thơ họ Nguyễn đã chứng kiến mọi sự thay đổi suy đồi của đạo học Nho gia và Nho sinh trong xã hội đương thời từ đó khéo léo truyền tải chúng vào trong các tác phẩm văn chương của mình.. T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
ĐỖ THU HIỀN
ĐẠO HỌC
TRONG THƠ CA CỦA NGUYỄN BỈNH
KHIÊM VÀ NGUYỄN KHUYẾN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
ĐỖ THU HIỀN
ĐẠO HỌC
TRONG THƠ CA CỦA NGUYỄN BỈNH
KHIÊM VÀ NGUYỄN KHUYẾN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ TÍNH
HÀ NỘI, 2019
Trang 3đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Đỗ Thu Hiền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin khẳng định đây là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp, nhiệt tình của cô giáo TS Nguyễn Thị Tính
Đề tài nghiên cứu này không trùng với đề tài nghiên cứu của tác giả nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Đỗ Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khoá luận 5
7 Bố cục khoá luận 6
NỘI DUNG 7
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 7
1.1 Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến 7
1.1.1 Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm 7
1.1.2Tác giả Nguyễn Khuyến 9
1.2 Khái niệm đề tài “đạo học” 12
Tiểu kết chương 1 13
Chương 2: NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG TRONG CÁI NHÌN VỀ ĐẠO HỌC ĐƯƠNG THỜI CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM VÀ NGUYỄN KHUYẾN 14
2.1 Sự suy đồi của trường học và Nho sinh 14
2.2 Sự tác động tiêu cực của đạo học đến xã hội 19
Tiểu kết chương 2 25
Chương 3 NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG CÁI NHÌN VỀ ĐẠO HỌC ĐƯƠNG THỜI CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM VÀ NGUYỄN KHUYẾN 26
3.1 Sự khác biệt trong điểm nhìn và đối tượng phê phán 26
3.2 Sự khác biệt trong tư tưởng về ảnh hưởng của đạo học đến xã hội 33
Tiểu kết chương 3 44
KẾT LUẬN 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học nước ta thời kì Trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo Các nhà văn, nhà thơ hướng ngòi bút của mình vào những nội dung đạo đức cơ bản như tam cương, ngũ thường - thước đo phẩm hạnh của con người lúc bấy giờ Cũng từ đó mà nảy sinh quan niệm “văn dĩ tải đạo, thi ngôn chí”; văn chương trở thành nguồn cảm hứng để con người giãi bày tâm
tư, tình cảm của mình trước vận mệnh đất nước, xã hội đương thời Xuất thân
là nhà nho, cùng sống trong thời kì đất nước đầy biến động, cùng viết về đạo học Nho gia nhưng ở Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến ta vẫn bắt gặp những điểm khác biệt
Nho giáo đã du nhập và tồn tại trong nước ta suốt thời kì phong kiến,
ăn sâu bám rễ vào tiềm thức nhân dân trở thành hệ tư tưởng thống trị xã hội ngay cả khi giành lại được độc lập Nho giáo được truyền bá rộng rãi trong nhân dân trở thành ngôn ngữ chính thức để đào tạo tri thức được dùng trong thi cử Bởi vậy mà những người theo học Nho giáo thường được coi là những người ở tầng lớp trên muốn thông qua thi cử, cố gắng học tập để ra làm quan Với mong muốn phò vua giúp nước, đem lại cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân mà Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều tu dưỡng bản thân, tích luỹ tri thức để thi cử làm quan
Mang trong mình lí tưởng của một nhà nho chân chính nhưng hoàn cảnh đất nước thay đổi đã khiến cho mỗi nhà thơ phải lựa chọn cho mình một chí hướng riêng Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm tài năng xuất chúng, chọn triều đại
để thi cử và đỗ Trạng Nguyên ra làm quan rồi lại bất lực trước thực tại, phải xin về hưu trí một thời gian thì Nguyễn Khuyến lại khác Ông hăm hở đi thi nhưng gặp phải thất bại, lao đao chốn trường thi Cuối cùng ông đã đỗ đầu ba
kì thi, ra làm quan và được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ Khi có cơ hội thực hiện hoài bão nam nhân thì đất nước lại rơi vào cảnh loạn lạc, nhà Nguyễn gần như sụp đổ hoàn toàn bởi vậy nên giấc mơ trị quốc bình thiên hạ của ông cũng không thể thực hiện Chán nản trước hoàn cảnh đất nước, Nguyễn Khuyến cáo quan về quê Trải qua các quãng thời gian đầy biến động, hai nhà
Trang 7thơ họ Nguyễn đã chứng kiến mọi sự thay đổi suy đồi của đạo học Nho gia và Nho sinh trong xã hội đương thời từ đó khéo léo truyền tải chúng vào trong các tác phẩm văn chương của mình Đúng như Trần Đình Hượu trong cuốn
“Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại” có viết: “ Nho giáo xác định
văn học nghệ thuật là phương tiện giáo hóa chính tâm, chế dục, là công cụ chính trị động viên, tổ chức xã hội nhằm biến thành hiện thực hài hòa của Trời, sự trật tự của Đất Vì lẽ đó, Nho giáo chỉ chấp nhận một thứ văn học nghệ thuật chí thiện, hoàn toàn hợp đạo đức.” [8;33]
Tìm hiểu đề tài này, chúng tôi muốn tiếp cận thêm các khía cạnh của văn chương thời Trung đại đồng thời có một góc nhìn mới về tư tưởng trong các tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến
Chọn đề tài này, chúng tôi muốn trau dồi thêm vốn kiến thức phong phú, đa dạng và sâu sắc nhằm phục vụ cho công việc giảng dạy sau này và tập luyện làm quen với các phương pháp nghiên cứu
Mặt khác, trong chương trình Ngữ Văn THCS và THPT thì Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến được chọn để giảng dạy với tư cách là các tác gia tiêu biểu gắn với những tác phẩm đại diện cho phong cách nghệ thuật của họ Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm được bộc lộ tư tưởng qua “Nhàn” thì Nguyễn Khuyến lại xuất hiện nhiều hơn qua chùm ba bài thơ thu: “Thu điếu”,
“Thu ẩm’, “Thu vịnh”, hay tác phẩm “Bạn đến chơi nhà”, Chính bởi vậy mà việc chúng tôi chọn đề tài này là có tính chủ đích, góp phần trực tiếp và mang
ý nghĩa lớn lao trong việc giảng dạy chuyên môn
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều là những nhà nho, nhà thơ lớn của nền thi ca văn học Việt Nam, bởi vậy mà đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu xoay quanh cuộc đời và sự nghiệp của hai tác giả Tuy nhiên, theo sự tìm hiểu của tôi thì chưa có công trình nghiên cứu nào đặt hai tác gia ở vị trí so sánh cụ thể Các đề tài nghiên cứu thường thấy chỉ ra sự so sánh giữa Nguyễn Trãi với Nguyễn Bỉnh Khiêm hay giữa Nguyễn Khuyến và Tú Xương Có lẽ bởi Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến sống ở hai thế kỉ khác nhau nên
ít có sự so sánh Nói vậy không có nghĩa là chưa có công trình nào đề cập đến
Trang 8đề tài “đạo học” trong thơ ca của hai nhà nho mà là có đề cập nhưng ở riêng biệt từng người Cụ thể, khi lựa chọn tìm hiểu đề tài này, bản thân người viết cũng đã tham khảo, tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu của các nhà nghiên cứu
có liên quan Và trong số đó, tôi thấy có các công trình nghiên cứu, những bài viết có đề cập trực tiếp, liên quan đến vấn đề của khoá luận:
1 Đinh Gia Khánh, “Nguyễn Bỉnh Khiêm và tấm lòng lo trước thiên hạ đến già chưa thôi”
2 Phan Thanh Quang (1991), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, “500 năm
Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nỗi đau tình đời vận nước”
3 Bùi Duy Tân,“Nguyễn Bỉnh Khiêm và tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi”
4 Trần Thị Băng Thanh, Vũ Thanh, “Sức sống của thơ ca và tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm”
5 Biện Văn Điền, 2001, Thư viện Quốc gia, Luận án: “Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Khuyến”
6 Lê Văn Tấn, 2012, Thư viện Quốc Gia, Luận án: “Nhận diện loại hình nhà nho ẩn dật và vai trò của họ trong văn học Trung đại Việt Nam”
7 Võ Thị Hồng Hạnh, 2018, trường Đại học Tây Bắc, Khóa luận: “Tư tưởng Nho giáo, phi Nho giáo trong thơ Nguyễn Khuyến”
8 Bạch Thị Thơm, 2013, Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, Khoá luận: “Kiểu nhà nho hành đạo và nhà nho ẩn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm”
Các công trình nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm đa phần nhắc đến ông là một nhà nho có bản lĩnh, một tấm lòng suy tư về thiên hạ đến già chưa thôi và xoáy sâu vào tư tưởng “Nhàn” của nhà thơ Trần Thị Băng Thanh, Vũ Thanh đã cho rằng: “Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà nho có bản lĩnh, một trí giả Tìm đến với sự nhàn dật chính là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm về với cái vụng, cái chuyết mà theo quan niệm của Nho gia, đã được điều chỉnh bởi quan niệm của Đạo lão, mới là bản chất tự nhiên của sự vật Chính quan niệm nhàn dật đạt đến ý vị triết học đó đã tạo nên một Nguyễn Bỉnh Khiêm - Bạch Vân cư sĩ
tự do, tự tại, giản phác, hồn nhiên, lạc quan, khỏe khoắn, rất hiếm thấy trong làng thơ nhàn thời trung đại” (Sức sống của thơ ca và tư tưởng của Nguyễn
Bỉnh Khiêm) Hay Đinh Gia Khánh trong bài viết “Nguyễn Bỉnh Khiêm và
Trang 9tấm lòng lo trước thiên hạ đến già chưa thôi” lại cho rằng ông gắn với: “quan
niệm về một phẩm chất cao khiết trong xã hội mà ông cho là đục lầm, về một thái độ tự chủ trong một cõi đời mà ông cho là hỗn loạn, về một chỗ đứng vững vàng trong một thời thế mà ông cho là đảo điên Đó là đạo lí của người trí thức có tâm huyết ngày xưa muốn tự giữ mình, muốn tự trọng khi phải chấp nhận sự bất lực trong việc cải tạo hoàn cảnh” [21;279) Cũng như vậy, các công trình đã nghiên cứu về Nguyễn Khuyến cũng chỉ ra thơ ca ông chịu ảnh hưởng của Nho giáo Văn Tân đã chỉ ra rằng: “Nhà thơ mang tư tưởng Nho giáo chính thống, phần tích cực của tư tưởng ấy và cuộc sống gần gũi với nhân dân đã chi phối và làm nên giá trị tôn quân, tư tưởng yêu nước và thái độ
xử thế Nguyễn Khuyến sử dụng nghệ thuật ẩn dụ, điển tích, trào lộng, ngôn ngữ xác thực, gợi tả để tạo nên những hình tượng sinh động, tinh tế Thơ văn Nguyễn Khuyến biểu hiện chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa yêu nước và tính hiện thực” [19;198] Còn những công trình liên quan đến cả hai nhà thơ thì đều
có đặc điểm chung là đề cập đến vấn đề xuất xử của nhà Nho Các công trình nghiên cứu đều chỉ ra rằng việc lựa chọn cáo quan về ở ẩn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến là hành động đúng đắn của các nhà Nho lúc bấy giờ nhằm giữ mình, giữ lòng tự trọng trước thời buổi đạo lí đảo điên Đồng thời qua đó cũng bộc lộ được cách ứng xử của mỗi nhà Nho trước thời cuộc đất nước thay đổi Nhưng bản thân người viết nhận thấy rằng các bài báo, công trình nghiên cứu chưa đi sâu vào vấn đề “đạo học” của Nho gia mà chỉ nêu ra được những tác động của đạo Nho đến tư tưởng thơ ca của hai thi sĩ
Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều được biết đến là hai tác gia lớn và trong phạm vi bài khoá luận này, người viết xin phép được kế thừa
và làm rõ hơn vấn đề “đạo học” trong thơ ca của hai nhà thơ để người đọc có thể thấy rõ nét hơn sự giống và khác nhau của hai nhà thơ khi cùng quan tâm đến một vấn đề cấp thiết của xã hội lúc bấy giờ
Trang 103 Thấy được sự đồng điệu và khác biệt của hai tác gia khi cùng bàn về một vấn đề
4 Góp phần phục vụ cho việc giảng dạy về Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến trong nhà trường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định khoá luận tập trung tìm hiểu những vấn đề liên quan đến “đạo học” trong thơ ca Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến xét trên cả hai bộ phận chữ Hán và chữ Nôm
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Những bài thơ liên quan đến “đạo học” của hai nhà thơ
- Phạm vi tư liệu: Khoá luận được triển khai dựa trên các nguồn tư liệu đã được công bố như sau: “Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng tập” (Nxb Văn học),
“Nguyễn Khuyến đời và thơ” (Nguyễn Huệ Chi), “Nguyễn Khuyến và giai thoại” (Bùi Văn Cường sưu tầm, biên soạn), “Thơ văn Nguyễn Khuyến” (Xuân Diệu),
5 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài này, người viết đã sử dụng các phương pháp chính sau đây:
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp liên ngành
Trong quá trình triển khai khoá luận, người viết không tuyệt đối hoá bất
kì phương pháp nào, trong lúc cần thiết có thể sử dụng tích hợp các phương pháp nêu trên
6 Đóng góp của khoá luận
6.1 Về mặt lí luận
Góp phần nâng cao và hệ thống một cách cụ thể về đề tài “đạo học” trong thơ ca Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến
Trang 116.2 Về mặt thực tiễn
Thơ ca Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đóng một vị trí, vai trò quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông cũng như các trường Cao đẳng, Đại học Do đó, việc tìm hiểu về vấn đề “đạo học” trong thơ ca của hai thi sĩ góp phần trực tiếp phục vụ cho việc học tập và giảng dạy các sáng tác của hai nhà thơ đạt hiệu quả cao
Trang 12NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến
1.1.1 Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1491), tên huý là Văn Đạt, tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương (nay là xã Lí Học, huyện Vĩnh Lại, thành phố Hải Phòng) Ông được xem như là một trong những nhân vật
có ảnh hưởng nhất của lịch sử cũng như văn hoá Việt Nam trong thế kỉ XVI
Ông sinh trưởng trong một gia đình Nho sĩ Ông nội của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Văn Tĩnh, được ấn phong Thiếu bảo, tước Tư Quận công; bà nội là Phạm Thị Trinh Huệ, được ấn phong Chính phu nhân Cha là Nguyễn Văn Định, được tặng Thái bảo, tước Nghiêm Quận công, đạo hiệu là Cù Xuyên tiên sinh Cụ Văn Định là người học rộng, tài cao, đức hạnh đã được sung là Thái học sinh Mẹ là Từ Thục phu nhân, người Yên Tử Hạ, huyện Tiên Minh (nay là huyện Tiên Lãng, Hải Phòng), con gái Thượng Thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan (đỗ
Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ khoa thi năm Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận triều
Lê Thánh Tông (1463)) Bà là một người phụ nữ có tính cách mạnh mẽ, khác thường, nổi tiếng là thông minh, học rộng văn hay và thạo đường thuật số, “lại
có chí hướng phò vua giúp nước của đấng trượng phu” Bà kén chồng, khi ngoài 30 tuổi, thấy Văn Định có tướng sinh quý tử thì mới lấy
Tương truyền, Nguyễn Văn Đạt từ nhỏ đã nổi tiếng là thần đồng, lạiđược bố mẹ hết lòng dạy dỗ, chỉ bảo nên tư chất thông minh lại càng được bộc lộ rõ Mới một tuổi, ông đã có thể nói sõi; Từ Thục phu nhân đã dạy kinh truyện, dạy thơ Quốc Âm cho Nguyễn Bỉnh Khiêm từ năm mới bốn tuổi Bà chính là người có ảnh hưởng quan trọng đến Nguyễn Bỉnh Khiêm và chí lớn của ông sớm được hình thành từ sự khơi gợi, đắp bồi của người mẹ Sau này, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng thừa nhận rằng ông đã chịu ảnh hưởng nhiều từ nền giáo dục của gia đình: “Tôi lúc nhỏ được dạy dỗ của gia đình, trưởng thành thi đỗ ra làm quan, cuộc đời ưa ẩn dật” (Bạch Vân Am thi tập)
Trang 13Năm 1497, khi lên 7 tuổi, Nguyễn Văn Đạt phải sống với cha, vì mẹ đã
bỏ về quê ngoại do bất đồng quan điểm với cha trong việc dạy dỗ con cái Nguyễn Văn Đạt theo học thầy Dương Đức Nhan - Người Hà Dương (Cộng Hiền) Năm 18 tuổi (1509), Nguyễn Văn Đạt vào Thanh Hóa theo học Đình nguyên Bảng nhãn Lương Đắc Bằng - một người nổi tiếng tinh thông Lý học đã đem sở học Dịch lý truyền dạy cho các học trò yêu của mình Sau đó, nhân việc về quê dự tang cha, Nguyễn Văn Đạt ở quê nhà mở trường dạy học Học trò các nơi theo học rất đông, nhiều người tận Sơn Tây, Kinh Bắc, Thăng Long về thụ giáo
Tuy nổi tiếng học giỏi nhưng đến năm 44 tuổi Nguyễn Bỉnh Khiêm mới ra thi Hương và được đỗ đầu Năm sau, khoa thi Ất Mùi, tức năm thứ sáu niên hiệu Đại Chính triều Mạc Đăng Doanh (1535), ông đi thi Hội và đỗ đầu
tứ trường, và kì Đình đối, ông được lấy đỗ Tiến sĩ cập đệ đệ nhất giáp nhất danh (Trạng Nguyên), được trao chức Đông các Hiệu thư, dần thăng lên làm Hữu thị lang bộ Hình, một thời gian ngắn sau lại thăng Tả thị lang, kiêm Đông các Đại học sĩ Đến mùa thu năm Nhâm Dần, niên hiệu Quảng Hoà thứ
2 (1542), sau khi dâng sớ xin chém 18 kẻ nịnh thần không được chấp thuận, ông treo mũ từ quan, về ẩn cư nơi ruộng vườn, khi ấy mới 52 tuổi và làm quan trong triều mới được tám năm
Về quê, ông dựng quán Trung Tân, lập Am Bạch Vân làm trường dạy học, sáng tác thơ ca, tập hợp các thi gia sáng tác, xướng họa Kể từ khi ông từ quan đến khi ông qua đời ở tuổi 95 là 43 năm Trong 43 năm đó, “Tiên sinh không tham dự quốc chính, nhưng nhà Mạc vẫn kính như bậc thầy Mỗi khi
có việc trọng đại của vua Mạc thường sai quan về hỏi hoặc mời lên kinh đô nói chuyện” (Phả ký Vũ Khâm Lân) Cũng trong thời gian đó, ông đã nhiều lần theo vua Mạc dẹp loạn Do đó, ông được vua Mạc ban cho chức tước từ hàm thị Lang đến tước Trình tuyền hầu, dần thăng Thượng thư bộ Lại, Thái bảo, tước Trình Quốc công, vì vậy mới có tên Trạng Trình Đối với quê hương, ông đã tham gia nhiều việc của đời thường như: dựng quán, xây chùa, trồng cây, dạy trẻ, cho câu đối, viết văn bia gắn bó sâu sắc với quê hương
Ông mất ngày 28 tháng 11 năm Ất Dậu (17/11/1585), thọ 95 tuổi, học trò xưng tụng là Tuyết Giang phu tử
Trang 14Về sự nghiệp thơ văn, ông là người có nhiều cống hiến cao nhất đối với nền văn học nước ta thế kỷ XVI Tác phẩm của ông sinh thời được đánh giá là đồ sộ Song, do thời gian lùi xa hàng nửa thiên niên kỷ nên bị thất lạc
nhiều, phần còn lại đến nay sưu tầm và tập hợp lại là: Bạch Vân am thi tập
(chữ Hán), Bạch Vân quốc ngữ thi (chữ Nôm), Trình Quốc công Bạch Vân ký
và Trình Quốc công sấm ký Nội dung thơ của ông: Lòng lo đời, thương
người, thể hiện ra ở thơ ca Văn chương ông tự nhiên, viết ra không cần gọt dũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà ý vị, đều có quan hệ đến việc dạy đời Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lưu dấu ấn văn hoá lên quê hương, lưu vào trong sách vở và tâm thức người đời với những quán Trung Tân, am Bạch Vân, những giai thoại, sấm truyền huyễn hoặc Đó là những chứng tích văn hoá giúp chúng ta hiểu sâu hơn về cuộc đời, tâm sự và những lựa chọn trong cách ứng xử của ông lúc sinh thời và đó cũng chính là một con đường, một cách thế giản dị, tự nhiên để ông trở nên bất tử
1.1.2 Tác giả Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến lúc mới sinh được cha mẹ đặt tên là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn, tự là Miễn Chi, sinh ngày 15 tháng Hai năm 1835 (tức ngày
18 tháng Giêng năm Ất Mùi) tại quê mẹ thôn Văn Khê, làng Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, nhưng ông lớn lên và sống chủ yếu ở quê cha làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Nguyễn Khuyến xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo, hai bên nội ngoại đều có truyền thống khoa bảng Cụ bốn đời Nguyễn Khuyến là Nguyễn Tông Mại, đỗ Tiến sĩ, làm quan đến Hiến sát sự Thanh Hoá, triều Lê Cha là Nguyễn Tông Khởi, thường gọi là Mền Khởi, đã đỗ ba khoá tú tài và làm nghề dạy học Mẹ là bà Trần Thị Thoan, con cụ Trần Công Trạc - người
đã từng đỗ sinh đồ (tức tú tài) thời Lê Mạc
Thuở nhỏ, Nguyễn Thắng đã tỏ ra mình là một đứa bé thông minh, được học chữ với cha và chú ở nhà Năm 1843, khi Nguyễn Thắng lên 8 tuổi
đã theo gia đình về quê nội ở làng Và (tên chữ là Vị Hạ), xã Yên Đổ (nay thuộc xã Trung Lương), huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Năm 13 tuổi, Thắng được cụ Hoàng Giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị dạy dỗ và tỏ ra là người hiếu
Trang 15học Năm 1852, khi 17 tuổi, ông đi thi Hương lần thứ nhất với cha nhưng không đỗ Ông được cha lo chuyện cưới vợ là cô Nguyễn Thị Lụa - con gái ông Nguyễn Gia Thung, người cùng làng Năm sau, địa phương có dịch thương hàn, ông mắc bệnh suýt chết Cha và em ruột cùng nhiều họ hàng thân thuộc đều qua đời vì bạo bệnh, mẹ lại già yếu Gia đình ông lâm nguy và ở cảnh tiêu đều xơ xác, đời sống ngày càng đói rét Nhà nghèo, không có tiền lai kinh, chính người vợ “tào khang” đã “một nắng hai sương” gánh vác việc nhà để chồng học tập Cuộc sống ngày càng túng quẫn, Nguyễn Thắng phải đi dạy học tư kiếm tiền giúp gia đình và có ý thôi học Thấy được ý con, cụ bà Thoan nhất định can ngăn Nguyễn Thắng vì sợ mẹ buồn nên càng cố gắng
“dùi mài kinh sử” Lúc bấy giờ, ở làng Vĩnh Trụ có ông Nghè Vũ Văn Lý vốn
là học trò cũ của cụ Nguyễn Cảnh - bác ruột của Nguyễn Thắng mang về nuôi
và cho ăn học
Năm 1864 (30 tuổi), Nguyễn Thắng đi thi Hương và đỗ giải Nguyên, cùng một khoa với hai người bạn thân là Dương Khuê và Bùi Văn Quế Năm sau, ông lại vào kinh đô thi Hội nhưng không đỗ Ông bèn quyết định ở lại Huế học trường Quốc Tử Giám và đổi tên Thắng thành Khuyến mang ngụ ý
là tự nhắc nhở chính mình hãy cố gắng học hành thành đạt Và phải hai khoa thi sau, đến năm 1871, Nguyễn Khuyến thi Hội đỗ Hội Nguyên, rồi vào thi Đình đậu luôn Đình Nguyên Năm ấy, triều đình lại không lấy Trạng Nguyên, Nguyễn Khuyến được vua Tự Đức ban yến tiệc, mũ áo và cờ biển có ghi hai chữ Tam Nguyên (tức ba lần đỗ đầu) Đó là bởi cả ba khoa thi ông đều đỗ đầu, lại là người Yên Đổ nên người đời gọi Nguyễn Khuyến là Tam Nguyên Yên Đổ
Nguyễn Khuyến bắt đầu ra làm quan và lần lượt giữ những chức vụ quan trọng như Đốc học Thanh Hoá, Án sát Quảng Bình, Bố chánh Quảng Nam, Thương biện Hà Nội, Sơn Hưng Tuyên Tổng đốc Thế nhưng, sống trong một triều đại đã đến thời mục nát, tận mắt chứng kiến cảnh nô lệ, ông sinh lòng chán nản và viện cớ đau mắt nặng, Nguyễn Khuyến cáo quan vào năm 50 tuổi (1885) và về quê dạy học, vui thú điền viên Đây cũng là một hành động chứng tỏ sự bất hợp tác của nhà thơ đối với triều đình và người Pháp Về sau, thực dân Pháp cho người đến mời ông làm quan nhưng ông
Trang 16hiểu rõ được ý đồ của chúng là dùng ông để thu phục lòng dân nên ông kiên quyết từ chối Hoàng Cao Khải mời ông đến dạy học tại nhà, ông miễn cưỡng
để con trai là Nguyễn Hoan đến dạy thay Cuối cùng, ông phải để Nguyễn Hoan ra làm quan thì mới được sống yên ổn
Ngày 15 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (5/02/1909), Nguyễn Khuyến qua đời tại quê nội, hưởng thọ 75 tuổi Nguyễn Khuyến chính là đại diện tiêu biểu cuối cùng cho lớp nhà Nho
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, ông có tâm hồn rộng mở, yêu cuộc sống, yêu làng quê thiên nhiên Dường như thơ của ông chân thật, mộc mạc, gần gũi giống như con người của ông vậy Nguyễn Khuyến sáng tác nhiều và liên tục, ông nổi tiếng là một thi nhân tài hoa Tác phẩm của ông được tập hợp riêng trong những cuốn sách in hoặc chép tay ở
cả hai mảng chữ Hán và chữ Nôm Nguyễn Khuyến sáng tác ở nhiều thể loại: thơ Đường luật, cổ phong, lục bát, hát nói,…
Tác phẩm của Nguyễn Khuyến cho đến nay vẫn chưa được sưu tầm và công bố đầy đủ Tuy nhiên, một số tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ có thể kể
đến như: Quế sơn thi tập, Bách Liêu thi văn tập, Yên Đỗ thi tập, Cẩm Ngữ và
còn rất nhiều sáng tác về bài ca, văn tế, câu đối, bài hát ả đào được rất nhiều người yêu thích Trong đó có tập thơ “Quế sơn thi tập” với hơn 200 bài thơ bằng chữ Hán và 100 bài thơ bằng chữ Nôm được viết theo nhiều thể loại khác nhau
Đối với các bài thơ viết bằng chữ Hán, Nguyễn Khuyến thường viết theo lối thơ trữ tình để thể hiện nổi lòng, cảm xúc của chính mình Còn bộ phận thơ Nôm, ông mang lối trào phúng trữ tình, chủ yếu ông muốn mang những tư tưởng của Lão Trang, của triết lý Đông Phương vào thơ của mình để nói đến sự bất mãn đối với triều đình, với xã hội phong kiến bấy giờ
Nguyễn Khuyến - nhà thơ trữ tình, trào phúng xuất sắc nhất, ông chính
là nhà thơ của làng quê, nông thôn Việt Nam Đọc những tác phẩm thơ ca của Nguyễn Khuyến, dường như chúng ta thấy được niềm băn khoăn, tâm sự của chính tác giả Dù trải qua biết bao thời đại nhưng dường như các sáng tác của ông vẫn luôn làm người đọc cảm thấy “xót xa” dù trong câu chữ luôn là những vần thơ vui tươi, yêu đời
Trang 171.2 Khái niệm đề tài “đạo học”
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Đề tài là khái niệm chỉ loại các
hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học
Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm” [6;110]
“Các hiện tượng đời sống có thể liên kết với nhau thành loại theo mối liên hệ bề ngoài và mối quan hệ bên trong của chúng Nhiều khi đề tài gắn liền với một hiện tượng xã hội - lịch sử, xuất hiện và trở thành phổ biến trong đời sống tinh thần của một thời hay một giới nào đó Do nhân vật có thể tiêu biểu cho một hiện tượng đời sống - một tầng lớp xã hội, một loại tính cách hoạt động trong một lĩnh vực đời sống cụ thể nên nhân vật có thể gắn liền với một đề tài tác phẩm Cần phân biệt đề tài với tư cách là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm với đối tượng nhận thức, chất liệu đời sống hay nguyên mẫu thực tế của sáng tác văn học.” [6;110,111]
“Đạo” theo nghĩa đen là con đường Người xưa gắn chữ “đạo” với nhiều nội dung tư tưởng: đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão Trong nội hàm chung của đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão đó, chữ “đạo” còn được dùng với các phương diện cụ thể, khác nhau Chẳng hạn, trong đạo Nho lại có: đạo làm vua, đạo làm cha, đạo làm con, đạo thầy - trò
“Đạo học” trong khoá luận này được giới hạn là “đạo học” của Nho giáo Thuật ngữ này chỉ các vấn đề liên quan chủ yếu đến việc học hành, thi
cử theo con đường Nho giáo Gắn với con đường học hành là nói đến nhân cách, lí tưởng, trí tuệ của người học- người dạy (thầy- trò), vấn đề học- thi, tác dụng của việc học hành - thi cử đối với xã hội (người đỗ đạt trở thành giường cột của quốc gia, ảnh hưởng đến hưng thịnh, an nguy cho xã tắc)
Đối với kẻ sĩ xưa, học hành - thi cử là con đường tiến thân duy nhất (trừ một số ít người được nhiệm cử, tiến cử) Các nhà nho đều có thời “bạch diện thư sinh” dùi mài đèn sách, thi thư rồi đi thi Đỗ đạt rồi, nhà nho mới được bổ dụng làm quan, mới mong cống hiến được tài sức để phụng sự nhà vua, góp phần “trị quốc”
Trang 18Tiểu kết chương 1
Đều xuất thân là kẻ sĩ, học đạo Nho, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho gia về các quan niệm đạo đức và con đường học hành thăng quan tiến chức của Nho sinh Tư tưởng này ảnh hưởng xuyên suốt cả cuộc đời cũng như sự nghiệp của hai nhà thơ và nó
đi vào các sáng tác thơ ca Thông qua tác phẩm của mình, nhà thơ như nói về chính mình, về con đường Nho gia đồng thời cũng là tiếng nói về bối cảnh xã hội, về sự thay đổi của Nho sinh
Trang 19Chương 2: NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG TRONG CÁI NHÌN VỀ ĐẠO HỌC ĐƯƠNG THỜI CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM VÀ
NGUYỄN KHUYẾN
Cùng viết về đề tài “đạo học” trong xã hội phong kiến vốn coi trọng chữ Nho và theo đạo Nho, cùng xuất thân từ Nho gia, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến cũng có những điểm tương đồng trong các sáng tác Hai nhà thơ không hề tôn sùng đạo Nho một cách tuyệt đối mà hai ông nhìn trực diện vào vấn đề, vào xã hội viết nên những vần thơ chân thực, chính xác nhất về đạo Nho và Nho sinh lúc bấy giờ
2.1 Sự suy đồi của trường học và Nho sinh
Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khyến sống ở hai thế kỉ khác nhau nhưng ở hai thế kỉ đó Nho giáo đều có sự biến động Nếu thế kỉ XVI - thời đại Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh sống, Nho giáo vẫn chiếm vị trí độc tôn nhưng dần rơi vào khủng hoảng thì đến thế kỉ XIX - thời đại của Nguyễn Khuyến, nhà Nguyễn đã phục hưng Nho giáo trở thành một hệ thống học tập và thi cử duy nhất từ Bắc vào Nam; nhưng sự hưng thịnh đó chẳng kéo dài, đầu thế kỉ XX
đã đặt một dấu chấm hết cho Nho học Sống ở hai thế kỉ đầy biến động, cả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều nhìn rõ sự thay đổi và suy đồi của trường học và Nho sinh
Thế kỉ XVI - thế kỉ mà Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh sống là thời kì đầy biến động của xã hội Việt Nam Chiến tranh liên miên giữa các tập đoàn phong kiến đã làm đảo lộn đời sống xã hội Trong tình hình đó, Nho giáo với
tư cách là hệ tư tưởng thống trị của chế độ phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ cũng phải có những sự thay đổi nhất định để phù hợp với tình thế Sự thay đổi triều đại giữa nhà Lê sang nhà Mạc khiến cho Nho giáo cũng có sự biến đổi Trong thời Mạc, Nho giáo vẫn được coi là đạo trị nước chủ yếu, là cơ sở cho mọi hoạt động chính trị Nhưng dưới sự thay đổi triều đại, thái độ của các Nho sĩ cũng có sự phân hoá lớn Nhiều Nho sĩ đã kiên quyết bộc lộ sự trung thành của mình với triều Lê bằng việc chống đối hoặc phỉ báng Mạc Đăng Dung, rồi sau đó sẵn sàng nhận lấy cái chết Còn có những Nho sĩ đã bỏ quan
Trang 20về ẩn cư nơi thôn dã Nhưng cũng có một bộ phận Nho sĩ vẫn tiếp tục làm việc trong bộ máy chính quyền nhà Mạc Trước thái độ như vậy của các Nho
sĩ triều Lê, Mạc Đăng Dung đưa ra chính sách thông qua việc tổ chức thi cử
để tuyển người cho bộ máy quan liêu mới, gắn bó hơn với nhà Mạc Vì thế, tuy nhà Mạc chỉ tồn tại được 65 năm mà đã tổ chức được 22 kỳ thi đại khoa,
cứ ba năm một khoa Năm 1529, dù mới làm vua được hai năm nhưng Mạc Đăng Dung đã mở khoa thi hội đầu tiên, lấy 27 người đỗ Và cũng trong năm
ấy, nhà Mạc bắt chước các vua Lê dựng bia tiến sĩ để khuyến khích việc học tập, thi cử Tuy nhiên, các Nho sĩ được đào tạo và đỗ đạt trong thời Mạc cũng không phải đều gắn bó với nhà Mạc Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong số đó Mặc dù đã đưa ra hàng loạt chính sách nhưng giai cấp thống trị, tầng lớp Nho
sĩ cũng như dân thường đã giảm sút niềm tin vào Nho giáo và sự biện hộ của Nho giáo đối với những nguyên tắc cơ bản của chế độ quân chủ tập quyền Lúc này, Nho giáo không còn đủ sức giúp nhà vua trị nước, yên dân, góp phần đưa mọi người tới cảnh thái bình thịnh trị, vua sáng tôi hiền, nhân dân hoà mục Vì thế mà nhiều Nho sĩ không còn hứng thú với mục đích trị quốc, bình thiên hạ, bởi mục đích này từ trước đến nay thường gắn với sự tôn quân
và trung quân Nói cách khác, giới Nho sĩ còn đang phân vân phải theo ai để trị quốc, bình thiên hạ Điều này là do, vào thế kỷ XVI, ở nước ta, chính quyền đã chuyển từ tay tập đoàn phong kiến này sang tay tập đoàn phong kiến khác, nên quan niệm trung quân trong kinh điển của Nho giáo phải được giải thích lại, xem xét lại cho phù hợp với thực tế biến động của thời đại
Sống gần trọn thế kỉ XVI, cũng ra làm quan nhưng không thể chịu đựng cảnh bề tôi lộng quyền, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dâng sớ xin chém 18 tên gian thần nhưng không được chấp thuận, ông cáo quan về quê ở ẩn Trong bối cảnh xã hội rối ren, Nho sĩ phân hoá, Nho giáo khủng hoảng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết lên những bài thơ để phán ánh thực trạng xã hội lúc bấy giờ cũng như nỗi lòng, tâm trạng của nhà thơ trước thời cuộc:
“Cương thường nhật điệu thi
Lễ nghĩa thán quải trượng Quan cái tùy đảo trí
Trang 21Sự quân, thần bất thần
Sự phụ, tử bất tử”
(Cương thường ngày một bị bỏ bê
Phận vị theo lễ, than rằng lúc bỏ lúc theo,
Mũ giày cũng theo đó mà điên đảo Thờ vua mà bề tôi chẳng ra kẻ bề tôi Thờ cha mà con chẳng ra con)
(Cảm hứng) Trong hoàn cảnh đó, ông cũng chỉ ra bộ mặt của Nho sĩ, đi học chỉ là cốt lập chí ở việc thi đỗ để ra làm quan Và vì thế, kẻ sĩ chỉ chuộng việc chuốt gọt ngôn từ, cho thế là giỏi:
“Chí của kẻ sĩ thì cốt được áo xanh áo tía, Chuốt gọt ngôn từ chi li, tranh nhau cái mạt kĩ.”
(dịch Cảm hứng)
Tư tưởng con người trong cảnh đó đều chạy theo công lợi, ham làm giàu:
“Tứ dân mất đi chức phận của mình, Hết thảy người đời đều chạy theo công lợi
Chăm chăm chuộng việc toan tính làm giàu, Thường làm nhưng chuyện tham bạo.”
(dịch Cảm hứng)
Là người chứng kiến cảnh đạo học suy đồi và cũng ra làm quan được tám năm nên Nguyễn Bỉnh Khiêm hiểu rất rõ chốn quan trường cùng với mùi công danh:
“Đạo nọ nghĩa này trăm tiếng, Nghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền.”
(Thơ Nôm, bài 5)
Trang 22Vì con đường công danh ấy mà người đời chấp nhận để cho danh tiếng của mình bị vấy bẩn, cứ nghĩ rằng đã đạt được cái đạo thánh hiền thì mới hay rằng đạo ấy không trong sạch:
“Vì danh cho phải danh làm lụy, Được đạo thì hay đạo có mùi.”
(Thơ Nôm, bài 20) Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chỉ ra các nhà Nho xưa sẵn sàng từ bỏ vinh hoa, phú quý để về ở ẩn như Lí Bí, Nhược Thuỷ, hay những Nho gia sẵn sàng lấy tước vị can ngăn vua chúa, thì ngày nay Nho sĩ lại chuộng sự xa xỉ, “loá mắt với gấm phủ quanh nhà”, Tư tưởng của Nho sinh không còn là học tập thi cử để ra làm quan phò vua giúp nước, trị quốc bình thiên hạ mà chỉ nhằm vào cái vòng danh lợi, mưu cầu quyền lực Xã hội bấy giờ coi trọng đồng tiền, danh lợi nên mọi giá trị đạo đức của Nho giáo bị biến đổi khiến tác giả phải băn khoăn:
“Hễ lộc triều quan đã có ngần, Làm chi tham được, nhọc băn khoăn
Ải Tần, non Thục, đường Nghêu hiểm, Cửa Khổng, làng Nhan đạo khó khăn.”
(Thơ Nôm, bài 23)
Xã hội mà Nguyễn Bỉnh Khiêm sống, danh lợi đã chi phối tư tưởng con người Chiến tranh giữa các triều đại tập đoàn phong kiến xảy ra liên miên khiến các giá trị cốt lõi của Nho giáo cũng dần bị lung lay, các mối quan hệ bị đảo lộn khiến cho tư tưởng của Nho sinh không đồng nhất, khác biệt với các nhà Nho trước đó Cách Nguyễn Bỉnh Khiêm vài thế kỉ nhưng thời đại của Nguyễn Khuyến cũng bắt gặp sự suy đồi của trường học và Nho sinh
Thế kỉ XIX, nhà Nguyễn đã chấn hưng Nho giáo bằng việc coi Nho giáo là ngọn cờ tư tưởng chính thống của triều đại mình Nhất là trong giáo dục và thi cử, Nho giáo còn chiếm vị trí cao hơn Nhà Nguyễn đổi mới Nho giáo theo chiều hướng thiết thực hơn, thay đổi hệ thống học vị, mở rộng quy
Trang 23mô giáo dục Lúc bấy giờ, chỉ có một nền giáo dục duy nhất là Nho giáo Chính điều này càng khẳng định vị thế độc tôn của đạo Nho Các trường tư do các thầy đồ dạy cũng được mở nhiều hơn nhằm đào tạo các sĩ tử đi thi làm quan Nho giáo đầu thế kỉ XIX phát triển hưng thịnh Nhưng sự kiện Pháp nổ tiếng súng xâm lược nước ta khiến cho Nhà nước phong kiến sụp đổ thì Nho giáo cũng bị lung lay Nói thế là bởi nhà nước phong kiến là đỉnh cao tôn thờ của nhà Nho Người ta đi học Nho là để ra phò vua giúp nước và người ta lấy việc trung quân làm lý tưởng đồng nghĩa với việc nhà nước phong kiến sụp đổ thì lí tưởng của Nho giáo cũng theo đó mà sụp đổ Bên cạnh đó, Pháp sang xâm chiếm nước ta, chúng cũng đem nền giáo dục mới, khác hoàn toàn nền giáo dục Nho học cũ Trước tình hình đất nước rối ren, Nho giáo đang dần mất vị thế độc tôn, Nguyễn Khuyến nằm trong số những nhà Nho không bán mình theo Tây mà thay vào đó, ông cáo quan về quê viết nên những vần thơ phản ánh đúng thực trạng xã hội bấy giờ Cũng giống Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến lên án xã hội ham danh lợi, tham tiền mà quên đi nỗi nhục mất nước:
“Cậy sức cây đu nhiều chị nhún, Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.”
(Hội Tây) Con đường học hành thi cử vốn được coi là con đường vất vả, gian nan Những người đỗ đạt ra làm quan phải là những người học rộng, tài cao Ấy vậy mà ở xã hội này, một ông tri huyện - người đã đỗ đạt ra làm quan để chứng tỏ mình hay chữ nên mở một cuộc thi thơ bị Nguyễn Khuyến vạch trần bản chất:
“Nghênh ngang võng lọng nhờ ông sứ, Ngọng nghẹo văn chương giở giọng ngô.”
(Bồ tiên thi) Đây chính là một cách mà Nguyễn Khuyến dùng để phơi bày, phê phán gián tiếp đạo đức và chế độ học tập, thi cử của triều Nguyễn giữa lúc đất nước đang quằn quại dưới gót giày của thực dân xâm lược Những kẻ mang danh
Trang 24nhà Nho, có học thức, thực chất là những kẻ giỏi tham nhũng, xu nịnh, hối lộ hơn là chữ thánh hiền Họ đã quên mất vị trí xã hội mà họ được tôn vinh:
“Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi.”
(Vịnh Tiến sĩ giấy bài 2) Hay những người đại diện cho cửa Khổng, sân Trình cũng không còn sống với phong cách thanh bạch, trong sáng ngày xưa:
“Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp, Khoét thằng mặt trắng lấy tam nguyên.”
(Tặng Đốc học Hà Nam) Nguyễn Khuyến đã chỉ ra sự suy đồi của xã hội mà biểu hiện đó là sự xuống cấp về đạo đức của Nho sinh Những cuộc thi ở triều Nguyễn bấy giờ được xem như là trò lố lăng bởi chức quan có thể dùng tiền để mua Đồng tiền chi phối mọi hoạt động xã hội, làm ô uế cả những địa vị vốn được kính trọng
Qua đây, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều chỉ ra được sự suy đồi của Nho giáo Nho giáo vốn là những tư tưởng tốt đẹp, giáo huấn đạo đức con người nhưng ở đây, những kẻ theo học Nho gia lại trở thành những
kẻ hám công danh, quyền lực Nho sinh đã đánh mất vị thế của mình, đánh mất những tư tưởng cốt lõi của đạo Nho Đồng tiền, danh lợi trở thành động lực duy nhất để học hành tiến cử làm quan Chính bởi thế mà không chỉ Nho sinh, đạo học thay đổi còn tác động đến toàn xã hội Bởi đạo học vốn là tư tưởng cốt lõi để duy trì và cải tạo xã hội phong kiến
2.2 Sự tác động tiêu cực của đạo học đến xã hội
Khi đạo học bị chính những người theo học nó coi nhẹ, kẻ sĩ cũng bị lên án thì xã hội sẽ trở nên rối ren Bởi đạo học dạy con người ta cách ứng xử, làm người và những người học theo đạo học vốn sẽ nằm trong giai cấp cầm quyền Vậy nên, một khi giai cấp cầm quyền trở nên tha hoá thì mọi đạo đức
xã hội đều trở nên tầm thường
Trang thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ ra những sự tác dộng tiêu cực của đạo học đến xã hội Khi mọi giá trị đạo đức bị đảo lộn thì xã hội không còn tuân theo một quy tắc nào:
Trang 25“Bán củi nuôi thân, than rằng bị vợ ruồng bỏ
Không biết hữu ái, anh chẳng ra phận anh, Không biết cung kính, em chẳng ra phận em
Đâm dao, thảm thay giẫm chân lên máu, Tranh ăn, làm bị thương đứt cả cánh tay
Vì đấu thóc mà thành lời đơm đặt, Đậu trong nồi còn chay nước mắt.”
(dịch Cảm hứng)
Xã hội loạn lạc, không phân biệt nổi đâu là người tài với kẻ vô công:
“Trâu và ngựa kí cùng ở lẫn một chuồng
Ngọt đắng lẫn giữa vị rau tư và rau lê, Trong đục, lẫn cả sông Kinh và sông Vị
Bán sự ton tót thà vạch ria, Sủng nịnh nên cam liếm trĩ.”
(dịch Cảm hứng) Thời đại coi trọng đồng tiền, hám danh lợi Nho sinh vì mưu cầu công danh, quyền lợi mới học hành cố kiếm chức quan thì sự ham hư vinh ấy cũng xuất hiện tràn lan trong đời thường:
“Thế gian biến cải vũng nên doi, Mặn lạt chua cay liễn ngọt bùi
Còn bạc còn tiền còn đệ tử, Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi
Xưa nay đều trọng người chân thật,
Ai nấy đều ưa kẻ đãi bôi
Ở thế mới hay người bạc ác, Giàu thì tìm đến, khó tìm lui.”
(Thơ Nôm, bài 77)
Trang 26Ở xã hội lúc bấy giờ, người ta trọng của cải, tiền bạc hơn thảy mọi thứ:
“Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười,
Có của thì hơn hết mọi lời
Trước đến tay không nào thốt hỏi, Sau vào gánh nặng lại vui cười
Anh anh chú chú mừng hơ hải, Rượu rượu giàu giàu thết tả tơi
Người của lấy cân ta thử nhắc, Mới hay rằng, của nặng hơn người.”
(Thơ Nôm, bài 80) Nhà thơ nhận ra rằng xã hội ấy đã trở nên tráo trở vô cùng Sức mạnh của đồng tiền khiến con người ta thay đổi đến kinh ngạc, mới trước đó đến tay không thì “nào thốt hỏi” ấy vậy mà khi có tiền lại “vui cười” Trước thực tại
đó, nhà thơ đã làm một phép thử để rồi giật mình “mới hay rằng của nặng hơn người” Sự thảng thốt của nhà thơ chính là dấu hiệu minh chứng rõ ràng nhất cho sự suy đồi đạo đức đã bao phủ toàn xã hội Câu kết luận này còn chứa đựng cả nỗi đau của một nhà Nho cả đời thanh sạch
Vì đồng tiền mà con người làm đảo lộn mọi giá trị, coi rẻ cả anh em, bạn bè:
“Cửa vương nhện, nhân vì vắng, Thớt quyến ruồi, ấy bởi tanh.”
(Thơ Nôm, bài 29) Thời buổi ấy, bọn vua quan thường quen với thói xu nịnh, luồn cúi nhục nhã: “Mềm gối cóc khô, mềm gối mãi Uốn lưng rùa mốc, uốn lưng dài” (Thơ Nôm, bài 141) Trong gia đình, hiếu đạo giữa cha con cũng không còn Ngoài xã hội, vì quyền lợi của mình, vì “Lòng tham chưa no chán Chỉ cốt thân mình béo” (Đến quán xem cá, thấy cá lớn nuốt cá bé, cảm xúc làm thơ)
mà con người sẵn sàng:
Trang 27“Kiếm chước tạo thêu, không hóa có
Tìm điều đặt bỏ, ít nên nhiều, Phải chăng rối lý, khôn bề đoán Kiện cáo xui người, đến nỗi xiêu…”
(Răn người kiện cáo, gian giảo) Tình người khi ấy đều được ngụy trang bởi một lớp mặt nạ nhân ái Trước mặt có thể nói cười ngon ngọt nhưng sau lưng lại dùng những lời nói sắc như dao:
“Người ta bằng mặt, chẳng bằng lòng,
Đo đắn cho hay sự xả phòng Lưỡi thế gẫm xem mềm tựa lạt, Miệng người toan lại sắc như chông
Ăn cùng thốt khác nhiều điều dữ, Nói thực làm hư những chước vòng
Kham hạ thánh nhân còn dõi để, Xảo ngôn hai chữ chép dòng dòng.”
(Thơ Nôm, bài 134)
Xã hội ấy còn khiến cho Trạng Trình mất niềm tin vào cái gốc thiện lương vốn tồn tại trong mỗi con người:
“Hiểm mạc hiền thế đồ, Bất tiễn tiện kinh cức, Nguy mạc nguy nhân tâm, Nhất phóng tiện quái quắc”
(Không còn gì hiểm bằng đường đời Không cắt đi thì chỉ toàn gai góc Không gì nguy bằng lòng người Buông ra là thành quỷ quái ngay)
(Trung Tân ngụ hứng)