hợp pháp của họ vàoViệt Nam thì quyền sở hữu tài sản đó của họ sẽ được pháp luật nước ngoài bảo hộ, tuynhiên nội dung quyền sở hữu thì do pháp luật Việt Nam quy định

Ngoài ra, trong các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký với một sốnước cũng thống nhất áp dụng nguyên tắc “ Luật nơi có vật”

Ví dụ: Hiệp định giữa Việt Nam và Bungari tại điều 30 quy định “ Quan hệ pháp lý

về bất động sản được xác định theo pháp luật và thuộc thẩm quyền giải quyết của bên

ký kết nơi có bất động sản đó”

2.3 Giải quyết xung đột pháp luật đối với định danh tài sản:

Trang 8

Khi giải quyết xung đột pháp luật định danh tài sản trước hết cần phải xác địnhđược tài sản này là động sản hay bất động sản, từ đó mới áp dụng pháp luật để giảiquyết quan hệ sở hữu Ở mỗi nước quy định khác nhau về động sản và bất động sảncũng khác nhau dẫn đến quan hệ sở hữu về tài sản cũng sẽ khác nhau, tuy nhiên đểphân biệt động sản hay bất động sản hầu hết các nước đều áp dụng “luật nơi có tài sản”

Ví dụ: Ví dụ: Di sản thừa kế của A sẽ được áp dụng luật nào (từ đó sẽ tìm ra đượcquy phạm pháp luật cụ thể để áp dụng giải quyết) nếu khi định danh di sản thừa kế của

A là bất động sản thì sẽ áp dụng luật nơi có vật để giải quyết; nếu định danh di sảnthừa kế của A là động sản sẽ áp dụng luật nhân thân (luật quốc tịch hoặc luật nơi cưtrú) của người để lại di sản thừa kế đó để giải quyết

2.4 Giải quyết xung đột pháp luật đối với tài sản đang trên đường vận chuyển, tài sản quá cảnh qua nhiều quốc gia

Tài sản đang trên đường vận chuyển đi qua lãnh thổ của hai hay nhiều nước khi cótranh chấp về quyền sở hữu thì tòa án có thẩm quyền thường giài thích và áp dụng mộttrong các hệ thống pháp luật như sau:

- Luật của nước mà phương tiện vận tài đó treo quốc kỳ ( Lex Flagi)

- Luật của nước do các bên chọn ( Lex voluntatis)

- Luật của nước nơi gửi tài sản đi (Lex loci xpenditionis)

- Luật của nước nơi nhận tài sản ( Lex loci stinationis)

- Luật tòa án ( Lex fori)…

Ví dụ: Ở Việt Nam quy định xung đột pháp luật liên quan tàu bay tại Luật HàngKhông dân dụng 2006

Điều 4 Nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột pháp luật

1 Pháp luật của quốc gia đăng ký quốc tịch tàu bay được áp dụng đối với quan hệ xã hội phát sinh trong tàu bay đang bay và áp dụng để xác định các quyền đối với tàu bay.

2 Pháp luật của quốc gia nơi ký kết hợp đồng liên quan đến các quyền đối với tàu bay được áp dụng để xác định hình thức của hợp đồng.

3 Pháp luật của quốc gia nơi thực hiện việc cứu hộ hoặc giữ gìn tàu bay được áp dụng đối với việc trả tiền công cứu hộ hoặc giữ gìn tàu bay đó.

4 Pháp luật của quốc gia nơi xảy ra tai nạn do tàu bay va chạm hoặc gây cản trở nhau, do tàu bay đang bay gây thiệt hại cho người thứ ba ở mặt đất được áp dụng đối với việc bồi thường thiệt hại.

2.5 Trường hợp giải quyết xung đột thời điểm chuyển dịch quyền sở hữu và rủi ro trong hợp đồng mua bán tài sản

Khi quan hệ giao thương giữa các nước ngày càng phát triển thì hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế diễn ra thương xuyên thì khi phát sinh tranh chấp trong các hợp đồng

Trang 9

thương mại quốc tế thì vấn đề đặt ra là xác định thời điểm chuyển dịch quyền sở hữu

và thời điểm chuyển dịch rủi ro là rất quan trọng Thông thường thì khi tranh chấp sẽđược điều chỉnh bởi điều ước quốc tế hoặc tập quán thương mại quốc tế hoặc luật quốcgia theo thỏa thuận hai bên

Công ước viên 1980 quy định chuyển rủi ro: Ðiều 67:

1 Khi hợp đồng mua bán quy định việc vận chuyển hàng hóa và người bán không bị buộc phải giao hàng tại nơi xác định, rủi ro được chuyển sang người mua kể từ lúc hàng được giao cho người chuyên chở thứ nhất để chuyển giao cho người mua chiếu theo hợp đồng mua bán ….

2 Tuy nhiên, rủi ro không được chuyển sang người mua nếu hàng hóa không được đặc định hóa rõ ràng cho mục đích của hợp đồng hoặc bằng cách ghi ký mã hiệu trên hàng hóa, bằng các chứng từ chuyên chở, bằng một thông báo gửi cho người mua hoặc bằng bất cứ phương pháp nào khác.

Incoterm cũng quy định về thời điểm chuyển rủi ro theo thỏa thuận: FOB, CIF…

Ví dụ: Hai bên thỏa thuận giao hàng theo term FOB có nghĩa là người bán chuyển giaorủi ro khi hàng đưa lên boong tàu…

Đối với quy định của Luật Việt Nam thì được thời điểm chuyển dịch sở hữu vàrủi ro được quy định trong luật dân sự 2015 và luật thương mại 2005

Luật Dân sự 2015 Điều 441 Thời điểm chịu rủi ro

1 Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác.

2 Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, trừ trường hợp có thoả thuận khác

Luật thương mại 2005 quy định quyền sở hữu hàng hóa

Điều 62 Thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa

Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao

3 Các trường hợp ngoại lệ của quy tắc Lex reisitae

3.1 Tài sản là động sản đang trên đường vận chuyển

Đặc điểm tài sản đang trên đường vận chuyển là động sản di dời, vận chuyển nêncác quyền khác đối với tài sản ở đây được hiểu chỉ bao gồm quyền hưởng dụng

Mặc dù về mặt nguyên tắc luật áp dụng đối với quyền sở hữu và quyền khác đốivới tài sản là luật nơi có tài sản, nhưng cũng có một số ngoại lệ liên quan đến luật áp

Trang 10

dụng đối với quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản Cụ thể, theo Khoản 2 Điều

678 BLDS 2015 thì tài sản đang trên đường vận chuyển thì hệ thuộc luật được ưu tiênđầu tiên là luật theo sự thỏa thuận, nếu không có sự thỏa thuận này thì sẽ áp dụng luậtcủa nước nơi động sản được chuyển đến

Do đặc điểm tài sản đang trên đường vận chuyển là động sản di dời, vận chuyểnnên các quyền khác đối với tài sản ở đây được hiểu chỉ bao gồm quyền hưởng dụng.Ngoại lệ này được cho là cần thiết vì đối với tài sản đang trên đường vận chuyển thìkhông thể xác định được tài sản đang ở đâu (ví dụ như khi tài sản đang đi qua vùngbiển cả, vùng không phận quốc tế), nếu có xác định được thì nơi có tài sản chỉ là nơingẫu nhiên, nhất thời có sự tồn tại đó, hoàn toàn không phản ánh được mối liên hệ mậtthiết giữa tài sản và nơi tài sản đang đi qua đó

Về hệ thuộc luật thỏa thuận: Có một điều chắc chắn rằng, mọi quan hệ pháp luậtđều xoay quanh các thể nhân, pháp nhân - những chủ thể ngang quyền và bình đẳngvới nhau Nhưng không có nghĩa là trong mọi quan hệ pháp luật đó việc thương lượng,thỏa thuận nói chung, việc thỏa thuận về luật áp dụng nói riêng giữa các bên đều được

ưu tiên

3.2 Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tàu bay, tàu biển

Ngoài ngoại lệ liên quan đến tài sản đang trên đường vận chuyển, pháp luật ViệtNam hiện hành còn quy định riêng về pháp luật áp dụng với quyền sở hữu và quyềnkhác đối với tàu bay, tàu biển Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định rõ ngoại lệ nàytại khoản 4 Điều 766 Nhưng quy định này đã được lược bỏ, không cần nhắc lại haydẫn chiếu thêm trong Bộ luật Dân sự năm 2015 vì đã điều chỉnh tại văn bản pháp luậtchuyên ngành

Cụ thể, theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hàng hải năm 2015 thì: “Trường hợp quan hệpháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản trên tàu biển ( ) các vụ việc xảy ra trêntàu biển khi tàu đang ở vùng biển quốc tế thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàubiển mang cờ quốc tịch”; khoản 1 Điều 4 Luật Hàng không dân dụng năm 2006 (sửađổi năm 2014) quy định: “Pháp luật của quốc gia đăng ký quốc tịch tàu bay được ápdụng đối với quan hệ xã hội phát sinh trong tàu bay đang bay và áp dụng để xác địnhcác quyền đối với tàu bay” Như vậy, đối với quyền sở hữu tài sản trên tàu biển sẽ theopháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch, còn quyền sở hữu và quyềnkhác đối với tàu bay cũng như quan hệ về quyền sở hữu phát sinh trong tàu bay sẽ theopháp luật của quốc gia nơi đăng ký tàu bay

3.3 Tài sản thuộc sỡ hữu của nhà nước

Do quốc gia có chủ quyền bất khả xâm phạm nên quốc gia có quyền miễn trừ tưpháp và do đó có quyền xác lập quan hệ sỡ hữu với tài sản thuộc quốc gia mình dù tàisản ở bất kỳ đâu Điều này cũng thể hiện sự bình đẳng về địa vị pháp lý giữa các quốc

Trang 11

gia trên thế giới Trong quan hệ này, tài sản sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật nướcnơi có tài sản làm chủ sỡ hữu, không phải pháp luật nước nơi tài sản đang tồn tại.Ngoài ra, mối quan hệ này còn chịu sự điều chỉnh của điều ước quốc tế mà quốc gia cótài sản đó là thành viên.

Tuy nhiên, trường hợp tuy là tài sản quốc gia nhưng được giao cho các doanhnghiệp nhà nước kinh doanh thì sẽ không được hưởng quyền miễn trừ tư pháp Vì vậy,quy chế pháp lý trong trường hợp này được áp dụng giống với việc giải quyết các tàisản thuộc sở hữu tư

Tại Việt Nam, quy chế pháp lý của tài sản quốc gia sẽ do pháp luật Việt Nam quyđịnh ( luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước số 09/2008/QH12

3.4 Tài sản vô hình

Tài sản vô hình – tài sản trí tuệ là tài sản có tính chất đặc thù, phi vật chất và không

dễ dàng xác định chúng Đặc điểm cơ bản là mang tính chất lãnh thổ vì một nội dung

có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau trên nhiều quốc gia khác nhau.Bởi vậy rất khó quyết định sẽ áp dụng pháp luật của quốc gia nào Do đó, sỡ hữu trítuệ là lĩnh vực không có xung đột pháp luật và chịu sự điều chỉnh của quốc gia nónhận được sự bảo hộ cùng điều ước quốc tế liên quan ( Công ước Berne 1886 về bảo

hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật)

Quyền sở hữu trí tuệ cũng không phụ thược vào luật nhân thân hay luật nơi cư trú

mà phụ thuộc vào pháp luật nơi đăng ký bảo hộ

3.5 Tài sản của pháp nhân nước ngoài trong trường hợp phá sản

Pháp nhân nước ngoài là pháp nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài và

có tư cách pháp lý theo pháp luật nước đó Vì vậy khi giải thể, phá sản cần phải tuânthủ theo quy định của quốc gia đăng ký tư cách pháp nhân Trong trường hợp này sẽ

áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân để giải quyết các quan hệ tài sản vớipháp nhân bị giải thể Tại Việt Nam, các trung tâm quản lý pháp nhân, nơi pháp nhânđăng ký điều lệ và nơi pháp nhân tiến hành hoạt động kinh doanh sẽ chịu trách nhiệmquản lý

Ngày đăng: 05/09/2019, 15:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w