Tăng insulin Do thay đổi chuyển hóa của mẹ: truyền đường, truyền thuốc trong thai kỳ; bệnh tiểu đường Do di truyền bẩm sinh: đột biến gen mã hóa sự điều hòa bài tiết insulin của tế bà
Trang 1HẠ ĐƯỜNG HUYẾT SƠ SINH
Sinh viên VŨ THÚY NGA – lớp 14YB
Trang 2KHÁI NIỆM
Theo hiệp hội nhi khoa Mỹ: glucose huyết của trẻ dưới 2,6 mmol/L (47mg/dL)
Một số tài liệu khác: hạ đường huyết sơ sinh là khi glucose huyết
- Dưới 2,2 mmol/L (40mg/dL) trong 24 giờ đầu sau sinh với những trẻ không có triệu chứng
- Dưới 2,5 mmol/L (45mg/dL) trong 24 giờ đầu với những trẻ có triệu chứng
- Dưới 2,8 mmol/L (50mg/dL) sau 24 giờ tuổi
Trang 3NGUYÊN NHÂN
Giảm dự trữ glycogen
Tăng sử dụng glucose
Tăng insulin
Trang 4Tăng insulin
Do thay đổi chuyển hóa của mẹ: truyền đường, truyền thuốc trong thai kỳ; bệnh tiểu đường
Do di truyền bẩm sinh: đột biến gen mã hóa sự điều hòa bài tiết insulin của tế bào beta đảo tụy
(ABCC8, KCNJ11, SUR1, …)
Tăng insulin thứ phát: ngạt, hội chứng beckwith – wiedemann, mẹ điều trị thuốc terbutaline,
catheter động mạch rốn sai vị trí, ngừng đột ngột dịch truyền glucose cao, khối u sản xuất insulin,
…
Trang 5Giảm sản xuất/ dự trữ glucose
Chậm phát triển trong tử cung
Đẻ non
Chế độ dinh dưỡng không đủ năng lượng
Cho ăn muộn
Trang 6Tăng sử dụng và/hoặc giảm sản xuất glucose
Stress chu sinh: nhiễm trùng, sốc, ngạt, hạ thân nhiệt, suy hô hấp
Rối loạn chuyển hóa bẩm sinh: carbohydrate (không dung nạp đường fructose, rối loạn chuyển
hóa đường galactose); acid amin, acid béo
Rối loạn nội tiết: thiếu hormon tuyến yên/ glucagon/ cortisol/ adrenaline
Đa hồng cầu
Mẹ dùng thuốc chẹn beta (propanolon, …)
Trang 7Chẩn đoán: lâm sàng, cận lâm sàng
Kích thích/ run giật/ co giật
Li bì, ngơ ngác
Tiếng khóc bất thường
Thở rên/ thở nhanh/ cơn ngừng thở
Vã mồ hôi
Nhịp tim nhanh
Hạ nhiệt độ
Trẻ sơ sinh cũng có thể có hạ đường huyết mà không có triệu chứng
Cần làm xét nghiệm glucose huyết cho tất cả những trẻ sơ sinh có triệu chứng và sàng lọc hạ đường
huyết cho những trẻ sơ sinh bị bệnh và trẻ sơ sinh có nguy cơ
Sàng lọc ngay giờ đầu sau sinh và tiếp tục theo dõi thường quy trong thời gian tiếp theo
Trang 8Cận lâm sàng
1. Xét nghiệm xác định chẩn đoán: nồng độ glucose huyết; test nhanh Dextrostix
2. Xét nghiệm tìm nguyên nhân – làm khi có hạ đường huyết dai dẳng (hạ đường huyết nặng có co
giật hoặc thay đổi ý thức ở trẻ không có bệnh gì khác hoặc trẻ cần duy trì tốc độ truyền đường >
8 – 10 mg/kg/phút và kéo dài trên 1 tuần): insulin huyết thanh xét nghiệm đồng thời với glucose
huyết thanh; cortisol
3. Trường hợp hạ đường huyết dai dẳng với insulin huyết thanh bình thường, cần xem các xét
nghiệm: hormon tăng trưởng (GH, ACTH, T4,TSH); glucagon, amino acid huyết thanh, niệu;
xét nghiệm gen
Trang 9Xử trí
Tình trạng cấp cứu nếu có: co giật, tím tái, suy hô hấp,
Điều chỉnh đường huyết: mục tiêu duy trì glucose huyết trên 2,6 mmol/L trong ngày đầu sau sinh và
trên 2,8 mmol/L trong những ngày sau
Điều chỉnh chế độ ăn: áp dụng cho mức glucose huyết từ 2 – 2,6 mmol/L và không có triệu chứng
Bú mẹ sớm ngay sau sinh Trẻ có nguy cơ cần được cho ăn sớm ngay trong giờ đầu sau sinh và sàng
lọc glucose huyết sau đó 30 phút
Nếu trẻ không thể bú mẹ thì vắt sữa và cho trẻ ăn bằng phương pháp thay thế, lượng ăn đủ theo nhu
cầu trong ngày
Có thể tăng cường 12 bữa/ngày
Theo dõi đường huyết trước ăn
Trang 10Xử trí: truyền dịch
Trẻ có triệu chứng
Glucose huyết < 1,4 mmol/L
Glucose huyết < 2,2 mmol/L (40mg/dL) sau khi đã được điều chỉnh bằng chế độ ăn
Trẻ không ăn được
Với mức glucose <1,4 mmol/L cần tiêm tĩnh mạch dịch glucose 10%, 2ml/kg trong 1 phút, sau đó truyền
dịch
Tốc độ truyền đường 6 – 8 mg/kg/phút, truyền dung dịch glucose 10% liều duy trì 80 – 120 mg/kg/ngày
Theo dõi glucose huyết 3 giờ/lần cho đến khi đường được trên 2,6 mmol/L ở 2 lần xét nghiệm liên tiếp.
Trang 11Nếu hạ đường huyết dai dẳng
Nếu kéo dài trên 2 ngày với tốc độ truyền đường đến 12mg/kg/phút, có thể phải điều trị thuốc
diazocid hoặc hydrocortisone và cần phải tìm căn nguyên để điều trị
Sử dụng glucagon khi đã sử dụng glucocorticoid mà không hiệu quả.