ĐẶT VẤN ĐỀHạ glucose máu sơ sinh là tình trạng giảm nồng độ glucose trong máu dưới mức bình thường- là một trong những rối loạn chuyển hóa thường hay gặp, đặc biệt là những trẻ có nguy c
Trang 1
BS: Trần Thị Thu Hà BS: Ngô Thị Oanh
THÁI NGUYÊN – 2015
Trang 3PHỤ LỤC
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Hạ glucose máu sơ sinh là tình trạng giảm nồng độ glucose trong máu dưới mức bình thường- là một trong những rối loạn chuyển hóa thường hay gặp, đặc biệt là những trẻ có nguy cơ cao [1] Nguyên nhân gây bệnh thường
là sự suy giảm sản xuất glucose hoặc dự trữ glycogen ở gan trong thời kỳ bào thai, hoặc sự gia tăng nhu cầu sử dụng glucoe, rối loạn tân tạo glucose, phân hủy glycogen Bình thường mức độ sử dụng ở trẻ sơ sinh cao hơn người lớn trong đó não là nơi sử dụng glucose như một năng lượng chủ yếu Đối với trẻ
sơ sinh non tháng thấp cân dự trữ glycogen thường giảm, khả năng phân hủy glycogen tạo đường cũng giảm nên trẻ dễ bị hạ glucose máu trong những ngày đầu sau sinh Từ trong bào thai thì glucose là loại thức ăn cung cấp năng lượng duy nhất vì vậy sau sinh theo thời gian lượng glucose giảm dần một cách sinh lý chính điều đó sẽ cân bằng hormon trong cơ thể đặc biệt là insulin Khi các cơ quan hoạt động một cách nhịp nhàng thì hàm lượng glucose trong máu sẽ được duy trì một cách ổn định Hạ glucose máu được coi là một yếu tố nguy cơ nghiêm trọng đối với trẻ sơ sinh [2]
Hạ glucose máu không phải là bệnh mà là triệu chứng của nhiều bệnh
Hạ glucose máu sơ sinh triệu chứng thường nghèo nàn, không điển hình, thường khó chẩn đoán vì trong đa số trường hợp thường không biểu hiện triệu chứng hay nhiều khi triệu chứng không đặc hiệu hay triệu chứng dễ nhầm với triệu chứng của các bệnh lý khác trong giai đoạn sơ sinh đặc biệt là sơ sinh sớm.Theo một nghiên cứu của Lê Thị Hồng Huệ tại khoa sơ sinh tại Bệnh viện nhi Trung ương năm 2001trong 701 trẻ đẻ thấp cân có 40,5% trẻ bị hạ glucose máu [3]
Glucose là nguồn cung cấp năng lượng duy nhất cho tổ chức thần kinh
và não sử dụng cho quá trình trao đổi chất nên thiếu glucose cũng như thiếu oxy nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời sẽ gây chức năng tế bào não
Trang 6Hạ glucose máu thường hồi phục khi được chẩn đoán sớm, điều trị đúng kịp thời, nhưng thường là nguyên nhân của di chứng não nếu không được điều trị kịp thời để tình trạng hạ glucose máu kéo dài.Theo một nghiên cứu trên 667 trẻ
đẻ non nhập viện từ tháng 3/2008 đến 7/2008 về một số yếu tố liên quan đến tử vong của trẻ đẻ non cho thấy nhóm trẻ có kết quả xét nghiệm glucose máu < 2,2 mmol/l có nguy cơ tử vong cao hơn gấp 1,87 lần (p,0,05) so với nhóm trẻ có glucose máu từ 2,3- 6,9 mmo/l Do vậy việc chẩn đoán sớm hạ glucose máu là việc làm vô cùng cần thiết có thể dẫn đến ít bệnh tật và giảm tử vong [4]
Mối liên quan chặt chẽ đồng hành giữa tử vong chu sinh và hạ glucose máu sơ sinh đươc nhiều người quan tâm và xác nhận Do đó kiểm soát hàm lượng glucose trong máu ở trẻ sơ sinh đặc biệt là sơ sinh trong giai đoạn sớm
là rất quan trọng nhằm tránh những hậu quả nặng nề và đáng tiếc xảy ra [5] Tuy nhiên những rối loạn này có thể phát hiện và tầm soát sớm bằng xét nghiệm định lượng glucose máu ở mao mạch ở trẻ sơ sinh và xử lý theo phác
đồ của WHO Do vậy, hiện nay để tránh tình trạng bỏ sót tình trạng hạ glucose máu ở trẻ đặc biệt là trẻ sơ sinh thì việc xét nghiệm glucose máu được thực hiện một cách thường quy có hệ thống cho tất cả trẻ sơ sinh Trong điều kiện hiện nay việc tầm soát glucose máu là việc rất đơn giản nhưng điều quan trọng là phải tiên lượng trước những vấn đề cũng như các yếu tố nguy cơ hạ glucose ở trẻ sơ sinh và có kế hoạch đối phó kịp thời bằng cách sàng lọc tất cả những trẻ có nguy cơ hạ glucose máu trong giai đoạn sơ sinh sớm Vì vậy
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học lâm
sàng và một số yếu tố liên quan đến hạ glucose máu ở trẻ sơ sinh”.
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả đặc điểm dịch tễ học lâm sàng của hạ glucose máu ở trẻ sơ sinh tại khoa nhi Bệnh viện C Thái Nguyên
2. Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến tình trạng hạ glucose máu sơ sinh
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN HẠ GLUCOSE HUYẾT SƠ SINH
1.1.1 Tầm quan trọng của nồng độ glucose bình thường ở trẻ sơ sinh
Trẻ sơ sinh là con người duy trong số động vật có vú có một bộ não rất lớn so với kích thước cơ thể Vấn đề chuyển hóa glucose có tương quan với trọng lượng não vì vậy não đòi hỏi lượng lớn glucose cho các hoạt động chức năng bình thường của nó cũng như nồng độ glucose ở não có quan hệ tuyến tính với nồng độ glucose huyết tương, khi nồng độ glucose huyết tương thấp thì nồng độ glucose trong não cũng giảm thậm chí bằng 0, trong khi đó não không thể tổng hợp glucose cũng như không có nguồn dự trữ glycogen do vậy tổn thương não thường hay xảy ra [5] Nhiều nghiên cứu đã chứng minh các nguồn năng lượng glucose dự trữ thường là thấp ở trẻ có nguy cơ như sinh non, chậm tăng trưởng trong tử cung, trẻ có bệnh lý Do vậy càng làm giảm lưu huyết não và giảm cung cấp glucose dẫn đến hậu quả tổn thương chức năng não làm ảnh hưởng đến sự phát triển thần kinh của trẻ sau này [6]
1.1.2 Chuyển hóa glucose ở thai nhi
Trong suốt thời kỳ mang thai, toàn bộ glucose của thai nhi do mẹ cung cấp cho thông qua con đường khuếch tán qua nhau thai, trung bình lượng glucose trẻ nhận là 7g/kg/ngày Như vậy, quá trình tổng hợp glucose trong thai nhi bình thường không xảy ra hoặc xảy ra rất thấp mặc dù các enzym cần cho quá trình tổng hợp glycogen ở thai nhi có mặt từ tháng thứ 3 của thai kỳ Nếu nhu cầu glucose thai nhi không đáp ứng bởi tình trạng hạ đường huyết của mẹ hay suy nhau thai, thai nhi có thể sử dụng chất thay thế chẳng hạn như ceton có nguồn gốc từ các acid béo Với nguồn cung cấp glucose thấp kéo dài thai nhi phát triển sản xuất theo con đường riêng, đầu tiên là phân giải
Trang 8glycogen và sau thời gian dài quá trình tổng hợp glycogen thiếu hụt gây những biến đổi phức tạp trong quá trình chuyển hóa glucose của thai nhi và gây lên những hậu quả là những thay đổi trong chuyển hóa glucose ở trẻ sơ sinh sau khi sinh mà hay gặp là hạ đường máu sau sinh Ngược lại nếu thai nhi đượccung cấp quá nhiều glucose sẽ có hiện tượng cường insulin thứ phát từ trong tử cung [6].
1.1.3 Chuyển hóa glucose ở trẻ sơ sinh
Glucose chủ yếu do mẹ cung cấp qua nhau thai, khả năng dự trữ chất
này dưới dạng glycogen chỉ có sau 35 tuần tuổi thai Trẻ sinh non trước thời gian này hầu như không có glycogen hoặc <10g% trong khi ở trẻ đủ tháng lượng glycogen là 34g% Theo Kayiran SM, khi kiểm tra nồng độ glucose ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh cũng nhận thấy rằng lượng glucose trong máu tăng dần theo tuổi thai, sự khác biệt có ý nghĩa về nồng độ glucose trung bình giữa các nhóm tuổi thai 36-37; 38-39 tuần và >40 Tuần (với p<0.001) [7]
Sự vận chuyển glucose từ mẹ sang thai nhi theo cơ chế khuếch tán dễ dàng theo hai phía Số lượng gluccose cung cấp chỉ sử dụng cho thai khoảng 40-50%còn lại để thai sử dụng cho các phản ứng oxy hóa, vận chuyển, chuyển hóa đường, do có sự liên quan trao đổi qua lại giữa đường máu mẹ và đường máu thai nhi nên nông độ glucose bào thai luôn giữ ở mức 70-80% trong máu mẹ Glucose khuếch tán từ máu mẹ sang máu con dự trữ dưới 2 dạng chính:
- Glycogen ở gan, cơ tim: bắt đầu từ tuần thứ 36
- Mỡ dưới da và nơi khác: bắt đầu từ tuần thứ 28 đến tuần thứ 30
Sau sinh nguồn cung cấp glucose cho trẻ sơ sinh bị gián đoạn đột ngột và nồng độ glucose trong máu bị giảm, hiện tượng này là phổ biến và là sinh lý bình thường càn thiết để kích hoạt chức năng sản xuất glucose ở trẻ sơ sinh Những thay đổi HM và chuyển hóa khi sinh tạo điều kiện thích nghi cho trẻ Nồng độ cathecholamin tăng rõ rệt khi sinh và cùng với gluocagon kích hoạt quá trình phosphoryl hóa glycogen tại gan và quá trình phân giải glycogen tại
Trang 9gan Sự tăng tiết cortisol kích thích glucose -6-phosphatase tại gan hoạt động
và giải phóng glucose ở gan Tăng catecholamine cũng kích thích sự phân giải lipid, cung cấp năng lượng(ATP) và cùng yếu tố (NADPH) tăng cường hoạt động của các enzym chịu trách nhiệm tổng hợp glycogen [6]
Trong những ngày đầu sau sinh năng lượng được cung cấp chủ yếu dựa vào các dự trữ glucose, quan trọng nhất là phản ứng của tụy tiết ra glucagon
có lợi cho nội tiết để nồng độ glucose trong máu được duy trì Các enzym tham gia sản xuất glucose cũng tăng mạnh sau sinh đảm bảo cho nông độ glucose cần thiết cho các hoạt động sống ngoài tử cung đảm bảo nông độ insulin cũng giảm dần theo giờ tuổi
1.1.4 Điều hòa glucose máu ở trẻ sơ sinh
Duy trì cân bằng nội môi glucose phụ thuộc vào lượng glucose sử dụng
ở gan và sử dụng glucose ở ngoại vi Khi sinh, nồng độ glucose máu TM rốn
ở vào khoảng 60-80% nồng độ glucose trong máu TM mẹ Sự sụt giảm nhanh chóng lượng glucose trong máu diễn ra trong khoảng 30-60 phút sau sinh và sau đó ổn dần trong khoảng 2-4 giờ sau sinh [7]
Hai hormone chính tham gia điều hòa glucose máu là Insulin và glucagon, hai hormone này đều do tụy sản xuất nhưng có tác dụng đối kháng nhau Các hormone khác cũng tham gia vào điều hòa glucose máu cho phép
cơ thể thích ứng với những đòi hỏi gia tăng về glucose máu hoặc tồn tại khi đói kéo dài, chúng còn cho phép dự trữ năng lượng dưới dạng lipid khi cung cấp dư thừa
1.1.4.1 Insulin
Insulin là HM protein do tế bào beta của tụy sản xuất khi nồng độ glucose máu tăng cao, đây là HM duy nhất làm giảm glucose máu Tác động của insulin là làm tăng tính thấm của màng với glucose ví vậy làm tăng vận chuyển glucose vào gan, cơ, mô mỡ Insulin còn tác động trên chuyển hóa
Trang 10glucose trong tế bào, tăng tạo glycogen, lipid và protein, tăng cường chuyển hóa glucose theo con đường đường phân
Bài tiết insulin được kiểm soát bởi nồng độ glucose trong máu Khi nồng
độ glucose tăng insulin được bài tiết khi nồng độ glucose máu giảm ức chế giải phóng insulin
1.1.4.2 Glucagon và các hormone khác
Glucagon là một hormone polypeptide do tế bào alpha của đảo tụy bài tiết khi nồng đọ glucose máu giảm Đay là hormone chính gây tăng nhanh nồng độ glucose máu Glucagon tác dụng bằng cách tăng phân ly glycogen và tân tạo glucose ở gan nhưng không ảnh hưởng đến glycogen ở cơ [7]
1.1.5 Định nghĩa hạ glucose máu sơ sinh
Có nhiều định nghĩa hạ glucose máu sơ sinh, thuật ngữ hạ glucose máu được định nghĩa lần đầu tiên vào năm 1937 với mức nhẹ là 2,2-3,3, mmol/l, vừa là 1,1-2,2 mmol/l, nặng là 1,1, mmol/l.Trải qua 70 năm và sách giáo khoa
đã có nhiều định nghĩa theo các tác giả khác nhau Hiện nay theo WHO đã thống nhất hạ glucose máu ở trẻ sơ sinh được xác dịnh khi lượng glucose máu mao mạch giảm dưới 2,6 mmmol/l [8],[9]
1.1.6 Nguyên nhân hạ glucose máu sơ sinh
Nguyên nhân hạ glucose máu sơ sinh là do dự trữ glycogen rất ít, tổ chức não sử dụng nhiều tiêu thụ oxy tăng trong mọi cơ quan, các phản ứng trong cơ thể diễn ra chậm, hạ glucose máu dễ tái đi tái lại Có 2 nhóm nguyên nhân gây
hạ glucose máu ở trẻ sơ sinh
• Tăng sử dụng glucose máu:
- Trẻ nặng cân so với tuổi thai
- Mẹ tiểu đường
-Tăng sản tế bào β tụy, u sản xuất insulin, cường insulin
-Hội chứng Bech-Weideman (macrosomia, lưỡi to, đầunhỏ.thoát vị rốn,
hạ glucose máu và lớn tạng đặc
Trang 11-Thuốc dùng cho mẹ; lợi tiểu, beta gaio cảm, thuốc ức chế β, truyền dung dịch ưu trương trong khi sinh
- Catheter ĐM rốn sai vị trí
- Non tháng, sau thay máu, chậm phát triển trong tử cung
- Bú muộn sau sinh
• Tăng sử dụng và/giảm sản xuất
- Stress chu sinh: Nhiễm trùng, sốc, ngạt, hạ thân nhiệt, suy hô hấp
- Rối loạn chuyển hóa carbonhydrat
-Thiếu nội tiết tố
1.1.7 Các yếu tố nguy cơ hạ glucose máu
- Mẹ tăng cân quá mức
- Mẹ sinh mổ có truyền đường
- Mẹ dùng thuốc như cocain, propranolon
1.1.8 Phân loại hạ glucose máu
Theo WHO- 2003: [9]
- Mức glucose nặng máu <1,1mmol/l
- Mức glucose máu vừa <2,6mmol/l nhưng ≥1,1 mmol/l
1.1.9 Triệu chứng của hạ glucose máu
Triệu chứng thường nghèo nàn, dễ bị che lấp bởi triệu chứng của bệnh chính, có thể biểu hiện
Trang 12-Các biểu hiện của tăng catecholamine như xanh tái, vã mồ hôi, tăng nhịp tim, hạ HA
- Triệu chứng của giảm đường tới các mô thần kinh như ngưng thở, co giật, hôn mê, là những triệu chứng đòi hỏi phải cấp cứu ngay
1.1.10 Điều trị hạ glucose máu
Theo phác đồ của WHO năm 2003 [9]
- Mức glucose máu <1,1mmol/l:
+Truyền TM, bơm TM ngay 2mml/kg Glucose10% trong 5 phút
+Nếu chưa lấy được TM thì cho ngay 2mml/kg glucose 10% qua sond dạ dày
+ Test glucose máu mỗi 30p sau khi tiêm TM, rồi sau đó mỗi 3 giờ: nếu lượng gglucose máu <1,1 thì lặp liều như trên rồi truyền trong ngày, nếu ≥ 1,1mmol/l nhưng <2,6 mmol/lthif cho truyền duy trì glucose và kiểm tra lại lượng glucose /máu mỗi 3 giờ/lần cho đến khi lượng glucosemaus
>2,6mmol/l 2 lần liên tiếp thì cho phép bắt đầu bú mẹ hoặc duy trì ăn qua sond nếu trẻ không bú mẹ được
+ Trẻ ăn được và bú tốt thì giảm từ từ lượng dịch truyền trong ngày không dược dừng đột ngột
-Nếu lượng glucose <2,6mmol/l nhưng ≥ 1,1mmol/l: thì cho bú mẹ
hoặc bơm qua sond dạ dày nếu trẻ không bú được, kiểm tra lại lượng glucose máu sau 3 giờ hoặc trước khi cho trẻ ăn
+Nếu lượng glucose máu< 1,1 mmol/l thì lặp lại như trên
+Nếu <2.6mmol/l nhưng ≥1,1mmol/l thì tăng số bữa bú
+ Nếu glucose >2.6mmol/l ở 2 lần xét nghiệm liên tiếp thì cho bú bình thường và đo lại lượng glucose máu cho đến khi trở về bình thường
1.2 TỔNG QUAN VỀ SƠ SINH [ 9 , 10 ]
1.2.1.Định nghĩa sơ sinh: Thời kỳ sơ sinh được tính từ khi sinh cho đến đủ
28 ngày
Trang 131.2.2 Phân loại sơ sinh
Sơ sinh đủ tháng : Tuổi thai từ 37 tuần - 41 tuần 6 ngày
Sơ sinh đẻ non:
-Tuổi thai <37 tuần
-Các mức độ đẻ non
+ Loại cực non: Tuổi thai <28 tuần
+ Loại rất non: Tuổi thai 28-33 tuần
+ Loại đẻ non: Tuổi thai>33-37 tuần
Sơ sinh già tháng:
- Tuổi thai ≥42 tuần
- Và / hoặc bong da khi miết nhẹ hoặc bong tự nhiên,rốn héo, xanh bẩn
1.3 CÁC BỆNH LÝ ẢNH HƯỞNG GLUCOSE MÁU
1.3.1 Ngạt sơ sinh
Có khoảng 10% trẻ sơ sinh sinh ra cần được ngay sau sinh để có được nhịp thở đầu tiên, khoảng 1% trẻ cần phải hỗ trợ hồi sức tích cực Ngạt sơ sinh là yếu tố quan trọng cần được dự đoán trước, can thiệp nhanh nhằm đem lại nhịp thở đầu tiên cho trẻ Việc đánh giá mức độ nặng của ngạt là rất quan trọng
Ngạt được phân thành ba mức độ theo Sarnat:
- Ngạt nhẹ: nếu có triệu chứng lâm sàng sau khi đã hồi sức: tăng kich thích, tăng trương lực cơ, bú kém, nhịp thở nhanh hoặc bình thường, những triệu chứng này kéo dài 24; 48h sau đó thoái triển một cách tự phát
- Ngạt trung bình: trẻ kém linh hoạt và bú kém, có những cơn ngừng thở hoặc
co giật trong vài ngày Triệu chứng này thoái triển trong vòng một tuần nhưng
Trang 141.3.2 Nhiễm trùng sơ sinh
NTSS luôn là một gánh nặng cho các nhà sơ sinh.Tỷ lệ NTSS còn rất cao
và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ sơ sinh đặc biệt là sơ sinh non tháng.Trẻ sơ sinh dễ bị nhiễm trùng do sức đề kháng kém, da trẻ non yếu pH
da kiềm, niêm mạc đường tiêu hóa dễ thấm, số lượng thực bào ít và kém hiệu quả Nhiễm trùng sơ sinh được chia thành nhiễm trùng sơ sinh sớm (xảy ra trong 3 ngày đầu của cuộc sống) hay còn gọi là nhiễm trùng mẹ- con, nhiễm trùng sơ sinh muộn (xảy ra vào những ngày sau) Triệu chứng của nhiễm trùng thường kín đáo và không điển hình Khi trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng thường rất nặng nề bao gồm:
- Thay đổi thân nhiệt (sốt hoặc hạ nhiệt độ), thường hay gặp hạ nhiệt độ,
- Triệu chứng hô hấp như thở nhanh> 60l/p, hoặc thở chậm<40 l/p, hoặc ngưng thở
- Triệu chứng tuần hoàn: nhịp tim nhanh, tưới máu ngoại vi kém là những dấu hiệu nhạy cảm của nhiễm trùng
- Triệu chứng tiêu hóa: bú kém, bụng chướng, nôn ói, tiêu chảy
- Triệu chứng thần kinh: kém linh hoạt, kém vận động
- Vàng da là dấu hiệu lâm sàng thường thấy có thể xuất hiện từ từ hoặc đột ngột
1.3.3 Suy hô hấp sơ sinh
SHH là một hội chứng rất hay gặp ở trẻ sơ sinh trong những ngày đầu sau sinh, trong thời gian trẻ thích nghi với cuộc sống bên ngoài cơ thể, hay gặp ở trẻ đẻ non nhiều hơn, tại Mỹ năm 2003 có 0,6% trẻ sinh có SHH, tỷ lệ
tử vong do SHH đứng hàng đầu của tử vong sơ sinh, tại Mỹ hàng năm tử vong do SHH chiếm 20% tử vong chung của trẻ sơ sinh [11]
Suy hô hấp có thể do nhiễm trùng hoặc không, suy hô háp là sự rối loạn trao đổi khí giữa phế nang và mao mạch dẫn đến giảm oxy và tăng CO2 trong máu động mạch
Trang 15Hội chứng SHH ở trẻ sơ sinh được đánh giá bằng chỉ số Apgar hoặc chỉ
số Silverman:
- < 3 điểm: trẻ không suy hô hấp
- Từ 3- 5 điểm : Suy hô hấp nhẹ
- Trên 5 điểm: suy hô hấp nặng
1.3.4 Vàng da tăng bilirubin tự do
Vàng da là tình trạng bệnh lý hay gặp ở trẻ sơ sinh đặc biệt là trẻ sinh non, nhẹ cân Vàng da nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời gây tình trạng vàng da nhân co thể gây tử vong và nếu sống để lại di chứng nặng nề nếu vàng da sớm và tăng nhanh thì cần được điều trị ngay chứ không cần đợi kết quả xét nghiệm bằng chiếu đèn hoặc thay máu Những yếu tố làm tăng lên
và chuyển từ vàng da sinh lý sang vàng da bệnh lý như: hạ glucose máu, hạ thân nhiệt, thiếu oxy máu sau sinh, khối máu tụ sau sinh [10],[12]
1.3.5 Hội chứng đa hồng cấu sơ sinh
Đa HC được định nghĩa là HCT > 65% hoặc Hb>22g/dl, đa HC dược đặc trưng bởi sự tăng quá mức của các tế bào HC trong máu, nguyên nhân do tăng khối máu thứ phát vì thiếu oxy trong tử cung hoặc do hội chứng truyền máu song thai,đa HC có liên quan đến nhiều bệnh khác nhau do hậu quả của tăng độ nhớt của máu hình thành lên các micro huyết khối ảnh hưởng đến nhiều cơ quan đặc biệt là ruột, não, thượng thận [13]
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
• Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Trang 16- Tất cả trẻ <28ngày tuổi nhập viện tại khoa nhi- Bệnh viện C được làm xét nghiệm định lượng glucose máu ngay khi vào viện
- Những trẻ có xét nghiệm hạ glucose máu < 2,6mmol/l được chọn vào nhóm nghiên cứu
• Tiêu chuẩn loại trừ
- Trẻ không được xét nghiệm glucose khi vào viện
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Thời gian nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu
Dự kiến khoảng từ tháng 01/01/2015-30/10/2015 tại khoa nhi Bệnh viện C
2.2.3 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
2.2.4.Các bước nghiên cứu
Tất cả các trẻ nhập viện khoa nhi từ 01/01/2015- 30/10/2015 sẽ được hỏi bệnh sử, khám lâm sàng và làm các xét nghiệm cần thiết phù hợp với bệnh, trong đó có xét nghiệm glucose máu
Tất cả thông tin được ghi vào bệnh án nghiên cứu thống nhất
- Tuổi thai tính (Tuần)
- Tuổi khi nhập viện (Giờ)
- Nghề nghiệp của mẹ:
- Tuổi của mẹ
- Trình độ học vấn của mẹ
2.3.2 Mục tiêu 2: Một số yếu tố liên quan đến hạ glucose máu
- Cân nặng khi vào viện, khi sinh
- Tuổi thai
Trang 17- Nồng độ glucose máu đo được tính bằng mmol/l
- Nồng độ calci đo được tính bằng mmol/l
- Nồng độ hemtocrit đo được tính bằng (%)
- Số lượng HC (mm3/l)
Tất cả các xét nghiệm được thực hiện tại khoa sinh hóa và huyết học Bệnh viện C Thái Nguyên
• Tiêu chuẩn chẩn đoán các biến số nghiên cứu:
- Tuổi thai được tính theo kỳ kinh cuối cùng của mẹ, nếu không nhớ thì tính điểm tuổi thai theo phân loại tuổi thai của B.Leroy và Lubchenco
- Chẩn đoán hạ glucose máu sơ sinh theo WHO năm 2003:
+ Trẻ có hàm lượng glucose máu <2,6 mmol/l (45mg/dl)
+ Các mức hạ glucose máu:
* Mức glucose máu< 1,1 mmol/l (25 mg/dl)
*Mức glucose máu <1.1.mmol/l - <2,6mmol/l (25 mg/dl-<45mg/dl)
+ Không có hạ glucose máu: Trẻ có xét nghiệm glucose máu là ≥ 2,6 mmol/l (≥45mg/dl)
- Hạ thân nhiệt: Nhiệt độ hậu môn<36oC [10]
- Ngạt lúc sinh: APGAR <6 ở thời điểm 5 phút sau sinh hoặc trên lâm sàng có tím tái lúc sinh, không khóc bằng cách hỏi và khai thác bệnh sử khi không ghi nhận được chỉ số APGAR) (Có bảng chỉ số APGAR đính kèm)
- Suy hô hấp: Đánh giá theo chỉ số Silverman
3-5 điểm: Suy hô hấp nhẹ
>5 điểm : Suy hô hấp nặng
<3 điểm: Không suy hô hấp
Trang 18- Hạ calci máu sơ sinh : Trẻ có nồng độ Calci máu toàn phần < 2,2 mmol/l và nồng độ calci ion máu (Ca2+)) <1,16mmol/l [10]
- Đa HC: Hematocrit máu TM >65% [13]
- Cơn ngừng thở nặng tím tái: Trẻ ngừng thở ≥20 giây hoặc < 20 giây có kèm theo tím tái hay nhịp tim< 100 l/p
- Mẹ tiểu đường, nhiễm độc thai nghén: ghi nhận theo bệnh sử, tiền sử của mẹ
2.3.4 Phương pháp sử lý và phân tích số liệu
- Toàn bộ bệnh án nghiên cứu được kiểm tra trước khi tiến hành nhập liệu
- Số liệu thu được nhập vào phần mềm EPIDATA 3.1 và phân tích số liệu
bằng phần mềm SPSS16.0
- Phân tích thống kê mô tả tính phần trăm
- Dùng các thuật toán thông kê
2.4 KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đã được tiến hành sau khi được Hội đồng chấm đề cương của Sở y
tế Thái Nguyên và Bệnh viện C Thái Nguyên thông qua
Đây là đề tài nghiên cứu mô tả phân tích các mối liên quan thông qua thông tin thu thập từ hồ sơ bệnh án và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu không sử dụng cho mục đích nào khác Các thông tin về đối tượng nghiên cứu được đảm bảo bí mật, không ghi danh
Các xét ghiệm lâm sàng và các thông số y sinh thu thập trong nghiên cứu đảm bảo an toàn không gây hại gì cho người bệnh
2.5 KỸ THUẬT HẠN CHẾ SAI SỐ
- Căn cứ tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Thống nhất cách đánh giá tuổi thai, cân nặng, cách lấy các chỉ số nghiên cứu và chẩn đoán giữa các bác sĩ trong khoa
- Chuẩn máy móc và người làm xét nghiệm
- Giải thích rõ ràng mục tiêu nghiên cứu và tính chính xác của nghiên cứu Khẳng định sự tự nguyện tham gia của bố mẹ hoặc người chăm sóc trẻ bằng việc chấp thuận trả lời phỏng vấn