1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chủ đề thế sự trong thơ chữ hán nguyễn bỉnh khiêm

87 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 721,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do thực tiễn Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam thời trung đại, thơ văn của ông đã được tuyển chọn đưa vào chương trình học tập, nghiên cứu v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN HỮU SƠN

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 10

7 Cấu trúc luận văn 10

CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHỦ ĐỀ THẾ SỰ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN BỈNH KHIÊM 11

1.1 Nguyễn Bỉnh Khiêm – cuộc đời và sự nghiệp thơ văn 11

1.2 Cơ sở lịch sử - văn hóa – xã hội hình thành chủ đề thế sự trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm 16

1.2.1 Khái niệm chủ đề thế sự 16

1.2.2 Chủ đề thế sự trong văn học giai đoạn từ thế kỷ X – thế kỷ XV 17

1.2.3 Cơ sở xã hội hình thành chủ đề thế sự trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm 24

1.3 Hệ thống chủ đề trong thơ văn chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm 30

Tiểu kết chương 1 31

CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ THẾ SỰ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN BỈNH KHIÊM 32

2.1 Chủ đề về chiến tranh phong kiến 32

2.2 Chủ đề về giới chức quan lại 41

2.3 Chủ đề về đồng tiền 48

2.4 Chủ đề về thành thị 53

Tiểu kết chương 2 56

Trang 3

CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CHỦ

ĐỀ THẾ SỰ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN BỈNH KHIÊM 57

3.1 Sử dụng điển cố, điển tích 57

3.2 Xây dựng các hình tượng nghệ thuật 61

3.3 Vận dụng các thể thơ 66

Tiểu kết chương 3 73

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 4

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là gương mặt tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XVI, tài năng và nhân cách của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ đến gần suốt thế kỷ với những biến động chính trị lớn lao trong lịch

sử dân tộc Với một khối lượng sáng tác thơ văn khá đồ sộ cả chữ Hán và chữ

Nôm được tuyển chọn trong hai tập Bạch Vân am thi tập (thơ chữ Hán) và

Bạch Vân quốc ngữ thi (thơ chữ Nôm) ngoài ra còn có một số bài văn bia và

kí có giá trị khác Được đánh giá là “cây đại thụ rợp bóng đến một thế kỷ, một thế kỷ lắm biến cố nhất trong lịch sử Việt Nam”, tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm có sức lan tỏa và tầm ảnh hưởng sâu rộng không những ở thời đại của ông mà còn trong cả thời kì văn học Việt Nam trung đại

Chọn đề tài “Chủ đề thế sự trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm”

chúng tôi muốn đề cao những đóng góp của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho sự nghiệp thơ văn dân tộc ở mảng thơ thế sự Có thể thấy rằng chủ đề thế sự là một trong những chủ đề lớn, nổi bật trong thơ Trạng Trình Nó phản ánh hiện thực đời sống xã hội đương thời với nhiều biến động, rối ren, phức tạp Trên thực tế đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về những đóng góp của

Trang 5

chủ đề thế sự ở mảng thơ chữ Nôm còn về thơ chữ Hán thì còn hạn chế nên chúng tôi muốn có một cái nhìn chuyên sâu kĩ càng hơn về toàn bộ sự nghiệp

thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm Nghiên cứu về phương diện chủ đề tuy

không phải là một hướng nghiên cứu mới nhưng khi nghiên cứu về chủ đề này sẽ cung cấp cho chúng tôi một cái nhìn đầy đủ về nội dung tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm để thấy được những đóng góp của nhà thơ đối với tiến trình phát triển của lịch sử văn học trung đại Việt Nam, là một trong những chiếc cầu nối giữa hai thời đại văn học – thời đại Nguyễn Trãi trước đó

và thời đại Nguyễn Du sau này

1.2 Lý do thực tiễn

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam thời trung đại, thơ văn của ông đã được tuyển chọn đưa vào chương trình học tập, nghiên cứu và giảng dạy trong các cấp học về cả chữ Hán và chữ Nôm Do đó, việc nghiên cứu chủ đề thế sự trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy các tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm đồng thời góp thêm phần tư liệu phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của học sinh, sinh viên

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn cũng như những đóng góp của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có bề dày khoảng năm trăm năm, kể từ việc sưu tập các tác phẩm của ông đến những bài viết của Vũ Khâm Lân, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và hàng loạt các công trình nghiên cứu có quy mô mang

tính chất hợp tuyển như Nguyễn Bỉnh Khiêm – danh nhân văn hóa, Trạng

Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Bỉnh Khiêm - về tác gia và tác phẩm…

Nhìn chung, khi nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm các học giả, các nhà khoa học đều tập trung ở một số phương diện như những biến động của thời đại có tác động đến cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm; Nhà

Trang 6

tư tưởng - triết học Nguyễn Bỉnh Khiêm; Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức dân gian, đặc biệt quy tụ nhiều công trình, bài viết công phu và chất lượng hơn cả là nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm với tư cách là một đỉnh cao, một đại diện tiêu biểu nhất của thơ văn thế kỉ XVI, đồng thời là một gương mặt xuất sắc của văn học Việt Nam thời trung đại Với phạm vi là một

luận văn khoa học nghiên cứu về Chủ đề thế sự trong thơ chữ Hán Nguyễn

Bỉnh Khiêm, chúng tôi không đề cập đến những công trình nghiên cứu nói

chung mà chủ yếu tập trung vào những công trình nghiên cứu, những bài viết

có đề cập đến nội dung thế sự trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của Trạng Trình, cụ thể:

Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm có bài giới thiệu nhận định về nội dung trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Những bài

ấy hoặc vịnh cảnh nhàn tản hoặc tả thế thái nhân tình để ngụ ý khuyên răn người đời, lời thơ bình đạm mà có ý vị… còn những bài văn răn đời thì có giọng trào phúng nhẹ nhàng, kín đáo, rõ ra một bậc triết nhân đã từng trải việc đời và am hiểu tâm lý người đời Thật là một lối thơ đặc biệt trong nền văn Nôm của nước ta” [18; 290] Những nhận định của Dương Quảng Hàm

về nét đặc sắc trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phần nào đề cập đến dòng thơ thế sự trong sáng tác của Trạng Trình

Lê Trọng Khánh – Lê Anh Trà trong Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhà thơ

triết lý đã viết: “Tư tưởng của ông không chỉ là sản phẩm tiêu cực của thời đại, mà chính là kết quả của một sự chiêm nghiệm và phân tích “thế sự”, để trở thành một triết lý về cuộc sống” [14; 7] Như vậy, tư duy thế sự của

Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ là sản phẩm của thời đại với nhiều biến động

mà đó còn là sự chiêm nghiệm về “thế thời đảo điên, thế lực đồng tiền cũng

đã góp phần làm giảm giá trị thiêng liêng của đạo đức, lễ nghĩa và trật tự phong kiến” [14; 18]

Trang 7

Nguyễn Đổng Chi trong cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (quyển

II), đã có bài viết nhận định về nội dung cũng như giá trị của tập thơ chữ Hán

“Bạch Vân am tập”, đó là những nội dung mang tính thế sự: “Một số thơ văn

của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vạch trần cho chúng ta thấy những thối nát của

xã hội phong kiến đương thời…, là xã hội rối loạn đến cực điểm, ông phản ánh hiện thực có khi chỉ bằng cái đầu đề của bài thơ” [84; 141] Những nhận

định của Nguyễn Đổng Chi đã đề cập đến vấn đề hiện thực xã hội thời đại mà Nguyễn Bỉnh Khiêm sống với nhiều biến động, rối ren từ trên xuống dưới trong bộ máy chính quyền nhà nước từ đó đã tác động rất lớn đến đời sống của những người dân lao động Nguyễn Đổng Chi còn chỉ ra được sự phê phán, tố cáo hiện thực rất chân thực, sinh động trong những vần thơ chữ Hán

của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Tuy số lượng những bài thơ có tính chất hiện thực

phê phán trong “Bạch Vân am tập” không được nhiều, nhưng nó cũng vạch cho ta thấy cảnh tượng đen tối của xã hội đời Lê – Mạc Bên cạnh sự tranh giành quyền lợi, sự xa xỉ, sự tàn nhẫn của bọn ác bá là sự bần cùng hóa, sự lưu ly thất sở của nông dân Qua một số bài, chúng ta thấy tác giả bất mãn vô cùng với hiện thực đương thời” [84; 143]

Trong Giảng văn Văn học Việt Nam, Lã Nhâm Thìn trong bài viết “Về

bài Trung Tân ngụ hứng” đã phân tích nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

để thấy được những chủ đề lớn của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm: “So với những

bài thơ khác có chung đề tài, bài “Trung Tân ngụ hứng” (Ngụ hứng ở quán Trung Tân) đã thể hiện một cách tập trung một số chủ đề lớn của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm: tình yêu thiên nhiên; cuộc sống nơi thôn dã, cuộc sống thanh cao, đạm bạc của nhà thơ; triết lý về nhân sinh, thế sự” Qua một tác phẩm cụ

thể, thấy được mạch cảm hứng trong bài Trung Tân ngụ hứng nói riêng và

mạch cảm hứng trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm nói chung “từ cảm hứng thiên

nhiên và cuộc sống bản thân đến cảm hứng thế sự” [78; 175]

Trang 8

Trong Nguyễn Bỉnh Khiêm - về tác gia và tác phẩm do hai nhà nghiên

cứu Trần Thị Băng Thanh – Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu đã tập hợp một cách khá đầy đủ các bài viết của một số nhà nghiên cứu về thân thế cũng như sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm Các bài viết này phần nào

đã đề cập đến vấn đề chủ đề thế sự trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Nguyễn Huệ Chi có bài viết “Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn từ một nhân

cách lịch sử đến dòng thơ tư duy thế sự” đã miêu tả bức tranh hiện thực xã hội

cũng như nét đặc sắc của chữ “nhàn” để thấy được nhân cách của Trạng Trình

trong nền văn học trung đại nói chung và dòng thơ thế sự nói riêng: “Rõ ràng,

với tư cách một ngòi bút ghi chép thế sự, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trình bày được khá nhiều mặt đời sống tâm lý của xã hội thời ông” [78; 394] Với nhân

cách của một nhà nho hành đạo, có hoài bão muốn xây dựng một đất nước

“tôi hiền chúa thánh minh” Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn có sự trăn trở, suy tư cho dân, cho nước nên dù sống trong cảnh an nhàn, ẩn dật nhưng con người

ấy vẫn luôn mang trong mình một nỗi niềm tâm sự Vì vậy, những vần thơ của ông có sự chuyển biến thay đổi rất rõ rệt từ thơ trữ tình thế sự đến thơ

nhàn dật: “Từ mạch thơ trữ tình thế sự lên án gay gắt ảnh loạn lạc, chiến

tranh, đến mạch thơ nhàn dật tự tại trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã là một chuyển đổi lạ lùng về cảm hứng thẩm mỹ Nhưng từ nhàn dật tự tại bước sang dòng thơ tư duy thế sự lại là một bước chuyển đổi mới mẻ khác nữa, nó chứng

tỏ trường thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm rất sung sức, đa dạng, chứa đựng một tiềm lực nghệ thuật đáng kể, có khả năng bắt nhiều mạch sóng tình cảm, quy tụ vào mình nhiều nguồn năng lượng nghệ thuật khác nhau” [78; 394] Bài viết

đã cho thấy những bước chuyển biến rõ rệt trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đặc biệt ở những trang viết về vấn đề thế sự thì con người và nhân cách của Trạng Trình càng được thể hiên đậm nét và sâu sắc hơn cả, đó là một tấm lòng lo cho dân cho nước đau trước nỗi khổ của nhân dân

Trang 9

Bùi Duy Tân có bài viết “Thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm” đã nhấn mạnh “Thơ trong Bạch Vân am tập trước hết là thơ của một con người nhập

thế, hành đạo” [78; 410] Tập thơ Bạch Vân am thi tập đã thể hiện những gì

sâu kín trong lòng của tác giả, những tâm tư trăn trở trong con người ông Tác giả đã chỉ ra được những vấn đề cơ bản được đề cập đến trong tập thơ chữ

Hán “Trong Bạch Vân am thi tập, khá nhiều bài thơ viết về cuộc sống cơ cực

của dân và cảnh chiến tranh, ly loạn [78; 416] Theo tác giả những bài thơ đó

vừa thể hiện được tình cảnh thực của người dân, vừa là để nhà nước, những người cầm quyền nhận ra để tìm cách mà sửa đổi đưa đất nước đi theo đúng

tự nhiên thuận theo thiên mệnh Vì thế mà “nhà thơ đã phê phán bọn quý tộc,

quan lại thối nát, xa xỉ, bọn nhà giàu lòng dạ hiểm ác” [78; 417], họ tranh

giành nhau vì cái danh, vì cái lợi cho bản thân mình nên họ bòn rút của cải, vơ vét tài sản của những người dân lao động Chính vì vậy, mà trong một số bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sử dụng những biểu tượng để miêu tả về giai cấp cầm quyền, quý tộc đó là hình ảnh của những “con chuột” trong bài thơ

“Tăng thử”, “chim khướu” trong bài “Bách thiệt” hay “cá lớn nuốt cá bé”…

Có thể thấy rằng bài viết của Bùi Duy Tân về chủ đề thế sự là những đóng góp rất đáng quý đối với các nhà nghiên cứu

Nguyễn Hữu Sơn trong cuốn Nguyễn Bỉnh Khiêm – Nhà thơ triết lý thế

sự khi nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhận định rằng thơ văn

của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho ta thấy được “độ kết tinh trong những vần thơ

thế sự và triết lý thế sự của ông” [68; 13] Từ đó thấy được rằng những vần

thơ thế sự đã có một vị trí đóng góp quan trọng trong tư tưởng sáng tác của

nhà thơ

Nguyễn Huệ Chi trong cuốn Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có viết:

“Trong hàng trăm bài thơ chữ Hán của mình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dành

một khối lượng không nhỏ để viết về giặc giã, chiến tranh, và cũng chỉ ở

Trang 10

những bài thơ đó ông mới có dịp bộc lộ tình cảm bột phát không nén được của mình, ông rời bỏ con người triết nhân mà bước sang con người thế nhân, con người xã hội…” [50; 253] Như vậy những dòng thơ chữ Hán đã cho thấy

tâm tư, suy nghĩ trăn trở trong con người Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó không còn

là tâm trạng của một con người vui với cuộc sống an nhàn mà hiện tại mình đang sống mà đó là một con người thân nhàn nhưng tâm không nhàn luôn

quan tâm đến triều đình đến cuộc sống của người dân (…) riêng trong phần

thơ chữ Hán nói về chiến tranh, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn nhiều lần nhắc đến nhà vua, đến triều đình (…) Đương nhiên mong mỏi ở vua, hy vọng và tin tưởng ở vua, không phải vì sự tồn tại của vua mà chính là muốn nhắm tới một mục đích khác Không một bài thơ nào viết về chiến tranh của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà không được rọi sáng bằng cùng một nguồn sáng duy nhất: sự suy nghĩ về vận mệnh của dân…” [50; 253]

Vũ Thanh trong cuốn Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có bài viết “Thơ

Nguyễn Bỉnh Khiêm chống chiến tranh phong kiến” đã đề cập đến một cách rõ

ràng về chủ đề này và cũng đồng quan điểm như tác giả Nguyễn Huệ Chi, ông

viết “Có một điều cần phải khẳng định trước tiên là từ “dân” được nhắc đến

nhiều trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và thái độ phản đối chiến tranh phong kiến của ông là rất kiên quyết… Ông có hàng loạt bài thơ như một bức tranh liên hoàn phản ánh cuộc sống cùng cực của nhân dân – Đó cũng chính là cảm hứng xuyên suốt tập thơ Bạch Vân am… ông đứng về phía nhân dân lao động để phê phán, phản đối chiến tranh phong kiến” [50; 294 - 295]

Lê Thị Hương trong bài viết “Thơ thế sự Nguyễn Bỉnh Khiêm”[21] đã

nêu nên những nội dung thế sự được phản ánh chân thực, sắc nét trong thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm Về thơ chữ Hán, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phản ánh nhiều mặt của đời sống xã hội Đó là cảnh “nồi da xáo thịt” xót xa

và ghê gớm; quan lại đục khoét dân

Trang 11

Bài viết đã cho thấy được tấm lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với thời thế, với hiện thực đương thời đó là sự xuất phát từ trong tâm nhà thơ, những câu thơ như tấm lòng chân thành của người viết dù sống cuộc đời nhàn dật nhưng tâm chí vẫn luôn hướng đến cuộc sống thế thái nhân tình

Gần đây, trong tiểu luận Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm và vị trí mở đầu

dòng thơ châm biếm thị dân trong tiến trình văn học Việt Nam học và hiện thực, Trần Thị Hoa Lê đi đến kết luận: “Khẳng định vị trí mở đầu tiếng cười

châm biếm đồng tiền – thị dân của thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, chỉ ra con

đường phát triển của tiếng cười đó trong thời trung đại, bài viết của chúng tôi bước đầu đặt vấn đề cho những nghiên cứu sâu hơn tiếp theo về vai trò của thơ Nôm và thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm trong diễn trình tư tưởng thẩm

mĩ và phong cách nghệ thuật tác gia văn học Việt Nam thế kỉ X – thế kỉ XIX Mặt khác, khảo sát thái độ ứng xử của tác gia văn học với đồng tiền và tầng lớp thị dân cũng là một “kênh văn hóa” giúp chúng ta có thể quan sát kĩ lưỡng thấu đáo hơn những diễn biến tư tưởng và nghệ thuật trong lòng thời đại Nho

giáo cùng những vận động thẩm mỹ hướng tới thời đại kế tiếp” [28]

Những trích dẫn đó tuy chưa tập trung nghiên cứu về chủ đề thế sự trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm thành một cách có hệ thống như một đối tượng thực sự nhưng phần nào đã nói đến những nội dung thường thấy trong thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tuy chưa đi sâu nghiên cứu thành chuyên đề độc lập, còn mang tính tản mạn, khái quát nhưng những công trình nghiên cứu đó cũng là tư liệu quý giá giúp chúng tôi có căn cứ, cơ sở để triển khai đề tài nghiên cứu của mình

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở đã đọc và tìm hiểu về những bài thơ chữ Hán cũng như tập

thơ Bạch Vân am thi tập cùng với việc tiếp thu, kế thừa những thành quả của

Trang 12

những công trình nghiên cứu đi trước, chúng tôi sẽ coi vấn đề tìm hiểu về chủ

đề thế sự được Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện trong thơ chữ Hán là đối tượng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu

Về phạm vi nghiên cứu chúng tôi chọn khảo sát, nghiên cứu trên văn

bản chính: “Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng tập”, NXB Văn học, Hà Nội -

2014 của tác giả Trần Thị Băng Thanh - Phạm Ngọc Lan biên soạn Đây được xem là cuốn sách có cơ sở khoa học và tập hợp đầy đủ nhất các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm tính đến thời điểm hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu chúng tôi có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp thống kê, hệ thống

Tiến hành thống kê thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm để tìm ra những tác phẩm viết về chủ đề thế sự, từ đó hệ thống lại các tác phẩm theo trình tự nhất định để thấy được những đóng góp của chủ đề này trong sáng tác thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm có một vị trí nhất định

Phương pháp so sánh, đối chiếu

Tiến hành so sánh và tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt trong mỗi tác phẩm khi viết về chủ đề thế sự về cả mặt nội dung và nghệ thuật

Trang 13

Đồng thời cũng có sự so sánh đối với các tác giả đi trước, cùng thời để thấy được nét riêng đặc sắc trong thơ văn chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở giai đoạn này

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn hy vọng sẽ cung cấp được một cái nhìn đầy đủ, hệ thống về chủ đề thế sự trong sáng tác thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm Trên cơ sở

đó, góp phần đưa đến cái nhìn toàn diện hơn về vị trí văn học sử của Nguyễn Bỉnh Khiêm.Tiếp tục phương hướng nghiên cứu những đóng góp về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với lịch

sử thơ văn Việt Nam

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn chúng tôi dự kiến gồm ba chương cụ thể:

Chương 1 Những cơ sở lịch sử - văn hóa – xã hội hình thành chủ đề thế sự trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chương 2 Hệ thống chủ đề thế sự trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm Chương 3 Các biện pháp nghệ thuật thể hiện chủ đề thế sự trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHỦ ĐỀ THẾ SỰ

TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN BỈNH KHIÊM

1.1 Nguyễn Bỉnh Khiêm – cuộc đời và sự nghiệp thơ văn

Nguyễn Bỉnh Khiêm húy là Văn Đạt, tự là Hanh Phủ hiệu là Bạch Vân

cư sĩ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, xứ Hải Dương cũ nay thuộc xã

Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng Ông sinh năm Tân Hợi –

1491 (niên hiệu Hồng Đức năm thứ 22, triều vua Lê Thánh Tông) và mất ngày 28 tháng 11 năm Ất Sửu (17- 1- 1585)

Ông xuất thân trong một gia đình trí thức phong kiến Thân phụ là Nguyễn Văn Định, hiệu Cù Xuyên tiên sinh, là một nho sĩ bình dân, thông minh, hiếu học và thi đỗ Hương cống nhưng không ra làm quan mà chỉ ở nhà dạy học Thân mẫu là Nhữ Thị Thục – con gái thượng thư Nhữ Văn Lan, tương truyền mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm rất am hiểu kinh sử, lại giỏi văn chương, tinh thông lí số và có những hoài bão lớn lao Nguyễn Bỉnh Khiêm

đã được hưởng thụ môi trường giáo dục từ nhỏ trong một gia đình nội ngoại đều có học vấn uyên thâm và điều này cũng đã góp phần làm nên tài năng và nhân cách của ông sau này

Nguyễn Bỉnh Khiêm từ nhỏ vốn nổi tiếng là người thông minh, lại được

sự giáo dục của mẹ nên năm bốn tuổi đã thuộc và hiểu chính văn, kinh truyện Đến tuổi trưởng thành, nghe tiếng Bảng nhãn Lương Đắc Bằng nổi danh trong giới sĩ phu đương thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cất ông vào tận xứ Thanh để tầm

sư học đạo Lương Đắc Bằng từng là một đại thần giữ chức Thượng thư dưới triều Lê sơ nhưng sau khi những kế sách nhằm ổn định triều chính do ông đưa ra không được vua Lê cho thi hành, ông đã cáo quan về quê sống đời dạy học Nguyễn Bỉnh Khiêm là người thông minh lại chăm chỉ học hành nên chẳng bao lâu đã trở thành học trò xuất sắc nhất của người thầy họ Lương

Trang 15

Môi trường giáo dục của gia đình, của thầy học đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm là rất thuận lợi, đầy đủ và tốt đẹp Thế nhưng xã hội phong kiến Việt Nam thế kỉ XVI đã không tạo điều kiện để ông có thể thi thố tài năng và thực hiện hoài bão của mình Con đường khoa cử của Nguyễn Bỉnh Khiêm khá muộn, mãi đến năm bốn mươi tư tuổi (năm 1534) ông mới dự kì thi Hương và liền năm sau đó thi Hội đỗ Trạng nguyên (khoa Ất Mùi năm 1535, niên hiệu Đại chính thứ 6 triều Mạc Đăng Doanh) Sau khi đỗ đạt, với khát vọng đem tài sức để giúp nước, giúp đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhận chức Đông các hiệu thư, rồi Tả thị lang bộ Hình kiêm Đông các đại học sĩ, cuối cùng được phong Trình quốc công

Nhưng hiện thực xã hội dưới triều đình Mạc có lúc đã phũ phàng với bao niềm hi vọng của ông Đến khoảng mùa thu năm Nhâm Dần (1542) niên hiệu Quảng Hòa thứ 2 triều Mạc Phúc Hải, chính sự nhà Mạc đã bắt đầu rối ren, lục đục do bọn gian thần kéo bè, kết đảng nhũng nhiễu triều chính Chán ghét cảnh tranh giành quyền lực và thấy mọi việc không hợp với kì vọng của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dâng sớ xin sử chém 18 lộng thần nhưng không được nhà vua chấp nhận, ông đã cáo quan về quê ở ẩn mở trường dạy học Như vậy, cuộc đời làm quan chính thức của ông chỉ kéo dài tám năm Trở về quê nhà, Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa tiếp tục công việc “hành đạo” của một nho sĩ khi ông cùng dân làng và môn sinh dựng Am Bạch vân, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, lập quán Trung Tân, xây cầu Nghinh Phong, Trường Xuân cho dân qua lại thuận tiện, sửa chữa chùa chiền, mở trường dạy học cạnh sông Tuyết (còn có tên là sông Hàn), vì vậy mà các môn sinh tôn ông là Tuyết Giang phu tử

Ở quê nhà Nguyễn Bỉnh Khiêm sống cuộc đời thanh bạch, giản dị như một ẩn sĩ, ông những muốn được sống yên hàn nơi cảnh cũ điền viên nhưng với tài năng và uy vọng của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn được các vương triều phong kiến đương thời kính nể và trọng thị Hết nhà Mạc lại Lê, Trịnh,

Trang 16

Nguyễn đến tìm ông để hỏi mưu kế đặc biệt là nhà Mạc mỗi khi đất nước có đại sự các vua thường cho người đến tìm ông để giúp bày mưu tính kế, có khi ông còn theo quân đi đánh giặc, dẹp các cuộc bạo loạn Sở dĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi trọng không chỉ ở tài năng, tước vị, mà còn ở tài tiên tri, am hiểu lẽ biến dịch của nhân sinh, thế cuộc do được thầy học truyền pho Thái ất thần kinh Với tài năng, nhân cách của mình đến khi ông mất vua Mạc đã cử Mạc Kính Điển về viếng tang, vua Mạc còn ban cho mấy chữ “Mạc Trạng nguyên Tể tướng từ” để treo trước cửa đền Tất cả đều thể hiện được sự tôn vinh và ngưỡng mộ với một tài năng, một nhân cách lớn

Như vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống gần như trọn cuộc đời mình ở thế kỉ XVI một giai đoạn mà xã hội phong kiến Việt Nam xảy ra nhiều biến động về chính trị, xã hội Đó là cuộc đời của một nhà văn hóa lớn, một con người tài năng, nhân cách lớn

Sự nghiệp thơ văn của ông khá đồ sộ, phong phú gồm cả chữ Hán và chữ Nôm

Về chữ Hán, ông có Bạch Vân am thi tập theo ông cho biết có khoảng

ngót nghìn bài, nay còn khoảng sáu, bảy trăm bài Trong lời đề tựa cho tập thơ chữ Hán của mình, ông đã viết: “… Mỗi khi được thư thả lại dậy hứng mà ngâm vịnh, hoặc ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thủy, hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tự thuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói về chí, được tất cả nghìn bài, biên tập thành sách, tự đặt tên là

Tập thơ am Bạch Vân” Bên cạnh đó còn một số bài văn bia như Bi kí quán

Trung Tân, Thạch khánh kí, Tam giáo tượng minh bi…và một số bài văn tế

Về chữ Nôm, ông có Bạch Vân quốc ngữ thi tập (còn gọi là Trình quốc công Bạch Vân quốc ngữ thi tập), với số lượng khoảng 180 bài Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiên làm theo thể Đường luật và Đường luật xen lục ngôn nhưng ông thường không đặt tiêu đề cụ thể cho từng bài mà việc đó được thực

Trang 17

hiện bởi những nhà biên soạn sau này Ngoài thơ Nôm trong dân gian còn có lưu hành nhiều câu sấm kí mang tên Trạng Trình thường làm theo thể thơ lục bát như Trình quốc công sấm kí, Trình tiên sinh quốc ngữ… Như vậy, qua những văn bản đó có thể khẳng định Nguyễn Bỉnh Khiêm là một bậc đại gia của nền văn học Việt Nam thời trung đại

Về nội dung thơ văn, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định

những đóng góp của Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ về mặt số lượng mà còn

cả về mặt chất lượng Như nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh đã đánh giá, Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ viết nhiều nhất trong năm thế kỉ đầu của nền văn học viết Việt Nam Về số lượng mà xét thì Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà quán quân Tuy nhiên vấn đề không chỉ là số lượng Nguyễn Bỉnh Khiêm

đã có một phong cách thơ riêng không lẫn Ai cũng biết một nguyên tắc thẩm

mỹ quan trọng của thơ thời trung đại là “thơ ngôn chí”, nguyên tắc mà các nhà nghiên cứu hiện đại thường xem là làm hạn chế tính thẩm mỹ của thơ và ngay các nhà thơ cổ cũng không phải đều nhất nhất tuân theo Thế nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tuân theo một cách “triệt để” và với một cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ Với ông, đề vịnh, tự sự, tự thuật cũng đều để ngôn chí, và phong cách riêng của ông cũng được xác định chính từ những vần thơ ngôn chí ấy Thơ văn của ông thể hiện sự ưu thời mẫn thế, đậm chất triết lý, giáo huấn nhưng vẫn gần gũi và dễ tiếp nhận

Phan Huy Chú cũng có nhận xét về thơ văn Trạng Trình “thanh tao,

tiêu sái, hồn hậu, phong nhã, có ý thú tự nhiên”

Nguyễn Huệ Chi có đánh giá “thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đánh dấu

cho sự khởi đầu của một hình thức tư duy mới trong tiến trình hoàn thiện thơ

ca trung đại Việt Nam Đó là tư duy thế sự, thơ vẫn mang tính trữ tình nhưng

là “trữ tình lý trí” Nó mang hình thức không phải là tư duy cảm tính mà là tư duy lý tính, nhìn thẳng vào xã hội nên gọi là tư duy thế sự” Bởi vậy thơ có

Trang 18

tính phát hiện, hiện thực rất đáng kể Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn sâu vào các ngóc ngách của xã hội để thấy bức tranh phức tạp của xã hội mà bức tranh ấy diễn ra một cách tự nhiên bởi nó là bức tranh xã hội có thực Vì tư duy thế sự nên cũng nhìn sâu vào tâm lý con người Trong khi ở thời trước đó mọi thứ trong xã hội đều được ước lệ hóa, công thức hóa, được mỹ hóa thành một xã hội chung chung đâu cũng như nhau

Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phản ánh nỗi băn khoăn, niềm khát vọng của cả một tầng lớp nho sĩ đương thời muốn lý giải những biến đổi của thời cuộc và tìm kiếm phương hướng, vận động cho sự phát triển của xã hội

và cá nhân Đồng thời thơ văn ông không chỉ tiêu biểu cho tính chất triết lý về thế sự mà còn mang tầm cao giáo huấn Nội dung giáo huấn đều hướng đến một mục đích cao cả đó là dạy đời và khuyên người bằng một cách nói kín đáo, nhẹ nhàng khiến người đọc dễ cảm, không mất lòng ai, kể cả những người thuộc vòng than trách

Về nghệ thuật, thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm phong phú về đề tài và thể

loại.Thơ chữ Hán được viết theo nhiều thể loại khác nhau từ ngũ ngôn thất ngôn đến cổ thể hoặc đường luật với dung lượng khác nhau có những bài bốn câu, tám câu có những bài dài đến cả chục câu thậm chí trăm câu như bài

“Cảm hứng” Các bài thơ chữ Hán cũng “đã có xuất hiện những môtíp nghệ thuật mới, những biểu tượng rút ra từ cuộc sống dân tộc, có thể xếp ngang với các môtíp nghệ thuật vay mượn trong thơ cổ Trung Hoa” [78; 423]

Thơ chữ Nôm với hệ thống đề tài phong phú và hình thức thể hiện đậm

đà tính dân tộc, qua việc vận dụng linh hoạt và sáng tạo ngôn ngữ dân gian Cùng với đó là việc sử dụng thể thơ thất ngôn xen lục ngôn một cách nhuần nhuyễn, biến hóa hơn

Tất cả những phương diện trên đã tạo nên giá trị sâu sắc cho thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm làm nên tên tuổi của một danh nhân văn hóa lớn của dân tộc

Trang 19

1.2 Cơ sở lịch sử - văn hóa – xã hội hình thành chủ đề thế sự trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm

1.2.1 Khái niệm chủ đề thế sự

Theo cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” thì chủ đề là: “Vấn đề cơ bản,

vấn đề trung tâm được tác giả nêu lên, đặt ra qua nội dung cụ thể của tác phẩm văn học” [19; 61]

Như vậy, chủ đề là vấn đề vào loại quan trọng nhất trong hệ thống nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học, nó xác định nội dung chính, nội dung cơ bản được tác giả tập trung tâm huyết biểu hiện trong tác phẩm Nó thể hiện mối quan tâm đặc biệt của người nghệ sĩ vào một phương diện nào đấy trong đời sống Bởi vậy qua chủ đề người đọc có thể nhận thức được khả năng thâm nhập vào đời sống, chiều sâu tư tưởng và cả bản sắc tư duy nghệ thuật của nhà văn

Chủ đề là một trong những điều quan trọng nhất tạo nên giá trị độc đáo và tầm vóc của tác phẩm để khẳng định đóng góp riêng của mỗi người nghệ sĩ Có hàng chục thậm chí hàng trăm tác giả viết về đề tài nông dân,

đề tài trí thức nhưng thành công đặc sắc thì lại rất ít Điều đó hoàn toàn do chủ đề, tư tưởng của tác phẩm tạo ra Qua chủ đề, ta có thể hiểu được chiều sâu, sự độc đáo của con đường tư duy nghệ thuật cũng như sự nhạy cảm đặc biệt của nhà văn Do đó, trong nghiên cứu văn học, chủ đề được xem là một tiêu chuẩn để đánh giá giá trị của tác phẩm Theo các nhà lý luận

“trong nghiên cứu văn học hiện đại, chủ đề còn được xem là phạm vi quan

tâm của nhà văn đối với thế giới, là hằng số tâm lý của nhà văn, gắn với quan niệm thế giới của tác giả” [19; 62]

Thế sự hiểu theo nghĩa chiết tự là “việc đời” Từ điển tiếng Việt định

nghĩa “thế sự là việc đời Nói khái quát là bàn chuyện thế sự” nhưng nó

không đơn thuần chỉ là những việc nóng hổi, nổi bật về những lĩnh vực trong

Trang 20

đời sống xã hội như kinh tế, văn hóa, chính trị… mà nó còn là những vấn đề

về nhân tình thế thái – những sự thật đời sống điển hình của từng giai đoạn Thế sự có thể được biểu đạt, diễn tả thông qua những từ ngữ như thời cuộc, thời thế, thế thái nhân tình, thực trạng, hiện thực xã hội,… Có thể hiểu một cách khái quát rằng thế sự vừa là đề tài sáng tác vừa là đối tượng phản ánh Văn học thế sự có nghĩa là văn học hướng tới phản ánh hiện thực xã hội, phản ánh cuộc sống đời thường hàng ngày của nhân sinh, thế cuộc, của thế thái nhân tình, với những điều trông thấy

Như vậy, chủ đề thế sự là những vấn đề về thời thế, về thực trạng xã

hội, về cuộc sống thường ngày đang diễn ra được phản ánh qua ngòi bút của mỗi nhà văn

1.2.2 Chủ đề thế sự trong văn học giai đoạn từ thế kỷ X – thế kỷ XV

Văn học thế sự chưa đồng hành cùng lịch sử văn học dân tộc ngay từ những chặng đường đầu như chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo nhưng càng về sau càng về sau nó càng phát huy vai trò của mình trong tiến trình văn học và đạt được những thành tựu rực rỡ, tạo tiền đề phát triển để góp phần hình thành những khuynh hướng văn học sau này đó là văn học hiện thực, văn học hiện thực phê phán

Đến khoảng thế kỷ XIV, nhà nước phong kiến cực thịnh với những bài

ca hào sảng đã ngày càng đi xuống dốc của sự sa đọa, hưởng lạc Trước cảnh tượng đổ nát, suy vi của triều Trần, tiếng than bất bình về thời thế đã trở thành

âm điệu chủ đạo trong không ít tác giả Đó là những bài thơ thiền, bài kệ của các nhà sư, những vần thơ của các nho sĩ, trí thức đương thời đã phần nào có nội dung cảm khái thời thế hoặc mô tả hiện thực đương thời gắn với tên tuổi của Trần Nguyên Đán, Trần Quang Thiều, Nguyễn Phi Khanh, Đặng Dung,

Hồ Tông Thốc,…

Trang 21

Bởi xã hội cuối Trần, triều đại mục ruỗng, suy vi Các nhà trí thức tâm huyết tiến bộ đã lên án thói vô đạo của bọn quý tộc chủ trương cầm bút ghi chép lại sự thực Cho đến khi nhà Hồ lên nắm quyền lãnh đạo đất nước thay nhà Trần thì đã mắc phải nhiều sai lầm dẫn đến đất nước rơi bị giặc minh xâm lược, trước hiện thực đó đã xuất hiện những bài thơ thế sự của Lý Tử Cấu, Nguyễn Thời Trung, Đây chính là điều kiện cho sự ra đời của những dòng thơ thế sự Tiêu biểu trong giai đoạn này là những sáng tác của Nguyễn Trãi, ông viết nhiều về thế sự, nhiều chủ đề thế sự đã được đề cập đến trong thơ văn Nguyễn Trãi Là một vị quan nặng lòng với dân với nước đứng trước thực trạng đương thời ông không thể làm gì để thay đổi được cục diện đó bất lực với thời cuộc nên ông chỉ có thể gửi gắm tâm sự, nỗi lòng của mình vào những vần thơ thế sự

Đứng trước cảnh hiện thực nhà Trần suy yếu, Hồ Quý Ly lũng đoạn triều đình, phong trào khởi nghĩa của nông dân nổ ra chống lại triều đình nhà Trần, thời thế thay đổi chính sự rối ren, nhân dân lao động phải chịu nhiều cực khổ bởi thiên tai, bởi sự đàn áp bóc lột của quan lại đương thời Trần Nguyên Đán một vị quan hưởng bổng lộc của triều đình hết lòng với dân với nước nhưng ông cũng đành bất lực vì không thể làm được gì để thay đổi thời cuộc nên ông chỉ biết gửi gắm tâm sự, trăn trở của mình vào những vần thơ:

Niên lai hạ hạn hựu thu lâm, Hòa cảo niêu hương lại chuyển thâm

Tam vạn quyển thư vô dụng xứ, Bạch đầu không phụ ái dân tâm

(Năm nay mùa hè bị hạn, mùa thu lại bị lụt, Lúa khô mạ thối, tai hại càng nhiều

Đọc ba vạn cuốn sách mà thành vô dụng, Bạc đầu luống phụ lòng thương dân.)

(Nhâm Dần niên lục nguyệt tác)

Trang 22

Trần Nguyên Đán thấy hổ thẹn với chức trách một vị quan mà không thể giúp cho người dân đang phải hứng chịu cảnh thiên tai lụt lội mất mùa Ông tự thấy mình là kẻ vô dụng, đọc sách thánh hiền, làm phụ mẫu của dân

mà lại phụ lòng người dân Đây có thể coi là những vần thơ hiếm gặp trong giai đoạn đương thời bởi những bậc làm quan ít ai dám ghi chép lại hiện thực cuộc sống đang diễn ra

Là một con người có tấm lòng ưu thời mẫn thế, luôn đau đáu nỗi niềm

lo cho dân cho nước có lúc Trần Nguyên Đán còn nghĩ rằng khỏe mạnh mà không giúp được việc nước thì thà mang bệnh còn thấy đỡ day dứt hơn:

Mục tiền tận thị quan tâm sự, Bệnh dũ bất nhu do bệnh thì

(Trước mắt toàn là những việc phải quan tâm Bệnh khỏi không bằng khi còn bệnh.)

(Bất mị)

Thơ Trần Nguyên Đán là tiếng lòng của một người yêu nước thương dân Ông thông cảm với nỗi khổ của dân đau cùng với nỗi đau của dân và cảm thấy bất lực xót xa khi mình không thể giúp người dân thoát khỏi cảnh ngộ

đó Qua những vần thơ đó chúng ta thấy được một con người đầy trách nhiệm với đời dù khi làm quan hay khi ở ẩn vẫn luôn khắc khoải nỗi nềm lo đời nhưng không có cứu được đời

Bạch nhật thăng thiên dị, Trí quân Nghiêu Thuấn nan

Trần ai lục thập tải, Hồi thủ quý hoàng quan

(Ban ngày bay lên trời còn dễ, Giúp vua để vua được như Nghiêu, Thuấn mới khó

Sáu mươi năm sống trong cõi trần, Nghoảnh lại luống thẹn với người đội mũ vàng.)

(Đề Huyền Thiên quán)

Trang 23

Cũng có tâm sự như Trần Nguyên Đán muốn đem tài năng để giúp dân, giúp nước nhưng lại không được trọng dụng nên trong những vần thơ của Nguyễn Phi Khanh vẫn luôn mang nặng nỗi niềm cảm thán thời thế Sống trong giai đoạn triều Trần đã bước vào thế suy vong, Nguyễn Phi Khanh là người chứng kiến một thời cuộc điên đảo, rối ren, nhiều éo le oan trái nên thơ ông là những vần thơ “tâm sự”, thế sự muốn được cứu đời, cứu dân nhưng lại khó thực hiện được:

Vạn sự bội nhân tiêu tiệm vĩnh, Trữ sầu khi ngọa sổ tàn canh

(Bao chuyện đều trái với ý người, đêm dài thêm mãi, Chất chứa mối sầu nằm trằn trọc đến canh tàn!)

(Thu trung bệnh)

Tư thế và tâm trạng của Phi Khanh trước thế sự cuộc đời:

Ngưng trữ bách niên thành nhất khái, Hoàng hôn tiểu lập tự nga thi

(Đứng lặng suy nghĩ, cảm khái việc trăm năm, Hoàng hôn rồi, đứng lại chốc lát một mình ngâm thơ.)

(Bạc Nguyễn gia lăng)

Bên cạnh những vần thơ giãi bày nỗi buồn tâm thế, Nguyễn Phi Khanh còn dành nhiều vần thơ viết về người dân lao động:

Ruộng nương nghìn dặm đỏ như lửa cháy, Đồng quê than vãn không biết trông cậy vào đâu

Núi sông của thần đất khô nứt nẻ, Mưa móc của trời còn xa lắc Lưỡi tham quan lại vơ vét cạn kiệt…

(Thôn cư cảm sự ký trình Băng Hồ tướng công )

Trang 24

Những dòng thơ trên đã cho thấy được hiện thực cuộc sống của nhân dân thật đáng xót thương, hình ảnh những cánh đồng lúa hạn hán có sức tố cáo mạnh mẽ Những người là cha mẹ của dân không cùng đồng lòng giúp đỡ những người dân gặp hoạn nạn mà lại còn ra sức vơ vét, bóc lột của dân để mưu lợi cho bản thân mình, thơ thế sự của Nguyễn Phi Khanh có sức phê phán, tố cáo hết sức mãnh liệt

Với những vần thơ khi thì giãi bày tâm trạng, khi thì miêu tả thời cuộc, nhân tình thế thái hay chỉ là những cảm hứng, tâm sự đã cho chúng ta thấy được Nguyễn Phi Khanh là một con người có tài năng, có nhân cách nhưng lại sinh bất phùng thời cho nên đành dùng văn chương để thể hiện hoài bão, nhân cách, tâm hồn mình

Ở giai đoạn thế kỷ XV, một trong những nhà thơ có đóng góp lớn lao cho

sự nghiệp văn học dân tộc mà chúng ta không thể không nhắc đến đó là Nguyễn Trãi Dù sáng tác của Nguyễn Trãi chỉ là những vần thơ thế sự viết về cuộc sống thường ngày hay những vần thơ cảm hứng, tức sự, tự thuật để bày tỏ cảm xúc, tâm trạng, tỏ chí cũng đã góp phần tạo nên những vần thơ viết về chủ đề thế sự

Nguyễn Trãi tuy đã lui về ở ẩn nhưng trong ông luôn vương vấn một tình yêu bao la đối với dân với nước Người anh hùng luôn cố gắng xây dựng, cải tạo xã hội nhưng thấy mình bất lực, thấy mọi cố gắng của mình như giọt nước đổ biển cả, như giấc mộng mà thôi:

Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư, Giác lai vạn sự tổng thành hư

Như kim chỉ ái sơn trung trú, Kết ốc hoa biên độc cựu thư

(Đời người là cái thừa của giấc mộng kê vàng, Tỉnh lại muôn việc đều thành không cả

Như nay ta chỉ thích ở trong núi, Làm nhà bên hoa mà đọc sách xưa)

(Ngẫu thành)

Trang 25

Câu thơ chứa đựng một tâm sự chán nản, buồn đau của người anh hùng

Nguyễn Trãi khi thấy đất nước không được như mình mong muốn: “Vua

Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn” Quá thất vọng trước thực tại, ông thấy

cuộc đời như cái thừa của giấc mộng, mọi việc đều thành không Việc thích ở trong núi, thích làm nhà bên hoa mà đọc sách của ông phải chăng là sự lẩn tránh cuộc đời, lẩn tránh một thực tại đáng buồn mà ông không cách nào thay đổi, không cách nào cứu vãn?

Nhưng sau chiến tranh, chế độ mà Nguyễn Trãi đã góp phần gây dựng lên lại không có chỗ dung thân cho một người như ông Ông không có cơ hội

để thực thi chí hướng của mình Thời bình mà lòng người như loạn lạc, các quan chia bè chia phái, người cương trực thì ít mà kẻ xiểm nịnh thì nhiều,

gian thần lộng hành, thắng thế Trong Tự thuật (bài 9) ông đau xót thốt lên:

“Phượng những tiếc cao, diều hãy liệng - Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi”

Không gian rộng lớn, cao đẹp đúng ra là nơi chim phượng tung cánh bay lượn thì lại chỉ thấy có diều hâu mà thôi Mặt đất bao la, tươi tốt thì lại không làm cho hoa đẹp mãi, tươi mãi được mà nó là chỗ cho cỏ xanh um Hai câu thơ vang lên đầy mỉa mai đau xót về thực trạng đáng buồn của xã hội Cái xấu, cái ác, cái bất nhân thì luôn chiếm thế thượng phong, còn cái đẹp, cái thiện thì lại ngắn ngủi, mong manh quá

Trước thời cuộc đương thời Nguyễn Trãi cũng đã viết những vần thơ thể hiện những suy tư trăn trở của ông trước cuộc đời

Nhãn trung phù thế tổng phù vân,

Oa giác kinh khan nhật Tấn Tần

Thiên hoặc táng tư tri hữu mệnh, Bang như hữu đạo diệc tu bần

Trần Bình tự tín năng vi tể,

Đỗ Phủ thùy liên dĩ ngộ thân

Trang 26

Thế sự bất tri hà nhật liễu, Biến chu quy điếu Ngũ Hồ xuân

(Nhìn vào cuộc thế đều là mây nổi cả,

Sợ thấy cảnh Tấn Tần tương tranh hàng ngày như chuyện sừng ốc sên

Khi trời đã bỏ mất nền tư văn tất có mệnh, Nước có đạo đức mà nghèo thì cũng xấu hổ

Đó mới chính là chí hướng suốt cuộc đời nhà Nho quân tử Ức Trai:

Nhất sinh tập khí hồn như tạc, Bất vị ky sầu tổn cựu hào

(Một đời vẫn giữ quen cái nết ngày trước, Chẳng phải vì mối sầu xa quê hương mà giảm chí khí cũ)

(Lâm Cảng dạ bạc)

Trang 27

Nguyễn Trãi còn viết những vần thơ so sánh đầy hình tượng cho thấy được sự thay đổi của lòng người, miệng lưỡi thế gian

Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn Lòng người quanh nữa nước non quanh

(Bảo kính cảnh giới)

Câu thơ vừa cụ thể, vừa khái quát về lòng người trong xã hội, người đọc còn cảm nhận được một nỗi đau xót xa của nhà thơ đó là một thái độ bất bình và lên án đầy chua xót trước sự đời, trước sự khó hiểu của lòng người

Nhà nghiên cứu Trần Hoa Lê có nhận xét: “Nguyễn Trãi có nói đến xã hội đen bạc thì chủ yếu là thể hiện nỗi đau xót từ góc độ đạo đức - chính trị

hoặc thế nhân nóng lạnh lẽ thường: Bui một lòng người cực hiểm thay; Tiếng

thị phi chăng dóng đến tai; Miệng người tựa mật; Ở thế tin gì miệng đãi bôi; Ghê thay biến bạc làm đen) Dù đây đó đã bộc lộ sự quan sát về thói đời trọng

danh lợi: Vinh hoa nhiều thấy khách đăm chiêu/ Bần tiện ai là kẻ trọng yêu

(Bảo kính cảnh giới, 8); Giàu người họp khó người tan, Phú quý thì nhiều kẻ đến chen - Bảo kính cảnh giới, 12, 13)…”

Điều này cho thấy ở Nguyễn Trãi không chỉ “trữ tình thế sự” mà đã ít hiều xuất hiện “tư duy về thế sự” Tất nhiên tư duy về thế sự phải đến giai đoạn sau ông mới bộc lộ hết tiêu biểu cho kiểu thơ này là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

1.2.3 Cơ sở xã hội hình thành chủ đề thế sự trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chủ đề thế sự được hình thành dựa trên kết quả của nhiều yếu tố, nhiều điều kiện khách quan và những điều kiện xuất phát từ bản thân văn học A.X.Likhatrop đã nhận định “mối quan hệ thường xuyên giữa các hiện tượng văn học và hiện tượng không phải văn học làm cho sáng tác văn học được tăng cường, xúc tiếp sự phát triển, làm cho sự sáng tạo những hình thức mới được dễ dàng” Vì vậy, để xác định cơ sở cho sự hình thành chủ

Trang 28

đề thế sự chúng tôi đi tìm hiểu trên các khía cạnh mà chủ đề thế sự phản

Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông được dân gian mỉa mai gọi là “Vua Quỷ, Vua Lợn”, vua “bù nhìn” Dưới sự thống trị của triều đình chuyên chế đồi bại đó cùng với sự áp bức bóc lột của bọn quan lại, cường hào địa chủ, đời sống của nhân dân lại càng khốn khổ Thiên tai làm cho mất mùa đói kém diễn ra liên miên càng khiến cho đời sống người dân lao động lâm vào cảnh khổ cực, điêu đứng Đây là nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ của hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân từ Nghệ An, Vĩnh Phúc, Hải Phòng và lan đến

cả kinh thành Thăng Long khiến nhà Lê nhanh chóng đứng trước bờ vực của

sự diệt vong, sụp đổ Chỉ mấy chục năm đầu thế kỉ XVI (1504 – 1527) có tới sáu vua Lê (Túc Tông,Uy Mục, Tương Dực, Quang Trị, Chiêu Tông, Cung Hoàng) lần lượt kế tiếp nhau nối ngôi, rồi lại lần lượt bị phế truất

Cũng trong khoảng đầu thế kỷ XVI, ngay trong nội bộ giai cấp phong kiến cũng diễn ra các cuộc tranh giành, xung đột giữa các tập đoàn khác nhau

mà nổi bật là cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều giữa nhà Lê với nhà Mạc và cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn Cuộc nội chiến giữa hai vương triều Lê, Mạc kéo dài ngót 60 năm (từ năm 1533 – 1592) khiến đất nước chìm trong binh đao, khói lửa, loạn lạc

Chính hiện thực tàn khốc ấy đã khiến cho tầng lớp quan lại trí thức nho

sĩ đương thời đứng trước nhiều sự lựa chọn tiếp tục trung thành phụng sự nhà

Trang 29

Lê bằng cách chọn về ở ẩn để giữ được khí tiết của bậc nho sĩ hay đem tài năng ra phụng sự nhà Mạc phục vụ đất nước, có người chọn trung thành với nhà Lê, có người vừa theo nhà Lê lại vừa theo nhà Mạc Cũng có nhiều nho sĩ chọn con đường cáo quan về sống ẩn dật tại quê nhà do thấy chán nản thất vọng với thực tại trong số đó có Nguyễn Bỉnh Khiêm

Tất cả những đau thương của lịch sử đã được phản ánh trong văn học một cách sâu sắc và chân thực nhất Có thể nói chính hiện thực tàn khốc này

là điều kiện để văn học thế sự phát huy vai trò của mình trong nền văn học

Dù chỉ là những cảm hoài, tức sự, hay những vần thơ giãi bày tâm sự, nỗi lòng của mình trước hiện thực đương thời thì đó cũng chính là biểu hiện rõ nét nhất của chủ đề thế sự trong văn học

Cùng với đó ở giai đoạn này còn có sự giao lưu, tiếp xúc với phương Tây làm thay đổi phần nào nền kinh tế Nền kinh tế nông nghiệp đã mất đi vai trò chủ đạo do những cuộc chiến tranh kéo dài và tình trạng lấn chiếm ruộng đất của quan lại, địa chủ phong kiến Thay vào đó nền kinh tế thủ công và thương nghiệp càng có điều kiện để phát triển hơn nữa mà cụ thể về thủ công

đã xuất hiện những làng nghề làm gốm, dệt lụa, làm mía đường,…Về thương nghiệp việc buôn bán hàng hóa giao thương với nước khác cũng được đẩy mạnh xuất hiện nhiều thương nhân, trung tâm buôn bán sầm uất như Kinh Kỳ, Phố Hiến, Hội An

Sự phát triển về mặt kinh tế đã kéo theo những thay đổi về mặt xã hội

đó là việc xuất hiện những giai cấp, tầng lớp mới trong xã hội bên cạnh giai tầng phong kiến cũ như vua chúa, quan lại, quý tộc, địa chủ, nông dân… còn

có sự xuất hiện của tầng lớp thị dân Đây được coi là lực lượng xã hội có tác động lớn và làm thay đổi bộ mặt nền kinh tế đất nước, đem đến những thay đổi lớn về văn hóa, tư tưởng của xã hội đương thời

Trang 30

Tiền tệ được lưu thông dễ dàng, những đô thị mọc lên, kinh tế hàng hóa phát triển, đồng tiền đã phát huy vai trò của nó trong sinh hoạt xã hội nhưng đồng thời cũng kéo theo đó những hệ quả Đó là sự chi phối của thế lực đồng tiền làm thời thế đảo điên, tạo nên sự phân cấp ngày càng lớn giữa giàu và nghèo, các mối quan hệ trong xã hội, gia đình cũng bị sức mạnh của đồng tiền chi phối làm cho các giá trị thiêng liêng về mặt đạo đức, lễ nghĩa, luân thường đạo lí dưới con mắt các nhà Nho thay đổi theo chiều hướng đi xuống

Có thể thấy những biến động về lịch sử - xã hội, kinh tế là một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự thay đổi lớn của bộ mặt xã hội Việt Nam lúc bấy giờ

Về văn hóa - tư tưởng

Về văn hóa: Giáo dục, thi cử cũng đạt được nhiều thành tựu đáng trân

trọng “chỉ trong 65 năm nắm giữ vương quyền, nhà Mạc đã tổ chức được 22

kì thi Hội, đào tạo được 485 tiến sĩ và hàng chục trạng nguyên” [74;417] Trong đó có những nhân vật nổi tiếng như Giáp Hải, Nguyễn Thiến, Hà Nhậm Đại, Hoàng Sĩ Khải,… đặc biệt là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Về tư tưởng: Thế kỷ XV, Nho giáo phát triển và đạt tới mức cực

thịnh còn Phật giáo, Đạo giáo thì mất dần địa vị do chính sách hạn chế đạo Phật của triều đình nhà Lê sơ Nhưng sang đến thế kỷ XVI, là một thời đại đầy biến động với những cuộc đấu tranh trong nội bộ giai cấp phong kiến, cùng những cuộc đấu tranh giữa nhân dân với giai cấp phong kiến thống trị vốn đã làm đảo lộn trật tự xã hội, cùng với đó là sự phát triển của nền kinh

tế hàng hóa với sự chi phối mạnh mẽ của đồng tiền và lối sống thị dân đã làm băng hoại của ý thức hệ Nho giáo đã mất dần vị trí và vai trò độc tôn của mình thay vào đó là những hệ tư tưởng khác như Phật giáo và Đạo giáo lại có điều kiện để phát triển trở lại và có ảnh hưởng mạnh mẽ trong đời sống xã hội của nhân dân

Trang 31

Nền văn hóa, tư tưởng của một quốc gia thường gắn liền với một thể chế chính trị, một chế độ xã hội, được coi là vũ khí tinh thần để phục vụ giai cấp thống trị Ở thế kỷ XV thì Nho giáo vốn là học thuyết chính thống chiếm

vị trí độc tôn trên vũ đài chính trị của nhà nước phong kiến song từ đầu thế kỉ XVI Nho giáo đã bắt đầu bộc lộ những dấu hiệu cho thấy sự đi xuống, mất dần vị trí độc tôn vốn có Giáo lí Nho gia bảo vệ trật tự từ trên xuống dưới trong đó vua sẽ là người ở vị trí độc tôn cao nhất được ví như con trời hay thiên tử là người có quyền hành cao nhất thâu tóm tất cả quyền lực đất nước Điều này là hoàn toàn có lợi cho chế độ quân chủ với bộ máy nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Tuy nhiên ở thời kì này bộ máy thống trị đương thời không vững chắc, nội bộ giai cấp phong kiến mâu thuẫn, làm cho đạo lí Nho gia cũng bị lung lay

Dưới triều Mạc, giáo lí đạo Khổng luôn được coi là tư tưởng chính thống, nhà nước vẫn dựa vào các kinh sách Nho giáo để củng cố vương quyền, duy trì trật tự xã hội, lập lại kỉ cương, vực hồi đạo lý, hoạch định chính sách cai trị Cũng như các triều đại khác nhà Mạc cũng rất chú trọng chính sách trọng dụng hiền tài, nho sĩ, tổ chức thi cử tuyển dụng quan lại, tìm người hiền tài cho đất nước nhưng trên thực tế nhiều giá trị tư tưởng Nho giáo đã thay đổi Nhiều mối quan hệ vốn được Nho giáo coi trọng như quan hệ thầy trò, bạn hữu đã bị đồng tiền chi phối Đồng tiền có thể giúp con người mua quan bán tước, giúp kẻ hèn kém được trọng vọng nhưng nó cũng làm cho những người có tài năng có nhân cách lại không được trọng dụng đề cao

Đến thế kỉ XVI, chùa chiền liên tiếp được trùng tu, xây dựng, số người xuất gia tu hành ngay một đông Một số dòng Thiền tông cũ hồi sinh và một

số dòng Thiền tông mới xuất hiện Phật giáo ngày càng được đề cao, chùa chiền trở thành những trung tâm sinh hoạt văn hóa có sức hút mạnh mẽ mọi tầng lớp xã hội Bên cạnh Phật giáo, tư tưởng Lão – Trang cũng mang sắc thái

Trang 32

mới mẻ nhiều đền, miếu, Đạo quán được xây dựng hoặc trùng tu dưới triều nhà Mạc, nhiều câu chuyện li kì về các vị đạo sĩ, các vị pháp sư cũng đã xuất hiện trong các truyền thuyết và các bộ dã sử

Nếu Nho giáo đề cao lòng trung quân hướng tới bảo vệ giai cấp thống trị và tầng lớp trên của xã hội thì Phật giáo lại có tư tưởng hướng thiện, đề cao lòng từ bi bác ái, phổ độ chúng sinh, đề cao sự bình đẳng không phân biệt giai cấp, tầng lớp, không thiết lập trật tự tôn ti, không sử dụng pháp chế đàn áp con người Phật giáo đã thể hiện tính chất dân chủ và nhân đạo của

nó vì thế được nhiều tầng lớp trong xã hội đương thời ưa chuộng Trong hoàn cảnh chiến tranh liên miên, con người rơi vào khổ đau cộng với sự cởi

mở trong chính sách tôn giáo của nhà Mạc, con người tìm đến với Phật giáo

là điều dễ hiểu

Cũng ở thế kỷ XVI, Thiên chúa giáo đã được truyền bá vào Việt Nam theo sát con đường phát triển của kinh tế hàng hóa và tiền tệ mà lan ra khắp nơi Tư tưởng chính của tôn giáo này là thờ Đức chúa trời khác hẳn Nho giáo tôn thờ thiên tử - vua Như vậy, sự phát triển trở lại của Phật giáo, Đạo giáo,

và sự truyền bá của tư tưởng Thiên chúa giáo là nguyên nhân khách quan khiến Nho giáo lâm vào tình trạng suy vi mất đi vai trò độc tôn

Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh lịch sử - xã hội và văn hóa - tư tưởng như vậy Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có những sáng tác mang đậm dấu ấn thời đại, giàu tính thời sự, hiện thực

1.2.3.2 Những tiền đề văn học

Ở giai đoạn thế kỷ XVI, văn học trung đại Việt Nam chuyển dần từ

âm hưởng ngợi ca dân tộc ngợi ca vương triều phong kiến sang âm hưởng phê phán hiện thực xã hội Chế độ phong kiến Việt Nam đã có những biểu hiện khủng hoảng, nội bộ giai cấp thống trị tranh giành quyền lực, nội chiến xảy ra liên miên Trong một hoàn cảnh lịch sử mới với nhiều thay đổi thì

Trang 33

văn học cũng có những bước chuyển hướng Văn học vẫn phản ánh những nội dung vốn có và mặt khác còn phản ánh những nội dung mới Những tầng lớp nho sĩ, trí thức đương thời sống gần gũi với người dân hiểu được hoàn cảnh sống, tâm tư nguyện vọng của nhân dân nên họ đã viết những tác phẩm nói lên nguyện vọng phản ánh mong muốn của nhân dân Vì vậy văn học giai đoạn này nghiêng về phản ánh hiện thực xã hội, phản ánh nhu cầu tình cảm của con người

Cùng với đó là sự phát triển của văn tự Nôm hướng đến tư duy tương đồng với văn tự Hán, ý thức của chủ thể tác giả được đề cao trong quá trình sáng tác văn học Đặc biệt, với vai trò người kiến tạo như Nguyễn Bỉnh Khiêm thì bản thân ông đã tạo nên những điểm nhìn về thế sự đương thời trong thơ chữ Hán

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà Nho sống vào thời kì mà xã hội có nhiều biến động ông cũng là một nho sĩ nặng lòng với dân với nước cho nên đứng trước sự thay đổi ấy những sáng tác của ông cũng có nhiều tác động, thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm hướng nhiều đến phản ánh hiện thực xã hội đương thời

1.3 Hệ thống chủ đề trong thơ văn chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm

Khi tìm hiểu về thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm chúng tôi nhận thấy để tìm hiểu được hệ thống chủ đề thế sự trong thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì cần phải có được một cái nhìn bao quát xuyên suốt trong toàn bộ các sáng tác của ông Ở đề tài này chúng tôi đi tìm hiểu về hệ thống chủ đề được hình thành trong thơ văn chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm Dựa trên việc tìm hiểu các công trình đã nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm trước đó chúng tôi nhận thấy trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi bật với một số chủ đề tiêu biểu đó là chủ đề chống chiến tranh phong kiến, chủ đề thế

sự, chủ đề nhàn dật, chủ đề thiên nhiên, chủ đề ngôn chí

Trang 34

Theo nhận định của nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn thì “Chủ đề thế sự

là một chủ đề lớn trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, thể hiện ở sự phản ánh hiện thực đời sống và cảm hứng phê phán, tố cáo hiện thực xã hội… Cảm hứng phê phán, tố cáo hiện thực bắt nguồn từ tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm đồng thời xuất phát từ những điều tai nghe mắt thấy.” [81; 176]

Trong hệ thống chủ đề thì thế sự là một trong những chủ đề đó Ở bài viết này chúng tôi tập trung nghiên cứu về chủ đề thế sự trong thơ chữ Hán

để qua đó có cái nhìn so sánh với thế sự trong thơ chữ Nôm cũng như có được một sự nhìn nhận toàn diện, khái quát hơn trong toàn bộ thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm

Tiểu kết chương 1

Trong nền văn học trung đại Việt Nam, tiếp sau Nguyễn Trãi thì Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những tác giả có nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà Ông là một con người có tài năng có nhân cách lớn và cũng là một nhà văn hóa có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến gần hết thế kỷ XVI

và cả sau này Ông được đánh giá là một chính khách có uy tín, bậc hiền triết, nhà tiên tri, người thầy được các vị vua chúa kính nể, được nhân dân tôn thờ

và trọng vọng Nhưng trước hết phải khẳng định rằng, nổi bật trên tất cả thì Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ đã có đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn học dân tộc

Tập thơ Bạch Vân am thi tập được coi là tập thơ lớn chứa đựng nhiều

tư tưởng, quan niệm sống, tâm hồn, suy tư trăn trở trong con người Trạng Trình Đó là những vấn đề về đời sống về hiện thực đương thời, có thể thấy chính bức tranh xã hội với nhiều biến động, xáo trộn ở giai đoạn thế kỷ XVI là mảnh đất để những vần thơ thế sự nảy sinh dưới ngòi bút của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trang 35

CHƯƠNG 2

HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ THẾ SỰ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Thơ thế sự là những vần thơ gắn với hiện thực của xã hội, thường phản ánh những vấn đề nảy sinh trong thời điểm đó Văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVI là một thời kì với nhiều biến động, là thời kỳ mà chế độ phong kiến Việt Nam đi vào giai đoạn khủng hoảng, suy thoái Chính vì vậy, hiện thực xã hội giai đoạn này đã được phản ánh trong văn học một cách rõ nét, sinh động, chân thực đặc biệt qua ngòi bút sắc bén của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm thì bức tranh hiện thực đời sống đó càng được thể hiện đậm nét hơn Thế kỷ XVI chứng kiến những cuộc chiến tranh xung đột, tranh giành quyền lực của các tập đoàn phong kiến, sự đi xuống của bộ máy cai trị đất nước, cùng với đó là sự tha hóa về mặt đạo đức do sự chi phối sâu sắc của đồng tiền Khác với nội dung thế sự trong thơ Nôm thì ở thơ chữ Hán nội dung thế sự mang tính khái quát hơn, cô đọng hơn Viết về chủ đề thế sự trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm, ở bài viết này chúng tôi có nghiên cứu trên bốn khía cạnh: về chiến tranh phong kiến, giới chức quan lại, sự tác động của đồng tiền và lối sống thành thị

2.1 Chủ đề về chiến tranh phong kiến

Cuộc nội chiến ở Việt Nam thế kỷ XVI là một trong những nội dung lớn được thể hiện rất rõ nét trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đặc biệt là trong những vần thơ chữ Hán Nhà thơ đã phê phán gay gắt, phản ánh chân thực cuộc chiến giữa các phe phái, các thế lực phong kiến đã gây ra hậu quả nặng nề cho đời sống của nhân dân lao động đương thời

Trước tiên cần phải khẳng định rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm là một cận thần tôn phò nhà Mạc và sống hết mình với triều đại này Bởi mãi cho tới năm

Trang 36

44 tuổi ông mới quyết định ra thi ứng thí tài năng và đã đỗ trạng nguyên ngay sau đó Cả một quãng thời gian dài khi còn trai trẻ ông đã phải có sự cân nhắc, chọn lựa cho mình một triều đại để ra phụng sự vậy nên có thể thấy sự tin tưởng và tâm huyết ông dành cho vua quan nhà Mạc là nhất mực trung thành Cho nên, ông đứng về phía nhà Mạc để lên án chiến tranh chống lại các phe phái, thế lực khác là điều đương nhiên Điều này đã được thể hiện trong rất nhiều vần thơ tâm huyết:

Trời giúp vua ta khôi phục lại Kinh đô cũ,

Cờ quạt, người đi xem cùng reo mừng

Trăm quan theo hầu dù lọng ngang trời, Quân thị vệ kể có hàng nghìn, thuyền xe nối tiếp

Quét sạch, làm mới lại miếu mạo nhà Đường, Quy mô như cũ, hệt cơ đồ nhà Hán

Nhân dân sau cơn loạn từ lâu sa vào khốn khổ bệnh tật, Xin ban bố nền chính sự khoan hòa nhân ái để an ủi những kẻ mong được sống lại

(Hạ ngự giá thướng kinh)

Đây là bài thơ Trạng Trình làm trong dịp mừng vua Mạc đánh tan quân

Lê Trịnh chiếm lại kinh thành Thăng Long, bài thơ đã cho thấy được sự vui mừng, tin tưởng của nhà thơ đối với triều Mạc

Nguyễn Bỉnh Khiêm còn theo quân nhà vua đi dẹp loạn với một tinh thần tự nguyện, tấm lòng chân thành dù khi đó ông đã từ quan ở ẩn tại quê nhà và ở độ tuổi ngoài sáu mươi Ông muốn đem hết tài năng của mình để đem đến sự thái bình thịnh trị cho đất nước thông qua việc làm quan phụng sự nhà Mạc Nhưng mong ước đó của ông không thể thực hiện được vì sự tranh giành quyền lực của triều đình nhà Mạc và kéo theo đó là tình trạng chiến tranh vẫn diễn ra liên miên không dứt

Trang 37

Một vùng từ đông đến nam, Đôi đường từ tây sang bắc

Chiến tranh tiếp liền nhau, Họa loạn đến như thế này là cùng cực

Lạc lạc can qua mãn mục tiền, Nhân dân bôn thoán dục cầu tuyền

Điên liên huề bão ta vô địa,

Ái hộ căng linh bản hữu thiên

(Giáo và mộc tua tủa bày ra trước mắt, Nhân dân trốn chạy muốn tìm nơi an toàn

Khốn đốn dắt dìu nhau, thở than không có đất, Thương xót che chở cho, may thay còn có trời)

(Cảm hứng thi, bài 3)

Cuộc nội chiến giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra rất ác liệt và kéo dài mấy chục năm Trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên trước hết là hình ảnh của những kẻ nghịch tặc xâm phạm vào kinh đô nhà vua:

Nghịch tặc xương cuồng phạm đế kinh, Chủ ưu thần nhục trọng thương tình

(Cảm hứng thi, bài 2)

Trang 38

Trước hiện thực kẻ thù đang muốn chiếm kinh đô của triều đình báo hiệu cho một cuộc nội chiến sẽ diễn ra để tranh giành ngôi vương, đồng thời cũng là nỗi niềm của bậc bề tôi với tấm lòng yêu nước, thương dân mong muốn thái bình cho quốc gia

Cùng với đó nhà thơ còn tái hiện cảnh tranh giành, chém giết lẫn nhau giữa các tập đoàn phong kiến:

Yếm khan nghịch tặc cửu xương cuồng,

Hỗ chiến giao tranh bán sát thương

Liệt hỏa viêm viêm phần ngọc thạch,

Cô ưng ngạc ngạc bố loan hoàng

(Ngán xem nghịch tặc rông rỡ đã lâu, Đánh lẫn nhau chết một nửa

Lửa dữ cháy bừng bừng thiêu đốt cả ngọc đá, Một con chim ưng hung dữ khủng bố chim loan chim hoàng)

(Cảm hứng thi, nhị)

Nhà thơ đã phản ánh trực tiếp hiện thực đang diễn ra trước mắt mình với cảnh đánh chém, chết chóc rất khốc liệt giữa các thế lực phong kiến “Hỗ chiến giao tranh bán sát thương” Cùng với đó là những hình ảnh tượng trưng

“chim ưng, chim loan, chim hoàng” những hình ảnh thường thấy trong văn chương trung đại, chúng đều là những loài vật cao quý tượng trưng cho giai cấp thống trị phong kiến Hình ảnh chim ưng khủng bố chim loan, chim hoàng là lối viết ẩn dụ về sự mâu thuẫn, giết hại lẫn nhau trong nội bộ giai cấp thống trị giữa triều Lê - Mạc và nội bộ triều Lê

Có một điều cần phải được khẳng định trước tiên là tư tưởng “lấy dân làm gốc” là một trong những tư tưởng được Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cao và coi trong, ông đã từng khuyên giai cấp thống trị nên biết rằng:

Trang 39

Cổ lai quốc dĩ dân vi bản, Đắc quốc ưng trị tại đắc dân

(Xưa nay nước lấy dân làm gốc, Nên biết được nước là do được lòng dân)

(Cảm hứng thi, nhất)

Nhà thơ nhắc nhiều đến dân, coi trọng người dân nên chứng kiến cảnh chiến tranh xảy ra liên miên, gây nên những hậu quả nặng nề trên nhiều mặt của đời sống xã hội Chiến tranh đã gây ra những thương vong rất lớn khiến

xã tắc bị lung lay, quân lính mệt mỏi, tài sản nhà nước bị hao hụt nặng nề vì phải chi cho các trận chiến Chiến tranh làm hao tốn sức người, của cải vật chất, kinh tế kiệt quệ

Liên miên chinh phạt vương sư lão, Lũy thế chinh thâu quốc dụng đoàn

(Liền năm chinh phạt quân nhà vua mệt mỏi, Bao đời xâu thuế vận chuyển của nước kiệt quệ)

(Cảm hứng thi, bài 6)

Chính chiến tranh đã làm cho bao người dân vô tội phải sống trong cảnh cực khổ, điêu đứng, họ là những người phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất trong xã hội Họ vừa bị các tập đoàn phong kiến cát cứ từng vùng ra sức bóc lột để xây thành đắp lũy, chế tạo vũ khí, bị cướp mất quyền tự do, bị đối

xử tàn bạo phải bỏ quê đi khắp nơi tìm sự an toàn Nỗi khổ của người dân trở thành một nỗi ám ảnh trong các trang thơ viết về chiến tranh của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chưa ra quân để diệt sạch bọn giặc xấu xa, Dân gặp loạn nhiều người ly tán bốn phương

(Cảm hứng thi, bài 2)

Trang 40

Thương dân ta bị hãm trong đất giặc chiếm đã từ lâu,

Ai có thể cứu vớt thể hiện tấm lòng chí nhân

Hại đến cả trâu trong chuồng, hình ngục bừa bãi, Họa tới tận ngọc núi Côn, lửa thiêu cháy rụi

Bài thơ Thương loạn là một cái nhìn khái quát về cảnh loạn li, tan

thương mà chiến tranh đã gây ra

Chiến tranh hỗ tương tầm, Họa loạn chí thử cực

Trắc đát vô nhân đoan, Tàn sát hữu quỷ tặc

Cư ốc chiết vị tân, Canh ngưu đồ nhi thực

Nhương đoạt phi kỉ hóa, Hiếp dụ phi kỉ sắc

Ngày đăng: 30/06/2017, 12:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1997), Từ điển Văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
3. Nguyễn Đổng Chi (1942), Việt Nam cổ văn học sử, Nxb Hàn Thuyên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Việt Nam cổ văn học sử
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Hàn Thuyên
Năm: 1942
4. Nguyễn Huệ Chi (1983), Mấy vẻ mặt thi ca cổ đại, Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vẻ mặt thi ca cổ đại
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1983
5. Nguyễn Huệ Chi (1986), Nhìn từ nhân cách lịch sử đến dòng thơ tư duy thế sự, TCVH, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn từ nhân cách lịch sử đến dòng thơ tư duy thế sự
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1986
6. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên) (1991), Nguyễn Bỉnh Khiêm danh nhân văn hóa, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nguyễn Bỉnh Khiêm danh nhân văn hóa
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 1991
7. Nguyễn Phương Chi (1986), Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhà thơ lớn thế kỷ XVI, Báo Văn nghệ, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhà thơ lớn thế kỷ XVI
Tác giả: Nguyễn Phương Chi
Năm: 1986
8. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập III, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1992
9. Hà Minh Đức (chủ biên) (1999), Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
10. Hà Minh Đức (2001), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
11. Dương Quảng Hàm (2002), Việt Nam văn học sử yếu, (tái bản lần thứ tám), Nxb Hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn Việt Nam
Năm: 2002
12. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (2015), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2015
13. Nguyễn Phạm Hùng (2001), Trên hành trình văn học trung đại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên hành trình văn học trung đại
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
14. Lê Thị Hương (2007), Thơ thế sự Nguyễn Bỉnh Khiêm, TCVH, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ thế sự Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Lê Thị Hương
Năm: 2007
15. Nguyễn Thị Hương (2015), Cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ Phan Thúc Trực, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ Phan Thúc Trực
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Năm: 2015
16. Trần Đình Hượu (1986), Triết lý và thơ ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tạp chí triết học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý và thơ ở Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Trần Đình Hượu
Năm: 1986
17. Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1995
18. Đinh Gia Khánh (chủ biên) và giới thiệu (1976), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (Thế kỉ X đến thế kỉ XVII – tập II), Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (Thế kỉ X đến thế kỉ XVII
Tác giả: Đinh Gia Khánh (chủ biên) và giới thiệu
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 1976
19. Đinh Gia Khánh (chủ biên), Hồ Như Sơn, Bùi Duy Tân, (1983), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Đinh Gia Khánh (chủ biên), Hồ Như Sơn, Bùi Duy Tân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1983
20. Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương (2005), Văn học Việt Nam (Thế kỉ X – nửa đầu thế kỉ XVIII), (tái bản lần thứ tám), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (Thế kỉ X – nửa đầu thế kỉ XVIII)
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w