Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng bối
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN NHƯ HIỀN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN
Ở TRƯỜNG THCS NGUYỄN BỈNH KHIÊM, HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2013
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN NHƯ HIỀN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN
Ở TRƯỜNG THCS NGUYỄN BỈNH KHIÊM, HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Từ Đức Văn
HÀ NỘI – 2013
Trang 33
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC MÔN TOÁN CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý, chức năng, biện pháp quản lý
1.2.2 Quản lý giáo dục
1.2.3 Quản lý nhà trường
1.2.4 Hoạt động dạy và học
1.3 Hoạt động dạy học môn toán ở trường THCS
1.4 Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS
1.4.1 Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên
1.4.2 Quản lý hoạt động học tập của học sinh
1.4.3 Quản lý CSVC và phương tiện dạy học môn Toán
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở
trường THCS hiện nay
Tiểu kết chương 1
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN, QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN CỦA TRƯỜNG THCS NGUYỄN BỈNH
KHIÊM, HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Bảo thành phố
Hải Phòng
2.2 Khái quát về đặc điểm trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh
Bảo, thành phố Hải Phòng
2.3 Thực trạng hoạt động dạy học môn toán ở trường THCS Nguyễn Bỉnh
Khiêm, huyện Vĩnh Bảo
2.3.1 Thực trạng hoạt động giảng dạy của giáo viên
2.3.2 Thực trạng về hoạt động học tập của học sinh
Trang 44
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động day học môn toán ở trường THCS Nguyễn
Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
2.4.1 Thực trạng quản lí hoạt động giảng dạy của giáo viên
2.4.2 Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh
2.4.3 Thực trạng quản lý CSVC và PTDH Toán
2.5 Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở
trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
Tiểu kết chương 2
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở
TRƯỜNG THCS NGUYỄN BỈNH KHIÊM HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ
HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
3.1.3 Nguyên tắc đảm bào tính đồng bộ
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi và hiệu quả
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS
Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay
3.2.1 biện pháp 1: Tăng cường quản lý việc thực hiện nội dung chương trình
môn Toán đáp ứng mục tiêu môn học và nhiệm vụ của từng năm học
3.2.2 Biện pháp 2: Thường xuyên chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy
học của giáo viên và bồi dưỡng phương pháp học tập cho học sinh
3.2.3 Biện pháp 3: Quản lý sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, phương tiện dạy
học và tăng cường ứng dụng phương tiện dạy học hiện đại vào dạy học toán
3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng
giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường quản lý nề nếp, kỹ năng trong dạy và học
môn Toán
3.2.6 Biện pháp 6: Bồi dưỡng lý luận và nghiệp vụ quản lý cho CBQL đồng
thời tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn chuẩn hóa, nghiệp
Trang 55
vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên Toán
3.2.7 Biện pháp 7: Chú trọng xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh có
ảnh hưởng tích cực đến hoạt động giáo dục của nhà trường nói chung và hoạt
động dạy học môn Toán nói riêng
3.3 Mối quan hệ của các biện pháp
3.4 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
Tiểu kết chương 3
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1 Kết luận:
2 Khuyến nghị
2.1 Đối với UBND TP Hải Phòng, Sở GD & ĐT Hải Phòng
2.2 Đối với UBND huyện Vĩnh Bảo, Phòng GD&ĐT huyện Vĩnh Bảo
2.3 Đối với cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên Toán của trường THCS
Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng
* Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 6Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ: "Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" [4; Tr1]
Mặc dù đã đạt được những thành tựu trên nhưng hệ thống Giáo dục và Đào tạo nước ta vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc khoá VIII đã khẳng
định:“Giáo dục nước ta vẫn còn nhiều yếu kém bất cập cả về quy mô lẫn cơ cấu và
nhất là chất lượng ít hiệu quả, chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao về nhân lực và công cuộc đổi mới kinh tế, xã hội, xây dựng bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Để giải
quyết mâu thuẫn trên đòi hỏi chúng ta phải thay đổi quan niệm, nhận thức về giáo dục, phải hướng tới chất lượng giáo dục, điều đó đồng nghĩa với việc phải chú trọng nâng cao có hiệu quả hoạt động dạy và học trong các nhà trường
Trang 77
Giáo dục THCS là một trong những cấp học của giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục của nước ta, cấp THCS là cấp học cơ bản, là giai đoạn trung gian giữa Tiểu học và THPT Ở giai đoạn này, học sinh được cung cấp kiến thức cơ bản nhất, giáo dục và hình thành nhân cách, gắn với tâm sinh lý của lứa tuổi này cũng nhiều biến động Như vậy, các hoạt động dạy học ở các trường THCS là vô cùng quan trọng, là cơ sở cho các cấp học, bậc học cao hơn
Những năm gần đây sự nghiệp giáo dục và đào tạo của huyện Vĩnh Bảo nói chung và của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm là trường chất lượng cao của huyện Vĩnh Bảo nói riêng đã có những thay đổi mạnh mẽ, cơ bản và sâu sắc, luôn dẫn đầu khối ngoại thành về các phong trào giáo dục Bên cạnh những thành tựu cũng còn không ít những hạn chế, yếu kém nhiều mặt, trong đó nguyên nhân cơ bản là những hạn chế về quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy và học nói riêng, không theo kịp thực tiễn phát triển giáo dục của đất nước
Môn Toán là môn học quan trọng ở trường THCS, môn học có số tiết nhiều nhất trong tuần Công tác quản lý chất lượng dạy học nói chung, quản lý chất lượng dạy học môn Toán ở trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế Vì thế, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề quản lý chất lượng dạy học môn Toán nhằm tìm ra các biện pháp quản lý chất lượng dạy học bộ môn này là vấn đề cấp thiết
Từ lý luận và thực tiễn cho thấy việc quản lý hoạt động dạy và học môn Toán của các trường THCS trên địa bàn Huyện Vĩnh Bảo nói chung và của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng là rất cần thiết Xuất phát từ những lý do
trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng bối cảnh hiện nay” nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu
giáo dục phổ thông cơ sở nói riêng, giáo dục phổ thông thành phố Hải Phòng nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học bộ môn Toán
của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
Trang 88
trong bối cảnh hiện nay
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học môn Toán của trường THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
4 Giả thuyết khoa học
Chất lượng dạy học môn Toán của giáo viên và học sinh của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện nay chưa đồng đều, còn nhiều bất cập Nếu xây dựng và
áp dụng một cách sáng tạo, khoa học đồng bộ các biện pháp quản lý mang tính hệ thống, khả thi và hiệu quả thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán của nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc dạy học, quản lý hoạt động dạy học môn
Toán cấp THCS
5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động dạy học, quản lý hoạt
động dạy học môn Toán của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
5.3 Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã tìm hiểu đề xuất các biện pháp quản lý hoạt
động dạy học môn Toán của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng từ năm 2010 đến năm 2013
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 99
Nghiên cứu và phân tích các nguồn tư liệu, số liệu có sẵn về khoa học giáo dục, khoa học quản lý giáo dục và các tài liệu có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận chủ yếu của đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Gồm phiếu dành cho cán bộ
quản lý; dành cho giáo viên; dành cho học sinh nhằm thu thập thông tin về thực trạng quản lý dạy học môn Toán của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
7.2.2 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: Tham khảo các bản báo
cáo tổng kết năm học, kế hoạch năm học của trường, ngành và một số báo cáo hội thảo về công tác chuyên môn nhằm tổng kết các kinh nghiệm quản lý dạy học bộ
7.2.4 Phương pháp khảo nghiệm: Về tính khả thi của các biện pháp được đưa
ra trong luận văn
7.3 Phương pháp nghiên cứu bổ trợ
7.3.1 Phương pháp xử lý số liệu thống kê
7.3.2 Phương pháp so sánh để xử lý các kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo
và phụ lục, cấu trúc luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Toán cấp THCS
Chương 2: Thực trạng hoạt động dạy học môn Toán, quản lý hoạt động dạy học
môn Toán của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán của trường THCS
Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay
Trang 1010
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quản lý là một hoạt động mang tính lịch sử xã hội, nhờ có hoạt động quản lý
mà xã hội loài người không ngừng vận động và phát triển Theo Mác-Ănghen trong quá trình nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã rút ra kết luận, một trong những yếu tố quyết định đối với sự phát triển của nền sản xuất tư bản là nhờ
có vai trò của hoạt động quản lý
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục trong và ngoài nước, bên cạnh những công trình nghiên cứu có tính chất tổng quan về quản lý giáo dục thì các công trình nghiên cứu về quản lý nhà trường, quản lý các thành tố của quá trình
sư phạm trong nhà trường ngày càng chiếm vị trí quan trọng bởi nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một thiết chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục - đào tạo thế
hệ trẻ trở thành những công dân có ích cho xã hội
Nhà giáo dục học Xô-Viết: V.A Xukhomlinxki khi tổng kết những kinh nghiệm quản lý chuyên môn trong vai trò là người hiệu trưởng nhà trường đã cho
rằng: "Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công
việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động dạy học", V.A Xukhomlinxki
và Xvecxlerơ cùng nhấn mạnh đến biện pháp dự giờ, phân tích bài giảng, sinh hoạt
tổ chuyên môn Việc dự giờ, phân tích bài giảng của đồng nghiệp được coi là "đòn bẩy" để nâng cao chất lượng dạy học Việc phân tích bài giảng với mục đích là chỉ cho giáo viên thấy các thiếu sót để khắc phục, đồng thời nhận ra các mặt tích cực
để khuyến khích họ phát huy nhằm nâng cao chất lượng bài giảng
Đề tài khoa học công nghệ trọng điểm cấp Bộ của nhóm tác giả: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi (chủ nhiệm đề tài); PGS.TS Phạm Minh Hùng; PGS TS Thái
Văn Thành "Thực trạng và các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên" (2006)
Nhóm tác giả đó nêu lên nguyên tắc chung về nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên như: Xác định đầy đủ nội dung hoạt động chuyên môn; Xây dựng hoàn
Trang 11Các tác giả, các nhà nghiên cứu và các nhà QLGD như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Cảnh Toàn, Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Viết Vượng, đã có nhiều công trình nghiên cứu về QLGD, quản lý nhà trường Các công trình này đi sâu vào lý luận QLGD nói chung, ở phương diện quản lý cụ thể một môn học ở trường phổ thông trong đó có môn Toán ở cấp THCS thì chưa được đề cập nhiều Trong những năm gần đây lý luận
về quản lý các môn học trong nhà trường phổ thông đã được quan tâm, nhất là trong các luận văn về QLGD
Đối với môn Toán ở trường phổ thông, nhiều công trình nghiên cứu của nhiều chuyên gia cũng đã đề cập ít nhiều về phương diện quản lý quá trình dạy học môn Toán sao cho có hiệu quả nhất Tiêu biểu có thể kể đến một số công trình
nghiên cứu có giá trị như: Phương pháp dạy học đại cương môn Toán của tác giả Nguyễn Bá Kim (2010); Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở
trường Phổ thông của tác giả Bùi Văn Nghị (2009); Cẩm nang dạy và học môn Toán trung học cơ sở của tác giả Vũ Hữu Bình (2007)
Nhìn chung các công trình trên đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường hay quản lý quá trình dạy học nói chung mà ít đề cập đến các giải pháp cụ thể để quản lý chất lượng dạy học từng bộ môn đặc biệt chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về quản lý chất lượng dạy học môn Toán ở các trường THCS
Từ việc kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu
cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học môn Toán, đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán của trường THCS
Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay
Trang 1212
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý, chức năng, biện pháp quản lý
1.2.1.1 Khái niệm “Quản lý”
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, hoạt động quản lý đã xuất hiện rất sớm Từ khi con người biết tập hợp lại với nhau, tập trung sức lực để tự vệ hoặc kiếm sống, thì bên cạnh lao động chung của mọi người đã xuất hiện những hoạt động tổ chức, phối hợp điều khiển đối với họ Những hoạt động đó xuất hiện, tồn tại và phát triển như một yếu tố khách quan, là cơ sở cho các hoạt động chung
của con người đạt được kết quả mong muốn K.Marx đã viết: “Một người độc tấu
vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” Như vậy, đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức,
điều khiển các hoạt động của con người theo những yêu cầu nhất định được gọi là hoạt động quản lý Từ đó có thể hiểu là lao động và quản lý không tách rời nhau, quản lý là hoạt động điều khiển lao động chung Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất thì trình độ tổ chức, điều hành tất yếu được nâng lên, phát triển theo những đòi hỏi ngày càng cao hơn Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, quản lý đã trở thành một ngành khoa học và ngày càng phát triển toàn diện
Quản lý là một hiện tượng xã hội được hình thành và phát triển cùng với sự
xuất hiện, phát triển của xã hội loài người Nó bắt nguồn và gắn chặt với sự phân
công, hợp tác lao động Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia, mọi thời đại Quản lý là một dạng hoạt động xã hội đặc thù, trở thành một nhân tố của
sự phát triển xã hội, một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ
và liên quan đến mọi người Có thể nói quản lý là một trong những loại hình lao động có hiệu quả nhất, quan trọng nhất
Khái niệm quản lý (management) là khái niệm rất chung, tổng quát Trong quá trình nghiên cứu của lý luận khoa học quản lý, tùy theo góc độ tiếp cận mà khái niệm này được quan niệm theo nhiều cách khác nhau
Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich đưa ra khái niệm: “Quản
lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm bảo đảm sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình
Trang 13Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí nhấn mạnh: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho
tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10; Tr.1]
Tác giả Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là quá trình dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống
đó sang một trạng thái mới” [28; Tr.363]
Tác giả Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản
lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực)
một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [24; Tr.8]
Các khái niệm trên tuy có khác nhau về cách diễn đạt, nhưng chúng đều có chung những dấu hiệu chủ yếu sau: Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích; Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân, là sự lựa chọn các khả năng tối ưu nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức đã đề ra
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời
cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động 1.2.1.2 Chức năng quản lý
Trang 1414
Quản lý một thuộc tính gắn liền với xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội
Để đảm bảo thực hiện được hai chức năng này, hoạt động quản lý bao gồm bốn chức năng cụ thể: Lập kế hoạch; tổ chức; lãnh đạo chỉ đạo; kiểm tra đánh giá
- Chức năng kế hoạch: Là một chức năng, một khâu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý, lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của một tổ chức, chỉ ra các hoạt động, những biện pháp cơ bản và các điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đó Kế hoạch là nền tảng của quản lý,
là sự quyết định lựa chọn đường lối hành động của một tổ chức và các bộ phận của
nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức
- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả Ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau Nhờ tổ chức hiệu quả mà người quản
lý có thể phối hợp điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và các nguồn lực khác Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực
- Chức năng lãnh đạo chỉ đạo: Là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của mình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức Vai trò của người chỉ đạo là phải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng mọi người trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị
- Chức năng kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản lý, quản lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý Nhờ có hoạt động kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những hạn chế từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo
Trang 15- Biện pháp hành chính- tổ chức: Là biện pháp tác động đến đối tượng quản
lý trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính trong hệ thống quản lý do nhà nước đặt ra Đó là các mối quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, giữa bộ phận và tập thể Bất kỳ một bộ máy quản lý nào cũng được quy định tính chất các mối quan hệ đó
Đặc trưng của biện pháp này là sự cưỡng bức đơn phương của chủ thể quản
lý đến đối tượng quản lý Trong thực tế quản lý, muốn đạt hiệu quả cao, chủ thể quản lý phải vận dụng tổng hợp các biện pháp trên vì mỗi biện pháp quản lý đều có những mặt mạnh, mặt yếu riêng Nhà quản lý phải biết sử dụng một cách hài hoà giữa các biện pháp để phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu của từng biện pháp, tạo nên sức mạnh tổng hợp, mang lại hiệu quả thiết thực trong từng tình huống quản lý
cụ thể
- Biện pháp kinh tế: Là biện pháp tác động đến đối tượng quản lý thông qua
các lợi ích kinh tế Mà cơ sở của nó là các quy luật kinh tế
Đặc trưng của biện pháp này là kích thích đối tượng quản lý phấn khởi, chủ động, sáng tạo hành động, thực hiện nhiệm vụ để đạt những lợi ích kinh tế nhất định Đây là biện pháp hiện đại, tiên tiến, đạt hiệu quả cao trong quản lý vì nó phát huy cao độ tính chủ động, tích cực, năng động, sáng tạo của đối tượng quản lý, hướng đến năng suất lao động tối đa Biện pháp này không phụ thuộc nhiều vào các quan hệ tổ chức và hành chính, vì vậy cả chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đều cảm thấy chủ động, thoải mái hơn, giảm bớt hoạt động có tính chất sự vụ của nhà quản lý
Trang 1616
Thực hiện biện pháp kinh tế đòi hỏi nhà quản lý phải có kiến thức và kinh nghiệm sâu rộng để có thể định hướng hành động cho đối tượng quản lý bằng các nhiệm vụ, kế hoạch, hợp đồng với những chỉ tiêu số lượng, chất lượng rõ ràng, với những định mức cụ thể, chế độ thưởng phạt nghiêm minh, đảm bảo kỷ cương, theo pháp luật trong mọi trường hợp
- Biện pháp tâm lý - giáo dục: Là biện pháp tác động vào nhận thức con
người, làm cho con người nhận thức đúng nhiệm vụ, tự nguyện thực hiện yêu cầu của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp
Đặc điểm của biện pháp này là dựa vào các quy luật tâm lý- xã hội để bồi dưỡng tình cảm, xây dựng lòng tin, ý chí nghị lực, tinh thần trách nhiệm trước tập thể, trước uy tín của tổ chức Nên dùng người có uy tín để thuyết phục đối tượng, quá trình thuyết phục phải tôn trọng danh dự và nhân cách người nghe Điều rất quan trọng là phải lấy sự thay đổi hành vi cụ thể làm thước đo sự thay đổi nhận thức và phải kiên trì thuyết phục trước khi áp dụng biện pháp khác Ngày nay, vai trò của biện pháp giáo dục, thuyết phục càng được coi trọng
Tóm lại, biện pháp quản lý là cách làm, cách giải quyết những công việc cụ thể của công tác quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Hay nói cách khác, biện pháp quản lý là những phương pháp quản lý cụ thể trong những sự việc cụ thể, đối tượng cụ thể và tình huống cụ thể
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lý giáo dục là khái niệm
đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ của nó, đặc biệt là quản lý trường học)
“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội
Trang 17Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng những nhân tố đặc trưng bản chất sau:
- Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ở tầm vĩ mô là quản lý của nhà nước mà
cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở, phòng giáo dục, ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng nhà trường
- Phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chương trình kế hoạch thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội phải có một lực lượng đông đảo những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất tương ứng
- Quản lý giáo dục có tính xã hội cao Bởi vậy, cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội: Kinh tế, Chính trị, Văn hoá, An ninh quốc phòng phục vụ công tác giáo dục
- Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong
đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất
1.2.3 Quản lý nhà trường
1.2.3.1 Trường học
Trường học là một tổ chức giáo dục ở cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Trong nhà trường hoạt động trung tâm là hoạt động dạy và học, tất cả
Trang 1818
các hoạt động đa dạng khác đều hướng tới làm tăng hiệu quả của quá trình dạy và học Vì vậy quản lý trường học nói chung và quản lý trường THCS nói riêng theo
tác giả Phạm Thị Tuyết Oanh có bản chất là: “Quản lý hoạt động dạy – học, tức là
làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến
đến mục tiêu giáo dục” [32; Tr.35]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó
diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố Thầy - Trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở.” [1; Tr.63]
Trường học là hạt nhân của hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời cũng là phần tử của xã hội, thực hiện thể chế chuyên biệt của xã hội, của Nhà nước, có chức năng đào tạo thế hệ trẻ, có mục tiêu rõ ràng, có tổ chức rất chặt chẽ, được Nhà nước cung cấp các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các chức năng của mình Trường học có mối quan hệ mật thiết với môi trường kinh tế - chính trị - văn hóa, xã hội Với tư cách là một phần tử trong hệ thống giáo dục quốc dân nên trường học có nhiệm vụ và quyền hạn theo chế định của Luật giáo dục
1.2.3.2 Quản lý nhà trường
Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường là
cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trường học được hiểu là tổ chức cơ
sở mang tính Nhà nước - Xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục- đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và
do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới".[35; Tr.43]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực
Trang 19Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi bản chất hoạt động
sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được
xã hội thừa nhận
Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thành công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường Vì vậy muốn thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục người quản lý phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phải trú trọng tới việc cải tiến công tác quản lý giáo dục để quản lý có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường
1.2.4 Hoạt động dạy học
1.2.4.1 Dạy học
Nhiều tác giả cho rằng: “Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người” [11], [22], Quan niệm này lý giải đầy đủ cách mà nền giáo dục đang cố gắng đào tạo những con người thích ứng với những nhu cầu hiện tại của xã hội Tuy nhiên quan niệm này
Trang 2020
làm cho nền giáo dục luôn đi sau sự phát triển của xã hội Bởi vì nó chỉ có nhiệm
vụ tái hiện lại các giá trị tinh thần xã hội đã được vật chất hóa bằng cách nào đó để trở lại thành giá trị tinh thần bên trong người học Quan niệm đó hạn chế nền giáo dục hướng đến một phương pháp giáo dục giúp cho người học trở thành những con người sáng tạo, vượt qua được những giá trị tinh thần hiện có của xã hội Thời đại của chúng ta, và hơn nữa xã hội chúng ta đang hướng đến một xã hội tri thức Một
xã hội mà tri thức của con người đang được số hóa với một tốc độ cực lớn, làm cho tri thức dễ dàng và nhanh chóng trở thành tài sản chung Tuy nhiên, xã hội tri thức không chỉ có nhiệm vụ tích hợp các kiến thức của con người đã đạt được trong những phương tiện lưu trữ dung lượng cực lớn, trong các cơ sở dữ liệu khổng lồ
mà còn có nhiệm vụ từ đó nhân lên khối lượng kiến thức này thành các kiến thức mới có chất lượng cao hơn nữa
Triết học Mác nói rằng “Lượng đổi thì chất đổi Lượng thay đổi một cách tiệm tiến còn chất thì thay đổi một cách nhảy vọt” Phạm trù về mối tương quan giữa lượng và chất này hoàn toàn đúng trong các hoạt động giáo dục Người ta đã tính ra rằng khối lượng kiến thức hiện nay của nhân loại trong vòng 20 năm trở lại đây đã tăng bằng tổng khối lượng kiến thức mà nhân loại đạt được trong toàn bộ lịch sử trước đó của nó Sự tăng về khối lượng kiến thức đó nhất thiết phải kéo theo sự thay đổi về chất tri thức của con người Sự thay đổi về chất đó là gì? Con người của thời đại hiện tại không chỉ có nhiệm vụ học tập và nhớ các kiến thức sẵn
có mà còn đòi hỏi con người phải có khả năng từ khối lượng tri thức đó sản sinh ra các giá trị vật chất và tinh thần mới và nắm bắt tri thức mới Thời đại của máy tính và mạng Internet đã làm cho mọi biên giới văn hóa, kinh tế dần bị xóa nhòa Nếu trước đây việc tìm kiếm sở hữu tri thức là quan trọng hàng đầu trong cuộc đấu tranh sinh tồn, việc tích lũy kiến thức (nhớ) là ưu tiên một thì giờ đây khi mà các phương tiện lưu trữ đã quá đầy đủ, quá sẵn sàng cho việc truy cập và xử lý thì ưu tiên một lại là khả năng nhanh chóng tiếp cận tri thức mới, khả năng vận dụng tri thức mới và khả năng "đẻ" ra tri thức mới Một ví dụ rất rõ ràng là trong vòng vài tháng thì công nghệ phần cứng của máy tính lại có một công nghệ mới, trong vòng vài năm thì Microsoft (chưa kể đến các hãng phần mềm khác) lại xuất ra một
Trang 21“Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học”
1.2.4.2 Hoạt động dạy học
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo "Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích luỹ được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân" [2; Tr.78]
Hoạt động dạy học giúp người học lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách của người học Vai trò chủ đạo của hoạt động được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học của người học, giúp người học nắm được kiến thức, hình thành kĩ năng, thái độ
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động khác trong nhà trường, là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để giúp học sinh lĩnh hội tri thức của loài người
Trang 2222
Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có
hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động và đời sống Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu Tổ quốc, yêu XHCN, đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của học sinh
Vì vậy, có thể nói hoạt động dạy học trong nhà trường đã tô đậm chức năng
xã hội của nhà trường, đặc trưng nhiệm vụ của nhà trường là hoạt động giáo dục làm trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường
1.2.4.3 Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học chính là điều khiển quá trình dạy học, cho quá trình đó vận hành có khoa học, có tổ chức theo những quy luật khách quan và được
sự chỉ đạo, giám sát thường xuyên nhằm thực hiện mục tiêu dạy học
Để quản lý hoạt động dạy học hiệu quả, nhà quản lý phải dựa trên cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn để điều hành hoạt động
Cơ sở pháp lý hiện nay đó là Luật giáo dục, Điều lệ trường Trung học, Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD – ĐT về thực hiện nhiệm vụ năm học ban hành từng năm, các chương trình, kế hoạch dạy học, …
Cơ sở thực tiễn là tình hình phát triển giáo dục của thế giới, của đất nước, của địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình phát triển của quá trình dạy học trong nhà trường; thực tiễn phát triển về qui mô, chất lượng, cơ sở vật chất của nhà trường cũng như tình hình đội ngũ cán bộ- giáo viên- nhân viên hiện có,…
Trên cơ sở pháp lý và thực tiễn đó, nhà quản lý cần thực hiện được những nội dung sau đây trong quản lý hoạt động dạy học :
- Một là phải xây dựng kế hoạch năm học
- Hai là phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động trong nhà trường
- Ba là việc chỉ đạo thực hiện mục tiêu, chương trình dạy học
- Bốn là chỉ đạo xây dựng nền nếp dạy học
- Năm là chỉ đạo các hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên
Trang 2323
- Sáu là sự kết hợp giữa giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, các tổ chức Đoàn thể, Hội cha mẹ học sinh góp phần phối hợp hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh
- Bảy là chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học
- Tám là chỉ đạo hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học
1.3 Hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS
1.3.1 Vị trí, vai trò môn Toán trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng
Môn Toán là một môn khoa học tự nhiên, là một môn học chiếm vị trí đặc biệt quan trọng và không thể thiếu trong chương trình giáo dục phổ thông Điều này xuất phát từ đặc trưng của môn Toán đó là tính trừu tượng cao và tính thực tiễn phổ thông đồng thời có tính logic chặt chẽ và tính thực nghiệm
Môn Toán có vai trò, vị trí và ý nghĩa hết sức quan trọng trong nhà trường phổ thông nói riêng và trường THCS nói riêng bởi những lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, môn Toán có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung giáo dục phổ thông, góp phần phát triển nhân cách người học Cùng với việc giúp cho học sinh hình thành những tri thức và kĩ năng rèn luyện tư duy khoa học cơ bản thì môn Toán có tác dụng góp phần phát triển năng lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa , rèn luyện phẩm chất, những đức tính của người lao động như óc thẩm mỹ và tính phê phán, tính chính xác, tính sáng tạo, tính kỉ luật Đây là những đức tính, phẩm chất rất cần thiết của người lao động trong thời đại ngày nay
Thứ hai, môn Toán cung cấp vốn văn hóa Toán học phổ thông cho học sinh một cách có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh bao gồm kiến thức, kĩ năng và tư duy
Thứ ba, môn Toán còn là “công cụ” giúp cho việc dạy và học các môn học khác Do tính trừu tượng cao và tính thực tiễn phổ dụng nên những kiến thức và kĩ năng Toán học cùng với những phương pháp làm việc trong Toán học đã trở thành công cụ để học tập các môn học khác trong nhà trường, là công cụ của nhiều ngành
Trang 24Luật Giáo dục nước ta quy định về mục tiêu giáo dục phổ thông như sau:
“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” (Luật Giáo dục 2009, chương II, điều 27, mục 1) [37; Tr20]
Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục phổ thông và từ đặc điểm, vai trò, vị trí và ý nghĩa của môn Toán, sau khi tốt nghiệp nhà trường phổ thông, học sinh phải đạt được các mục tiêu sau đây:
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng, phương pháp Toán học phổ thông cơ bản, thiết thực
- Góp phần quan trọng vào việc phất triển năng lực trí tuệ, hình thành khả năng suy luận đặc trưng của Toán học cần thiết cho cuộc sống
- Góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất, phong cách lao động khoa học, biết hợp tác lao động, có ý chí và thói quen tự học thường xuyên
Tất cả các mục tiêu trên tạo cơ sở để học sinh tiếp tục học lên các trường cao đẳng, đại học, THCN, các trường nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động với những yêu cầu cụ thể cần đạt được về các mặt tri thức và kĩ năng, tư duy và thái độ
Luật Giáo dục nước ta cũng quy định mục tiêu, giáo dục cụ thể cho cấp học THCS như sau:
“Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.” (Luật Giáo dục 2009, chương II, điều 27, mục 3), [37; Tr20]
Trang 2525
Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục, yêu cầu cụ thể đối với cấp học THCS, từ đặc điểm, vai trò, vị trí và ý nghĩa của môn Toán trong nhà trường phổ thông thì môn Toán ở trường THCS phải thực hiện được các mục tiêu cụ thể sau đây:
Một là cung cấp cho học sinh những kiến thức, phương pháp Toán học phổ thông cơ bản, thiết thực, cụ thể là:
- Những kiến thức mở đầu về số (số tự nhiên đến số thực), về các biểu thức đại
số, về phương trình bậc nhất, bậc hai, về hệ phương trình, bất phương trình, tương quan hàm số và vẽ được một vài đồ thị hàm số bậc nhất, bậc hai dạng đơn giản
- Một số hiểu biết ban đầu về thống kê mô tả
- Những kiến thức mở đầu về hình học phẳng, quan hệ bằng nhau và đồng dạng của các tam giác Một số yếu tố về lượng giác và một số vật thể trong không gian
- Những hiểu biết ban đầu về một số phương pháp Toán học: Dự đoán và chứng minh, quy nạp và suy diễn, phân tích và tổng hợp,
Hai là hình thành và rèn luyện các kĩ năng: Tính toán và sử dụng bảng số, máy tính bỏ túi; thực hiện các phép biến đổi các biểu thức đại số; giải được phương trình, bất phương trình bậc nhất một ẩn, phương trình bậc hai một ẩn, hệ phương trình bậc nhất hai ẩn; vẽ hình, đo đạc, ước lượng Bước đầu hình thành khả năng vận dụng kiến thức Toán học vào đời sống và các môn học khác
Ba là rèn luyện khả năng suy luận hợp lý và logic, khả năng quan sát, dự đoán, phát triển trí tưởng tượng không gian Rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ chính xác, bồi dưỡng các phẩm chất của tư duy linh hoạt, độc lập và sáng tạo Bước đầu hình thành thói quen tự học, diễn đạt chính xác và rõ ràng suy nghĩ của mình và hiểu được ý tưởng của người khác Góp phần hình thành các phẩm chất lao động khoa học cần thiết của người lao động mới (Chương trình THCS)
1.3.3 Cấu trúc nội dung, phân phối chương trình, chuẩn kiến thức kĩ năng của môn Toán cấp THCS
1.3.3.1 Nội dung giáo dục Toán học
Trang 2626
Do tính toàn diện của nội dung giáo dục phổ thông và của mục tiêu dạy học môn Toán nên nội dung giáo dục của bộ môn này được hiểu theo nghĩa rộng, nó bao gồm:
Thứ nhất: Những khái niệm, định nghĩa, mệnh đề, định lý với tư cách là những yếu tố của những lý thuyết của khoa học Toán học
Thứ hai: Những phương pháp, những quy tắc có tính chất thuật giải, suy đoán cùng với những kí hiệu thích hợp thể hiện phương pháp luận của khoa học Toán học cùng với các hoạt động trí tuệ và thực tiễn
Thứ ba: Những ý tưởng về thế giới quan, chính trị và đạo đức xã hội trực tiếp hay gián tiếp liên hệ với khoa học Toán học
Như vậy, nội dung môn Toán không chỉ bao gồm những yếu tố của những lý thuyết Toán học mà còn là cả những phương pháp làm việc, những ý tưởng về thế giới quan, chính trị và đạo đức xã hội làm cơ sở để môn Toán góp phần xứng đáng cho việc giáo dục toàn diện, phát triển nhân cách học sinh
1.3.3.2 Nội dung Toán học
Mặc dù nội dung giáo dục Toán học được hiểu theo nghĩa rộng như trên nhưng những yếu tố Toán học là bộ phận quan trọng của nội dung đó
Những đối tượng của môn Toán thoạt nhìn rất đa dạng, phức tạp nhưng khi xem xét kĩ sẽ thấy có thể quy về chỉ gồm hai loại và các mối quan hệ giữa chúng,
1.3.3.3 Chương trình Toán THCS
Chương trình Toán THCS hiện nay căn cứ vào Chương trình Giáo dục phổ thông cấp THCS, ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGD-ĐT ngày 05 tháng
Trang 2727
05 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và quyết định số: 7608 /BGDĐT-GDTrH V/v: Khung PP chương trình THCS, THPT năm học 2009-2010 ngày 31 tháng 8 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT (Có phụ lục chi tiết đính kèm)
Ghi chú (Số tiết theo môn của chương trình bắt buộc)
Lý thuyết
Luyện tập
Kiểm tra Bám sát Nâng cao Bài tập Thực hành Ôn tập
6 I
72 43tiết 14tiết 2 tiết 8 tiết 5 tiết 40 tiết
(SH:32 HH: 8)
40 tiết (SH: 32;
HH: 8)
Số học: 58 tiết Hình học:14 tiết
II 68 41tiết 13tiết 2 tiết 7 tiết 5 tiết
Số học: 53 tiết Hình học:15 tiết
7
I 72 43tiết 14tiết 2 tiết 8 tiết 5 tiết (ĐS:20 40 tiết
HH:20)
40 tiết (ĐS: 20;
HH: 20)
Đại số: 40 tiết Hình học:32 tiết
II 68 41tiết 13tiết 2 tiết 7 tiết 5 tiết
Đại số: 30 tiết Hình học:38 tiết
8
I 72 43tiết 14tiết 2 tiết 8 tiết 5 tiết (ĐS:2040 tiết
HH:20)
40 tiết (ĐS: 20;
HH: 20)
Đại số: 40 tiết Hình học:32 tiết
II 68 41tiết 13tiết 2 tiết 7 tiết 5 tiết
Đại số: 30 tiết Hình học:38 tiết
9
I 72 43tiết 14tiết 2 tiết 8 tiết 5 tiết (ĐS:2040 tiết
HH:20)
40 tiết (ĐS: 20;
HH: 20)
Đại số: 36 tiết Hình học:36 tiết
II 68 41tiết 13tiết 2 tiết 7 tiết 5 tiết
Đại số: 34 tiết Hình học:34 tiết Hiện nay, chương trình Toán THCS vẫn thực hiện 140 tiết/lớp/năm học, nhưng được kéo dài chương trình thực hiện trong 37 tuần và một số nội dung chi tiết trong một số nội dung của chương trình có sự điều chỉnh theo chuẩn kiến thức kĩ năng để phù hợp với giảm tải nội dung chương trình theo sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT
1.3.4 Hoạt động dạy học môn Toán cấp THCS trong chương trình đổi mới hiện nay
1.3.4.1 Hoạt động giảng dạy của giáo viên
Vận dụng quan điểm hoạt động trong dạy học môn Toán, giáo viên không chỉ đơn giản là cung cấp kiến thức cho học sinh, mà là thiết kế, tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập cho học sinh
Quy trình dạy học đổi mới hiện nay và được giáo viên vận dụng vào hoạt động giảng dạy môn Toán cấp THCS thường theo các giai đoạn sau: (1) Chuẩn bị; (2) Thực thi - Kế hoạch bài dạy; (3) Đánh giá cải tiến
(1) Giai đoạn chuẩn bị, bao gồm các bước cơ bản là:
Trang 2828
Thứ nhất: Phân tích nhu cầu Để thực hiện khâu này, người giáo viên phải xác định được vị trí của môn Toán (bài đang dạy) trong nội dung chương trình của lớp học, cấp học; điều tra đối tượng học sinh (nắm bắt được kiến thức nền của học sinh, hiểu rõ phong cách học, hứng thú của học sinh với môn học ); nghiên cứu điều kiện vật chất - kỹ thuật hỗ trợ việc dạy và học Toán
Thứ hai: Xác định mục tiêu môn học, bài học cụ thể
Thứ ba: Lập kế hoạch dạy - học nói chung và soạn giáo án bài học (chuẩn bị tài liệu dạy - học, SGK, chuẩn bị các PPDH, PTDH Toán hiệu quả nhất, các hình thức tổ chức dạy học, chuẩn bị các hình thức kiểm tra đánh giá)
(2) Giai đoạn thực thi, bao gồm các bước cơ bản là:
Thứ nhất: Xác định mục tiêu chi tiết của bài dạy
Thứ hai: Lựa chọn sắp xếp nội dung dạy học (thường thực hiện theo nội dung chương trình SGK Toán THCS)
Thứ ba: Lựa chọn PPDH, PTDH, hình thức tổ chức dạy học, hình thức và phương pháp kiểm tra - đánh giá
Thứ tư: Đánh giá kết quả học tập của học sinh
(3) Giai đoạn đánh giá cải tiến, bao gồm các bước cơ bản là:
Thứ nhất: Lưu giữ hồ sơ tài liệu
Thứ hai: Lập kế hoạch đánh giá cải tiến sau 1 bài, sau 1 chương, sau 1 học kì
và sau 1 năm học
Những tư liệu làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch đánh giá cải tiến có thể là: Quan sát, đánh giá của chính giáo viên; đánh giá của đồng nghiệp sau dự giờ; đánh giá của CBQL trường, tổ chuyên môn; thông tin phản hồi từ phía học sinh về hoạt động dạy học; thông tin phản hồi từ các bài kiểm tra - đánh giá mà học sinh thực hiện trong quá trình dạy học; kết quả học tập của học sinh sau 1 học kì, sau 1 năm học
Trong hoạt động dạy của mình, giáo viên có thể vận dụng quan điểm hoạt động để gợi vấn đề, phát hiện và giải quyết vấn đề, trang bị, củng cố, mở rộng tri thức, rèn luyện các hoạt động trí tuệ, rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng năng lực phẩm chất cho học sinh
Trang 2929
Về PPDH Toán, ngoài các PPDH truyền thống đã được khẳng định những
ưu điểm và hạn chế trong những hoạt động dạy học cụ thể như: Phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp, sử dụng phương tiện trực quan vv Những xu hướng dạy học không truyền thống gần đây như: Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác theo nhóm, dạy học chương trình hóa, dạy học phân hóa
đã thực sự phát huy hiệu quả, nếu giáo viên sử dụng hợp lý và sáng tạo trong hoạt động giảng dạy của mình thì sẽ đạt được kết quả dạy học mong muốn
Về PTDH Toán, những PTDH thông dụng đã khẳng định tầm quan trọng và chức năng trong hoạt động dạy học Toán như: Phương tiện nghe, nhìn, mô hình, đồ dùng trực quan, dụng cụ dạy và học Toán; SGK, tài liệu dạy và học Toán vv Hiện nay, CNTT và truyền thông cũng được sử dụng như công cụ dạy học và phát huy hiệu quả to lớn đến kết quả và mục tiêu dạy học như: Máy vi tính nối mạng internet, các phần mềm Toán học, sử dụng máy trình chiếu đa năng, hệ multimedia, thiết kế giáo án điện tử vv
Người thầy, với vai trò chủ đạo, người thiết kế, tổ chức các hoạt động nhận thức cho người học, cần xác định: Phải tạo điều kiện để học sinh được học và phải học một cách tích cực, không làm thay cho học sinh; căn cứ vào đặc điểm tâm lý nhận thức của học sinh THCS, đặc điểm đối tượng trong hoạt động dạy học môn Toán từng lớp, từng nhóm học sinh; giáo viên cần phải tạo ra các tình huống học tập sao cho hấp dẫn, vừa sức để học sinh thấy rõ nhiệm vụ nhận thức, chỉ cần các
em tích cực học tập là đạt được kết quả
1.3.4.2 Hoạt động học tập của học sinh
Hoạt động học tập của học sinh được thực hiện một cách tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo với sự hướng dẫn và tổ chức sư phạm của thầy nhằm đạt được mục tiêu dạy học
Tính tích cực học tập thể hiện ở chỗ: Hưởng ứng và thấy rõ bổn phận thực hiện những yêu cầu đặt ra trong tình huống học tập; chịu khó suy nghĩ trả lời các câu hỏi, tự giác thực hiện các hoạt động dưới sự hướng dẫn của thầy để có được những tri thức mới, nhận thức mới và kỹ năng mới; đồng thời quyết tâm hoàn thành công việc của mình, hợp tác cùng bạn học để hoàn thành mục tiêu học tập
Trang 3030
Tính tích cực thể hiện ở tính chuyên cần trong hành động và tính sâu sắc trong các hoạt động trí tuệ; thể hiện trong việc tìm kiếm, xử lý thông tin và vận dụng chúng vào giải quyết các nhiệm vụ học tập, liên hệ với thực tiễn cuộc sống; thể hiện trong sự tìm tòi, khám phá những vấn đề mới có tính sáng tạo của mỗi cá nhân
Tính tự giác, chủ động của học sinh trong hoạt động học tập không chỉ là làm theo những gì đã được định sẵn, những gì được giáo viên yêu cầu mà hơn thế mỗi học sinh còn biết xây dựng cho riêng mình kế hoạch nhiệm vụ học tập và thực hiện tốt theo kế hoạch
Tính tích cực, tự giác, chủ động, của học sinh trong hoạt động học tập là điều kiện cần để sáng tạo Những biểu hiện của tính sáng tạo trong hoạt động học tập như: Biết nhìn nhận một vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau; biết đặt ra những giả thuyết khi phải xử lý một tình huống; không máy móc áp dụng những quy tắc, phương pháp đã biết, những gì đã có vào những tình huống mới
Tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập thể hiện ở sự tập trung chú ý vào các vấn đề đang học; ở sự tự nguyện tham gia xây dựng bài (trả lời các câu hỏi và yêu cầu hoạt động của thầy); hăng hái tham gia thảo luận, tranh luận với bạn học, với thầy những suy nghĩ về nội dung học tập
và đạt được kết quả học tập tối ưu nhất
Để học sinh thực hiện một cách tích cực tự giác, chủ động và sáng tạo trong hoạt động học tập Người thầy, giáo viên Toán THCS phải nắm vững lý luận dạy học bộ môn Toán cùng với trình độ chuyên môn về Toán học phải chắc tay đồng thời hiểu rõ đối tượng học sinh của mình trong quá trình dạy học: Xây dựng những quy định về nề nếp, kỷ luật trong học tập; giáo dục ý thức, thái độ học tập tích cực cho các em; bồi dưỡng PPHT tích cực cho học sinh; phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường quản lý hoạt động học tập của học sinh; phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường quản lý hoạt động học tập của học sinh nhằm đạt kết quả dạy học mong muốn
1.4 Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS
1.4.1 Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên
Trang 3131
Hoạt động giảng dạy của thầy là hoạt động chủ đạo trong quá trình dạy học, quản lý hoạt động này bao gồm những nội dung cơ bản sau:
1.4.1.1 Quản lý việc phân công giảng dạy cho giáo viên
Phân công giảng dạy cho giáo viên nói chung, cho giáo viên Toán nói riêng thực chất là công tác tổ chức - cán bộ, quản lý nguồn nhân lực của nhà trường CBQL, BGH nhà trường phải nắm được chất lượng đội ngũ hiện có; biết được mặt mạnh, mặt yếu về chuyên môn của từng giáo viên, hiểu được nguyện vọng, tâm lý tình cảm, sức khỏe và hoàn cảnh gia đình họ
Phân công giảng dạy, sử dụng đúng người, đúng việc làm cho giáo viên tự tin trong nghề nghiệp, có tinh thần cộng tác, học hỏi, đoàn kết, giúp họ phấn đấu hết sức mình để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
Phân công giảng dạy cho giáo viên đúng khả năng của họ sẽ là điều kiện cần
để đảm bảo kết quả dạy học tối ưu, cũng cần quan tâm tới định mức công việc, tới đặc điểm từng lớp học, đối tượng học sinh để đảm bảo mục tiêu dạy học bộ môn và mục tiêu giáo dục chung của cả cấp học
1.4.1.2 Quản lý việc thực hiện nội dung chương trình Toán THCS
Thực hiện nội dung chương trình môn Toán nhằm đáp ứng mục tiêu dạy học
bộ môn đã được quy định trong chương trình giáo dục phổ thông là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi giáo viên Toán của các nhà trường Đây là quy định của Bộ GD&ĐT và mang tính Pháp lệnh của Nhà nước Vì vậy, giáo viên phải lập kế hoạch giảng dạy bộ môn chi tiết, thường xuyên cho cả năm học CBQL nhà trường theo dõi, đánh giá việc thực hiện nội dung chương trình của giáo viên hàng tuần, hàng tháng thông qua hệ thống quản lý chuyên môn như: Thực hiện thời khóa biểu, đăng ký giảng dạy hàng tuần, ghi chép sổ đầu bài, dự giờ thăm lớp v v
1.4.1.3 Quản lý việc chuẩn bị lên lớp của giáo viên
Kết quả của quá trình dạy học nói chung, đối với môn Toán và cụ thể từng bài học, tiết học nói riêng phụ thuộc rất nhiều ở khâu chuẩn bị cho giờ lên lớp của giáo viên Quá trình chuẩn bị thể hiện ở một số công việc cụ thể là: Soạn giáo án, chuẩn bị PPDH hợp lý, chuẩn bị PTDH, đồ dùng dạy học cần thiết
Trang 3232
Giáo án soạn của giáo viên phải đảm bảo theo đúng phân phối chương trình môn học Bài soạn phải đảm bảo theo đúng yêu cầu đặc trưng bộ môn, thể hiện rõ mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, PPDH sẽ được sử dụng, PTDH Toán tối thiểu cần có Đồng thời phải rõ hoạt động của thầy và hoạt động của trò, cụ thể các hình thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh, định hướng phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập
Thông qua việc ký duyệt giáo án, đánh giá thực hiện công tác chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên thường xuyên hàng tuần, việc thực hiện kế hoạch giảng dạy
bộ môn, cùng với dự giờ lên lớp để đánh giá kết quả của việc chuẩn bị; CBQL nhà trường, tổ chuyên môn thường xuyên kiểm tra, theo dõi và điều chỉnh sai lệch, thiếu sót, tạo điều kiện giúp cho giáo viên chuẩn bị tốt những quy định theo quy chế chuyên môn trước khi lên lớp
Giáo viên phải xác định việc chuẩn bị lên lớp chu đáo là nề nếp chuyên môn,
là cơ sở quyết định cho thành công của giờ lên lớp
1.4.1.4 Quản lý việc lên lớp của giáo viên
Hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học môn Toán nói riêng ở trường THCS hiện nay được thực hiện chủ yếu bằng hình thức dạy và học trên lớp, với những giờ lên lớp và hệ thống bài học cụ thể Chính vì vậy, trong quá trình quản lý hoạt động dạy học, CBQL nhà trường phải có những biện pháp tác động cụ thể, linh hoạt và khoa học để nâng cao chất lượng giờ lên lớp của giáo viên
1.4.1.5 Quản lý hoạt động dự giờ và thanh tra chuyên môn
Một nét đặc thù cơ bản trong quản lý nhà trường là có hoạt động dự giờ, rút kinh nghiêm sư phạm và thanh tra chuyên môn
Đối với công tác thanh tra chuyên môn, cần xây dựng kế hoạch đồng bộ cho
cả năm học, triển khai thực hiện cụ thể từng tuần, từng tháng
Đối với hoạt động dự giờ và rút kinh nghiệm sư phạm cần tổ chức thực hiện tốt theo quy định chuyên môn, có nề nếp và thường xuyên
1.4.1.6 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Quản lý tốt hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, qua
đó CBQL, Hiệu trưởng nhà trường sẽ nắm được kết quả thực tế của hoạt động dạy
Trang 3333
học, chất lượng dạy học bộ môn Nó là cơ sở để đánh giá hiệu quả của quá trình dạy học Trên cơ sở đó, giáo viên có kế hoạch cải tiến hoạt động giảng dạy của mình; CBQL, Hiệu trưởng nhà trường có biện pháp quản lý hoạt động dạy học hữu hiệu hơn nhằm giúp học sinh đạt được mục tiêu học tập
Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phải đạt được những yêu cầu cơ bản sau:
Thực hiện đúng, đủ, nghiêm túc các văn bản hướng dẫn về kiểm tra, đánh giá học sinh theo quy định của Bộ GD&ĐT; thực hiện nghiêm chỉnh quy chế chuyên môn trong nhà trường về kiểm tra, đánh giá; định kỳ tổ chức kiểm tra chất lượng (mỗi học kỳ ít nhất 02 lần) nhằm đánh giá kết quả học tập của học sinh; thực hiện đánh giá đảm bảo công bằng, khách quan và phản ánh chính xác kết quả học tập của cá nhân học sinh
CBQL, Hiệu trưởng nhà trường xây dựng quy trình quản lý chất lượng dạy học, kế hoạch theo dõi, kiểm tra thường xuyên việc thực hiện quy định chuyên môn của từng giáo viên về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.4.1.7 Quản lý thực hiện quy định hồ sơ chuyên môn của giáo viên
Hồ sơ chuyên môn của giáo viên phản ánh nội dung công việc mà giáo viên
đó được phân công giảng dạy và đang thực hiện nhiệm vụ được phân công Nội dung thể hiện trong hồ sơ chuyên môn, phần nào là cơ sở để đánh giá, ghi nhận sự chuẩn bị, đầu tư cho chuyên môn của giáo viên đó (ở đây hồ sơ chuyên môn của một giáo viên không đồng nhất với năng lực chuyên môn của giáo viên đó)
Hồ sơ chuyên môn của giáo viên cũng là phương tiện phản ánh quá trình quản lý hoạt động của giáo viên có tính khách quan và cụ thể Quản lý tốt hồ sơ chuyên môn giúp cho CBQL, Hiệu trưởng nhà trường nắm chắc, cụ thể hơn việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo viên
Xây dựng nề nếp thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn của giáo viên, các quy định về từng loại hồ sơ là yêu cầu cụ thể mà CBQL, Hiệu trưởng nhà trường phải đặt ra cho mỗi giáo viên thực hiện, có thể coi như một bộ "Kế hoạch bút ký chuyên môn" của giáo viên trong hoạt động giảng dạy, tác nghiệp chuyên môn của mình
Trang 3434
Hồ sơ chuyên môn của giáo viên Toán phải bao gồm tối thiểu các loại sau:
Kế hoạch giảng dạy bộ môn; Kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng; kế hoạch khác (nếu có); giáo án bộ môn; tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo, SGK; sổ dự giờ; sổ điểm bộ môn; sổ đăng ký giảng dạy; sổ theo dõi, phân tích và đánh giá kết quả học tập của học sinh; sổ sinh hoạt chuyên môn tổ
CBQL nhà trường thường xuyên kiểm tra hồ sơ chuyên môn của giáo viên bằng nhiều hình thức khác nhau để kịp thời điều chỉnh những sai lệch, thiếu sót trong hoạt động giảng dạy và công tác chuyên môn của giáo viên
1.4.1.8 Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên
Công tác bồi dưỡng giáo viên là một trong những nội dung quan trọng không thể thiếu trong quản lý nhà trường Bồi dưỡng nâng cao TĐCM và NVSP cho giáo viên là yếu tố góp phần quyết định tới thành công của quá trình đổi mới
và nâng cao chất lượng giáo dục ở các nhà trường trong bối cảnh hiện nay
CBQL, Hiệu trưởng nhà trường phải xây dựng được chiến lược phát triển đội ngũ, đề ra kế hoạch chi tiết, cụ thể về bồi dưỡng nâng cao TĐCM và NVSP cho cán cán bộ, giáo viên từng năm học
Mỗi giáo viên Toán đều phải có kế hoạch bồi dưỡng, tự bồi dưỡng cá nhân
và thực hiện tốt kế hoạch hàng năm; bồi dưỡng thường xuyên theo chuyên đề, tham gia các lớp bồi dưỡng chuẩn hóa giáo viên, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông; cử cán bộ, giáo viên đi học các khóa đào tạo đại học, sau đại học, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ lâu dài cho ngành giáo dục
Tóm lại, quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên nói chung, của giáo viên Toán nói riêng ở trường THCS là quá trình quản lý một hoạt động chủ đạo của người thầy trong quá trình dạy học Điều này đòi hỏi CBQL, Hiệu trưởng nhà trường phải hiểu sâu sắc nội dung và các yêu cầu quản lý để đưa ra những biện pháp, quyết định đúng đắn nhằm xây dựng nề nếp, kỷ cương trong hoạt động giảng dạy của giáo viên Đảm bảo chất lượng dạy học bộ môn và hướng tới mục tiêu dạy học Hoạt động giảng dạy của người thầy sẽ thành công và trọn vẹn hơn khi mà các biện pháp quản lý hoạt động này vẫn phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của giáo viên trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình
Trang 3535
1.4.2 Quản lý hoạt động học tập của học sinh
Kết quả dạy học nói chung, kết quả dạy học môn Toán nói riêng ở trường THCS không chỉ phụ thuộc vào kết quả giảng dạy của thầy mà quan trọng hơn mang tính quyết định còn phụ thuộc vào hoạt động học tập của học sinh Chính vì vậy, quản lý hoạt động học tập của học sinh có vai trò hết sức quan trọng nhằm đạt được mục tiêu, kết quả dạy học Quản lý hoạt động học tập của học sinh bao gồm các nội dung cơ bản là: Quản lý hoạt động học tập trên lớp, quản lý hoạt động tự học ở nhà và các hoạt động ngoại khóa, HĐNGLL của học sinh
Trước hết là xây dựng nề nếp, thái độ học tập tích cực cho học sinh, vì nề nếp học tập, ý thức, thái độ học tập của học sinh sẽ ảnh hưởng mang tính quyết định đến hoạt động học tập và kết quả học tập của các em Do đó, CBQL nhà trường và các giáo viên phải xây dựng nề nếp học tập, kỷ luật học tập; giáo dục cho học sinh có động cơ và ý thức, thái độ học tập đúng đắn, chuyên cần, chăm chỉ, sống có lý tưởng, hoài bão, hướng tới những ước mơ cao đẹp; giúp học sinh có những thói quen văn hóa, nề nếp trong những hoạt động ở trường, ở những nơi sinh hoạt cộng đồng ; luôn có ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập và rèn luyện tu dưỡng đạo đức, tự hoàn thiện mình; xây dựng nề nếp về thi đua khen thưởng, kỷ luật, chấp hành kỷ cương, nội quy học tập của học sinh
Phương pháp học tập là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của học sinh, vì vậy phải quản lý tốt việc bồi dưỡng PPHT cho các em: Làm cho học sinh nắm được phương pháp, kỹ năng chung của hoạt động học tập, kỹ năng và PPHT phù hợp với bộ môn Toán; giúp học sinh có PPHT tốt ở lớp; giúp học sinh
có phương pháp tự học ở nhà hiệu quả; định hình phong cách học tập tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo cho học sinh
Quản lý việc tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa, HĐNGLL cho học sinh, đảm bảo sự hợp lý các tác động giáo dục, phù hợp với sự phát triển tâm lý nhận thức, sức khỏe của học sinh THCS
Quản lý việc phân tích và đánh giá kết quả học tập của học sinh Nội dung cần chủ yếu tập trung vào những vấn đề:
Trang 36và thái độ đạt được qua kết quả học tập
Những thông tin sau khi phân tích và đánh giá kết quả học tập của học sinh
sẽ giúp cho CBQL, Hiệu trưởng nhà trường và giáo viên thấy rõ được một phần thực trạng dạy học, trên cơ sở đó có những biện pháp, quyết định quản lý điều chỉnh chính xác, kịp thời và hiệu quả
Phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường quản lý hoạt động học tập của học sinh
Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng trong giáo dục học sinh nói chung và quản lý hoạt động học tập của các em nói riêng là phương thức giáo dục toàn diện, là nền tảng cơ sở giúp cho nhà trường hoàn thành sứ mệnh giáo dục thế hệ trẻ theo mục tiêu giáo dục của cấp THCS nói chung, mục tiêu dạy học của cấp học và mục tiêu dạy học của môn Toán THCS nói riêng
Tóm lại, quản lý hoạt động học tập của học sinh là một yêu cầu không thể thiếu có vai trò ảnh hưởng mang tính quyết định trong quá trình quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS nhằm đạt được mục tiêu dạy học của cấp học Nếu quản lý tốt hoạt động học tập của học sinh cùng với quản lý tốt hoạt động giảng dạy của giáo viên Toán một cách khoa học và hiệu quả thì hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS sẽ đạt được kết quả tốt đẹp theo mục tiêu dạy học bộ môn
1.4.3 Quản lý CSVC và phương tiện dạy học Toán
CSVC, phương tiện kỹ thuật luôn là một trong những điều kiện quan trọng
để thực hiện tốt mục tiêu dạy học CSVC, phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy và học của nhà trường THCS hiện nay là hệ thống các phương tiện vật chất, trang thiết bị
kỹ thuật được sử dụng để phục vụ cho việc dạy học của nhà trường, bao gồm: Trường sở, phòng học, bàn ghế, phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, thư viện
Nội dung quản lý CSVC, phương tiện kỹ thuật trong nhà trường, bao gồm:
- Quản lý trường lớp, phòng học và các trang thiết bị phục vụ dạy học
Trang 3737
- Quản lý hoạt động của các phòng học bộ môn, phòng chức năng
- Quản lý đồ dùng, thiết bị dạy học bộ môn
- Quản lý hoạt động thư viện trường học vv
Trong nhà trường THCS, ngoài CSVC và các trang thiết bị kỹ thuật phục vụ chung cho dạy và học, PTDH Toán có chức năng riêng và góp phần quan trọng tạo điều kiện thuận lợi trong việc tổ chức hoạt động dạy học môn Toán Những PTDH Toán thông dụng trong nhà trường THCS hiện nay có thể liệt kê theo ba nhóm sau đây:
(1) Nhóm phương tiện nghe, nhìn:
- Đồ dùng dạy học của giáo viên, đồ dùng học tập của học sinh
- Mô hình trực quan (hoặc mẫu vật) như hình hộp, hình lăng trụ, hình cầu
vụ hoạt động dạy học; tổ chức tốt việc sử dụng, bảo quản và đầu tư mới các PTDH Toán theo hướng đa năng và hiện đại cho phòng học bộ môn
Ngoài ra, nguồn kinh phí để duy trì hoạt động dạy học có chất lượng, cũng như đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, PTDH Toán thường xuyên là vấn đề rất quan trọng mà CBQL, Hiệu trưởng nhà trường phải đặc biệt quan tâm và quản lý tốt
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS hiện nay
1.5.1 Mục tiêu và nội dung chương trình môn Toán THCS
Trang 38sẽ tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh, để các bên tham gia quá trình dạy học môn Toán cùng cam kết thực hiện và phấn đấu đạt được
Nội dung chương trình môn Toán trong trường THCS được xây dựng cùng với nội dung chương trình các môn học khác, đảm bảo yêu cầu đáp ứng mục tiêu của nhà trường THCS, giáo dục toàn diện học sinh phù hợp với đặc điểm tâm lý nhận thức của lứa tuổi học sinh THCS
Như vậy, mục tiêu và nội dung chương trình môn Toán THCS là yếu tố ảnh hưởng đầu tiên, trực tiếp đến hoạt động dạy học môn Toán và quản lý hoạt động này ở trường THCS
1.5.2 Cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên Toán ở trường THCS
1.5.2.1 Cán bộ quản lý
CBQL trực tiếp quản lý nhà trường nói chung, quản lý hoạt động dạy học môn Toán nói riêng giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường CBQL tác động đến kết quả dạy học môn Toán thông qua việc đề ra những biện pháp quản lý hoạt động dạy học hữu hiệu, đưa ra những quyết định kịp thời, chính xác để giáo viên và học sinh điều chỉnh hoạt động dạy và học của mình có hiệu quả nhất, đạt được kết quả dạy học mong muốn nhất
Chính vì vậy, CBQL nhà trường phải là những người có trình độ lý luận về quản lý và năng lực QLGD, quản lý nhà trường, hiểu sâu sắc về lý luận dạy học nói chung cũng như lý luận dạy học môn Toán nói riêng; đồng thời cũng phải là những nhà giáo có kinh nghiệm thực tiễn về dạy học và quản lý hoạt động dạy học
Trang 3939
1.5.2.2 Đội ngũ giáo viên Toán ở trường THCS
Giáo viên Toán THCS phải là những người có TĐCM đạt chuẩn đào tạo, có NVSP vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt và phong cách nhà giáo đúng mực Ngoài ra giáo viên Toán còn phải không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao TĐCM, cập nhật thường xuyên thông tin, tri thức Toán học mới
Nắm vững lý luận dạy học hiện đại, hiểu sâu sắc lý luận dạy học bộ môn để vận dụng vào thực tiễn hoạt động giảng dạy của mình là yêu cầu bắt buộc nâng cao đối với giáo viên môn Toán THCS trong bối cảnh hiện nay, có như vậy mới thực hiện tốt được nhiệm vụ của mình
Như vậy, trình độ và năng lực quản lý của CBQL nhà trường, chất lượng đội ngũ giáo viên Toán ảnh hưởng vô cùng lớn đến hoạt động dạy học bộ môn và quản
lý hoạt động này ở trường THCS
1.5.3 Đối tượng tuyển sinh
Thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường THCS, chất lượng tuyển sinh đầu vào (lớp 6) có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng, công tác tuyển sinh đầu cấp phải thực hiện đúng theo quy chế của ngành và những quy định khách quan của nhà trường và địa phương
Hiện nay, học sinh được tuyển vào lớp 6 - THCS đều phải hoàn thành chương trình GDTH và thường tuyển sinh (hình thức xét tuyển) theo địa bàn dân cư để thực hiện công tác phổ cập giáo dục Do đó công tác tuyển sinh đầu cấp THCS thường đạt tỉ lệ rất cao
Tuy nhiên, chất lượng học sinh hoàn thành CTGDTH vẫn còn nhiều bất cập,
có thể do khách quan của những cơ sở giáo dục Tiểu học còn nhiều yếu tố chưa đạt chuẩn, có thể do chủ quan trong hoạt động giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục
ở những cơ sở giáo dục Tiểu học có sự lệch chuẩn.Vì thế, vẫn còn một tỉ lệ học sinh được tuyển vào lớp 6 có lực học yếu, mặt bằng chất lượng học sinh được tuyển đầu vào chưa đồng đều
Chính vì vậy, chất lượng tuyển sinh đầu vào, đối tượng tuyển sinh hàng năm của nhà trường có ảnh hưởng rất lớn đến quản lý hoạt động dạy học nói chung và quản lý hoạt động dạy học môn Toán nói riêng nhằm đạt được mục tiêu dạy học
Trang 40là ứng dụng CNTT và truyền thông phục vụ tốt cho hoạt động giảng dạy và học tập
bộ môn, hỗ trợ hiệu quả đổi mới PPDH nhằm đạt được kết quả dạy học mong muốn
1.5.5 Môi trường quản lý hoạt động dạy học Toán
Cũng như các lĩnh vực hoạt động khác, hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học Toán nói riêng ở trường THCS cũng chịu sự tác động, ảnh hưởng không nhỏ của môi trường Môi trường tác động và ảnh hưởng ở đây được hiểu và xác định là: Môi trường vi mô và môi trường vĩ mô Môi trường vi mô là môi trường sư phạm bên trong nhà trường, môi trường trực tiếp tổ chức các hoạt động dạy học Toán Môi trường vĩ mô là môi trường cộng đồng bên ngoài nhà trường, môi trường chính trị - văn hóa - kinh tế - xã hội của vùng miền và của đất nước
Hiểu rõ những tác động và ảnh hưởng của môi trường đối với hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS; biết vận dụng, khai thác, phát huy những tác động tích cực, thuận lợi của môi trường và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực, bất lợi của nó sẽ giúp cho công tác quản lý hoạt động dạy học môn Toán có hiệu quả tốt hơn; đảm bảo kết quả dạy và học Toán đạt được theo mục tiêu mong muốn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường THCS