1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng thế sự trong bạch vân quốc ngữ thi tập của nguyễn bỉnh khiêm

71 3,8K 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn thời thế với thái độ an nhiên tự tại nên những suy ngẫm về thế sự, chiêm nghiệm về cuộc sống của ông mang màu sắc của một nhà nho triết lý, điều này được thể hiện rõ trong Bạch Vân

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành đề tài này, em xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong

Bộ môn Văn học Việt Nam - Khoa Ngữ văn, thầy cô ở Trung tâm Thông tin - Thư viện, phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng giáo dục Trường Đại học Tây Bắc, cùng gia đình và các bạn sinh viên lớp K53 - ĐHSP Ngữ văn A, đặc biệt là

TS Ngô Thị Phượng đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu, hoàn thiện đề tài

Do năng lực cùng thời gian có hạn nên đề tài khi được hoàn thành sẽ không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót mà em chưa nhận ra, rất mong nhận được

sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến từ thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2016

Người thực hiện

Nguyễn Thị Chanh

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng, mục đích nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Phạm vi nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Đóng góp của đề tài 9

8 Cấu trúc của đề tài 9

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 10

1.1 Thơ Nôm Đường luật 10

1.1.1 Điều kiện ra đời thơ Nôm Đường luật 10

1.1.1.1 Điều kiện văn học 10

1.1.1.2 Những điều kiện ngoài văn học 10

1.1.2 Thành tựu của thơ Nôm Đường luật trong văn học Việt Nam 12

1.1.2.1 Giai đoạn hình thành 12

1.1.2.2 Giai đoạn phát triển 12

1.1.2.3 Giai đoạn cuối của thơ Nôm Đường luật 15

1.2 Cảm hứng thế sự trong văn học 16

1.3 Nguyễn Bỉnh Khiêm và Bạch Vân quốc ngữ thi tập 18

1.3.1 Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm 18

1.3.2 Bạch Vân quốc ngữ thi tập 22

CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI TẬP CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM 27

2.1 Những phương diện của cảm hứng thế sự 27

2.1.1 Đồng tiền và sự quyết định quan hệ con người 27

2.1.2 Quyền lực công danh và quan hệ thế sự 34

2.1.3 Những thói đời khác của nhân tình thế thái 38

2.2 Giải pháp thoát ly thế sự 49

KẾT LUẬN 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thơ Nôm Đường luật là một trong những thể loại độc đáo vào bậc nhất của văn học Việt Nam, tuy thể thơ có nguồn gốc ngoại lai nhưng trong quá trình phát triển nó đã trở thành một thể loại của văn học dân tộc, có địa vị ngang hàng với những thể loại văn học dân tộc thuần túy khác như truyện thơ viết theo thể lục bát, khúc ngâm viết theo thể song thất lục bát

Thế kỷ XVI đánh dấu bước thăng trầm của chế độ phong kiến Việt Nam trên đà suy thoái, mâu thuẫn xã hội bộc lộ ngày càng rõ, nhà nước phong kiến không còn tác dụng tích cực đối với nhân dân, bất lực trước thời cuộc Chính những đặc điểm này đã có những tác động mạnh vào tầng lớp nho sĩ trí thức đương thời, đặt cho họ yêu cầu lựa chọn nhân cách và lối sống, nó khiến thơ văn

ở thời kì này có thêm những diện mạo mới, đa dạng, phong phú, đồng thời cũng phức tạp hơn

1.2 Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), cả cuộc đời ông gắn liền với những biến cố của lịch sử, “tài năng và nhân cách của ông có ảnh hưởng mạnh

mẽ không chỉ ở thế kỷ XVI mà còn rợp bóng đến cả các thế kỷ sau”

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một con người thông minh, đa tài, ông không chỉ

là một nhà hiền triết, bậc tiên tri, người thầy vĩ đại mà nổi bật lên trên tất cả, ông

là một nhà thơ lớn, là tác gia có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nền văn học trung đại Việt Nam Nhìn thời thế với thái độ an nhiên tự tại nên những suy ngẫm về thế sự, chiêm nghiệm về cuộc sống của ông mang màu sắc

của một nhà nho triết lý, điều này được thể hiện rõ trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập - sự tiếp nối, phát triển từ một nền tảng bền vững và rạng rỡ của văn học Nôm trước đó (Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Hồng Đức quốc âm thi tập

của Lê Thánh Tông)

1.3 Bạch Vân quốc ngữ thi tập là một tác phẩm có giá trị của văn học

Việt Nam Nó in một dấu mốc quan trọng đối với quá trình vận động và phát triển của thể loại thơ Nôm Đường luật, đánh dấu bước tiến đáng kể trong nghệ

Trang 4

chứng minh Nguyễn Bỉnh Khiêm là người kế thừa xuất sắc những thành tựu văn học của thế kỷ XV và là tiền đề cho sự phát triển của thơ ca dân tộc ở những thế

kỷ sau, “với thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, có thể khẳng định sự giản dị, thuần tục và thanh thoát của ngôn ngữ văn học dân tộc trong việc đồng hóa những chất liệu Hán học, trên cơ sở tiếp thu ngày càng nhiều ảnh hưởng ngôn ngữ của văn học dân gian”

1.4 Thơ Nôm Đường luật là thể loại có nhiều tác phẩm được tuyển chọn giảng dạy trong chương trình văn học, ở nhiều cấp học, từ phổ thông cơ sở đến đại học Tuy nhiên nó lại chưa được nghiên cứu một cách hệ thống toàn diện như các thể loại khác, chưa xứng với vị trí vốn có của nó Trong các giáo trình Đại học và Cao đẳng đều đã đề cập đến tác gia Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng các

tác phẩm của ông, có một số công trình nghiên cứu khá cụ thể Bài thơ Nhàn nằm trong tập thơ Bạch Vân Quốc ngữ thi tập được đưa vào chương trình giảng dạy ở nhà trường phổ thông (Sách giáo khoa Ngữ văn 10 (chương trình cơ bản),

tập 1, trang 129, Nhà xuất bản Giáo dục, giảng dạy trong 1 tiết) Song vấn đề

cảm hứng thế sự trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập vẫn chưa được tìm hiểu

chuyên sâu mà mới chỉ dừng lại ở mức khái quát

Chúng tôi muốn thông qua đề tài cung cấp thêm tư liệu cho người đọc về cảm hứng thế sự trong tập thơ, mặt khác khẳng định thêm một lần nữa vị trí và

sự đóng góp của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tiến trình văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại Việt Nam nói riêng Đồng thời đề tài sau khi hoàn thiện sẽ được dùng làm tư liệu tham khảo cho việc giảng dạy thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm ở nhà trường phổ thông, đặc biệt là giảng dạy học phần văn học trung đại theo tiến trình phát triển của thể loại, phù hợp với chương trình mới trong sách giáo khoa hiện hành

Trên đây là những lí do thúc đẩy chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu

khoa học với tiêu đề: “Cảm hứng thế sự trong Bạch Vân Quốc ngữ thi tập của

Nguyễn Bỉnh Khiêm”

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề

Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm là tập thơ kế thừa và

tiếp nối thành tựu thơ Nôm thế kỷ XV, đánh dấu bước phát triển mới trên hành trình từ hoàn thiện mình của văn học viết Việt Nam, bước đầu chạm chân vào phản ánh hiện thực của xã hội Việt Nam thế kỷ XVI dưới góc độ đời thường,

mở đầu cho dòng thơ văn giàu tính triết lý, tư duy thế sự, vì vậy đã có một số công trình nghiên cứu về tác giả, tác phẩm này, tiêu biểu như:

Lã Nhâm Thìn trong cuốn Thơ Nôm Đường luật (Nxb Giáo dục - 1998)

có nhận định: “Nguyễn Bỉnh Khiêm là người “mở ra hướng mới cho sự nghiệp thơ ca của mình: tư duy thế sự” “Ở đây trí tuệ và tâm hồn dân tộc đã tiến đến một trình độ khái quát tư duy nghệ thuật cao hơn: văn học tiếp cận những bình diện cuộc sống, những mâu thuẫn nội bộ dân tộc qua những vần thơ trữ tình có giá trị tự thuật cá tính và tự sự xã hội rất sinh động, cụ thể” [20; 112]

Trần Thị Băng Thanh - Vũ Thanh trong lời giới thiệu cuốn Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm (Nxb Giáo dục - 2001) viết: “Cùng với Nguyễn

Trãi, Nguyễn Du Nguyễn Bỉnh Khiêm là một đỉnh cao về thi ca thời trung đại Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự kết hợp từ chiều sâu chất trí tuệ và thi ca Những kiến thức sâu sắc về triết lý phương Đông tự trong ngọn nguồn của kinh sách kết hợp với triết lý của cuộc đời nhiều trải nghiệm của một thi nhân, một người hành đạo đã đem lại cho thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tầm vóc của một nhà thơ lớn của thời đại Thơ ông như một khu rừng thâm nghiêm linh thiêng và thách thức

sự tìm kiếm Nguyễn Bỉnh Khiêm là người trí thức trong thơ và là nhà thơ giàu tri thức, uyên bác trong nhiều trường hợp không dễ tạo được sự hài hòa giữa chất thơ và triết luận” [19; 7]

Nguyễn Bỉnh Khiêm được ví như “một cây đại thụ tỏa bóng suốt thế kỷ XVI” và được công nhận là nhà lý học của An Nam (Chu Xán Nhiên, Trung Quốc) Ông sáng tác khá nhiều thơ, thơ ông có nhiều bài để nói về “chí” Theo Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự nhàn dật Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia đình, lớn lên bước vào

Trang 6

[19; 199]

Đinh Gia Khánh trong bài viết Nguyễn Bỉnh Khiêm và “tấm lòng lo trước thiên hạ đến già chưa nguôi” có nhận xét: “Quan niệm chữ nhàn của ông gắn

với quan niệm về một phẩm chất cao khiết trong xã hội mà ông cho là đục lầm,

về một thái độ tự chủ trong một cõi đời mà ông cho là hỗn loạn, về một chỗ đứng vững vàng trong một thời thế mà ông cho là đảo điên” [19; 279]

“Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện rất mực trung thực con người

và nhân cách của ông Lời thơ đậm đà phong vị quê hương, miêu tả cuộc sống của một ẩn sĩ chốn thôn quê” [19; 283]

Nguyễn Đăng Thục trong Lịch sử tư tưởng Việt Nam đã đánh giá Nguyễn

Bỉnh Khiêm là người “tìm đến thuần thục cái học về nguyên lý” [19; 324] Tuy nhiên ông mới chỉ giới thiệu Nguyễn Bỉnh Khiêm trên phương diện là nhà tư tưởng chịu ảnh hưởng của Tống Nho

Nguyễn Huệ Chi trong bài Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhìn từ một nhân cách lịch sử đến dòng tư duy thế sự có viết: “Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhân cách

có tầm thước không phải ở những hành vi trực tiếp cứu thế mà ở tấm lòng băn khoăn cứu thế và ở cái bản lĩnh biết làm chủ suy nghĩ” [19; 390]

Nguyễn Quân trong bài viết Bạch Vân quốc ngữ thi tập - giá trị hình thức

và nội dung có nhấn mạnh “Căn bản tư tưởng của tác giả Bạch vân quốc ngữ thi tập trước sau vẫn là căn bản của triết thuyết Khổng Mạnh” [19; 517] Tuy nhiên

bài viết chỉ nhằm khẳng định tác phẩm thuộc loại tư tưởng gì chứ chưa đi sâu vào khai thác mảng cảm hứng thế sự

Đặng Thanh Lê có bài viết về Cảm hứng thế sự trong thơ Nôm, nhưng

ông mới chỉ điểm qua một số chủ đề thường gặp mang cảm hứng thế sự trong thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm và có sự so sánh với thơ Nôm Nguyễn Trãi

chứ chưa khai thác chi tiết, cụ thể trong toàn bộ tập thơ Bạch Vân quốc ngữ thi tập, ông cho rằng chủ đề cảm hứng thế sự trong thơ Nôm “bao hàm những quan

điểm đạo đức và quan niệm cuộc sống của nhà thơ vì chiều sâu của bức tranh hiện thực nói trên chính là dòng tâm tư, cảm xúc của nhà nho và nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm” [19; 570 - 571]

Trang 7

Bàn về thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vũ Khâm Lân viết: “Văn chương tiên sinh rất tự nhiên, không cần điêu luyện, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà nhiều ý vị, câu nào cũng có liên quan đến sự dạy đời” [19; 632]

Các bài viết trong cuốn này tập trung nghiên cứu theo từng phương diện: Nguyễn Bỉnh Khiêm giữa thế kỷ XVI đầy biến động; Triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm - Tư tưởng và nhân cách; Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nhà thơ; Nguyễn Bỉnh

Khiêm trong tâm thức thế nhân xưa và nay Cảm hứng thế sự trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập được đan xen trong các phương diện nghiên cứu, chưa được

nghiên cứu một cách cụ thể, riêng rẽ

Trần Đình Hượu trong cuốn Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (Nxb Giáo dục - 2004) có những nhận xét, lí giải về sự ảnh hưởng của Nho giáo

tới văn học, chi phối ngòi bút, quan điểm thẩm mĩ của Nguyễn Bỉnh Khiêm Do

đó cảm hứng thế sự, những suy ngẫm về con người thời trung đại, chủ yếu được nhìn nhận về phương diện đạo đức, xã hội: “Nho giáo xác định văn học nghệ thuật là phương tiện giáo hóa chính tâm, chế dục, là công cụ chính trị động viên,

tổ chức xã hội nhằm biến thành hiện thực hài hòa của Trời, sự trật tự của Đất Vì

lẽ đó Nho giáo chỉ chấp nhận một thứ văn học nghệ thuật chí thiện, hoàn toàn hợp đạo đức” [5; 33]

Nhóm các tác giả Đinh Gia Khánh - Hồ Như Sơn - Bùi Duy Tân trong

cuốn Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm (Nxb Văn học - 2005) có nhận xét: “thơ văn

của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện một chuyển biến quan trọng của lịch sử văn học nước ta” [6; 7] “Xưa kia, mỗi khi muốn nói về đạo lý, về những sự kiện chính trị, về sự nghiệp kinh bang tế thế, các tác giả hay viết bằng chữ Hán vì Nhà nước phong kiến coi đó là chữ chính thức Nhưng mỗi khi muốn vui chơi giải trí, hoặc muốn buông thả tâm hồn theo những xúc động hoặc nhận thức riêng tư, tức là không có dụng ý lấy văn để “chở đạo” là chủ yếu, thì tác giả lại hay viết văn làm thơ chữ Nôm từ việc phê phán thói đời, đến việc tỏ thái độ thanh cao không màng danh lợi, thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện rất mực trung thực con người và nhân cách của ông” [6; 57]

Trang 8

Trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII (Nxb Giáo dục - 2005), đồng chí Trường Chinh ở Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 3 ngày 01/12/1962 Tăng cường tính Đảng đi sâu vào cuộc sống mới để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng tốt hơn nữa (Báo Nhân dân số 3200 ngày

29/12/1962) có nhận xét: “Lòng “ái ưu vằng vặc” thái độ dũng cảm phê phán những tệ lậu của chế độ phong kiến, đức tính liêm khiết, giản dị, lão thực, phong thái an nhiên kết hợp nỗi chân tình làm nên giá trị của thơ văn và phẩm chất con người Nguyễn Bỉnh Khiêm

Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm kế thừa và phát huy những truyền thống của văn học từ trước để lại, đồng thời lại thể hiện sự chuyển biến của văn học trong một giai đoạn mới khi mà việc bảo vệ và phát huy nền văn hóa dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến mục nát, trở thành nhiệm vụ quan trọng của nhân dân và trí thức yêu nước” [9; 459]

Nguyễn Đăng Na trong cuốn Giáo trình văn học trung đại Việt Nam, tập

1 (Nxb Đại học Sư phạm 2012) viết: “Đến Bạch Vân quốc ngữ thi tập của

Nguyễn Bỉnh Khiêm, tầm khái quát nghệ thuật của thơ Nôm Đường luật được

nâng lên một bước “Tư duy thế sự” ở Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đưa thơ Nôm

Đường luật tiếp cận với cuộc sống vừa cụ thể, sinh động, vừa có tầm khái quát

xã hội rộng lớn” [12; 101] “Từ chỗ hiện thực đạo đức suy đồi của thời đại, thơ ông có sức khái quát mang ý nghĩa phê phán, tố cáo những tiêu cực của nhiều thời đại khác nhau Nguyễn Bỉnh Khiêm tố cáo thế lực đồng tiền, tố cáo thói đời chủ yếu trên lập trường đạo đức phong kiến, khẳng định Nho giáo chứ không phải chủ yếu trên lập trường nhân bản như các tác giả văn học cuối thế kỷ XVII

- nửa đầu thế kỷ XIX” [12; 168]

PGS TS Lã Nhâm Thìn trong cuốn Giáo trình văn học trung đại Việt

Nam, tập 1 (Nxb Giáo dục Việt Nam - 2012) có đánh giá: “Nguyễn Bỉnh Khiêm

là nhà thơ lớn nhất của văn học viết Việt Nam thế kỷ XVI đồng thời là một trong những tác gia tiêu biểu của văn học viết dưới thời phong kiến Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ghi một mốc lớn trên con đường phát triển của lịch

sử văn học Việt Nam, là một trong những chiếc cầu nối giữa hai thời đại văn học

Trang 9

- thời đại Nguyễn Trãi trước đó và thời đại Nguyễn Du sau này” [21; 168]

“Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam thế

kỷ XVI Thơ ông như “cây thông chót vót cao trăm thước” tỏa rợp bóng cả một giai đoạn văn học Tiếng nói trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm phản ánh một xu hướng tư tưởng thời đại: xu hướng của tầng lớp trí thức bất mãn với hiện thực xã hội phong kiến, “lánh đục về trong” nhưng vẫn canh cánh nỗi lòng ưu dân ái quốc Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là bức tranh rộng lớn và chân thật về đất nước, xã hội, con người Việt Nam thế kỷ XVI Đóng góp lớn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với lịch sử văn học dân tộc là thơ triết lí và thơ thế sự Hai nét đặc sắc này đã làm nên “bản ngã Nguyễn Bỉnh Khiêm” trong văn học trung đại Việt Nam

Nguyễn Bỉnh Khiêm là tác gia vừa kế thừa những truyền thống văn học của thế kỉ trước, vừa tiêu biểu cho những chuyển biến của văn học trong một giai đoạn mới, khi mà chế độ phong kiến bước đầu có những biểu hiện khủng hoảng, khi mà nhân dân ngày càng khẳng định vai trò của mình đối với công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa dân tộc” [21; 182 - 183]

Tuy nhiên các công trình nghiên cứu này chưa đề cập hoặc mới chỉ điểm

qua một vài nội dung mang cảm hứng thế sự trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập

Từ những lý do trên chúng tôi quyết định tiến hành tìm hiểu những vấn đề liên quan đến cảm hứng thế sự trong tập thơ này

3 Đối tượng, mục đích nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tập thơ trên các phương diện sau:

Trang 10

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát tài liệu

- Thống kê, phân loại

- Phân tích, tổng hợp để thấy được cảm hứng thế sự trong tập thơ

5 Phạm vi nghiên cứu

- Về văn bản, chúng tôi dựa theo cuốn Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, tập 1; Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Bùi Văn Nguyên phiên âm - chú thích - giới

thiệu, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội, 1989

Chúng tôi có chọn lọc, so sánh với tập Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm do

nhóm các tác giả Đinh Gia Khánh - Hồ Như Sơn - Bùi Duy Tân biên soạn (in lần thứ 3 có bổ sung, sửa chữa), Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 2005

Đề tài còn sử dụng cuốn Thơ Nôm Đường luật của Lã Nhâm Thìn, Nhà

xuất bản Giáo dục, 1998

6 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây:

6.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Đây là phương pháp nhằm đưa vào những khảo sát cụ thể để làm dữ liệu,

cơ sở chứng minh cho nhận định, đánh giá Phương pháp này giúp người nghiên cứu có thể lựa chọn những nét tiêu biểu trong tác phẩm tương ứng với từng luận điểm

6.2 Phương pháp phân tích tổng hợp

Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng thường xuyên trong quá trình nghiên cứu Qua phân tích các nội dung trong thơ để làm nổi bật cảm hứng thế

sự

6.3 Phương pháp so sánh đối chiếu

So sánh Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm với các tập thơ của các tác giả khác như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Hồng Đức quốc

âm thi tập của Lê Thánh Tông để thấy được sự khác biệt về mặt cảm hứng thế

Trang 11

sự của tập thơ với cảm hứng thế sự của các tập thơ khác trong nền văn học trước

và sau nó

7 Đóng góp của đề tài

Đề tài giúp người đọc có cái nhìn tương đối hoàn chỉnh về cảm hứng thế

sự trong tập thơ, cũng như những đóng góp của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với nền văn học trung đại Việt Nam

Đề tài sau khi nghiệm thu sẽ được dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa Ngữ văn trong quá trình học tập, nghiên cứu về tác gia Nguyễn Bỉnh Khiêm, là tư liệu giảng dạy cho giảng viên Đại học, Cao đẳng trên các phương diện: Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm, văn học trung đại Việt Nam, đặc biệt là thể loại thơ Nôm Đường luật, giáo viên phổ thông khi giảng dạy những bài thơ của

Nguyễn Bỉnh Khiêm trong nhà trường, đồng thời bổ sung thêm một số thông tin

hữu ích cho những ai yêu thích và muốn hiểu sâu hơn về Nguyễn Bỉnh Khiêm,

đặc biệt là tập thơ chữ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi tập

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của

đề tài được triển khai qua hai chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Cảm hứng thế sự trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh

Khiêm

Trang 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Thơ Nôm Đường luật

Sự ra đời của thơ Nôm đường luật Việt Nam là kết quả của việc học hỏi

và tiếp thu sáng tạo thành tựu của thơ ca Trung Hoa, điển hình là thơ Đường, đây là sự trưởng thành của ý thức dân tộc Việt Nam sau một thời gian dài chúng

ta sáng tác thơ Đường bằng chữ Hán dựa trên đề tài của họ

“Khái niệm thơ Nôm Đường luật là bao hàm những bài thơ viết bằng chữ

Nôm theo luật Đường hoàn chỉnh và cả những bài viết theo thơ luật Đường phá cách - những bài có xen câu ngũ ngôn, lục ngôn vào bài thơ thất ngôn Bởi lẽ việc đưa câu thơ năm chữ hoặc sáu chữ vào bài thất ngôn luật Đường góp phần làm thay đổi bản chất và hình thức của Đường luật Nôm so với thơ Đường luật, nhưng nhìn chung cái hình thức cơ bản của thơ Đường luật vẫn được giữ lại: số câu trong bài, kết cấu bài thơ, luật về đối, về vần, về thanh điệu” [21; 141]

1.1.1 Điều kiện ra đời thơ Nôm Đường luật

1.1.1.1 Điều kiện văn học

Ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Hán có sự gần gũi tương đồng ở một số phương diện cơ bản như: không biến hình, đơn âm và tuyến tính Thêm vào đó

là sự gần gũi về thanh điệu Tiếng Việt đã cung cấp những điều kiện quan trọng

và quyết định để người Việt có thể sáng tác thơ Nôm Đường luật

Bên cạnh đó, thơ Đường luật là một trong những thành tựu rực rỡ nhất của nền văn học Trung Quốc, là đỉnh cao của nền nghệ thuật nhân loại Lựa chọn thơ Đường luật làm đối tượng để sáng tạo nên thơ Nôm Đường luật - một trong những thành tựu được xem là xuất sắc nhất của nền văn học dân tộc, là điều hoàn toàn đúng quy luật bởi thơ Đường luật là thơ có kết cấu ổn định và rất chặt chẽ

1.1.1.2 Những điều kiện ngoài văn học

Thế kỷ X Việt Nam đã thực hiện một bước ngoặt hết sức quan trọng và có

ý nghĩa: độc lập dân tộc và tự chủ đất nước

Tiếp thu tinh hoa phương Bắc, ngoài giao lưu tự nhiên còn là nhu cầu hướng tới một cách chủ động, mở cửa có ý thức, đầy đủ hơn, sâu sắc hơn của

Trang 13

văn hóa Đại Việt

Hoàn cảnh lịch sử với những thuận lợi cơ bản trên là một tiền đề quan trọng cho sự hình thành thơ Nôm Đường luật

Về xã hội, đã có sự hình thành tầng lớp trí thức Việt Nam ngày một đông

đảo và có vị trí trong xã hội, là những người sáng tạo văn hóa ở Việt Nam

Thơ Nôm Đường luật - một hiện tượng văn học đồng thời là một sản phẩm văn hóa, một sản phẩm “nhập ngoại” chỉ có thể ra đời khi trong xã hội đã xuất hiện những nhà văn hóa tuy không chuyên nghiệp nhưng có tài năng và tâm huyết

Trước thế kỷ X đã có những người như Lý Ông Trọng (thời Tần), Trương Trọng, Lý Tiến (thời Hán) có học thức, giỏi ứng đối, học là những tri thức việt Nam đầu tiên, tuy nhiên chưa có đóng góp gì Sau thế kỷ X, trí thức mới có

nhiều đóng góp, qua Đại Việt sử ký toàn thư: “Thánh Tông hoàng đế Đinh

Mão năm thứ 10 (1267) Mùa hạ, tháng tư, chọn lấy những nho sinh hay chữ

bổ vào quán, các, sảnh, viện Bấy giờ Đặng Kế làm hàn lâm viện học sĩ, Đỗ Quốc Tá làm trung thư sảnh, trung thư lệnh, đều là người văn học cả Theo chế

độ cũ, không phải là nội nhân (hoạn quan) thì không được làm chức hành khiển, chưa từng dùng người văn học, người học được giữ quyền bính bắt đầu từ đây” [8; 37]

Theo nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, trước thế kỷ X “chưa thấy có vết tích nào chứng tỏ là đã có cách viết Nôm các hư từ Chưa có cách viết hư từ thì nhất định chưa thể viết được những câu hoàn toàn Nôm thực sự” “Chỉ từ cuối thế kỷ X trở đi thì chữ Nôm với tư cách là một hệ thống văn tự thực thụ mới dần dần hình thành Thế kỷ XI, XII nó tiếp tục phát triển, tự hoàn chỉnh thêm và ngày càng trưởng thành Cuối cùng đến giữa thế kỷ XIII thì về cơ bản

nó đã được khẳng định thực sự” [20; 35]

“Nguyễn Bỉnh Khiêm là tác gia vừa kế thừa những truyền thống văn học của thế kỉ trước, vừa tiêu biểu cho những chuyển biến của văn học trong một giai đoạn mới, khi mà chế độ phong kiến bước đầu có những biểu hiện khủng

Trang 14

cuộc xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa dân tộc” [21; 182 - 183] Tuy nhiên các tác giả mới chỉ khái quát về thân thế, sự nghiệp, giá trị văn chương của Nguyễn Bỉnh Khiêm, còn vấn đề cảm hứng thế sự mới chỉ được điểm qua và nói đến một cách ngắn gọn Người Việt đã có một công cụ quan trọng trong tay

đó là chữ Nôm, nó góp phần vào việc sáng tạo văn học Việt

Trong văn hóa giáo dục, thơ Đường luật được đưa vào thi cử từ thế kỷ XIII Bắt đầu từ khoa Giáp Thìn (1304) đời Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng

Long thứ 12 Thơ Đường luật là sự gắn bó khăng khít của nó đối với tư tưởng

1.1.2 Thành tựu của thơ Nôm Đường luật trong văn học Việt Nam

Cũng giống như nhiều thể loại văn học khác, chúng ta khó có thể khẳng định một cách chính xác thời điểm ra đời và kết thúc của thơ Nôm Đường luật Tuy nhiên có thể thấy khá rõ thơ Nôm Đường luật trải qua ba giai đoạn cơ bản: giai đoạn hình thành, giai đoạn phát triển và giai đoạn cuối

Văn bản chữ viết đầu tiên của thơ này còn giữ được là Quốc âm thi tập

của Nguyễn Trãi mặc dù nó đã được manh nha từ trước

1.1.2.2 Giai đoạn phát triển

“Sinh mệnh nghệ thuật” của thơ Nôm Đường luật kéo dài hơn bảy thế kỷ Bắt đầu từ Hàn Thuyên thế kỷ XIII và kết thúc ở đầu thế kỷ XX với đại biểu lớn cuối cùng là Nguyễn Khuyến Như nhiều thể loại văn học, thơ Nôm Đường luật có quá trình hình thành, phát triển, kết thúc

Tuy nhiên “đường đời” của thể loại này có những điểm khác biệt Ngoài

giai đoạn hình thành chúng ta chưa được rõ, diện mạo thơ Nôm Đường luật là diện mạo không có tuổi già

Trang 15

Từ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi đến thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Tú

Xương, thơ Nôm Đường luật phát triển và đạt được nhiều thành tựu qua hai chặng đường khá rõ

Với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, lịch sử văn học Việt Nam trên thực

tế đã có thêm một thể thơ mới: thơ Nôm Đường luật Ông khẳng định sự hiện diện của thơ Nôm Đường luật với tư cách một thể loại văn học dân tộc Để sáng tạo một thể thơ mới trên cơ sở tiếp thu thơ văn Trung Hoa Nguyễn Trãi đã “giải tỏa những gò bó của Đường luật, xây dựng một lối thơ Việt Nam có những điểm khác biệt dễ nhận thấy so với thơ Nôm Đường luật

Nguyễn Trãi là người đầu tiên sử dụng nhiều và thành công những thành ngữ, tục ngữ, hình tượng nghệ thuật đậm đà tính dân giã và màu sắc dân tộc trong các sáng tác thơ Nôm Ông thể hiện mạnh mẽ xu hướng phá cách trong sáng tác thơ Đường luật Nôm, xu hướng dân tộc hóa biểu hiện ở chỗ tìm cho mình cái riêng, cố gắng khác nước ngoài

Nguyễn Trãi là người đầu tiên sử dụng nhiều, sử dụng thành công thơ sáu chữ, những thành ngữ, tục ngữ, hình tượng nghệ thuật đậm đà tính chất dân dã

và màu sắc dân tộc trong sáng tác thơ Nôm Ông đã khẳng định sự hiện diện của thơ Nôm Đường luật với tư cách một thể loại văn học dân tộc

Thế kỷ XV có thể gọi là thế kỷ của thơ Nôm Đường luật, xuất hiện 2 tập

thơ lớn: Quốc âm thi tập nửa đầu thế kỷ và Hồng Đức quốc âm thi tập nửa cuối thế kỷ Hồng Đức quốc âm thi tập là bước phát triển tiếp theo của thơ Nôm

Đường luật, phạm vi phản ánh những vấn đề xã hội được mở rộng hơn, đây cũng chính là quy luật phát triển của thơ Nôm Đường luật

Nếu so với hai tác phẩm thơ Nôm Đường luật của thế kỷ XV, quy mô và

số lượng của Bạch Vân quốc ngữ thi tập không bằng nhưng không vì thế mà

dung lượng phản ánh của tác phẩm bị hạn chế, nhờ nó mà tầm khái quát nghệ thuật của thơ Nôm Đường luật được nâng lên một bước “Tư duy thế sự” trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm một mặt làm cho sáng tác của ông gần “triết” và xa

“thơ” hơn so với Nguyễn Trãi, mặt khác đưa thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp cận

Trang 16

Xu hướng phá cách trong sáng tác thơ Nôm Đường luật vẫn được Nguyễn

Bỉnh Khiêm tiếp tục, tuy nhiên số lượng câu thơ sáu chữ trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập giảm khá nhiều so với Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập Nó phản ánh quy luật phát triển của thơ Nôm Đường luật: hiện tượng không

theo quy cách thơ Đường giảm dần và quá trình phát triển của thơ Nôm Đường luật là đi từ thế chưa ổn định tới ổn định

Việc dùng thơ Đường luật để trào phúng được manh nha từ Nguyễn Trãi, tới Nguyễn Bỉnh Khiêm, chức năng trào phúng của thơ Nôm Đường luật đã được khẳng định Là một nhà đạo đức mực thước không thể chê trách, một triết gia lớn của thời đại, một bậc thầy đầy uy vọng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn không

từ chối bút pháp trào phúng khi sáng tác thơ Nôm

Nguyễn Bỉnh Khiêm là dấu nối giữa hai thời kỳ - thời kỳ Nguyễn Trãi và thời kỳ Hồ Xuân Hương

Thế kỷ XVII, XVIII, mặc dù số lượng không phải ít song thơ Nôm Đường luật không có tác giả, tác phẩm lớn, chất lượng thơ không cao Nó nhường đỉnh

cao cho những thể loại khác sáng tác bằng chữ Nôm như truyện thơ (Song Tinh Bất Dạ), diễn ca lịch sử (Thiên Nam ngữ lục)

Cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Đường luật Nôm khởi sắc trở lại

Hồ Xuân Hương - “bà chúa thơ Nôm” (chữ dùng của Xuân Diệu) đã giành lại vị trí vốn có trước đây của thơ Nôm Đường luật, tiếp tục xu hướng dân tộc hóa đồng thời chuyển nhanh trên con đường dân chủ hóa nội dung và hình thức thể loại Cuộc sống đời thường, nguyên sơ, chất phác, dân dã đã trở thành đối tượng thẩm mĩ của bà Cái bản năng, tự nhiên, trần tục vốn xa lạ với phong cách trang trọng, cao quý của Đường luật bỗng trở nên thích dụng với phong cách trữ tình trào phúng của thơ Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương đã đưa một nội dung “không nghiêm chỉnh” vào một hình thức “nghiêm chỉnh” để tạo nên sức công phá mạnh mẽ, để khẳng định chức năng trào phúng to lớn của Đường luật Nôm Đến Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Đường luật đã đạt tới đỉnh cao “So trước nhìn sau, mọi người đều thừa

Trang 17

nhận rằng: Thơ Hồ Xuân Hương là rực rỡ nhất vì hình thức thơ đẹp hơn, dân tộc hơn và đại chúng hơn cả” [10; 124]

Giai đoạn sau Hồ Xuân Hương là giai đoạn tiếp tục sự phát triển của thơ Nôm Đường luật, thành tựu không bằng trước nhưng vẫn có những đóng góp lớn Đây cũng là giai đoạn cuối của Đường luật Nôm để chuyển sang thơ quốc ngữ Đường luật

Nguyễn Công Trứ cũng là tác giả có những đóng góp đáng kể vào quá trình dân chủ hóa nội dung, hình thức thơ Nôm Đường luật: những tình cảm chân thành, phóng khoáng, cuộc sống đời thường được diễn đạt bằng lời thơ đơn giản, bình dị

Đến Bà huyện Thanh Quan, dòng thơ Nôm Đường luật xuất hiện phong cách tác giả Nhờ có bà mà tâm hồn dân tộc được biểu hiện một cách tuyệt vời trong một phong cách Đường thi mẫu mực, chải chuốt nhưng không sáo mòn, công thức, thơ đa dạng và phong phú hơn

1.1.2.3 Giai đoạn cuối của thơ Nôm Đường luật

Trần Tú Xương, Nguyễn Khuyến là hai tác giả đã chuyển thơ Nôm Đường luật từ văn học trung đại sang văn học cận - hiện đại, tầm khái quát nghệ thuật của thơ Nôm Đường luật vừa được mở rộng vừa được nâng cao hơn Chức năng phản ánh xã hội của thể loại không chỉ dừng ở mức “trữ tình thế sự”, “tư duy thế sự”, “trào phúng thế sự” mà còn vươn tới chỗ phản ánh xã hội với những chi tiết hiện thực sinh động, phong phú

Ngày mà Tú Xương viết: “Vứt bút lông đi viết bút chì” cũng là ngày báo hiệu thời kỳ suy giảm của thơ Nôm Đường luật Đáp ứng nhu cầu phản ánh và nhu cầu thưởng thức mới, văn học dân tộc xuất hiện những thể loại khác thực hiện tốt chức năng xã hội và chức năng thẩm mỹ mà Đường luật Nôm không vươn tới được

Suốt bảy thế kỷ thơ Nôm Đường luật đã tồn tại với tư cách một thể loại của văn học dân tộc Tuy có nguồn gốc ngoại lai song trong quá trình tồn tại, thơ Nôm Đường luật đã mang một chức năng văn học mới, chức năng thẩm mĩ mới,

Trang 18

khẳng định sự tồn tại không thể thay thế của thể loại này trong lịch sử văn học Việt Nam

1.2 Cảm hứng thế sự trong văn học

Có rất nhiều cách hiểu, giải thích và định nghĩa cho cụm từ “cảm hứng thế sự”, cụ thể là:

Từ điển tiếng Việt phổ thông A - C do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa:

“Cảm hứng là trạng thái tâm lý đặc biệt, khi sức chú ý được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động tích cực và có hiệu quả” [16; 152]

Từ điển tiếng Việt thông dụng do Như Ý chủ biên: “Cảm hứng là dâng

trào những xúc cảm, thúc đẩy óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả, là trạng thái cảm hứng” [22; 142]

Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi chủ biên thì “cảm hứng” hay còn gọi là “cảm hứng chủ đạo” được hiểu là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm, xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật gắn liền với một tư tưởng nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” [2; 38]

Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: “Cảm hứng có nghĩa là trạng thái

tâm lý đặc biệt khi có cảm xúc và sự lôi cuốn mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả dâng trào những xúc cảm, thúc đẩy óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả hay là một dạng biểu hiện trạng thái cảm hứng” [15; 106] “Thế sự (theo cách nói khái quát) là việc đời” [15; 918]

Như vậy từ những khái niệm trên ta có thể hiểu cảm hứng là yếu tố quan trọng quy định nhà văn trong việc sáng tạo ra tác phẩm Hiện thực khách quan đi vào tác phẩm khi người nghệ sĩ nắm bắt chính xác, sâu sắc hiện thực, tuy sự nhận thức này mang đậm tính chủ quan Bởi vậy mà cảm hứng ở mỗi nhà văn luôn khác nhau, ngay cả trong cùng một tác giả thì việc bộc lộ cảm hứng cũng không giống nhau, ở mỗi thời đại, mỗi nhà thơ, nhà văn lại có cảm hứng sáng tác riêng

Trang 19

Hai chữ “việc đời” ngắn gọn nhưng lại cung cấp một lượng thông tin lớn Những “việc đời” ở đây có thể bao gồm nhiều vấn đề xung quanh cuộc sống, sinh hoạt, phong tục, tập quán, lối sống của xã hội con người

Cảm hứng thế sự là dòng tâm tư cảm xúc của con người về việc đời, cảm hứng về cuộc sống đời thường, về con người thực tại Nói đến cảm hứng thế sự

là nói đến những điều gần gũi, quen thuộc về đời sống và con người được tác giả

đưa vào trong các tác phẩm của mình Cảm hứng thế sự trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm là tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ trước

thực tại, suy nghĩ về nhân tình, thế thái

Văn học bắt nguồn từ đời sống để tạo nên những đứa con tinh thần phản ánh đời sống Văn học thế sự có nghĩa là văn học hướng tới phản ánh thực tại xã hội, phản ánh cuộc sống đời thường, hằng ngày của nhân sinh, thế cuộc, của thế thái nhân tình, khám phá mọi vấn đề của cuộc hành trình đi tìm kiếm sự sống và hạnh phúc của con người

Nhà văn, nhà thơ “góp nhặt chuyện đời mà viết nên trang giấy” làm tái hiện trước mắt người đọc nhiều góc cạnh của đời người, với cái đau khổ, vui sướng, hạnh phúc, cái cao cả, cái thấp hèn, cái bi, cái hài xoay quanh cuộc sống

Họ miêu tả cuộc sống như nó vốn có, biểu thị sự đổi mới trong quan niệm của bản thân về tính chân thực của văn học, đưa văn học khỏi tình trạng “minh họa” hay “tô vẽ”

Các tác phẩm mang cảm hứng thế sự vừa là nơi người cầm bút bày tỏ suy nghĩ, tình cảm, cách nhìn nhận của mình về cuộc sống vừa là nơi người đọc có

cơ hội tìm hiểu, khám phá cuộc sống một cách sinh động nhất Nói tóm lại, văn học thế sự luôn hướng tới phản ánh thực trạng cuộc sống ngổn ngang, bề bộn như nó vốn có và đang tồn tại Cảm hứng thế sự trong văn học trung đại chính là tiền đề cho sự ra đời của văn học hiện thực trong thời kỳ sau

Thơ thế sự của Nguyễn Bỉnh Khiêm phần nhiều là những bài thơ viết về mặt trái của hiện thực xã hội đương thời mà nổi bật lên là vấn đề thói đời đen bạc, về những mối quan hệ người với người đầy thực dụng, giả dối, những mối

Trang 20

quan hệ đã bị vật chất chi phối Đó là những biểu hiện trong cuộc sống rối loạn thế kỉ XVI mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng chứng kiến, chiêm nghiệm

Trên cơ sở khái niệm thơ thế sự và căn cứ vào nội dung cụ thể của các câu

thơ trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập, người ta đã thống kê được số các bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm viết về thế sự là 40 trên 153 bài thơ Nôm (trừ phần Cương thường tổng quát) Đây chỉ là một cách phân định có tính chất tương đối bởi vì

ông có nhiều bài thơ vừa mang nội dung triết lí, vừa mang nội dung thế sự Hoặc

có thể nói, qua những vấn đề thực tế xã hội Nguyễn Bỉnh Khiêm nâng lên thành vấn đề triết lí

1.3 Nguyễn Bỉnh Khiêm và Bạch Vân quốc ngữ thi tập

1.3.1 Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi (1491), húy là Văn Đạt, tự là Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ, được học trò suy tôn làm Tuyết Giang phu tử (Tuyết Giang là biệt danh của sông Hàn (lạnh) nơi quê hương ông, phu tử là từ học trò dùng để gọi tôn thầy học của mình thời phong kiến) người làng Trung

Am, huyện Vĩnh Lại, trấn (tỉnh) Hải Dương, nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng Ông mất ngày 28 tháng 11 năm Ất Sửu (17/01/ 1585)

Sinh ra trong một gia đình trí thức Nho học phong kiến, cha là Nguyễn Văn Định, có tài nhưng chỉ làm chức quan nhỏ Mẹ là Nhữ Thị Thục, con gái Thượng thư, Tiến sĩ Nhữ Văn Lan, là một người rất thông tuệ, am hiểu kinh sử, lại giỏi văn chương, tinh thông lý số

Từ nhỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tỏ ra thông minh, hiếu học, thường được

mẹ đem chính văn, kinh truyện và thơ quốc âm ra dạy Năm ông năm, sáu tuổi, trong gia đình có sự không hòa thuận, mẹ ông bỏ nhà ra đi, ông đã phải chịu cảnh bơ vơ không mẹ, ở với cha Lớn lên theo học bảng nhãn Lương Đắc Bằng (1472 -?), được thầy yêu mến, tận tình dạy bảo, truyền thụ cho những điều uyên

thâm trong sử sách, đặc biệt là những kiến thức trong Kinh dịch và Thái ất thần kinh

Trang 21

Nguyễn Bỉnh Khiêm mặc dù sinh ra thời Hồng Đức huy hoàng nhưng lớn lên lại rơi vào thời kì suy thoái của triều đình nhà Lê, không còn vua sáng tôi hiền thời Thánh Tông, Hiến Tông mà xuất hiện những hôn quân, bạo chúa kiểu

Uy Mục, Tương Dực, ít chú ý đến hạnh phúc của quần chúng mà chỉ biết hưởng lạc, sống trên nhung lụa, ham mê tửu sắc khiến cho bọn quan lại kém cỏi dốt nát, có dịp “trổ tài” gian nịnh, kết bè kéo cánh, lũng đoạn triều đình, dối trên lừa dưới, ức hiếp nhân dân, khắp nơi máu chảy thành sông, xương chất như núi

Trên cơ sở đó, Mạc Đăng Dung và phe cánh đứng lên lật đổ nhà Lê để cướp ngai vàng Đăng Dung vốn chỉ là người đánh cá có sức khỏe ở hạt Đồ Sơn, thi trúng võ cử, ban đầu làm lính túc vệ trong cung, leo mãi lên đến chức Tiết chế thủy, lục quân Cuộc nổi loạn giữa hai phía Lê, Mạc thực chất là hai phía Trịnh - Mạc, rồi chuyển dần sang cả hai phía Trịnh - Nguyễn, vốn hai họ có công khôi phục nhà Lê trung hưng

Trước khung cảnh xã hội rối ren, Nguyễn Bỉnh Khiêm và một số bạn thân của mình lấn ná mãi không chịu ra thi, kể cả những kì thi cuối cùng của nhà Lê thời Cung Hoàng đế năm 1523 và năm 1526, phải tổ chức ở cạnh dinh Bồ Đề, bên kia sông Nhĩ Sau đó là kì thi hội lần đầu dưới triều Mạc Đăng Dung năm

1529, tại trấn lị Hải Dương, ở xã Mao Điền (nay là Cẩm Điền, huyện Cẩm Bình, Hải Hưng), ông cũng không ra thi

Đến kì thi hội lần thứ hai, tại Mao Điền dưới triều Mạc Đăng Doanh năm

1532 ông vẫn còn lấn ná, lúc này ông đã 42 tuổi

Khoa thi tiếp theo đó là khoa thi năm Ất Mùi (1536), khoa thi cuối cũng tại Mao Điền (vì sau đó tình hình ổn định, triều mạc chuyển trường thi trở lại Đông Kinh), ông mới ra thi và đỗ trạng nguyên, lúc này ông 45 tuổi

Cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với cuộc xung đột và khủng hoảng triều chính Lê - Mạc gần như chạy suốt thế kỷ XVI đầy sóng gió, được chia làm

3 chặng:

- Chặng 1: từ thời niên thiếu đến năm 1535, khi ông đỗ trạng nguyên, làm quan dưới triều Mạc Đăng Doanh, được sơ bổ chức Hiệu thư ở Hàn lâm viện

Trang 22

- Chặng thứ 2: gồm 8 năm làm quan tại triều cho đến năm Nhâm Dần

1543, dưới triều Mạc Phúc Hải, ông xin về hưu trí sớm hơn tuổi quy định, là chặng đường đầy sóng gió của ông ngoài xã hội cũng như chính lòng mình

- Chặng thứ 3: ông tưởng an nhàn như “ông tiên trên mặt đất” nhưng lại thăng trầm và khổ nhục, bị nhà Mạc ép làm việc này việc kia như làm tham mưu hành quân chống anh em Vũ Văn Mật ở Đại Đồng (Tuyên Quang), hay chống Trịnh ở địa đầu Thanh Hóa, trong tình trạng khi về hưu mà luôn phải “thoắt tới thoắt lui” nơi cửa quyền

Ông là người yêu nước thương dân, luôn luôn có ý thức lấy dân làm gốc, cho nên mới chần chừ không ra thi, vì thi đỗ thì phải làm quan, mà đã làm quan thì phải có ích cho dân, cho nước, nếu không được như vậy thì không nên tham quyền cố vị

Biết cuộc đời mình thất bại trong quan trường, Nguyễn Bỉnh Khiêm hành nghề dạy học từ thời còn là thanh niên trai tráng dựa vào dịch lí vòng đời làm chuẩn (vòng đời tương đối mà bản thân ông chứng kiến trong thời đại và so sánh với vòng đời vô cùng, vô tận của vũ trụ), ông hiểu lẽ sinh hóa - hóa sinh, theo nguyên lí mâu thuẫn thống nhất như câu tục ngữ “tre già thì măng mọc” Ông đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước như Giáp Hải, Lương Hữu Khánh, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà lí học uyên thâm nhưng có quan niệm tích cực xây dựng cuộc sống, ông làm thơ, làm văn để ghi cái chí xây đời vì dân vì nước của ông và dạy học để truyền cái chí ấy cho giới trẻ nối tiếp ông thực hiện sứ mệnh cao quý đó

Tiếp nối xuất sắc tinh thần của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiếp tục khẳng định sự tồn tại và phát triển của thơ Nôm Đường luật bằng sự ra đời

của Bạch Vân quốc ngữ thi tập Nó đã góp phần thúc đẩy giá trị của thơ Nôm

thời trung đại lên một tầm cao mới, tác phẩm không chỉ có giá trị ở thời bấy giờ

mà nhiều tư tưởng nội dung vẫn còn có nhiều giá trị và lợi ích to lớn đối với cuộc sống của con người thời nay

Được ví như cây đại thụ văn học thế kỷ XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu

Trang 23

nhiều ảnh hưởng từ ý thức hệ phong kiến, tư tưởng Nho giáo Ông lên án tất cả những thói hư tật xấu của xã hội phong kiến, cảnh đảo điên của nhân tình thế thái, sự sụp đổ của cương thường đạo lý Ngoài ra, tình hình chính trị xã hội thời bấy giờ cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm và nhận thức đời sống của ông

Thế kỷ XVI bên cạnh thơ chữ Hán, xuất hiện thơ Nôm với thể loại mới như lục bát, song thất lục bát, trong số những người tiêu biểu có Nguyễn Bỉnh Khiêm

Là người trọn cuộc đời sống chủ yếu ở nơi thôn dã, bên cạnh sự ảnh hưởng của Nho gia và văn chương chính thống, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ít nhiều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng tư tưởng, tình cảm của nhân dân, đạo lý dân tộc và các sáng tác dân gian

Lí tưởng thẩm mĩ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đậm đà tinh thần phê phán thói đời đen bạc và cũng đậm đà tính dân tộc chân chính sáng ngời “lo trước thiên hạ” và “vui sau thiên hạ”, tự hi sinh quyền lợi cá nhân của bản thân mình

để thực thi đạo lý cao cả

Nguyễn Bỉnh Khiêm có một hoài bão là được làm “ông tiên trên mặt đất” (địa thượng tiên), đó là quan niệm về triết lí chữ “nhàn” của ông, một cuộc sống lành mạnh:

Ai hỏi: “Làm chi vui nữa?”

(Thơ quốc âm, bài 17) Người dữ thời ta miễn có lành

Làm chi đo đắn nhọc đua tranh!

(Thơ quốc âm, bài 29)

Nguyễn Bỉnh Khiêm làm thơ khá nhiều, nhất là thơ chữ Hán, chính ông

đã nói rõ điều đó trong bài Tựa cuốn Bạch Vân am thi tập Riêng thơ quốc âm

không rõ tổng số là bao? Trong số 177 bài thơ còn lại, có khoảng mấy chục bài giống thơ quốc âm của Nguyễn Trãi hoặc thơ quốc âm thời Hồng Đức, có thể do

Trang 24

những người thừa kế khi tập hợp đã chép lẫn lộn thơ người này với người khác, cùng với những khảo dịch khó tránh khỏi

1.3.2 Bạch Vân quốc ngữ thi tập

“Bạch Vân” là tên hiệu của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nó còn có cách hiểu khác là mây trắng, ngụ ý tâm hồn của tác giả cả đời trong trắng, cao cả, không

có vết bùn nhơ “Quốc ngữ thi tập” là tập thơ viết bằng chữ quốc ngữ Có thể

hiểu Bạch Vân quốc ngữ thi tập là tập thơ viết bằng chữ quốc ngữ của Bạch Vân

cư sĩ (sử dụng theo cách nói của chính tác giả)

Theo Bùi Văn Nguyên trong phần mở đầu cuốn Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, tập một, Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm lâu nay chỉ

nghe nói có 100 bài, chép trong các bản Nôm khác nhau với nhiều kí hiệu: AB.157, AB.309, AB.414, trước ở Thư viện khoa học xã hội, nay ở Thư viện

Hán - Nôm 1918 - 1926, trong Tạp chí Nam Phong, hay năm 1932, trong sách Văn Đàn bảo giám của Trần Trung Kiên, hay năm 1939 trong Bạch Vân am thi tập do Sở Cuồng Lê Dư soạn

Năm 1957, trong phần phụ lục sách Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà thơ triết lí

do Lê Trọng Khánh - Lê Anh Trà viết

Năm 1974 trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập do Nguyễn Quân soạn dưới

chế độ Sài Gòn tạm chiếm thì một phần, chứ không phải 100 bài nói trên, được phiên âm và giới thiệu, mỗi người một kiểu

Khoảng những năm 60, kí hiệu AB635 được phát hiện dưới cái tên Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập, trong đó có 177 bài Nôm chứ không

phải chỉ có 100 bài như các bản Nôm nói trên, tuy nhiên trật tự ghi chép lại lộn xôn, so sánh thì vẫn đúng, có thêm 77 bài không kể 12 bài chữ Hán được chép phần cuối sách

Nhà xuất bản Văn học Hà Nội đã nhờ người phiên vỡ 177 bài trong kí hiệu AB.635

Năm 1983 nhóm Đinh Gia Khánh - Hồ Như Sơn - Bùi Duy Tân chọn 161

trong tổng số 177 bài đưa vào tập Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trang 25

Theo Bùi Duy Tân trong cuốn Từ điển văn học Bộ mới, Bạch Vân quốc ngữ thi tập (Thơ quốc ngữ Bạch Vân), tập thơ Nôm của nhà thơ Việt Nam Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có tên: Trình quốc công Bạch Vân thi tập (Tập thơ

Bạch Vân của Trình Quốc công)

Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập (Tập thơ của Trình Quốc

công Nguyễn Bỉnh Khiêm, AB, 309; AB, 635 ) Theo Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú sách này gồm hai quyển, nhưng có lẽ nguyên cảo đã thất lạc; các bản còn lại sao chép không thống nhất, có 100 bài, có bản non 200 bài, bản nào cũng

có một số bài lẫn lộn với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi Đối chiếu so sánh thì tập thơ có khoảng 170 bài Thể thơ chính là Bát cú Đường luật có xen nhiều thể pha lục ngôn, không ghi rõ đầu đề từng bài, từng môn loại như Quốc âm thi tập hay Hồng Đức quốc âm thi tập Cũng gần giống như Bạch Vân am thi tập,

chủ đề nổi bật của tập thơ Nôm này là ca tụng cảnh nhàn dật, phủ định công danh phú quý, than trách thế tục đen bạc, khuyên mọi người sống theo đạo lý tự nhiên để đạt đến sự hài hòa với tự nhiên, xã hội trong cõi phù thế đảo điên, trọc loạn

Tập thơ được viết trong thời gian tác giả đã trí sĩ nên tư tưởng nhàn dật bao trùm, những lời khuyên miễn, trách móc thường nhẹ nhàng, kín đáo, có kinh nghiệm của sự từng trải và am hiểu tâm lý người đời Thơ có vẻ nặng về triết lý, nhẹ về cảm xúc, đọc qua tưởng như những lời giáo huấn khô khan Sự thực nặng lòng thương nước, lo đời, quan tâm đến thế sự, thơ của Bạch Vân cư sĩ bao giờ cũng ân cần, tình nghĩa, đặc biệt khi nói về thiên nhiên, khi miêu tả cuộc sống của nhà thơ ở thôn dã thì lời thơ vừa trong trẻo, hồn nhiên, vừa đậm phong vị dân tộc

“So với thơ Nôm thế kỉ XV, Bạch Vân quốc ngữ thi ít dùng hơn những từ ngữ điển cố Hán học, tiếp tục truyền thống thơ Nguyễn Trãi, Bạch Vân quốc ngữ thi là một cố gắng mới đẩy mạnh quá trình Việt hóa trong sáng tác thơ văn

Nôm; đồng thời lại kết hợp sử dụng tục ngữ, thành ngữ và khẩu ngữ để miêu tả những nét sinh hoạt chất phác ở thôn quê cũng như biểu hiện những khái niệm,

Trang 26

văn học dân tộc, là tác phẩm phản ánh bước phát triển mới của thơ Nôm sau

Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập” [14; 81]

Theo Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu tác phẩm chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện nay còn truyền lại một tập: “Bạch Vân quốc ngữ thi còn non một trăm bài không có đề mục Những bài ấy hoặc vịnh cảnh

nhàn tản, hoặc tả thế thái nhân tình để ngụ ý khuyên răn người đời Lời thơ bình đạm mà có ý vị; những bài vịnh cảnh nhàn thì phóng khoáng, thanh tao, rõ ra phẩm cách một bậc quân tử đã thoát vòng danh lợi mà biết thưởng thức cảnh vật thiên nhiên; còn trong những bài răn đời thì có giọng trào phúng nhẹ nhàng, kín đáo, rõ ra một bậc triết nhân đã từng trải việc đời và am hiểu tâm lý người đời Thật là một lối thơ đặc biệt trong nền văn Nôm của ta Thơ viết theo thể thất ngôn có xen những câu lục ngôn” [3; 281]

“Văn Nôm phôi thai tự đời Trần đến đời Lê, Mạc đã ngày một phát đạt và

tiến bộ Nếu đem tập Bạch Vân quốc ngữ thi tập so sánh với Hồng Đức quốc âm thi tập thì ta nhận thấy thơ Nôm về thế kỷ XVI đã tiến hơn thơ Nôm thế kỷ XV

nhiều Trong tập thơ Hồng Đức, câu đặt nhiều chỗ nặng nề, chữ dùng còn nhiều Hán tự, chưa thoát li ra ngoài khuôn sáo thơ Tàu; đến tập thơ Bạch Vân thì câu đặt uyển chuyển, ít dùng chữ Nho, rõ ra lời thơ Nôm đã thuần thục vậy”[3; 282]

Những tiền đề lịch sử, xã hội, văn hóa, tư tưởng của Bạch Vân quốc ngữ thi tập: Thế kỉ XVI là một thời kì loạn lạc, đảo lộn về xã hội và nội chiến liên

miên giữa các thế lực chính trị Năm 1527, Mạc Đăng Dung đã phế truất nhà Lê,

lập nên nhà Mạc như một tất yếu của lịch sử

Trong những buổi đầu, nhà Mạc thực hiện một số chính sách kinh tế mới đem lại lợi ích cho nông dân như sửa lại chế độ quân điền, không ức thương như các triều đại trước

Mặt khác, do việc giao lưu buôn bán được chú trọng, tầng lớp thương nhân có nhiều cơ hội để phát triển Đồng tiền đã trở thành một thế lực mới, làm khuynh đảo xã hội Tất cả những điều đó đã in đậm dấu ấn trong thơ Trạng Trình

Thế kỉ XVI, chiến tranh phong kiến liên miên gây bao thảm cảnh cho

Trang 27

nhân dân Nhưng đó cũng là thời kì nhiều công trình kiến trúc được trùng tu hoặc làm mới Các chùa, quán, đình được xây dựng thời này còn lưu lại nhiều kiểu dáng kiến trúc mới mẻ, trang trí, chạm khắc độc đáo, đậm chất dân gian

Các loại hình sân khấu như chèo, múa rối và các trò diễn dân gian khác cũng được phục hồi, phát triển Nền mĩ thuật và nghệ thuật thời này về nhiều mặt đã thoát ra ngoài những khuôn sáo, ước lệ chính thống, gần gũi với văn hóa dân gian, bình dị, lành mạnh giàu sức sống

Sức ép của tư tưởng chính thống trong giai đoạn loạn lạc này không còn chặt chẽ như trước Tư tưởng xã hội đã có phần tự do khai phóng hơn Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn học nói riêng và văn hóa nói chung trong đó

có thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tiếp nối tất cả những nội dung đã được

định hình ở nền văn học dân tộc, đặc biệt ở thơ Nôm Đường luật từ Quốc âm thi tập đến Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập ra đời đã ghi

nhận một dấu ấn đậm nét những tâm sự của thi nhân trong thời buổi khủng hoảng của chế độ phong kiến ở thế kỷ XVI

Thời Mạc Đăng Doanh, với chính sách ngoại giao khéo léo đã cởi mở về tôn giáo, tín ngưỡng, tư tưởng, do đó đã tạo điều kiện cho Phật giáo, Đạo giáo

có cơ hội phát triển trở lại.Văn hóa dân gian cũng có điều kiện để lớn mạnh Sự cởi mở về mặt tư tưởng đã có tác động tích cực đến sáng tác văn học, đến tư tưởng của đông đảo tầng lớp trí thức đương thời, trong đó có cư sĩ làng Trung

Am

Những tri thức uyên thâm mà Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp thu được từ sách

vở, cùng với sự kế thừa dòng thơ triết lí, thế sự trước đó và sự trải nghiệm của cuộc đời một con người hiểu biết rộng đã tạo ra cho ông vị thế một nhà thơ triết

lí thế sự độc đáo thời trung đại Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa là người kế thừa, vừa

là một trong những người đặt nền móng vững chắc cho thơ triết lí, thơ thế sự thế

kỷ sau

Trang 28

Tiểu kết chương 1

Thơ Nôm Đường luật đã tồn tại với tư cách là một thể loại của văn học

dân tộc, mang một chức năng văn học mới, chức năng thẩm mĩ mới, khẳng định

sự tồn tại không thể thay thế của thể loại này trong lịch sử văn học Việt Nam

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhân chứng sống của lịch sử, là một tác gia tiêu biểu, có nhiều đóng góp cho nền văn học dân tộc, là người góp phần đưa thơ Nôm Đường luật tiến dần đến đỉnh cao của sự hoàn thiện

Tư duy thế sự trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm một mặt làm cho sáng tác của ông gần “triết” và xa “thơ” hơn so với Nguyễn Trãi, mặt khác đã đưa thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp cận cuộc sống vừa cụ thể, vừa sinh động, vừa có tầm khái quát xã hội rộng lớn Từ hiện thực thời đại, thơ ông có sức khái quát mang

ý nghĩa phê phán, tố cáo những tiêu cực của nhiều thời đại khác nhau

Bạch Vân quốc ngữ thi tập là tập thơ có giá trị, nó giống như một bức

tranh thu nhỏ toàn bộ cuộc sống đương thời để phản ánh trong thơ, đó là cảm hứng phê phán, tố cáo hiện thực xã hội xuất phát từ những điều mắt thấy tai nghe, là những đề tài, chủ đề mang tính chất xã hội cao

Trang 29

CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG BẠCH VÂN QUỐC NGỮ

THI TẬP CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

2.1 Những phương diện của cảm hứng thế sự

Nguyễn Bỉnh Khiêm phát hiện ở xã hội có nhiều biểu hiện của cái xấu, cái

ác đang lẩn trốn ở trong mỗi con người, mỗi hành vi thể hiện trong các mối quan

hệ không còn vô tư, trong sáng Đó là những mối quan hệ mang tính chất thực dụng, thói tham phú, phụ bần, bạc bẽo, hợm hĩnh, những ganh ghét đố kị và bài trừ lẫn nhau của con người Qua những bài thơ về “thói đời” Trạng Trình vừa chỉ ra những thói tệ xã hội, nêu lên những bài học cảnh tỉnh cho người đời

2.1.1 Đồng tiền và sự quyết định quan hệ con người

Trong văn học trước Nguyễn Bỉnh Khiêm, hình ảnh đồng tiền thấp thoáng xuất hiện trong thơ Nguyễn Trãi, nhưng mới chỉ dừng lại ở chữ “lộc”

Đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, vai trò của đồng tiền trong đời sống được thể hiện nhiều trong thơ, đây là giai đoạn đầu nói đến tác động của đồng tiền đối với con người, sau đó bộ mặt của đồng tiền được thể hiện rõ hơn trong thơ Nguyễn

Du, sau này là Tú Xương

Trong truyện Người nghĩa phụ ở Khoái Châu trích Truyền kì mạn lục của

Nguyễn Dữ, Trọng Quỳ vì đánh bạc mà phải gán vợ, điều này chứng tỏ đồng tiền đã bắt đầu có sự tác động vào đời sống và chi phối hạnh phúc của con người

Người Việt Nam từ xưa sinh sống trong tổ chức cộng đồng làng xã “Làng

là đơn vị, là tế bào của đất nước” (Phan Ngọc) Nói tới làng xã, người ta nghĩ

đến ngay một sinh quyển gần gũi, gắn bó, thân thuộc, với cây đa, bến nước, sân đình, tạo thành những hằng số của làng quê Người Việt Nam sống bằng tình làng nghĩa nước: “Bà con vì tổ vì tiên, không ai bà con vì tiền vì gạo” Thế nhưng đến thế kỷ XVI, khi nền kinh tế hàng hóa hình thành thì những mối quan

hệ đó cũng chịu ảnh hưởng nhất định và dần đi vào chỗ rạn nứt

Trong lịch sử văn học Việt Nam không phải đến tận thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mới xuất hiện hình ảnh đồng tiền, nhưng chỉ bắt đầu từ thơ Nguyễn Bỉnh

Trang 30

để hiện thực xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVI hiện lên với những đường nét chân

thực và cụ thể Khảo sát 177 bài thơ trong tập thơ Bạch Vân quốc ngữ thi tập

chúng tôi thống kê được 35 bài có những câu thơ trực tiếp hoặc gián tiếp xuất hiện hình ảnh đồng tiền, chiếm 19,7%

Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có tầm nhìn trước thời đại nên ông lo ngại trước tình thế điên đảo, lòng người ngả theo điều ác, chạy theo danh lợi, việc nhân nghĩa chẳng mấy ai làm Cái nhân tình thế thái đó khiến ông trăn trở trong

lòng và in đậm trong thơ văn, đặc biệt là Bạch Vân quốc ngữ thi tập

Hình ảnh đồng tiền trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện trực tiếp mối quan hệ giữa người với người: Trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập, hiện thực các mối quan hệ giữa người với người được miêu tả

một cách chân thực và sinh động, diện mạo bức tranh xã hội nước ta thế kỷ XVI

dần được xây dựng lên

Có được điều đó là do Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đúc rút từ cuộc sống kết hợp với những nhận thức sâu sắc của một cuộc đời đầy trải nghiệm Từ sự quan sát khách quan và tinh nhạy thế thái nhân tình, ông nhận thấy có một thực tế đang xâm lấn vào trong tất cả các mối quan hệ lúc đó, ấy là sự xâm lấn của thế lực đồng tiền

Trong xã hội ấy, đồng tiền là ranh giới phân cách con người thành hai loại: giàu - nghèo Hai loại người ấy khác hẳn nhau, một bên hợm của, một bên mặc cảm:

Giàu chĩnh chện, khó lây nhây

(Bài 2) Đồng tiền quy định thái độ đối xử giữa người với người Tất cả sự trọng - khinh của người đời đều bị nó chi phối, cho nên xã hội mới có cái cảnh:

Giàu sang người trọng, khó ai nhìn, Mấy dạ yêu vì kẻ lỡ hèn

(Bài 5)

Ở đó người ta chỉ “trọng” và “yêu” những kẻ có tiền của, ngược lại, những người nghèo khó thì chỉ nhận được một thái độ lạnh lùng

Trang 31

Đồng tiền như một chất keo gắn liền hoặc giãn cách các mối quan hệ:

Thuở khó dẫu chào, chào cũng lảng, Khi giàu chẳng hỏi, hỏi thì quen

(Bài 5)

Giàu người hợp, khó: người tan

(Bài 49) Nhân tâm li tán, luân lý đạo đức suy đồi cực điểm, người đời bạc bội, vì tiền mà trở nên tráo trở Vì đồng tiền mà khi thất thế, sa cơ ngay cả anh em thân thích cũng quay mặt với máu mủ, ruột già của mình

Thơ chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm còn lại không nhiều nhưng là vốn quý của nền văn học ta, nó phê phán thói đời đen bạc, chạy theo tiền tài danh lợi một cách nhơ bẩn, và đề cao đạo lí chân chính theo cái hướng trung trinh, liêm khiết:

Say mùi đạo, trà ba chén,

Tả lòng phiền: thơ tám câu

(Bài 122) Nguyễn Bỉnh Khiêm tố cáo thế lực đồng tiền, tố cáo thói đời chủ yếu trên lập trường đạo đức phong kiến, khẳng định Nho giáo

Mối quan hệ giữa con người với tiền bạc, của cải: Trong thơ Nôm thế sự

của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bên cạnh việc chỉ ra những việc xấu xa trong quan hệ giữa người với người đầy toan tính thực dụng, xảo trá ông cũng đã nêu lên những tác hại do đồng tiền gây ra và coi đó là đầu mối dẫn đến sự đảo điên về cương thường đạo lí trong xã hội Bằng cái nhìn của nhà đạo đức Nguyễn Bỉnh Khiêm đau xót khi của cải tiền bạc chi phối mọi quan hệ, nó quyết định thái độ của con người đối với con người, quyết định tình nghĩa, làm tha hóa con người Thơ ông vừa là lời cảnh báo về sức công phá và sự bạc bẽo của đồng tiền

Nếu chỉ xét ở thơ Nôm Đường luật thì từ Quốc âm thi tập của Nguyễn

Trãi, cảm hứng thế sự được bộc lộ trong thơ ngày càng sâu sắc hơn, những vấn

đề thế sự được phản ánh đã gần sát hơn với cuộc sống vốn mang nhiều ẩn ức của nhà Nho

Trang 32

trong thực tế xã hội, từ đó ông khái quát lên những nhận xét sâu sắc mang tính triết lý độc đáo Thơ thế sự đến Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có sự chuyển biến từ

“thế sự” qua tình cảm, cảm xúc cá nhân để trở thành những vấn đề thế sự mang tính khái quát, tính quy luật của muôn đời, nói cách khác từ trữ tình thế sự sang

tư duy thế sự

Hình tượng đồng tiền trong thơ ông hằn lên rất rõ: Đúng là xã hội thời

bấy giờ khá đảo điên khiến cho đồng tiền lăn trên lương tâm con người:

Đắc thời thân thích chen chân đến, Thất thế hương lân (lư) thỉnh mặt đi!

(Bài 58)

Nó chi phối các mối quan hệ xã hội “Tiền tài là số của lưu thông”:

Giàu sang người đến họp đam chiêu, Bần tiện ai kẻ trọng yêu?

(Bài 63)

Và còn xâm nhập vào cả nơi “cửa Khổng sân Trình”:

Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử, Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi

(Bài 77) Ngay cả mối quan hệ thiêng liêng: thầy - trò tưởng như bất di bất dịch của Nho gia nay cũng bị hủy hoại trước bạc, tiền, cơm, rượu

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một con người có tấm lòng ưu dân ái quốc, nhưng trước thế sự rối ren, ông đành bất lực, đồng thời ông còn lo sợ trước thói đời điên đảo, trước cảnh người đời đang đổ xô chạy theo danh lợi Đồng tiền quyết định thái độ cư xử của con người, thơ ông đã cho ta thấy được bức tranh khá sinh động về thời đại Một “không gian chợ búa” bao trùm lên tất cả: từ trong quan hệ gia đình, xóm giềng, bạn hữu đối xử với nhau xa lạ, nồng nàn đều do vật chất mà ra:

Trước đến tay không nào đoái (thốt) hỏi, Sau vào nặng túi (gánh nặng) lại vui cười

Anh anh, chú chú mừng hơ hải,

Trang 33

Rượu rượu, chè chè thết tả tơi

(Bài 80) Con người trở nên tráo trở ra mặt, kẻ có tiền và kẻ vì tiền cứ như những con rối, thái độ cứ thay đổi, cử chỉ trước sau bất nhất, thậm chí đối lập thái quá,

từ chỗ “nào thốt hỏi” khi đến thăm nhau tay không, hỏi han chẳng có lấy một lời

vậy mà lại có thể “vui cười” rồi “Anh anh, chú chú mừng hơ hải/ Rượu rượu, chè chè thết tả tơi”, thái độ thực dụng, hám lợi ích hiện lên rõ mồn một

Lối sống thanh tao, thái độ đối xử ân cần với người khác là những điều đáng quý, thế nhưng bây giờ nó lại cần có sự song hành của tiền bạc, trong con mắt của những kẻ thực dụng nếu không kèm theo yếu tố vật chất thì những điều

đó chỉ là trò lố bịch:

Thanh tao có của, thanh tao bấy, Náo nức tay không, náo nức chi?

(Bài 88) Đồng tiền vô hình làm thay đổi bản chất con người, khiến ranh giới giữa cái thiện - ác, tốt - xấu trở nên mỏng manh hơn bao giờ hết:

Cơm cháo bỗng xui người hóa quỷ, Oản xôi dễ khiến bụt nên ma

(Bài 101) Đọc thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta hình dung ra một thực tế đáng buồn cười trước hai cảnh tượng đối lập:

Tiền ròng bạc chảy: tưng bừng đến, Nhà khó, tay không, lững thững đi

(Bài 110) Bằng giọng mỉa mai châm biếm, những ý thơ thâm thúy, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vẽ lên một hiện thực đáng buồn khi con người cư xử với nhau như trở bàn tay Nhà thơ đã lột tả sâu sắc đến từng chi tiết hiện thực Rõ ràng trong xã hội ấy, đồng tiền là căn nguyên của việc con người ta được trọng vọng hay khinh thường

Nguyễn Bỉnh Khiêm xác nhận vai trò của đồng tiền như một tiếng động

Trang 34

lạ, vang lên âm thanh đáng sợ:

Đạo nọ nghĩa này trăm tiếng bướm, Nghe lâu (thôi) thinh thỉnh lại đồng tiền

(Bài 5) Trăm tiếng cãi cọ nhau đạo này nghĩa nọ om sòm, nhưng hễ nghe thấy tiếng đồng tiền kêu thinh thỉnh thì lại thôi ngay, không còn cãi nhau nữa Dường như ấy là âm thanh của thế lực đang khuấy động, làm mưa làm gió trong xã hội

“Nghe thôi” tức là nghe một việc đã lắng xuống là biết ngay có sự xuất hiện của đồng tiền, hay chính là âm thanh của những đồng tiền kim loại đang vang lên vậy

Gần 300 năm sau, Nguyễn Công Trứ có những câu tương tự khi Vịnh đồng tiền:

Đương om sòm chớp giật sấm ran, Nghe xóc xách lại mưa hòa gió thuận

Tiếng xỏng xảnh cả trong trời đất, Thần cũng thông huống nữa là ai

Trong văn học Việt Nam, trước Nguyễn Bỉnh Khiêm thì chưa ai nghe thấy được thứ âm thanh đó Nguyễn Trãi - tác giả tiêu biểu của cả vài thế kỷ trước (X

- XV) cũng mới chỉ dừng lại ở chữ “lộc” Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là nhà thơ hiện thực, nhưng hiện thực lại được hiện lên rõ nét trong thơ ông

Bức tranh xã hội bon chen, xúm xít, rối rít xung quanh kẻ có tiền, sau này Nguyễn Công Trứ miêu tả bằng phong cách ngôn ngữ có tính chất cách điệu hóa nhưng cũng mang một nội hàm tương tự:

Thế thái nhân tình gớm chết thay, Lạt nồng trông chiếc túi vơi đầy

Hễ không điều lợi khôn thành dại,

Trang 35

Nguyễn Bỉnh Khiêm có những cái nét kín đáo nhẹ nhàng, khiến người đọc dễ cảm, không mất lòng ai, kể cả những người thuộc vòng than trách Ông hầu như chỉ đề cập tới một mặt của hiên thực xã hội: mối quan hệ giữa người với người, trong phạm vi giới hạn đó Nguyễn Bỉnh Khiêm đã hướng ngòi bút vào mảng hiện thực cơ bản, đặc trưng nhất của thời đại ông: những quan hệ xã hội đã bị phá vỡ, những quan hệ xã hội mới phát sinh, của cải thay cho tình nghĩa, sự tráo trở quay quắt thay cho lòng tin, danh dự, và một thế lực mới xuất hiện: đồng tiền

Mọi thứ trong xã hội đồng tiền bị đảo lộn lên đến nỗi Nguyễn Bỉnh Khiêm phải thốt lên:

Thế gian biến cải vũng nên đồi, Mặn nhạt, chua cay, lẫn ngọt bùi

(Bài 77)

Và ông đưa ra một kết luận chua chát:

Người của lấy cân ta thử nhắc Mới hay rằng của nặng hơn người

(Bài 80) Ông phê phán tính hay ghen ghét, tính ích kỷ, hại nhân của người đời, vì đồng tiền mà không còn tình làng nghĩa xóm:

Người hàng thịt nguýt người hàng cá, Đứa bán bò gièm đứa bán trâu

Bé vú thở than người cả vú,

Ít râu inh ỏi kẻ nhiều râu

(Bài 120) Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vẽ nên một “không gian chợ búa”, phản ánh khá

cụ thể, sống động, chân thực xã hội ở thời ông, ở đó có tiếng reo sỏng sảnh của đồng tiền, lời la lối cãi cọ “om sòm”, cái nguýt lườm kèn cựa, thái độ dửng dưng lạnh nhạt, dáng hơ hải vồ vập của con người Tất cả đều xoay quanh đồng tiền,

và để xác minh phải dùng đến phương tiện “đặc trưng” cho chợ búa - cái cân

Ngày đăng: 21/09/2016, 10:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Doãn Chính (chủ biên) (2011), Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX
Tác giả: Doãn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
3. Dương Quảng Hàm (1951), Việt Nam văn học sử yếu, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Năm: 1951
4. Nguyễn Phạm Hùng (2001), Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XX
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
5. Trần Đình Hượu (2004), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
6. Đinh Gia Khánh (chủ biên) (2005), Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Đinh Gia Khánh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
7. Đinh Gia Khánh (chủ biên) (2010), Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII
Tác giả: Đinh Gia Khánh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
8. Ngô Sĩ Liên (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2004
9. Nguyễn Lộc (2000), Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
11. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên) (2014), Ngữ văn 10, tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10, tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
12. Nguyễn Đăng Na (chủ biên) (2012), Văn học trung đại Việt Nam, tập 1, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trung đại Việt Nam, tập 1
Tác giả: Nguyễn Đăng Na (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2012
13. Nguyễn Nghiệp (1999), Trạng Trình sấm và ký (truyện danh nhân), Nxb Văn hóa - Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trạng Trình sấm và ký
Tác giả: Nguyễn Nghiệp
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin Hà Nội
Năm: 1999
14. Bùi Văn Nguyên (Phiên âm - Chú thích - Giới thiệu) (1989), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, tập một, Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, tập một, Bạch Vân quốc ngữ thi tập
Tác giả: Bùi Văn Nguyên (Phiên âm - Chú thích - Giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1989
15. Hoàng Phê (chủ biên) Từ điển tiếng Việt phổ thông tập 1 A - C (1975), Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt phổ thông tập 1 A - C
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên) Từ điển tiếng Việt phổ thông tập 1 A - C
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1975
16. Hoàng Phê (chủ biên) (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà nẵng - Trung tâm từ điển học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà nẵng - Trung tâm từ điển học Hà Nội
Năm: 2005
17. Trần Đình Sử (2005), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
18. Lê Văn Tấn (2013), Tác giả nhà Nho ẩn dật và văn học trung đại Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả nhà Nho ẩn dật và văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Tấn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2013
19. Trần Thị Băng Thanh - Vũ Thanh (Tuyển chọn và giới thiệu, 2001), Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. Lã Nhâm Thìn (1998), Thơ Nôm Đường luật, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Nôm Đường luật
Tác giả: Lã Nhâm Thìn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
21. Lã Nhâm Thìn (chủ biên) (2012), Giáo trình văn học trung đại Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học trung đại Việt Nam, tập 1
Tác giả: Lã Nhâm Thìn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w